Xu Hướng 2/2023 # Vị Trí Bể Anoxic (Bể Thiếu Khí) # Top 9 View | Channuoithuy.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Vị Trí Bể Anoxic (Bể Thiếu Khí) # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Vị Trí Bể Anoxic (Bể Thiếu Khí) được cập nhật mới nhất trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bể anoxic là bể quan trọng trong quá trình xử lý nitơ trong nước thải bằng phương pháp sinh học. Công nghệ khử nitơ trong nước thải bằng phương pháp sinh học phổ biến nhất hiện nay là: Nitrat hóa và khử Nitrat, diễn biến của quá trình này như sau:

Nitrat hóa

Nitrat hoá là một quá trình tự dưỡng (năng lượng cho sự phát triển của vi khuẩn được lấy từ các hợp chất ôxy hoá của Nitơ, chủ yếu là Amôni. Ngược với các vi sinh vật dị dưỡng các vi khuẩn nitrat hoá sử dụng CO2(dạng vô cơ) hơn là các nguồn các bon hữu cơ để tổng hợp sinh khối mới. Sinh khối của các vi khuẩn nitrat hoá tạo thành trên một đơn vị của quá trình trao đổi chất nhỏ hơn nhiều lần so với sinh khối tạo thành của quá trình dị dưỡng.

Các vi khuẩn Nitrosomonas và Vi khuẩn Nitrobacter sử dụng năng lượng lấy từ các phản ứng trên để tự duy trì hoạt động sống và tổng hợp sinh khối. Có thể tổng hợp quá trình bằng phương trình sau :

Cùng với quá trình thu năng lượng, một số iôn Amôni được đồng hoá vận chuyển vào trong các mô tế bào. Quá trình tổng hợp sinh khối có thể biểu diễn bằng phương trình sau:

C5H7NO2 tạo thành sinh khối. Toàn bộ quá trình ôxy hoá và phản ứng tổng hợp được thể hiện qua phản ứng sau :

Lượng ôxy cần thiết để ôxy hoá amôni thành nitrat cần 4,3 mg O2/ 1mg NH4+. Giá trị này gần bằng với giá trị 4,57 thường được sử dụng trong các công thức tính toán thiết kế. Giá trị 4,57 được xác định từ phản ứng (*) khi mà quá trình tổng hợp sinh khối tế bào không được xét đến.

Khử nitrit và nitrat:

Trong môi trường thiếu ôxy các loại vi khuẩn khử nitrit và nitrat Denitrificans (dạng kị khí tuỳ tiện) sẽ tách ôxy của nitrat (NO3-) và nitrit (NO2-) để ôxy hoá chất hữu cơ. Nitơ phân tử N2 tạo thành trong quá trình này sẽ thoát ra khỏi nước.

+ Khử nitrat :

+ Khử nitrit :

Như vậy để khử nitơ công trình xử lý nước thải cần :

Điều kiện yếm khí ( thiếu ôxy tự do )

Có nitrat (NO3- ) hoặc nitrit (NO2-)

Có vi khuẩn kị khí tuỳ tiện khử nitrat;

Có nguồn cácbon hữu cơ

Nhiệt độ nước thải không thấp.

Các vị trí của bể anoxic trong quy trình công nghệ như sau:

1. Vị trí bể anoxic trước bể aerotank (phổ biến nhất)

Bể anoxic đặt trước bể vi sinh hiếu khí có các ưu điểm như: không cần bổ sung nguồn chất hữu cơ, dễ kiểm soát DO <1 mg/l. Nhược điểm của đặt bể anoxic trước bể aerotank là hàm lượng nitơ đầu vào thấp, cần phải hồi lưu nước thải từ bể aerotank về bể anoxic.

2. Vị trí sau bể aerotank

Công nghệ đặt bể anoxic sau bể aerotank có ưu điểm: không cần hồi lưu nước từ bể aerotank về bể anoxic, nước tự chảy. Nhược điểm của công nghệ này là phải bổ sung chất hữu cơ vào bể anoxic, phải có công đoạn sục khí sau bể anoxic để loại bỏ khí nitơ (nếu không có công đoạn này bùn sẽ nổi ở bể lắng).

