Vọng Tưởng Phân Biệt Chấp Trước Là Gì / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Channuoithuy.edu.vn

: Vọng Tưởng, Phân Biệt, Chấp Trước

Kinh Văn: “Long Vương. Nhữ kiến thử hội, cập đại hải trung, hình sắc chủng loại, các biệt bất da. Như thị nhất thiết, mị bất do tâm, tạo thiện bất thiện, thân nghiệp, ngữ nghiệp, ý nghiệp sở chí”.

Trước tiên, Phật đem những hiện tượng này nói ra, tại sao lại có sự khác biệt nhiều như vậy. Phật nói: “Như thị nhất thiết”.”Nhất thiết” là không những bao gồm động vật chúng ta vừa mới nói, mà còn bao gồm thực vật và cả khoáng vật, thật sự là mỗi mỗi khác nhau. Tiềm tàng của khoáng sản chủng loại thì rất nhiều, có một số loại được con người phát hiện và khai thác, khu vực này trở nên giàu có, ví dụ như dầu hỏa. Quí vị nên biết, còn có thời tiết nhân duyên cũng mỗi mỗi bất đồng. Ví dụ dầu hỏa, khoáng sản này nếu như 200 năm trước được phát hiện và khai thác ra thì cũng không lợi ích gì, nó không đáng một xu. Tại sao vậy. Vào thời đó chưa có xe hơi, chưa có những động lực này nên nó vô dụng. Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển, lợi dụng dầu hỏa làm động lực thì sự phát hiện này biến thành quí báu. Như vậy chúng ta liền biết được, khoáng vật ẩn chứa ở phía dưới, khai thác cũng cần có thời tiết nhân duyên, thời xưa có nhưng không đáng một xu, cho nên nếu bạn suy nghĩ thật kỹ thì sẽ thấy được tính phức tạp của tất cả sự vật giữa Vũ Trụ này.

Kinh Văn: “Nhi tâm vô sắc, bất khả kiến thủ, đãn thị hư vọng, chư pháp tập khởi, tất cánh vô chủ, vô ngã ngã sở, tuy các tùy nghiệp, sở hiện bất đồng, nhi thực ư trung, vô hữu tác giả. Cố nhất thiết pháp, giai bất tư nghị”.

Trong Kinh Hoa Nghiêm, Phật nói cho chúng ta biết, hư không pháp giới tất cả chúng sanh là “Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”.”Tâm” này là chân tâm, còn “Thức” là vọng tâm, chân tâm và vọng tâm là một tâm. Sao gọi là chân tâm, là vọng tâm vậy. Hoàn toàn giác ngộ gọi là chân tâm, kèm theo có mê hoặc là vọng tâm. Mê hoặc là sao. Chúng ta ở trong các buổi giảng thường nói vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, trong tâm bạn chỉ cần có ba thứ này chưa loại bỏ sạch sẽ thì đây chính là vọng tâm, chân tâm không thể hiện tiền. Nếu các thứ này thảy đều gạn lọc hết rồi, hoàn toàn không còn nữa, thì chân tâm liền hiện tiền. Quyết không phải nói, ở ngoài vọng tâm còn có chân tâm, thế là không tìm ra rồi, vậy là chân tâm cũng không có. Cho nên nói “Chân vọng không hai” chính là đạo lý này. Chỉ cần đem vọng tưởng, phân biệt, chấp trước buông xả thì chân tâm liền hiện tiền. Chân tâm là năng hiện, năng hiện vũ trụ hư không. Trong Phật Pháp nói mười pháp giới y chánh trang nghiêm, ngay cả Nhất Chân pháp giới đều do chân tâm hiện ra.

Bạn biết cái thân này còn bất khả thủ, huống hồ là vật ngoài thân. Hay nói cách khác, có cái gì là của bạn đâu, ngay cả cơ thể của mình cũng không phải, như vậy thì bạn mới là thật sự giác ngộ, bạn thật sự nhìn thấu. Nhìn thấu là hiểu rõ rồi, hiểu rõ một cách triệt để rồi. Ở trong Phật Pháp thường nói: “Vạn pháp giai không, nhân quả bất không”.

Nam Mô A Di Đà Phật! Người giảng: Lão Pháp Sư Tịnh Không. Giảng tại: Tịnh Tông Học Hội Singapore. Thời Gian: Ngày 11 Tháng 6 năm 2001. Người dịch: Vọng Tây cư sĩ Biên tập: Phật tử Diệu Hương, Phật tử Diệu Hiền

– [TẬP CUỐI]: Thập Thiện Nghiệp Đạo Không Khó, Nhưng Vì Sao Chúng Ta Không Làm Được?

– [TẬP 79]: Mười Nghiệp Thiện, Bắt Tay Vào Làm Từ Chỗ nào?

– [TẬP 78]: Tại Sao Gọi Phiền Não Là Lậu?

