Xu Hướng 2/2023 # Ứng Dụng Phương Pháp Mô Phỏng Hiện Đại Trong Dạy Và Học # Top 6 View | Channuoithuy.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Ứng Dụng Phương Pháp Mô Phỏng Hiện Đại Trong Dạy Và Học # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Ứng Dụng Phương Pháp Mô Phỏng Hiện Đại Trong Dạy Và Học được cập nhật mới nhất trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Hiện nay khoa kỹ thuật – công nghệ trường Cao đẳng KT-KT Bình Dương đã và đang triển khai một cách rộng rãi và hiệu quả việc ứng dụng phương pháp dạy học với mô phỏng. Bài viết này xin trình bày một số vấn đề quan trọng về việc ứng dụng mô phỏng trong dạy và học.

1. Tổng quan về mô phỏng

1.1. Mô phỏng là gì?

Mô phỏng là việc nghiên cứu trạng thái của mô hình để qua đó hiểu được hệ thống thực, mô phỏng là tiến hành thử nghiệm trên mô hình. Đó là quá trình tiến hành nghiên cứu trên vật thật nhân tạo, tái tạo hiện tượng mà người nghiên cứu cần để quan sát và làm thực nghiệp, từ đó rút ra kết luận tương tự vật thật.

Ta có thể thực hiện việc mô phỏng từ những phương tiện đơn giản như giấy, bút đến các nguyên vật liệu tái tạo lại nguyên mẫu (mô hình bằng gỗ, gạch, sắt…) hay hiện đại hơn là dùng máy tính điện tử (MPMT).

Mô phỏng máy tính sử dụng mô tả toán học, mô hình của hệ thống thực ở dạng chương trình máy tính. MPMT thường được sử dụng rất có hiệu quả để nghiên cứu trạng thái động của nguyên mẫu trong những điều kiện nếu nghiên cứu trên vật thật sẽ khó khăn, tốn kém và không an toàn.

Mô phỏng máy tính là hiển thị một chuỗi các hình ảnh hoặc khung hình trên màn hình phỏng theo một chuyển động nào đó. Thực ra, mô phỏng là một dạng ảo ảnh thị giác, tạo nên sự năng động, truyền sinh khí và chuyển động cho những đối tượng khô khan.

Mô phỏng trên máy tính là xu hướng dạy học mới, hiện đại đã và đang được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực. Trong lĩnh vực giáo dục, các bài giảng có ứng dụng mô phỏng kết hợp phương tiện nghe nhìn hiện đại sẽ tạo cho sinh viên nhiều kỹ năng như: khả năng hoạt động quan sát (các hình ảnh tĩnh hoặc động), khả năng thao tác trên đối tượng, khả năng tự do phát triển tư duy, lựa chọn con đường tối ưu để nhận thức.

Để xây dựng mô phỏng trên máy tính, có nhiều phần mềm rất hiệu quả. Phần mềm Flash là một trong những phần mềm làm mô phỏng sớm nhất. Flash thực hiện mô phỏng dựa trên các hình ảnh vector. Flash chỉ cần dùng một băng thông hẹp để tạo nên một đối tượng có thể chuyển động từ nhiều điểm, theo nhiều hướng khác nhau cùng một lúc. Ngoài ra Java cũng là một trong những phần mềm mô phỏng thông dụng và hiệu quả nhất hiện nay.

1.2. Phương pháp dạy học với mô phỏng:

Cùng với sự phát triển công nghệ thông tin, việc đưa máy tính vào các trường học đã tạo ra bước ngoặc lớn trong việc dạy học. Sử dụng mô phỏng trên máy tính là phương pháp dạy học tích cực phát huy cao độ tính độc lập, khả năng làm việc trí tuệ của sinh viên, tạo ra một nhịp độ phong cách trạng thái tâm lí mới làm thay đổi phương pháp và hình thức dạy học. Đặc biệt, mô phỏng diễn tả những quá trình động bên trong của các quá trình, các thiết bị mà trước đây không thể thực hiện trong phạm vi nhà trường. Hiện nay, trong dạy học cũng như nghiên cứu đã tìm kiếm và đưa vào vận dụng “phòng thí nghiệm và thực hành ảo”.

Phương pháp mô phỏng trong dạy học là phương pháp tiếp cận nhận thức thế giới thực thông qua mô hình tĩnh hoặc động. Bằng phương pháp mô phỏng, sinh viên không chỉ tiếp thu kiến thức một cách sâu sắc mà trong quá trình học họ còn có thể tìm ra cách tiếp cận vấn đề, con đường cách thức để đạt mục tiêu bài học. Đặc biệt sinh viên còn có thể tạo dựng và điều khiển tại chỗ các đối tượng theo ý muốn. Tìm tòi phát hiện một số quan niệm mới cũng như rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp.  