Công Nghệ Xử Lý Nước Thải Bằng Bể Kỵ Khí Vách Ngăn

CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI BẰNG

 BỂ KỴ KHÍ VÁCH NGĂN

    Một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước mặt là do quá trình sản xuất công nghiệp và nước thải phân tán từ khu dân cư, nhà máy, xí nghiệp…

     Bể xử lý truyền thống là một công nghệ thích hợp để xử lý nước thải có chứa chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học có nồng độ cao. Với Bể kỵ khí truyền thống thì hiệu xuất của quá trình xử lý các chất hữu cơ (BOD5) là khoảng 50 đến 60%. Trong thực tế rất nhiều rất nhiều bể kị khí truyền thống cho hiệu suất xử lý thấp hơn nhiều do được thiết kế, xây dựng và quản lý không đúng qui cách.

     Chúng tôi đã nghiên cứu tìm cách cải tiến Bể kị khí truyền thống bằng việc thay đổi cấu tạo bể thành Bể kỵ khí vách ngăn có hiệu suất xử lý BOD5 đạt 80 – 90%.

            Cấu tạo bể kị khí vách ngăn kết hợp lắng:

            Cấu tạo của Bể kỵ khí vách ngăn kết hợp lắng như hình vẽ:

1. Các ngăn kỵ khí.

2. Ngăn lắng

3. Tấm hướng dòng

4.  Vách ngăn

5.  Bơm tuần hoàn

6.  Van một chiều

7.  Tháp xử lý khí (có thể có tùy theo qui mô)

8.  Tháp đốt khí 

Bể kỵ khí vách ngăn

Nguyên lý hoạt động

Nước thải được đưa vào Bể từ ngăn kỵ khí đầu tiên đồng thời với quá trình này là quá trình tuần hoàn bùn từ ngăn lắng vế ngăn đầu tiên nên xảy ra quá trình tiếp xúc nước thải và bùn kị khí. Nước thải lần lược chảy qua các ngăn kỵ khí về bể lắng.

Nhờ các tấm hướng dòng ở các ngăn kỵ khí, chất thải chuyển động theo chiều từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên. Nhờ vậy chất thải được tiếp xúc vơi vi sinh vật kỵ khí trong lớp bùn hình thành ở đáy bể trong điều kiện động. Các chất hữu cơ được vi sinh vật hấp thu và chuyển hóa, làm nguồn dinh dưỡng cho sự phát triển của chúng. Nhờ chia thành các ngăn kỵ khí riêng nên quần thể vi sinh vật của từng ngăn sẽ khác nhau và có điều kiện sinh sôi phát triển nhanh. Ở ngăn đầu, các vi khuẩn tạo axit sẽ chiếm ưu thế và ở những ngăn sau vi khuẩn tạo khí mêtan sẽ chiếm ưu thế.

Ngăn cuối cùng là ngăn lắng, chức năng của ngăn này là tách hoàn toàn chất rắn lơ lửng và bùn ra khỏi nước làm nâng cao chất lượng nước đầu ra. Mặc khác ngăn lắng còn có chức năng là ngăn lưu trữ bùn kỵ khí để tuần hoàn lại cho ngăn kỵ khí đầu tiên đầu tiên.

Hiệu suất của quá trình xử lý cũng tăng lên nhờ quá trình tuần hoàn liên tục bùn kỵ khí làm cho bùn kỵ khí luôn tồn tại ở trạng thái lơ lửng nên bùn liên tục được hoạt hóa làm cho hiệu quá của quá xử lý chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học cũng tăng lên.

Với quy trình Bể kỵ khí vách ngăn kết hợp lắng cho phép tăng thời gian lưu bùn và nhờ vậy hiệu xuất của quá trình xử lý tăng, trong khi lượng bùn xả lại giảm.

Ưu điểm của Bể kỵ khí vách ngăn kết hợp lắng là:

-     Hiệu xuất xử lý cao: 80 – 90% trong việc xử lý BOD5.

-     Không có mùi hôi.

-     Nước thải và khí thải đạt tiêu chuẩn không mùi và sạch.

-     Sinh ra lượng bùn ít và lượng bùn trong bể luôn được duy trì ổn định

Bể kỵ khí vách ngăn kết hợp lắng là một thiết bị xử lý nước thải theo chu trình kín,  tự động và đạt hiệu xuất cao. 