– [TẬP 77]: Giới Điều Không Sát Sanh Được Giảng Như Thế Nào?

– [TẬP 76]: Niệm Phật Công Phu Hay Không,Một Chiêu Cuối Cùng Hiển Lộ Ra Rồi.

– [TẬP 75]: Làm Thế Nào Mới Thật Sự Báo Ân?

– [TẬP 74]: Tâm Hoan Hỷ Sinh Ra Từ Đâu?

– [TẬP 73]: Hoa Khai Kiến Phật Là Cảnh Giới Gì Vậy?

– [TẬP 72]: Phạm Vi Của Nghiệp Rất Lớn.

– [TẬP 71]: Lục Đạo Luân Hồi Làm Sao Mà Có Vậy?

– [TẬP 70]: Hoằng Pháp Lợi Sanh Là Lợi Ích Chúng Sanh, Bạn Có Cần Buông Xả Hay Không?

– [TẬP 69]: Phật Pháp Là Hợp Tình, Hợp Lý, Hợp Pháp.

– [TẬP 68]: Chúng Ta Nên Chọn Lấy: ” Có Lợi Ích Chúng Sanh, Có Lợi Ích Xã Hội”.

– [TẬP 67]: Phật, Bồ Tát Và A La Hán Vì Sao Các Ngài Giáo Hóa Chúng Sanh Được Dễ Dàng?

– [TẬP 66]: Đới Nghiệp Vãng Sanh

– [TẬP 65]: Tứ Y Pháp Này Có Thể Giúp Người Sau Đoạn Nghi Sanh Tín.

– [TẬP 64]: Cái Gì Là ” Trợ Pháp”?

– [TẬP 63]: Làm Thế Nào Đến Tâm Tịnh?

– [TẬP 62]: Hòa Là Thế Nào Vậy?

– [TẬP 61]: Một Kinh Thông, Tất Cả Đều Thông.

– [TẬP 60]: Thành Tựu Chính Mình, Chính Là Thành Tựu Chúng Sanh.

– [TẬP 59]: Phật Dạy Chúng Ta Tùy Duyên.

– [TẬP 58]: Người Tu Đạo Tuyệt Đối Không Cầu Tự Lợi.

– [TẬP 57]: Làm Thế Nào Giúp Những Người Mê Tín Chuyển Đổi Thành Chánh Tín?

– [TẬP 56]: Tâm Của Chúng Ta Rốt Cuộc Trụ Ở Đâu Vậy?

– [TẬP 55]: Học Phật Có Thể Khế Nhập Cảnh Giới Hay Không?

– [TẬP 54]: Mượn Giả Tu Thật

– [TẬP 53]: Chân Ngã Là Gì Vậy?

– [TẬP 52]: Con Người Sống Được Bao Nhiêu Năm?

– [TẬP 51]: Chúng Ta Có Sứ Mệnh Hoằng Pháp Lợi Sanh

– [TẬP 50]: Tâm Hoan Hỷ Được Sinh Ra Từ Đâu?

– [TẬP 49]: Tứ Nhiếp Pháp.

– [TẬP 48]: Ngạo Mạn, Tật Đố Là Phiền Não Vô Cùng Nghiêm Trọng

– [TẬP 47]: Bản Thân Bạn Không Thể Độ, Nguyên Nhân Ở Đâu Vậy?

– [TẬP 46]: Quy Y Nghĩa Là Quay Đầu. Quay Đầu Từ Đâu Vậy?

– [TẬP 45]: Nhiều Việc Không Bằng Ít Việc, Ít Việc Không Bằng Không Việc Gì

– [TẬP 44]: Buông Xả Là Gì Vậy?

– [TẬP 43]: Sám Hối

– [TẬP 42]: Gia Đình Tại Sao Bất Hòa Vậy?

– [TẬP 41]: Chúng Ta Tu Hành, Tu Ở Chỗ Nào Vậy?

– [TẬP 40]: Lễ Kính Chư Phật, Ai Là Chư Phật Vậy?

– [TẬP 39]: Phật Pháp Thừa Nhận Có Sự Tồn Tại Của Thần, Thần Là Gì Vậy?

– [TẬP 38]: Nhân Quả Rất Đáng Sợ, Lời Nói Này Là Thật. Ai Biết Vậy?

– [TẬP 37]: Gốc Rễ Của Tà Kiến Chính Là Cho Rằng Cơ Thể Này Là Ta.

– [TẬP 36]: Muốn Cầu Phật Đạo, Phải Xả Mình Vì Người.

– [TẬP 35]: Người Sắp Chết, Lời Nói Của Họ Thiện, Tại Sao Vậy?

– [TẬP 34]: Phật Pháp Chân Thật Là Có Lợi Ích Cho Chúng Sanh.

– [TẬP 33]: Sân Hận Khởi Lên Như Thế Nào?

– [TẬP 32]: Thế Xuất Thế Gian Phước Đức Lớn Nhất Là Gì?