1.3. Ưu điểm nổi bật của phương pháp dạy học với mô phỏng

Có nhiều ưu điểm của phương pháp dạy và học với mô phỏng:  

– Mô phỏng cung cấp cho sinh viên những kinh nghiệm cụ thể về đối tượng học tập theo kiểu trải nghiệm gián tiếp. Với khả năng điều khiển đồng thời tất cả các thành phần như hình ảnh, âm thanh, video, theo năng lực và sở thích của cá nhân, sinh viên có thể tự trải nghiệm về đối tượng. Điều này không thể có được nếu như các phương tiện này được thể hiện tuần tự theo một trật tự cố định, một nhịp độ cố định mà chưa hẳn đã phù hợp với người học. Trong các bài giảng, bằng sự kết hợp của mô phỏng 3 chiều, của âm thanh nổi, bằng diễn biến tuỳ thuộc vào kỹ năng điều khiển của sinh viên, có thể tạo nên được những trạng thái, cảm xúc hồi hộp, sung sướng, lo sợ… mà không một bộ phim hay một hình ảnh, âm thanh riêng lẻ nào có thể tạo nên. Điều quan trọng hơn, đó là từ những trải nghiệm này, sinh viên có được những kinh nghiệm cụ thể về tư duy, về hành vi, về ứng xử.

– Sức mạnh sư phạm của mô phỏng thể hiện ở chỗ nó huy động tất cả khả năng xử lý thông tin của sinh viên. Tất cả các cơ quan cảm giác của con người (tay, mắt, tai …) cùng với bộ não hợp thành một hệ thống có khả năng vô cùng to lớn để biến những dữ liệu vô nghĩa thành thông tin. “Trăm nghe không bằng một thấy”, nhưng nếu cái thấy là thực thể vận động thì ý nghĩa còn lớn hơn rất nhiều. Do đó mô phỏng có khả năng cung cấp một kiến thức tổng hợp và sâu sắc hơn so với chỉ dùng các giáo trình in kèm theo hình ảnh thông thường.  

– Mô phỏng được sử dụng để huấn luyện, cung cấp những kinh nghiệm gián tiếp trước khi sinh viên thực hành thực tế. Điều này được thực hiện đối với những công việc có thể gây nhiều nguy hiểm cho con người, ví dụ như việc đóng điện xung kích MBA hay hòa điện máy phát điện đồng bộ. Với những công việc như thế, bằng các trải nghiệm gián tiếp tạo ra nhờ kỹ thuật mô phỏng. Nhờ thế, khi bước vào thực tế (như là một công nhân vận hành máy điện…) sinh viên đã thuần thục các qui trình, qui tắc cần làm để giảm thiểu tối đa rủi ro có thể gây ra cho con người và thiết bị.  

-  Mô phỏng cho phép sinh viên làm việc theo nhịp độ riêng và tự điều khiển cách học của bản thân, kích thích sự say mê học tập của sinh viên. Mô phỏng giúp sinh viên học với một người thầy vô cùng kiên nhẫn.

– Giáo viên cũng có thể tìm thấy ở mô phỏng những khả năng độc đáo cho việc tổ chức giảng dạy, làm cho hoạt động học trở nên tích cực hơn. Ví dụ, giáo viên có thể tải từ internet một đoạn mô phỏng về hoạt động của một máy phát điện, hướng dẫn cho sinh viên cách quan sát chuỗi hoạt động trên mô phỏng và sau đó sinh viên có thể tự mình trình bày lại nguyên lý hoạt động của máy phát điện.

– Mô phỏng giúp giáo viên làm việc một cách sáng tạo, tìm được giải pháp thay thế những hoạt động học thiếu hiệu quả.  

2. Các mục tiêu cần đạt được khi dạy học bằng mô phỏng  

2.1.1. Thông tin và lĩnh hội kiến thức

Giáo viên phải đảm bảo rằng sinh viên sẽ tiếp thu kiến thức một cách sâu sắc thông qua việc dạy học bằng mô phỏng. So với các phương tiện dạy học truyền thống, mô phỏng trên máy tính biểu diễn các hiện tượng trong sự phối hợp với màu sắc âm thanh, lời giải thích, tạo sự cuốn hút sinh viên, kích thích hứng thú học tập, tạo cho sinh viên chú ý thực hiện hành động lĩnh hội khái niệm. Do đó hiệu quả bài giảng và chất lượng lĩnh hội kiến thức của sinh viên được nâng cao hơn.