Lĩnh vực áp dụng Bể kỵ khí vách ngăn

-     Xử lý nước thải sinh hoạt.

-     Xử lý nước thải công nghiệp: cà phê, cao su… 

Email: moitruongxuyenviet@gmail.com

HOTLINE: 0903 018 135 – 0918 28 09 05

Tư vấn miễn phí:

CÔNG TY TNHH MÔI TRƯỜNG XUYÊN VIỆT

Địa chỉ: 537/18/4 Nguyễn Oanh, Phường 17, Quận Gò Vấp, TP.HCM

(Địa chỉ cũ: B30 Khu Chung Cư An Lộc, Phường 17, Quận Gò Vấp, TPHCM)

Điện thoại: (+84) 028 3895 3166

Hotline: 0903.018.135 – 0918.280.905

Email: moitruongxuyenviet@gmail.com – info@moitruongxuyenviet.com

Fax: (+84) 028 3895 3188

Chúng tôi rất vui được giải đáp những thắc mắc của bạn. Trân trọng!

Bể Bùn Hoạt Tính Trong Xử Lý Nước Thải

Bùn hoạt tính là phương pháp mà các vi sinh vật trong nước thải bám vào các chất lơ lửng trong đó để cư trú, sinh sản, phát triển và các vi sinh vật này sử dụng nguồn chất hữu cơ trong nước làm thức ăn đồng thời phân hủy chất hữu cơ làm tăng sinh khối và dần dần tạo thành các hạt bông gọi là bùn hoạt tính. Khả năng chuyển hóa các chất hữu cơ trong nước thải nhờ vi sinh vật phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi của bùn, hàm lượng chất dinh dưỡng đầu vào, nồng độ oxi hòa tan trong nước thải…

– Hiệu quả xử lý BOD rất cao, đạt tiêu chuẩn môi trường

– Khi vận hành có thể phát tán bọt do các chất tẩy rửa hoặc phát tán vi khuẩn do quá trình sục khí.

– Chi phí điện cao

– Phải đầu tư thêm bơm tuần hoàn bùn, bơm thổi khí.

* Vận hành phức tap:

– Sau khi oxi hóa được 80,5 đến 90% BOD trong nước thải, nếu không khuấy đảo hoặc thổi khí, bùn hoạt tính sẽ lắng xuống đáy, do vậy phải tháo lượng bùn cặn này ra. Nếu không kịp thời tách bùn các sinh khối vi sinh vật trong bùn sẽ tự phân hủy dẫn tới ô nhiễm nguồn nước thứ cấp, gây hiện tượng bùn khó lắng. Nhưng nếu tháo bùn ra quá nhiều, nồng độ bùn hoạt tính trong nước không đủ dể phân hủy các chất hữu cơ dẫn tới giảm hiệu suất xử lý.

– Do lượng bùn hoạt tính tháo ra sẽ được hồi lưu trở lại, nên luôn phải kiểm tra nồng độ bùn trong bể xử lý để đảm bảo cho quá trình xử lý đạt hiệu quả cao.

– Các vi sinh vật có mặt trong nước thải lấy nguồn cơ chất thể hiện bằng BOD làm thức ăn do dó nếu nồng độ BOD quá cao thì phải pha loãng nước thải để đạt hiệu quả xử lý lớn nhất.

– Nguồn oxi hòa tan trong nước là một trong những yếu tố làm ảnh hưởng tới hiệu quả xử lý vì vậy phải kiểm tra hàm lượng Do trong quá trình xử lý nước thải

Phương pháp bùn hoạt tính tuy hiệu quả xử lý cao nhưng chi phí xử lý cao và vận hành rất phức tạp đòi hỏi người vận hành phải có trình độ chuyên môn nhất định.

Cơ chế phân huỷ các chất hữu cơ nhờ vi sinh vật

Cơ chế quá trình phân huỷ các chất hữu cơ của phương pháp bùn hoạt tính bao gồm các quả trình: Oxi hoá (phân huỷ) chất hữu cơ, tổng hợp tế bào (đồng hoá) và tự oxy hoá (hô hấp nội bào). Trong quá trình oxy hoá (phân huỷ) chất hữu cơ, vi sinh vật sử dụng oxy để chuyển hoá các chất hữu cơ thành các sản phẩm oxy hoá. Quá trình này sinh ra năng lượng và vi sinh vật sử dụng năng lượng này để tổng hợp tế bào mới. Trong quá trình tổng hợp tế bào (đồng hoá), vi sinh vật sử dụng chất hữu cơ, oxy, các chất dinh dưỡng N,P, vi lượng và năng lượng từ quá trình oxy hoá để tổng hợp nên tế bào mới. Bên cạnh quá trình tổng hợp tế bào cũng xảy ra quá trình oxy hoá tế bào (hô hấp nội bào).