– [TẬP 31]: Chân Thật Phát Đại Tâm: ” Xả Mình Vì Người”.

– [TẬP 30]: Chư Phật Bồ Tát Vì Nguyện Lực Gì, Tâm Nguyện Của Các Ngài Là Gì?

– [TẬP 29]: Tam Nghiệp Tự Tại!

– [TẬP 28]: Học Vấn Đức Hạnh Nên Bắt Đầu Từ Chỗ Nào?

– [TẬP 27]: Thế Gian Tại Sao Có Nhiều Tôn Giáo Như Vậy?

– [TẬP 26]: Tham Sân Si Chính Là Giới Định Huệ, Giới Định Huệ Tức Là Tham Sân Si.

– [TẬP 25]: Làm Thế Nào Yêu Quốc Gia?

– [TẬP 24]: Chúng Ta Nhập Môn Phật Pháp Từ Đâu?

– [TẬP 23]: Nếu Bạn Không Gặp Được Phật Pháp Bạn Làm Sao Biết Được Thiệt Hay Bất Thiện?

– [TẬP 22]: Phật Pháp Nói, Thật Sự Là Chuyển Nghiệp, Không Phải Là Diệt Nghiệp, Tại Sao Vậy?

– [TẬP 21]: Nguyện Giải Như Lai Chân Thật Nghĩa.

– [TẬP 20]: Bồ Tát Có Một Pháp Có Thể Đoạn Tất Cả Các Khổ Của Ác Đạo, Đây Là Pháp Gì?

– [TẬP 19]: Tín Là Cội Nguồn Của Đạo, Là Mẹ Của Các Công Đức.

– [TẬP 18]: Điều Kiện Đầu Tiên Để Vãng Sanh.

– [TẬP 17]: Giàu Có Từ Đâu Mà Ra?

– [TẬP 16]: Ăn Chay Chắc Chắn Có Lợi Ích. Vì Sao Vậy?

– [TẬP 15]: Tài, Sắc, Danh, Thực, Thùy Là Gốc Năm Đường Đọa Địa Ngục.

– [TẬP 14]: Phụng Sự Sư Trưởng

– [TẬP 13]: Bồ Tát Nghĩa Là Gì Vậy?

– [TẬP 12]: Liễu Đạt Nhân Quả, Tu Thập Thiện Nghiệp.

– [TẬP 11]: Mọi Thứ Đều Ở Lại, Chỉ Có Nghiệp Mang Theo.

– [TẬP 10]: Tu Tâm Chân Thành.

– [TẬP 9]: Khởi Tâm Động Niệm Đều Là Tội Lỗi.

– [TẬP 8]: Thành Thật Niệm Phật.

– [TẬP 6]: Thập Pháp Giới Có Hay Không Vậy?

– [TẬP 5]: Vì Sao Gọi Là Nghiệp?

– [TẬP 4]: Độ Chính Mình – Độ Chúng Sanh, Thành Tựu Mình – Thành Tựu Chúng Sanh.

– [TẬP 3]: Giáo Dục Đạo Đức

– [TẬP 2]: Pháp Môn Bình Đẳng

– [TẬP 1]: Thượng Thiện Là Gì?

Tâm Phân Biệt – Chấp Tướng Là Gì ? Tu Có Nên Mong Cầu ?

Chou Lu : – A Di Đà Phật ! Quang Tử, xin cho mình xin hỏi là TÂM CHẤP TƯỚNG -TÂM PHÂN BIỆT – TÂM BUÔNG XẢ là như thế nào mình không hiểu ??? Xin QT vui lòng giải thích theo cách thế tục vì mình chỉ là sơ học nên đôi khi cách nói trong Phật pháp mình không hiểu lắm. Xin chân thành cám ơn ạ. Nam Mô A Di Đà Phật !