Giáo viên phải biết tạo cơ hội phát huy tư duy sáng tạo của sinh viên. Cụ thể thông qua các mô phỏng, giáo viên có thể rèn luyện cho sinh viên các thao tác tư duy: cách quan sát, khả năng mô tả và diễn đạt tư duy tạo điều kiện cho họ hình thành năng lực phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa và trừu tượng hóa.

2.1.2. Rèn luyện kỹ năng thực hành

Giáo viên phải thông qua bài giảng bằng mô phỏng để rèn luyện cho sinh viên kỹ năng thực hành. Cụ thể sinh viên có thể tự mình tiến hành mô phỏng với các phần mềm đơn giản kết hợp với các kiến thức tin học cơ sở để điều chỉnh tại chỗ quá trình mô phỏng theo ý muốn. Hơn nữa sinh viên còn được rèn luyện kỹ năng tư duy thuật toán, kỹ năng lập trình… tạo khả năng thích ứng với xã hội thông tin trong tương lai.  

2.1.3. Giáo dục nhân cách

Giáo viên phải thông qua phương pháp dạy học bằng mô phỏng để rèn luyện cho sinh viên tính độc lập, tự chủ kiên trì, cần cù và chăm chỉ. Đặc điểm phương pháp mô phỏng là gây hứng thú cho sinh viên, làm cho sinh viên yêu thích môn học, tạo tiền đề cho việc định hướng nghề nghiệp.

3. Ứng dụng mô phỏng vào việc dạy và học:

Mô phỏng có thể được sử dụng trong mọi tình huống giảng dạy và học tập:

– Giáo viên có thể dùng mô phỏng trong phần mở bài để đặt sinh viên trong tình huống có vấn đề, tạo trạng thái tâm lí sẵn sàng tham gia tích cực vào quá trình lĩnh hội kiến thức mới.  

– Giáo viên có thể từ mô phỏng để gợi mở phát triển những ý tưởng mới cho sinh viên.  

– Khi ứng dụng mô phỏng để giảng dạy, giáo viên không chỉ giúp sinh viên nắm kiến thức môn học mà còn phải tìm cách để sinh viên hiểu biết cả con đường đã dẫn đến kiến thức. Phương pháp này có tính trực quan cao, giúp sinh viên có thể quan sát những hình ảnh trừu tượng không thể trực tiếp tri giác được.  

– Tương ứng với mỗi bài học, giáo viên chọn phương pháp mô phỏng thích hợp (hình học, động hình học, động lực học). Trong một số trường hợp đối với một số sinh viên có khả năng cơ bản về lập trình, họ có thể trực tiếp xây dựng những hình ảnh mô phỏng trên máy tính theo nhiệm vụ giáo viên đặt ra với sự hướng dẫn của giáo viên, qua đó sinh viên phát huy tính độc lập sáng tạo tìm cách thực hiện nhiệm vụ được giao.  

– Với một chương trình mô phỏng được thiết kế tốt, sinh viên có thể tự học mà vẫn đạt kết quả tốt như học với giáo viên. Điều này tạo điều kiện cho việc cá thể hóa trong học tập (rất cần thiết khi kiến thức và năng lực nhân cách của sinh viên không đồng đều).  

– Giáo viên và sinh viên có thể sử dụng mô phỏng như một tài liệu giảng dạy và học tập độc lập (chủ yếu phục vụ tự học, tự nghiên cứu). Tài liệu học tập kiểu này được cung cấp trên web hay cung cấp qua đĩa CD.  

– Giáo viên có thể sử dụng mô phỏng phối hợp với các phần mềm trình chiếu khác như power point hay giảng dạy trên web.

Tuy nhiên khi dạy học với mô phỏng trên MTDT ta cần lưu ý những điểm sau:

– Giáo viên và sinh viên cần có một số kiến thức tin học nhất định, kỹ năng sử dụng máy tính và các thiết bị kết nối với máy tính.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Allan.C.Ornstein, Francis.P.Hunkins. Curriculum: Foundations, Principles and Issues- Allyn & Bacon. 1998.

2. Martyn Sloman. A Handbook for Training Strategy. Gower. 1998.

3. M.David Merrill. Knowledge Objects & Mental Model. Utah State University.

4. Paul R.Burden & David M.Byrd. Methods for Effective Teaching. Allyn and Bacon.1994

5. Tổng quan về phương pháp mô phỏng và ứng dụng mô phỏng trong dạy học kỹ thuật – nghề nghiệp. Nguyễn Văn Mạnh. Thông tin khoa học đào tạo nghề. Tổng cục dạy nghề.