Phương trình hoá học biểu diễn các quá trình phân huỷ chất hữu cơ như sau :

Giai doạn 1: các hợp chất hữu cơ tiếp xúc với bề mặt tế bào.

Giai đoạn 2: hấp thụ, khuyếch tán các chất hưu cơ qua màn bán thấm, vào trong tế bào vi sinh vật.

Giai đoạn 3: chuyển hoá các chất trong nội bào để sinh ra năng lượng và tổng hợp các vật liệu mới cho tế bào vi sinh vật.

Giai đoạn 4: di chuyển các sản phẩm oxy hoá từ trong tế bào ra bề mặt tế bào vi sinh vật.

Giai đoạn 5: di chuyển các chất từ bề mặt tế bào ra pha lỏng do khuyếch tán và đối lưu.

Hợp chất bị oxy hoá trước tiên là hydratcacbon và một số chất hữu cơ khác. Tuy nhiên để phân huỷ được các chât hữu cơ này thì vi sinh vật phải có khả năng tổng hợp enzim tương ứng. Tinh bột, đường rất dễ bị phân huỷ bởi vi sinh vật, xenlulozơ và các chất béo ít tan bị phân huỷ muộn hơn và tốc độ phân huỷ cũng chậm hơn nhiều.

Thành phần, sự phát triển của vi sinh vật trong bùn hoạt tính

Thành phần vi sinh vật trong bùn hoạt tính

Tác nhân sinh học trong quá trình xử lí nước thải bằng phương pháp bùn hoạt tính hiếu khí chính là vi sinh vật có mặt trong bùn hoạt tính. Bùn hoạt tính là tập hợp các vi sinh vật có khả năng hấp thụ trên bề mặt và oxy hoá các chất hữu cơ trong nước thải với sự có mặt của ôxy. Bùn hoạt tính là một hệ sinh vật phức tạp bao gồm; vi khuẩn, nguyên sinh vật, nấm, tảo, vi rút. Trong đó vi khuẩn đóng vai trò quan trọng nhất trong việc phân huỷ chất hữu cơ và là thành phần cấu tạo chủ yếu của bùn hoạt tính. Vi khuẩn trong bùn hoạt tính gồm đầy đủ các vi khuẩn hiếu khí, vi khuẩn tuỳ tiện, một số vi khuẩn dạng sợi và các nhóm nguyên sinh động vật. Thành phần vi khuẩn có trong bùn hoạt tính thay đổi theo nhiệt độ và thành phần nước thải.

Bùn hoạt tính dạng bông, màu vàng nâu dễ lắng. cứ một gam bùn hoạt tính khô chứa từ 10­­­­­­­­- 10 tế bào với kích thước 0,1- 3 mm. bản chất của chất hữu cơ có trong nước thải sẽ quyết định các loại vi khuẩn nào có trong bùn là chủ đạo. Nước thải chứa protein sẽ kích thích các loại Alcaligenes, Flavobacterium, Bacillus phát triển. Nếu nước thải chứa nhiều hidrat cacbon thì kích thích Pseudomonas. Thành phần hóa học của tế bào vi khuẩn, % chất khô được thể hiện trong bảng 16.

Sự sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật trong bùn hoạt tính

Sự phát triển của tế bào là sự tăng sinh khối do vi sinh vật hấp thụ, đồng hoá các chất dinh dưỡng. Vi sinh vật có thể sinh sản bằng cách phân đôi tế bào, sinh sản giới tính và nảy mầm nhưng chủ yếu chúng sinh sản bằng cách phân đôi tế bào. Thời gian cần để phân đôi tế bào gọi là thời gian sinh sản. Tuy nhiên vi khuẩn không thể sinh sản đến vô tận do quá trình sinh sản phụ thuộc vào môi trường. Khi thức ăn cạn kiệt, pH, nhiệt độ thay đổi ra ngoài giá trị tối ưu, việc sinh sản sẽ ngừng lại.