https://youtu.be/rlhMzG4dkT8?t=18s

Quang Tử : – Bạn thân mến , 3 từ trên đều thuộc về nghĩa lí sâu xa của Phật Pháp, rất khó giải thích để bạn có thể hiểu tường tận, ở đây Quang Tử chỉ nói đại khái sơ qua phần cơ bản. Tất cả mọi phàm phu chúng ta đều dùng ” tâm chấp tướng” mà sống, căn cứ vào hình dáng, màu sắc, âm thanh, hương vị, vui buồn, sướng khổ.v.v…. mà phân biệt chia ra, đây là tôi, kia là người khác, đây là của tôi, kia là của người khác, đây là nhà cửa, kia là cây cỏ, kia nữa là trời đất … đây là gia đình tôi, đất nước tôi, kia là gia đình người ta, nước của người ta, đây là sướng, kia là khổ, này là được , kia là mất .v.v… Nói chung là căn cứ vào sự khác nhau của hình tướng ( là tâm phân biệt) bám chấp vào đó cho là thật mà phản ứng hoặc yêu thích, hoặc ghét bỏ.v.v…. ( là tâm bám chấp) rồi từ đó mà sinh ra các việc làm như chăm sóc, giúp đỡ, mua bán, sở hữu… hay chửi mắng, gây gổ, hiềm khích, chiến tranh.v.v… tạo ra đủ loại thiện nghiệp , ác nghiệp…. Nghiệp chồng chất rồi thì sản sinh ra các kiếp sống mới, sinh cõi này, chết đi lại tái sinh cõi khác, sinh tử nối tiếp không ngừng trong 6 cõi luân hồi, phước nhiều thì sinh vào hoàn cảnh tốt, nghiệp nhiều thì sinh vào hoàn cảnh khổ, nhưng chung quy là không ngừng phải sinh – diệt trong 6 cõi ( trời – người – A tu la – súc sinh- ngạ quỷ – địa ngục) gọi là luân hồi. Và cái luân hồi như vậy thì như Phật dạy : vui ít, khổ nhiều, sự nguy hiểm còn nhiều hơn. Cách để chấm dứt được đau khổ của sinh tử luân hồi này là làm ngược lại ngay từ đầu. Thay vì đặt nặng vào sự khác nhau của hình tướng như cái này đẹp / cái kia xấu, rồi các loại phân biệt khác như hay/dở, hơn/ thua, khen/chê, được / mất .v.v….khiến cho tâm phân biệt bùng phát như chúng sinh vẫn thường làm, thì Phật dạy người tu hành cần giảm thiểu, dần dần triệt tiêu các tâm phân biệt này đi, xem mọi thứ bình đẳng, như vậy tâm sẽ trở nên BÌNH YÊN trước mọi thay đổi của cuộc sống. Do xem mọi thứ bình đẳng, sự bám chấp vào hình tướng trong tâm sẽ được giảm thiểu dần, ta không quá đặt nặng đây là TÔI, là CỦA TÔI, kia là của người khác, phải giành giật hơn thua với người khác hay đủ mọi loại tâm lí, hành vi phát sinh giữa quan hệ TÔI / NGƯỜI KHÁC nữa, và người tu sẽ dần dần xuất hiện một tâm lí BUÔNG BỎ, không bám chấp vào chuyện hơn/ thua, khen/chê, sướng/ khổ, được/ mất, có/không của thế gian nữa. Đó chính là tâm BUÔNG XẢ. Khi có tâm buông xả, sự thay đổi khi sướng khi khổ, khi được khi mất… thay đổi thất thường của cuộc sống dần dần không còn ảnh hưởng đến tâm của người tu hành nữa. Đối diện với lời Khen/ tiếng Chê , tâm bình đẳng xem chúng như nhau, như tiếng gió thoảng bên tai, rồi sẽ biến mất chẳng còn dấu vết, vì thế tâm bình thản, không bị sự chê bai dày vò. Đối diện với sự hơn/ thua, tâm bình đẳng xem chúng như nhau, vì nay hơn người mai sẽ có lúc lại thua người, sự đời thay đổi không ngừng như sự lên xuống của sóng biển, không có gì chắc chắn, vì thế tâm bình thản, không bị cái khổ của sự thua thiệt dày vò. Đối diện với sự được / mất, tâm bình đẳng xem chúng như nhau, vì nay được cái gì rồi chắc chắn sẽ có ngày phải mất nó đi, quy luật này không bao giờ thay đổi, ngay cả tính mạng này còn không có cách gì giữ mãi được, thì những thứ khác cách nào mà giữ được. Mọi thứ ta ĐƯỢC rồi chắc chắn sẽ phải MẤT, giống như những thứ có được trong giấc mộng, tỉnh dậy liền biến mất, chẳng còn thấy đâu. Hiểu được vậy ngay từ đầu rồi thì sau này khi đối diện với sự mất mát, tâm vẫn bình thản, không bị cái khổ của mất mát dày vò. Những sự việc khác cũng lại như thế, tâm luôn giữ bình đẳng, không để sự khác biệt của các hình tướng ảnh hưởng, thì sẽ có được sự bình thản để đối diện với mọi thay đổi của cuộc sống, và cái còn ở lại bền lâu trong tâm ta, đó là SỰ YÊN BÌNH. Niềm vui khi ta nhận được lời khen, hay khi thắng cái gì đó, được cái gì đó, thực ra sẽ nhanh chóng biến mất sau một thời gian ngắn, để lại trong tâm một sự thiếu vắng, hay một sự chán trường, thậm chí là cảm giác mất mát dày vò khổ sở. Không bao giờ có cách nào để duy trì những niềm vui ấy được vĩnh cửu cả. Còn sự YÊN BÌNH mà tâm đạt được khi thực hành tâm buông xả, thì nếu tu hành đạt đến cực hạn, sẽ trở thành vĩnh cửu, không bao giờ mất, đó là cảnh giới GIẢI THOÁT của các bậc tu hành chứng được Thánh quả A La Hán, Bích Chi Phật, Bồ Tát, Phật, gọi là NIẾT BÀN.