Ứng Dụng Mô Phỏng Monte Carlo Cho Ước Lượng Đkđbđ Đối Với Các Đại Lượng Tương Quan

Ứng dụng mô phỏng Monte Carlo cho ước lượng độ không đảm bảo đo đối với các đại lượng tương quan

Tóm tắt: Trong báo cáo này, chúng tôi trình bày kết quả ứng dụng mô phỏng Monte Carlo đối với các đại lượng tương quan

1. Giới thiệu

            Viện cân đo quốc tế đã công bố cuốn sách Bổ sung 1 cho hướng dẫn diễn đạt độ không đảm bảo đo (ĐKĐBĐ) vào cuối năm 2008 [1, 2]. Đây là cách tiếp cận mới để ước lượng ĐKĐBĐ bằng cách truyền phân bố sử dụng phương pháp Monte Carlo (MC). Tại Hội nghị KHKT đo lường toàn quốc lần thứ V chúng tôi đã trình bày việc ứng dụng phương pháp mô phỏng này để ước lượng ĐKĐBĐ trong phép hiệu chuẩn bình chuẩn dung tích theo phương pháp khối lượng và hiệu chuẩn bước song bằng kỹ thuật tần số phách. Tuy nhiên các đại lượng trong 2 ví dụ đã nêu là các đại lượng không tương quan.

            Vấn đề đặt ra là với các đại lượng tương quan (ví dụ như khi dùng tổ hợp các quả cân thì ĐKĐBĐ của tổ hợp bằng tổng đại số của ĐKĐBĐ của các quả cân thành phần – theo hướng dẫn tại OIML R111 [3]) thì kết quả mô phỏng Monte Carlo sẽ như thế nào? Để giải quyết câu hỏi này chúng tôi đã tiến hành lập trình lại và nhận được kết quả khả quan.

2. Thuật toán mô phỏng

            Trong báo cáo tại Hội nghị lần thứ V, chúng tôi mô phỏng riêng biệt từng đại lượng, nghĩa là lần lượt đối với mỗi đại lượng đầu vào Xi gieo M số (M là số Monte Carlo, thường bằng 106) theo hàm mật độ xác suất (theo đúng hướng dẫn của BIPM).

            Đối với các đại lượng đầu vào Xi tương quan nên chúng tôi đã tiến hành gieo M số ngẫu nhiên trước, sau đó sử dụng mỗi số ngẫu nhiên đã thu được R(j), xác định giá trị đại lượng đầu vào Xi(j) theo hàm mật độ xác suất (j = 1, M).

Mô Thức Irac Và Ứng Dụng Trong Tư Vấn Pháp Lý

Bài viết sau bàn về ứng dụng của mô hình IRAC trong tư vấn pháp lý, chúng tôi lược dịch từ một số bài viết bằng ngôn ngữ Tiếng Anh và được viết lại theo quan điểm của người viết, phù hợp với môi trường pháp luật Việt Nam. Các ví dụ trong bài viết này cũng được thu thập từ nguồn internet.

IRAC được phiên âm tiếng anh là /ˈaɪræk/ (EYE-rak), viết tắt của 4 từ Tiếng Anh: Issue – Relevant Law – Application Facts – Conclusion. Đây là một mô thức được ứng dụng rất nhiều và được ứng dụng làm phương pháp để phân tích và giải quyết các tình huống pháp lý. Các trường đào tạo ngành luật và luật sư ở Mỹ, Anh hay Úc đều được đào tạo phương pháp này để ứng dụng không chỉ trong giải quyết các vấn đề pháp lý mà còn được ứng dụng như một kỹ năng tư duy pháp luật, tìm kiếm luật, ý kiến pháp lý, thư từ pháp lý, hay ứng dụng để nghiên cứu hồ sơ vụ việc.

Trước hết, IRAC có thể được hiểu như sau:

· I: Issue – Vấn đề

· A: Application Facts – Vận dụng luật vào tình huống

· C: Conclusion – Kết luận

Khi tiếp cận một vấn đề – tình huống từ khách hàng, nhiệm vụ của Luật sư là phải mã hóa được ngôn ngữ thông thường thành các ngôn ngữ pháp lý. Thông tin của khách hàng thường được chuyển tải dưới ngôn ngữ thông dụng của khách hàng đi kèm với những cảm xúc cá nhân của người nói. Do đó, việc mã hóa thành ngôn ngữ pháp lý là điều tối quan trọng để Luật sư có thể tiếp cận vấn đề đúng hướng và hiệu quả nhất. Sau khi đã có được vấn đề pháp lý, Luật sư cần phải tìm được những điểm mấu chốt trong vấn đề pháp lý và tìm được những quy định pháp luật sẽ giúp giải quyết được vấn đề. Từ đó ứng dụng những gì tìm được vào tình huống để tìm ra được giải pháp cho vấn đề. Toàn bộ quy trình nêu trên đều có thể được ứng dụng bằng mô thức IRAC.