Tế bào vi khuẩn gồm 80% nước và 20 % chất khô. Trong chất khô có đến 90% là chất hữu cơ và chỉ có khoảng 10 % là chất vô cơ.

Tăng trưởng của sinh khối gồm 4 giai đoạn như sau:

Giai đoạn tăng trưởng chậm: đây là giai đoạn vi khuẩn cần thời gian để thích nghi với môi trường dinh dưỡng. tuy nhiên giai đoạn này ngắn hơn so với giai đoạn phát triển chậm của số lượng vi khuẩn.

Giai đoạn tăng sinh khối theo logarit: tốc độ trao đổi chất và tăng trưởng của vi khuẩn phụ thuộc vào khả năng xử lý chất nền của vi khuẩn.

Giai đoạn tăng trưởng chậm dần: tốc độ tăng sinh khối giảm dần do chất dinh dưỡng của môi trường cạn kiệt.

Giai đoạn hô hấp nội bào: nồng độ các chất dinh dưỡng cho tế bào cạn kiệt, vi khuẩn phải thực hiện trao đổi chất bằng chính các nguyên sinh chất có trong tế bào. Sinh khối giảm dần do chất dinh dưỡng còn lại trong tế bào đã chết khuyếch tán ra ngoài để cấp cho tế bào sống.

Mua bán piano Nhật

, Dạy Học mat xa, dạy massage body, Mi Katun

Mức Độ Nguy Hiểm Của Viêm Thận, Bể Thận Cấp

12-08-2009

Các bệnh lý viêm nhiễm nói chung và viêm thận, bể thận cấp nói riêng thường được điều trị tốt bằng nội khoa. Tuy nhiên sự tuân thủ không đầy đủ chỉ định của bác sĩ hoặc trì hoãn quá trình điều trị có thể làm bệnh ngày một nặng hơn và dẫn tới nhiều biến chứng nguy hiểm tới tính mạng.

Bệnh thường biểu hiện rầm rộ

Các dấu hiệu nhiễm khuẩn xuất hiện rầm rộ. Bệnh nhân đột ngột sốt cao, rét run, thể trạng suy sụp nhanh chóng, môi khô nứt nẻ, lưỡi bẩn… Nếu sử dụng thuốc hạ sốt thì giảm đi trong một khoảng thời gian ngắn (một vài giờ) sau đó cơn sốt lại bùng phát trở lại. Kèm theo sốt, bệnh nhân cảm thấy đau ở vùng sườn lưng, có thể đau một bên hoặc cả hai bên, thường là đau âm ỉ nhưng cũng có khi có những cơn đau dữ dội như dao đâm, cơn đau lan xuống vùng bàng quang, thậm chí lan ra cả bộ phận sinh dục ngoài. Vỗ vùng hố sườn lưng bệnh nhân có phản ứng, đau, tức, rất có giá trị nhất là khi đau một bên.

Hội chứng bàng quang thường có nhưng không phải trong tất cả mọi trường hợp như đái buốt, cảm giác nóng rát, đái rắt (mót đái, phải rặn liên tục), đái đục, cũng có trường hợp đái ra máu. Trong máu, bạch cầu tăng, đa nhân trung tính tăng, có thể có nhiễm khuẩn huyết. Khi urê, creatinin máu tăng cao là có suy thận cấp hoặc đợt cấp của suy thận mạn. Ngoài ra một số bệnh nhân còn có biểu hiện chán ăn, ăn không ngon, buồn nôn, nôn, bụng trướng, cơ thể mệt mỏi rã rời. Bệnh thường tiến triển tốt và hồi phục hoàn toàn nếu được điều trị sớm, đúng thuốc sau vài ngày sẽ cắt được cơn sốt, nước tiểu trong trở lại sau 1- 2 tuần. Nhưng nếu điều trị muộn hoặc không đúng thì bệnh dễ tái phát, chuyển thành mạn tính, suy thận, hoại tử núm thận, ứ mủ thận, nhiễm khuẩn huyết, tăng huyết áp… những biến chứng này có thể làm bệnh nhân tử vong.