Tàng Sơn:

– Anh Quang Tử ơi. Em có điều này muốn hỏi ạ. Em thấy phần đông mọi người tu tập đều có sự mong cầu: cầu phúc đức, trí tuệ, cầu cho người thân bạn bè, gia đình họ hàng quyến thuộc được sức khoẻ, bình an, sung túc. Cầu vãng sinh tịnh độ, cầu giải thoát đắc đạo… bao nhiêu là sự mong cầu. Em nghĩ là khi mình tu mục đích là MẤT ĐI, Chứ không phải là đạt được. Mất đi tham, sân, si, mạn, nghi, tà tri, ác kiến. Mất đi sự ngu si mê mờ. Em nghĩ vậy. Không biết có điều gì chưa ổn không ạ ?

Quang Tử :

– Suy nghĩ của em đúng, chính xác là Phật dạy như vậy, nhưng là dạy cho riêng Đại Bồ Tát đã phát Bồ Đề Tâm từ vô số A tăng kì kiếp, cúng dường vô số Đức Phật, công đức sâu dày vô lượng. Các vị ấy có thể thấu triệt Bát Nhã, hiểu rõ tất cả vũ trụ, pháp giới, tất tần tật từ tiền tài danh vọng, gia đình thế gian, cho đến xuất thế gian, từ quả vị Thánh đầu tiên là Tu Đà Hoàn cho đến Phật Quả , 100%,1000%… đều không có thật tướng, đều không thể đạt được, không thể sở hữu – bất khả đắc. Nên tâm không mong cầu bất kỳ điều gì, bất kỳ cái gì, như trong Bát Nhã Tâm Kinh viết ” Dĩ vô sở đắc cố, Bồ Đề Tát Đỏa Bát Nhã Ba La Mật Đa cố…”

Nhưng nếu không phải Bồ Tát, những người khác liệu có làm được không ? KHÔNG

Vì tập khí sâu dày của chúng sinh là mong cầu, là muốn được cái gì đó. Nếu không biết Đạo, thì mong sở hữu, mong được tình- tiền – quyền – danh.v.v… biết Đạo một chút rồi thì muốn được sinh lên trời, muốn được sinh về Cực Lạc, muốn thành Thánh quả. Nếu bây giờ , ngay buổi đầu vào Phật Pháp, người ta nghe tu theo Phật rồi thì chẳng được cái gì cả, thế thì mọi chuyện chấm dứt luôn ở đây, ai đi đường nấy, vì không được gì thì đa số 99,99% con người ta không có động lực để làm gì hết.

Nên Đức Phật, Người vô cùng trí tuệ, vô cùng từ bi, Người lập ra đủ thứ mục đích cho chúng sinh khởi tâm mong muốn tu hành , từ giàu sang, hạnh phúc…, từ hết nghiệp, thoát nạn, từ sinh lên trời đến Vãng Sinh, từ Tu Đà Hoàn cho đến thành A La Hán, Bích Chi Phật ,cho đến thành Bồ Tát, thành Phật .

Miễn là chúng sinh chịu tu hành, chịu gieo trồng duyên lành trong Phật Pháp, chịu trồng nhân Bồ Đề, thì cho dù ban đầu tu là vì mong cầu điều gì đó, là chưa có đúng như thật với bản chất của Đạo, nhưng vô lượng kiếp sau đó, nhân Bồ Đề sẽ nảy nở, phát triển dần dần, cho đến một ngày viên mãn, trí tuệ Bát Nhã sẽ mở ra, tự nhiên lúc đó mọi mong cầu sẽ tan biến, nhận ra rằng :

” Thì ra mọi thứ có hình tướng đều không thể sở hữu, là ảo ảnh , còn thể tánh Niết Bàn không tướng thì vốn sẵn có, chưa từng mất đi vì là vĩnh cửu, thường trụ” Thế nên tâm tự nhiên không mong cầu muốn được gì – vô sở đắc.

Hiểu rõ tiến trình này, khi hóa độ chúng sinh, luôn luôn ta phải biết chúng sinh đó đang ở trình độ nào, căn cơ nào mà tùy cơ giáo hóa.

Ta không thể đòi hỏi một hạt mầm mới trồi khỏi mặt đất có tính chất cứng cáp, vững trãi như một cây đại thụ ngàn năm. Thế nên Bồ Tát cần có tâm từ bi vô hạn, lòng bao dung vô hạn, sức kiên nhẫn vô hạn, trí tuệ vô hạn , phương tiện vô hạn để nhiếp phục tất cả mọi căn cơ của mọi chúng sinh.