1. I: Issue – Vấn đề

Mục đích của phần này đó chính là giải quyết được câu hỏi ” Vấn đề pháp lý gì đang được tranh luận là gì? “.

Bẳng cách xác định các sự kiện có ý nghĩa pháp lý, các tính chất pháp lý của vụ việc, các vấn đề cần được giải quyết, các câu hỏi của khách hàng đặt ra, chúng ta có thể xác định được vấn đề cần giải quyết. Thông thường, câu chuyện được khách hàng truyền tải rất dài, rất nhiều tình tiết nhưng Luật Sư chỉ cần tóm lược được tình tiết có ý nghĩa pháp lý.

Thực tế, việc bắt được “vấn đề pháp lý” không phải dễ dàng, Luật sư có thể xác định vấn đề pháp lý sai nếu như không xem xét hết mọi khía cạnh mà khách hàng chuyển tải đến. Hậu quả là các bước tiếp theo (R, A, C) đều không chính xác. Do đó, việc xác định “Vấn đề pháp lý” là rất quan trọng.

Ví dụ: Anh A và chị B yêu nhau và sắp đi đến hôn nhân. Anh A quyết định mua một căn nhà để sau khi kết hôn A và B sẽ về sống chung. Anh A có mượn của mẹ chị B là bà M là 500 triệu để mua căn nhà đó. Tuy nhiên, sau đó A bị tai nạn giao thông và phải nằm bệnh viện rất lâu rồi qua đời. Bà M đòi gia đình anh A phải trả căn nhà đó cho chị B.

Tóm gọn lại sự kiện trên ta chỉ cần quan tâm các vấn đề pháp lý sau:

· A và B chưa kết hôn;

· A sở hữu căn nhà;

· A mượn bà M 500 triệu;

· A chết;

· M đòi sở hữu nhà do A để lại.

Tóm lại: Trình bày I là ta đang làm nhiệm vụ trình bày các “Vấn đề pháp lý cần giải quyết”

· Nêu vấn đề gì đang được tranh luận;

· Kết nối vấn đề bằng câu hỏi pháp lý; và

· Sử dụng cấu trúc ” Vấn đề có hay không…”.

· Pháp luật để giải quyết vấn đề trong trường hợp này là gì? Dân sự, hình sự, hành chính hay thương mại, vv.

· Những thành phần của quy định (Chương, Điều, Khoản, Điểm…)

· Những ngoại lệ đối với quy định (Ví dụ. Pháp luật Việt Nam trong nhiều Luật, Bộ Luật thường có những điều khoản mở, hay những điều khoản nhằm mục đích dẫn chiếu tới Luật/Bộ Luật khác, mà dễ gặp nhất có lẽ là cụm từ “Những trường hợp pháp luật quy định khác”)

· Trường hợp này có thể áp dụng tập quán hay không?

· Có phản biện nào khác đối với vấn đề pháp lý hay không?

Trong một số tài liệu, R ở đây cũng có thể là Rule – các quy tắc pháp luật được áp dụng.

3. A: Application Facts – Vận dụng luật vào tình huống

Tóm lại, khi trình bày A, chúng ta sẽ:

· Đưa ra bằng chứng và giải thích; và

· Đưa ra phản biện đối với kết luận của mình

Trong một số tài liệu, A cũng có thể là Analysic – Phân tích tình huống, nhưng nội hàm của nó vẫn là việc vận dụng luật vào tình huống cần giải quyết.

4. C: Conclusion – Kết luận

Trình bày phần kết luận, Luật sư sẽ phải trình bày được kết luận của từng vấn đề hoặc đưa ra được kết luận tổng thể. Lưu ý rằng, không có câu trả lời đúng hay sai, chỉ có phân tích và tư duy logic căn cứ trên quy định và sự kiện để hướng đến một kết luận hợp lý.