Các trực khuẩn gram (-) là nguyên nhân chính

Nguyên nhân là do vi khuẩn, đa số do trực khuẩn gram (-) như nhiễm Secheria Coli, trực khuẩn mủ xanh (pseudomonas Aerugnosa). Cũng có trường hợp nhiễm tụ cầu vàng gây bệnh (S. Aureus). Các vi khuẩn này thường xâm nhập vào đài bể thận theo đường tiết niệu, sinh dục, bắt đầu từ bộ phận sinh dục ngoài, niệu đạo, bàng quang, niệu quản rồi đến đài, bể thận. Nhiễm khuẩn đa số là theo đường ngược dòng gây viêm ở đài bể thận rồi vào tổ chức kẽ của thận. Cũng có thể đi theo đường máu hoặc bạch huyết vào thận. Tình trạng viêm nhiễm cấp tính này cũng có thể do vi khuẩn theo đường máu, bạch huyết xâm nhập vào thận.

Những yếu tố như sỏi thận, sỏi tiết niệu, viêm hoặc u tuyến tiền liệt, giao hợp không bảo đảm vệ sinh, phụ nữ có thai, đặt sonde bàng quang… đây là những điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập gây ra tình trạng viêm nhiễm cấp tính. Cần thăm trực tràng, đặc biệt ở người cao tuổi, để phát hiện u tuyến tiền liệt. Phải chụp thận, thường chụp thận tĩnh mạch (UIV), siêu âm thận để phát hiện sỏi thận, dị dạng, khối u, lao thận, viêm bể thận mạn, hoặc chụp bàng quang để phát hiện hiện tượng trào ngược nước tiểu. Cần thiết cấy vi khuẩn và xét nghiệm kháng sinh đồ.

Phòng và điều trị bệnh thế nào cho hiệu quả?

– Đây là bệnh do nhiễm khuẩn do đó vệ sinh thân thể, nhất là vệ sinh ở bộ phận sinh dục rất quan trọng. Thói quen tắm ao hồ, sông suối của nhiều người ở các vùng nông thôn rất dễ nhiễm khuẩn ở đường sinh dục, khi đó vi khuẩn sẽ ngược dòng tiến sâu vào bàng quang, tiết niệu, thận. Cần có thói quen vệ sinh trước và sau khi quan hệ tình dục, phụ nữ có thai càng đặc biệt chú ý vệ sinh cơ thể vì khi có thai những thay đổi ở môi trường âm đạo rất dễ bị nhiễm khuẩn, nhiễm nấm. Đối với các bệnh viêm nhiễm ở đường tiết niệu cần được điều trị triệt để.

– Chính vì các biểu hiện của viêm thận, bể thận cấp rất đa dạng nên dễ làm nhầm lẫn với những triệu chứng viêm nhiễm khác. Do đó muốn chẩn đoán chính xác bệnh phải tiến hành các xét nghiệm về công thức máu, hóa sinh máu, nước tiểu, siêu âm bụng, chụp Xquang, hoặc chụp cắt lớp bụng.

– Tiến triển thường là tốt nếu điều trị kháng sinh đúng và đủ liều, các triệu chứng lâm sàng thường khỏi nhanh, nhiệt độ giảm, tiểu tiện nhanh trở lại bình thường (nước tiểu trở lại bình thường sau 1 đến 2 tuần), bạch cầu niệu giảm, bạch cầu máu cũng giảm. Đây là bệnh do vi khuẩn gây ra nên kháng sinh là biện pháp quan trọng được sử dụng điều trị, đặc biệt là các kháng sinh có tác dụng tốt đối với vi khuẩn gram (-). Điều trị triệu chứng theo từng trường hợp, nếu sốt cao, đau phải dùng thuốc hạ sốt, thuốc giảm đau, đặc biệt phải tìm ra nguyên nhân gây bệnh để điều trị triệt để như sỏi thận, sỏi tiết niệu, các bệnh viêm nhiễm ở bàng quang, tiền liệt tuyến, âm đạo…

– Nếu điều trị không đúng bệnh sẽ tái phát nhiều lần, chuyển thành mạn tính, tăng huyết áp, suy thận, bệnh nhân có thể tử vong do nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn hoặc hội chứng urê máu cao.

BS. DƯƠNG ĐÌNH HANH Theo SK&ĐS

Cập nhật thông tin chi tiết về Vị Trí Bể Anoxic (Bể Thiếu Khí) trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!