*Lưu ý : Đây là những chia sẻ kinh nghiệm – quan điểm cá nhân của Quang Tử trong quá trình nghiên cứu kinh điển của Đức Phật, không đại diện cho tông môn nào.

Các bạn có thể xem đây là một lời khuyên chân thành từ một đồng đạo. Nếu có gì thiếu sót, Quang Tử mong nhận được sự đóng góp của các bậc thiện tri thức mọi nơi.

Xin chân thành cảm tạ !

Ban Chấp Hành Đảng Bộ Là Gì? Tìm Hiểu Ban Chấp Hành Đảng Bộ Việt Nam

Việc làm Công chức – Viên chức

1. Khái quát về Ban Chấp hành Đảng bộ là gì?

Chấp hành là động từ để chỉ hành động làm theo những điều đã được đề ra trong các văn bản quy phạm pháp luật, các loại văn bản cá biệt hoặc làm theo mệnh lệnh của cấp trên. Với cách giải nghĩa như vậy thì phần nào đã giúp các bạn tháo được một nút thắt để đi sâu hơn nữa vào việc tìm hiểu ý nghĩa của Ban chấp hành.

Chấp hành là từ thích hợp về mặt ý nghĩa để có thể diễn tả được những hoạt động mang tính đặc thù về một bộ phận, tập thể làm việc trong bộ máy Nhà nước. Từ chấp hành được sử dụng với mục đích trang trọng mà không mang các tính chất khác, giúp cho người nghe có thể dễ dàng hiểu được ý nghĩa của từ này. Tuy nhiên, các bạn cũng cần hiểu nghĩa trong từng trường hợp áp dụng động từ này.

“Ban chấp hành” là danh từ, là cụm từ được sử dụng để chỉ tập thể những người đang làm việc trong bộ máy Nhà nước – Đại hội, được Đại hội của một tổ chức chính Đảng và đoàn thể lựa chọn, bình bầu ra để thực hiện tất cả những nghị quyết của Đại hội cũng như thực hiện công tác lãnh đạo các công tác giữa các kỳ Đại hội diễn ra.

Ban Chấp hành Đảng bộ là một tập thể những người làm việc trong Đảng bộ, được Đại hội của tổ chức Đảng bộ và đoàn thể bầu ra để thực hiện các nghị quyết của Đại hội cũng như là làm theo các chủ chương của Nhà nước, lãnh đạo công tác giữa những kỳ Đại hội diễn ra.

Ban chấp hành Trung ương là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng cộng sản Việt Nam trong việc chấp hành các nghị quyết của Đại hội. Những Ủy viên trong Ban chấp hành Trung ương được Đại hội Đại biểu toàn quốc bình bầu ra để thực hiện và nắm giữ vai trò trở thành lãnh đạo trong nhiệm kỳ 5 năm. Người đứng đầu Ban chấp hành Trung ương được gọi là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương, được các Ủy viên trong Ban Chấp hành Trung ương bầu ra.

Nhiệm vụ của Ban Chấp hành Trung ương cụ thể như sau:

Tổ chức và chỉ đạo thực hiện những Cương lĩnh chính trị, các Điều lệ của Đảng, các Quyết định, các Chủ trương chính sách, các Nghị quyết… về đối nội đối ngoại và các công tác quần chúng, công tác xây dựng Đảng. Đồng thời Ban Chấp hành Trung ương còn chuẩn bị kỹ cho Đại hội đại biểu toàn quốc của nhiệm kỳ tiếp theo hoặc là những Đại hội đại biểu toàn quốc bất thường.

Ban Chấp hành Trung ương có nhiệm vụ bầu ra Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, bầu ra Ủy ban Kiểm tra Trung ương, quyết định về số lượng các Ủy viên trong Bộ Chính trị, thành lập ra Ban Bí thư (Tổng Bí thư, một số Ủy viên trong Ban Chấp hành Trung ương, một số Ủy viên của Bộ Chính trị được phân công)…

Triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc (diễn ra 5 năm một lần).

Những cơ quan Trung ương tham mưu cho Ban Chấp hành Trung ương: Bao gồm Văn phòng Trung ương (Chánh Văn phòng là người đứng đầu), Ban tổ chức Trung ương (Trưởng ban là người đứng đầu), Ban Tuyên giáo Trung ương (Đứng đầu là Trưởng ban); Ban Dân vận Trung ương (Trưởng ban là người đứng đầu), Ban Đối ngoại Trung ương (Trưởng ban là người đứng đầu), Ban Nội chính Trung ương (Trưởng ban là người đứng đầu), Ban Kinh tế Trung ương, Hội đồng lý luận Trung ương (Chủ tịch là người đứng đầu), Ban Cán sự Đảng Ngoài nước (Trưởng ban là người đứng đầu).