Biến thể của IRAC khi ứng dụng trong thực tiễn:

Khi áp dụng mô thức IRAC trong thực tiễn, tùy thuộc vào từng tình huống pháp lý cụ thể, mô thức IRAC được linh hoạt áp dụng để giải quyết vấn đề pháp lý. Một số biến thể thường xuyên được áp dụng bao gồm:

· (I) – R – A – C

· I – R (A) – C

· I – R – A

Thực ra ở biến thể này, không khuyết thiếu đi C (Kết Luận), mà trong quá trình trình bày R hoặc A, chúng ta đã có được C và không cần thiết phải trình bày C lại lần nữa.

Email: [email protected]

Chào Luật sư,

Tôi vừa tốt nghiệp đại học và được nhận vào làm tại một công ty công nghệ thông tin 100% vốn Việt Nam. Tôi và phía BGĐ công ty ký hợp đồng lao động có thời hạn 2 năm và công việc tôi làm là kỹ sư công nghệ thông tin; mức lương khởi điểm mà tôi được nhận khi vào làm chính thức là 9.000.000 VNĐ. Tuy nhiên, họ lại bảo tôi phải thử việc trong thời gian 4 tháng và lương thử việc tôi được nhận là 6.000.000 VNĐ. Vậy cho tôi hỏi, thấy các bạn tôi bảo rằng công ty tôi làm như vậy là sai, nên tôi muốn hỏi Luật sư lại cho chắc chắn.

Ứng dụng IRAC:

· Vấn đề pháp lý: (1) Thời gian thử việc và (2) lương thử việc

· Câu hỏi pháp lý mấu chốt: Công Ty áp dụng thời gian thử việc và mức lương thử việc là đúng hay sai ?

Bộ Luật Lao Động năm 2012

– Điều 27. Thời gian thử việc

Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.Điều 28. Tiền lương trong thời gian thử việcTiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

– Do công việc của anh A ở công ty là kỹ sư công nghệ thông tin – chức danh cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên. Do đó, thời gian thử việc được áp dụng đối với anh A tối đa là 60 ngày. Trong khi đó, công ty áp dụng thời gian thử việc đối với anh A là 4 tháng (30 ngày x 4 = 120 ngày).

– Mức tiền lương tối thiểu mà anh A được nhận trong thời gian thử việc phải bằng 9.000.000 x 85% = 7.650.000 VNĐ. Trong khi đó công ty áp dụng lương thử việc cho anh A là 6 triệu đồng.

Kết luận từng vấn đề:

(1) Thời gian thử việc mà phía Ban giám đốc công ty yêu cầu anh A là trái quy định của pháp luật.

(2) Công ty đã áp dụng tiền lương anh A nhận được trong thời gian thử việc không đúng với quy định của pháp luật.

Từ đó, chúng ta có thể soạn thảo được một email tư vấn cho khách hàng như sau:

Dear Anh A,

Theo quy định của pháp luật hiện hành tại Điều 27 Bộ Luật Lao Động năm 2012, thời gian thử việc đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên là không quá 60 ngày. Trong trường hợp của anh, công ty áp dụng thời gian thử việc là 4 tháng (tương đương 120 ngày) là hoàn toàn trái với quy định của pháp luật.

· Thứ hai: về mức lương trong thời gian thử việc

Điều 28 Bộ Luật Lao Động năm 2012 quy định tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó. Theo đó, mức tiền lương tối thiểu mà anh được nhận trong thời gian thử việc phải bằng 9.000.000 x 85% = 7.650.000 VNĐ. Trong khi đó, mức lương thử việc mà anh nhận được chỉ là 6.000.000 đồng. Do đó, công ty đã áp dụng mức lương thử việc trái với quy định của pháp luật hiện hành.

Như vậy, theo quy định của pháp luật, công ty đã thực hiện không đúng đối với thời gian thử việc và mức lương mà anh được nhận trong thời gian thử việc. Chúng tôi khuyến nghị anh nên có trao đổi với Ban Giám Đốc công ty về những điểm nêu trên để đảm bảo quyền lợi cho bản thân anh.

Tham khảo/References:https://www.csun.edu/sites/default/files/IRAC%20ANALYSIS_Saunders.pdfhttps://en.wikipedia.org/wiki/IRAChttp://www.kaptest.com/blog/bar-exam-insider/2011/12/02/succeed-on-your-finals-with-our-essay-tips-irac-your-way-to-an-a/http://www.excellenceinlawschool.com/raise-law-school-exam-grade-using-the-irac-method-right-way/http://www.lawschoolsurvival.org/index.php/legal-writing/the-irac-method