Ban chấp hành Đảng bộ cấp Tỉnh là Tỉnh ủy, Bí thư Tỉnh ủy là người đứng đầu. Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố Trực thuộc Trung ương gọi là Thành ủy, Bí thư Thành ủy là người đứng đầu. Hội nghị Đảng bộ cấp Tỉnh sẽ được tổ chức nhằm bình bầu ra Ban Thường vụ cấp Tỉnh, Thường trực cấp Tỉnh, Ủy ban Kiểm tra cấp Tỉnh và còn nhiều chức danh khác như: Bí thư cấp Tỉnh, Phó Bí thư cấp Tỉnh, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra cấp Tỉnh.

Những cơ quan tham mưu cho Ban Chấp hành Đảng bộ cấp Tỉnh đó là: Văn phòng cấp Tỉnh, Ban Tổ chức cấp Tỉnh, Ban Dân vận cấp Tỉnh, Ban Tuyên giáo cấp Tỉnh: đứng đầu là Trưởng ban, Ban Nội chính cấp Tỉnh, Ban Kiểm tra cấp Tỉnh, Ban Bảo vệ Chăm sóc Sức khỏe Cán bộ cấp Tỉnh.

Nếu như Ban Chấp hành cấp Tỉnh được gọi là Tỉnh Uỷ, Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã được gọi là Thị ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ Quận được gọi là Quận ủy thì Ban Chấp hành cấp huyện được gọi là Huyện ủy. Đây là cách mà mọi người thường sử dụng và là cách gọi tắt.

Ủy viên của Ban Chấp hành Đảng bộ được Đại hội Đại biểu Đảng bộ bầu với nhiệm kỳ 5 năm. Hội nghị Đảng bộ sau đó sẽ được tổ chức để bình bầu ra Ban Thường vụ cấp Huyện, Thường trực cấp Huyện, Ủy ban Kiểm tra cấp Huyện và các chức danh lãnh đạo khác bao gồm Bí thư cấp Huyện, Phó Bí thư cấp Huyện và Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra cấp Huyện.

Những cơ quan tham mưu cho Ban Chấp hành cấp Huyện bao gồm: Văn phòng cấp Huyện, Ban Tổ chức cấp Huyện (Trưởng ban là người đứng đầu), Ban Dân vận cấp Huyện (Trưởng ban là người đứng đầu), Ban Tuyên giáo cấp Huyện (Trưởng ban là người đứng đầu), Ủy ban kiểm tra cấp Huyện (Trưởng ban là người đứng đầu).

Ban Chấp hành Đảng bộ Xã, Phường và Thị trấn được gọi là Đảng ủy Xã/Phường/Thị trấn. Đứng đầu là Bí thư Đảng ủy Xã/Phường/Thị trấn.

Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ được Đại hội Đại biểu Đảng bộ bầu ra và có nhiệm kỳ 5 năm. Đảng ủy cấp Xã có từ 9 ủy viên trở lên thì bầu Ban Thường vụ Đảng ủy cấp Xã, Bí thư và Phó Bí thư Đảng ủy cấp Xã. Đảng ủy cấp Xã có dưới 9 ủy viên thì bầu Bí thư và Phó Bí thư Đảng ủy cấp Xã.

Những cơ quan tham mưu cho Ban Chấp hành cấp Huyện bao gồm: Văn phòng cấp Xã ( đứng đầu là người hoạt động không chuyên trách – là Văn phòng Đảng ủy), Ban Tổ chức cấp Xã, Ban Tuyên giáo cấp Xã: đứng đầu là Trưởng ban Tuyên giáo- Dân vận (do Phó Bí thư TT là trưởng ban, phó Ban là cán bộ KCT Ban Tuyên giáo).

Nhiệm vụ của Ban Chấp hành Đảng bộ cấp xã:

Lãnh đạo, thực hiện các nhiệm vụ phát triển nền kinh tế – xã hội và quốc phòng an ninh. Thực hiện các chủ chương và đường lối đề ra của Đảng, thực hiện các chính sách pháp luật theo quy định của Nhà nước.

Lãnh đạo và phát huy vai trò của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã, làm tốt các công tác dân vận, quan tâm đến đời sống tinh thần và vật chất của người dân trong xã, giữ gìn trật tự và an ninh trên địa bàn xã.

Quan tâm đến các công tác giáo dục và rèn luyện các cán bộ, thực hiện việc kiểm tra, giám sát các hoạt động của đời sống người dân trên địa bàn xã.

Thực hiện tốt việc báo cáo lên cấp trên về các thông tin của địa bàn, tuyên truyền những chủ chương chính sách được ban bố để người dân trên địa bàn xã nắm được.

Xây dựng, thực hiện những chương trình kiểm tra và giám sát cấp ủy,

3. Cần hiểu đúng về ý nghĩa của Ban Chấp hành Đảng bộ

Khi tìm hiểu trong ccs giấy tờ như giấy mời được viết bởi các cấp như cấp ủy cơ sở thì cách viết ban chấp hành vẫn còn một số vấn đề bất cập như cách viết Ban Chấp hành Đảng ủy đối với các cấp xã, phường, thị trấn; Ban Chấp hành Huyện ủy đối với cấp Huyện. Trong những cuộc họp tại các tỉnh thì nhiều ủy viên vẫn còn nói là Ban Chấp hành Tỉnh ủy.