Phương Pháp Giảng Dạy Ở Bậc Đại Học Theo Hướng Hiện Đại

Các phương pháp giảng dạy hiện đại ở bậc đại học hiện nay, có thể nói, đang được thực hiện theo các xu hướng: phát huy tính tích cực của quá trình nhận thức; cụ thể hóa và công nghệ hóa các phương pháp giảng dạy. Các phương pháp này không chỉ đòi hỏi giảng viên truyền đạt tri thức cho sinh viên mà còn giảng dạy cho sinh viên biết cách sáng tạo, tự tìm ra tri thức mới. Giảng viên không phải là người cung cấp thông tin đơn thuần mà là người vận dụng các công nghệ, phương pháp hiện đại để hướng dẫn tích cực cho các sinh viên tự chủ động học tập, nghiên cứu qua sách vỡ, tài liệu, và các vấn đề trong cuộc sống. Giảng viên chỉ giữ vai trò như một nhà “cố vấn” khoa học.

Ngoài ra, theo tài liệu của UNESCO, một trường đại học có nền giáo dục đại học hiện đại cần phải đáp ứng 10 tiêu chí sau: là trung tâm đào tạo có chất lượng cao; trung tâm tập hợp các sinh viên có năng lực trí tuệ phát triển cao; cộng đồng toàn tâm, toàn ý, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học; trung tâm học tập tích cực, ý chí học tập thường xuyên, suốt đời; trung tâm bồi dưỡng, cập nhật văn hóa, hoàn thiện tri thức; trung tâm liên thông hợp tác đào tạo, nghiên cứu, và dịch vụ khoa học có chất lượng, hiệu quả cao; trung tâm giải quyết các vấn đề khoa học của của địa phướng, dân tộc, khu vực và thế giới; trung tâm tư vấn về khoa học – công nghệ hiện đại; cộng đồng tích cực tham gia xây dựng nền văn hóa hòa bình; và thích ứng được nhịp sống của thời đại.

Vì vậy, chúng ta cần phải có các giải pháp cải tiến phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại trên để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo ở bậc đại học hiện nay.

1/ Phát huy tối đa tính tích cực, sáng tạo, độc lập của sinh viên

Giải pháp này giúp chúng ta thực hiện hiệu quả việc chuyển hóa từ quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo theo tiêu chí hiện đại trong giáo dục và đào tạo.

Giảng viên cần phải phối hợp các phương pháp giảng dạy khác một cách hợp lý, linh hoạt theo từng bối cảnh cụ thể.

Hướng dẫn, giải thích cho sinh viên hiểu biết rõ quy trình tái tạo tri thức cũng như phương pháp giảng dạy của giảng viên. Từ đó, dịnh hướng sinh viên tự vận dụng trong quá trình học tập, nghiên cứu để đáp ứng yêu cầu của giảng viên.

2/ Chú trọng công tác dạy nghề cho sinh viên

Xã hội hiện nay không chỉ yêu cầu sinh viên nắm vững các tri thức căn bản, hiện đại mà còn phải có được các kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, có tư duy, say mê tìm tòi sáng tạo trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình. Chúng ta cần có các giải pháp sau:

Giảng viên phải trang bị cho sinh viên hệ thống các tri thức về khoa học cơ bản, chuyên nghành; phải hướng các tri thức đó theo mục tiêu xác định của nhà trường.

Nhà trường cần phải đánh giá sinh viên dựa trên cơ sở nắm vững kiến thức cơ sở, chuyên môn và kỹ năng thực hành thành thạo trong nghề nghiệp của sinh viên.

3/ Phương pháp giảng dạy và phương pháp học tập của sinh viên phải thống nhất với phương pháp nghiên cứu khoa học

Đây là giải pháp thiết thực giúp nhà trường và sinh viên phát huy năng lực nghiên cứu khoa học gắn liền với thực tiễn các vấn đề của cuộc sống, tham gia xây dựng và phát triển xã hội.

Nhà trường liên kết chặt chẽ với các Viện, trung tâm nghiên cứu, các cơ sở sản xuất – kinh doanh, các tổ chức, đoàn thể chính trị – xã hội. Nhà trường cùng giảng viên kết hợp, chuyển giao các kết quả công trình nghiên cứu khoa học cho các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế – xã hội.

Nhà trường, giảng viên cần phải tổ chức cho sinh viên học tập và làm bài tập, tham gia nghiên cứu khoa học để vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại.

Nhà trường tăng cường, hỗ trợ cơ sở vật chất cho các hoạt động nghiên cứu khoa học thông qua tổ chức các giảng viên và sinh viên tham gia các chương trình nghiên cứu quốc tế, các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước, cấp bộ, cấp trường…

4/ Hoàn thiện công tác kiểm tra, đánh giá năng lực học tập của sinh viên

Việc kiểm tra và đánh giá năng lực của sinh viên đại học rất có ý nghĩa và quan trọng, cần phải khách quan, đảm bảo hiệu quả về giáo dục, giảng dạy, và học tập, phát triển tương lai của sinh viên.