Như thế, với cách viết và nói vắn tắt này thì vẫn chưa đúng, theo đó các bạn cần hiểu đúng như sau: Ban chấp hành đảng bộ, chi bộ được gọi tắt là cấp ủy đối với tỉnh, ban chấp hành đảng bộ tỉnh (viết tắt là tỉnh ủy), ban chấp hành đảng bộ huyện (viết tắt là huyện ủy), ban chấp hành đảng bộ cơ sở (viết tắt là đảng ủy), ban chấp hành chi bộ (viết tắt là chi ủy)…

Thuế Trước Bạ Ô Tô Là Gì

Ô tô ở Việt Nam được coi là mặt hàng xa xỉ, tức cần hạn chế sử dụng bằng cách thiết lập các khung chính sách đẩy giá xe lên cao, vì thế khi mua ô tô bạn luôn sẽ đi kèm rất nhiều loại phí và thuế khác nhau như thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt… trong đó có một loại thuế là thuế trước bạ ô tô, vậy thuế trước bạ ô tô là gì, trong bài viết này mình sẽ phân tích cho các bạn biết khái niệm thuế trước bạ là gì, cách tính thuế trước bạ ô tô dành cho mỗi loại xe như thế nào và cuối cùng là thủ tục nộp thuế trước bạ gồm những gì

1) Thuế trước bạ là gì

Lệ phí trước bạ là một khoản lệ phí mà người sở hữu tài sản cố định phải kê khai và nộp cho cơ quan thuế trước khi đưa tài sản cố định vào sử dụng, vì vậy chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản nhất cho thuế trước bạ ô tô là khi bạn muốn đăng ký quyền  sở hữu xe của mình thì bạn  phải nộp thêm một khoản phí gọi là phí trước bạ cho cơ quan thuế, hoặc bạn muốn sang tên đổi cũ để chuyển tên cho một người khác sở hữu thì bạn cũng phải nộp một khoản lệ phí, lệ phí này được gọi là lệ phí trước bạ

Vì vậy thuế trước bạ chính là khoản thu của ngân sách nhà nước do chủ thể nhận tài sản trong giao dịch dân sự hoặc người chuyển nhượng tài sản trả cho nhà nước để được công nhận địa vị hợp pháp của mình đối với tài sản. Và từ đây chúng ta có thể hiểu đơn giản thuế trước bạ ô tô là mức thuế mà người mua ô tô cần phải nộp để có thể đứng tên là chủ sở hữu tài sản một cách công khai, hợp pháp.

2) phí trước bạ ô tô được tính như thế nào

Hiện tại với quy định hiện hành thì phí trước bạ đối với ô tô khi mua mới là 10%

ví dụ: bạn đang muốn mua một chiếc Hyundai Santafe, chiếc xe sẽ  có giá là 1.200.000.000 vnd thì phí trước bạ của bạn sẽ được tính là  1.200.000.000 x 10% = 120.000.000 VND

còn đối với xe ô tô cũ thì phí trước bạ của ô tô cũ sẽ được tính khác khau tùy vào thời gian xe sử dụng cụ thể như sau

Với xe sử dụng được 1 năm, mức tính phí trước bạ là 85 %

Với xe sử dụng từ 1 năm đến 3 năm, mức tính phí trước bạ là 70 %

Với xe sử dụng từ 3 năm đến 6 năm, mức tính phí trước bạ là 50 %

Với xe sử dụng từ 6 năm đến 10 năm, mức tính phí trước bạ là 30 %

Với xe sử dụng trên 10 năm, mức tính phí trước bạ là 20 %

So với các loại thuế đang được áp dụng cho xe ô tô hiện nay như thuế tiêu thụ đặc biệt hay thuế giá trị gia tăng thì thuế trước bạ ô tô mức phí không đáng kể, nhưng từ ngày 01/01/2018 phí trước bạ sẽ giảm về 0%  thì số tiền bạn bỏ ra để sở hữu một chiếc ô tô vì vậy cũng sẽ được giảm theo

3) Nộp phí trước bạ ở đâu, thủ tục nộp phí trước bạ như thế nào

Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ gồm các giấy tờ, các loại hợp đồng mua bán hợp pháp, giấy khai mức lệ phí trước bạ, giấy đăng kí quyền sở hữu xe,

Bước 2: Đến các chi cụ thuế và tiến hành nộp hồ sơ

Bước 3: Khi nộp thuế trước bạ chúng ta lưu ý kí, nhận biên lai. Tuy nhiên, các bản chính chúng ta giữ và phải nộp lại các bản photo của hồ sơ cho chi cục.