Nhà trường và giảng viên cần công khai,giải thích, góp ý về kết quả kiểm tra, thi, bảo vệ khóa luận tốt nghiệp… để sinh viên kịp thời tự nhận thức, tự đánh giá đúng khả năng của mình và có hướng điều chỉnh, phán đấu.

Tiêu chí đánh giá cần đảm bảo tính toàn diện, khách quan, có tác dụng khích lệ, phát triển năng lực tư duy, độc lập, sáng tạo của sinh viên; cần đánh giá trên cơ sở kết hợp chất và lượng, nội dung và hình thức, thực chất trình độ và sự tiến bộ theo điều kiện viễn cảnh của sinh viên.

Ngoài việc kết hợp điểm quá trình và điểm thi trong đánh giá, nhà trường và giảng viên cần kết hợp cả điểm cố định và điểm cơ động trong những hoàn cảnh và điều kiện nhất định nào đó của sinh viên trên cơ sở nhận xét, đánh giá lại sự nỗ lực phấn đấu, hoàn chỉnh, bổ sung, chỉnh sửa bài tập, thái độ học tập như thế nào của sinh viên.

5/ Sử dụng tối ưu cơ sở vật chất, phương tiện giảng dạy, học tập

Cơ sở vật chất, phương tiện giảng dạy hiện đại giữ vai trò rất quan trọng trong việc cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường đại học.

Nhà trường cần có kế hoạch đầu tư và sử dụng hiệu quả các cơ sở vật chất, phương tiện, tài liệu không chỉ dành cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học và học tập mà cho cả các hoạt động thể chất của giảng viên và sinh viên.

Tăng cường và mở rộng sự hợp tác giữa nhà trường với các cơ sở sản xuất, các viện, trường đại học, các tổ chức chính trị – xã hội, cá nhân…trong và ngoài nước để tạo điều kiện thuận lợi, vận động cho việc xây dựng, ứng dụng và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ mới, hiện đại, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

Tổ chức và đào tạo, bồi dưỡng giảng viên về kỹ năng sử dụng các phần mềm, phương tiện giảng dạy hiện đại. Khuyến khích các giảng viên và sinh viên tự chế tạo, sáng tạo các phương tiện, kỹ thuật hiện đại phục vụ giảng dạy, nghiên cứu và học tập.

Việc đánh giá, phân loại các phương pháp giảng dạy ở bậc đại học hiện nay đang có nhiều quan điểm tranh luận, nghiên cứu khác nhau. Mỗi kiểu phương pháp đều có những ưu, khuyết điểm khác nhau. Vì vậy chúng ta cần chọn lọc có trọng điểm các phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại để cải tiến, vận dụng và cụ thể hóa phù hợp với định hướng, mục tiêu của nhà trường, môn học và điều kiện thực tiễn của giảng viên, và sinh viên.

Trên cơ sở kết hợp các tiêu chí của một trường đại học hiện đại và thực trạng các yếu tố vật chấtvà con người của trường ta hiện nay, chúng ta cần chú trọng một số giải pháp sau:

Liên kết chặt chẽ với các Viện, trung tâm nghiên cứu, các cơ sở sản xuất – kinh doanh, các tổ chức, đoàn thể chính trị – xã hội để kết hợp nghiên cứu và chuyển giao các kết quả công trình nghiên cứu khoa học cho các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế – xã hội.

Kết hợp cả điểm cố định và điểm cơ động trên cơ sở nhận xét, đánh giá lại sự nỗ lực phấn đấu, hoàn chỉnh, bổ sung, chỉnh sửa bài tập, thái độ học tập như thế nào của sinh viên.

Có kế hoạch đầu tư và sử dụng hiệu quả các cơ sở vật chất, phương tiện, tài liệu cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học, học tập và các hoạt động thể chất của giảng viên và sinh viên.

Tăng cường và mở rộng sự hợp tác giữa nhà trường với các cơ sở sản xuất, các viện, trường đại học, các tổ chức chính trị – xã hội, cá nhân…trong và ngoài nước để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại

(Th.S Chu Bảo Hiệp)

Tham khảm chi tiết hơn tại : https://www.masterskills.org/Trainer-skills-training.htm

Cập nhật thông tin chi tiết về Ứng Dụng Phương Pháp Mô Phỏng Hiện Đại Trong Dạy Và Học trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!