Vì Sao Vua Quang Trung Lại Chết Khi Còn Rất Trẻ?

Công việc xây dựng quốc gia đang tiến hành trôi chảy, thình lình Vua Quang Trung băng hà. Vua băng ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý [79](15-9-1792). Nguyên nhân gây ra cái chết của Vua Quang Trung đã trở thành một nghi án lịch sử. Ðại Nam Chính Biên Liệt truyện ghi rằng: Huệ trong lúc lấy kinh đô Phú Xuân có mạo phạm lăng tẩm của Liệt Thánh. Một ngày kia, đương ngồi, thình lình bắt đầu xây xẩm rồi ngã ra hôn mê. Mơ màng thấy một lão trượng đầu bạc áo trắng, cầm gậy sắt, từ không trung đi đến, mắng rằng: Ông cha mày đều sanh ở đất Vua, mày sao dám mạo phạm đến lăng tẩm?. Nói dứt lời liền lấy gậy sắt đánh nơi trán Huệ. Huệ ngã xuống bất tỉnh, hồi lâu mới tỉnh lại. Từ ấy bịnh càng ngày càng nặng, mới triệu viên Trấn thủ Nghệ An là Trần Quang Diệu về thương nghị việc dời đô ra Nghệ An. Ðó là lời của sử gia Nguyễn Gia Miêu[80] bịa ra để bôi nhọ Vua Quang Trung. Bịa không được khéo, bởi ai kể lại câu chuyện hoang đường ấy cho viết sử chép? Chẳng lẽ Vua Quang Trung kể lại giấc mộng không mấy đẹp của mình? Có người bảo nhà vua bị thượng mã phong. Ðó chỉ là chuyện hài hước. Lại có người độc miệng bảo rằng nhà vua bị Ngọc Hân Công Chúa ám hại bằng cách bỏ thuốc độc vào rượu[81]. Rõ là vu cáo giữa trời! Thiết tưởng Vua Quang Trung chết vì bệnh huyết áp cao, làm việc nhiều, suy nghĩ nhiều, bị đứt mạch máu. Cái chết đột ngột do bệnh huyết áp cao gây nên thường xảy ra và dân gian thường gọi là trúng gió. Chớ nếu quả có điều ám muội thì dễ gì triều đình Tây Sơn đã để yên. Truyền rằng: Mùa xuân năm Nhâm Tý (1792), Vua Quang Trung hay tin Nguyễn Phúc Ánh đã chiếm được Gia Ðịnh và kéo quân ra đánh Quy Nhơn, bèn nổi giận: – Giống cỏ gấu không diệt tận gốc, cứ nảy ra hoài! Liền chuẩn bị kéo đại binh vào đánh. Lục quân từ trên đánh xuống, Thủy quân từ dưới đánh lên. Bao vây mặt biển, cắt đứt đường núi, không cho quân Nguyễn chạy thoát. Mọi việc đã sắp đặt chu đáo thì thình lình nhà vua bị cảm. Bệnh mỗi ngày một nặng. Bèn triệu Trấn thủ Nghệ An là Trần Quang Diệu thương nghị về việc dời đô ra Nghệ An và việc đi đánh Nguyễn Phúc Ánh. Nhưng rồi biết mình không còn sống lâu được nữa, liền trối: – Ta mở mang bờ cõi gồm cả miền Nam. Nay bênh tình của ta không thể khá được, mà Thái Tử thì còn nhỏ. Phía trong thì bọn quốc cừu hoành hành ở Gia Ðịnh. Còn anh ta thì tuổi già, cầu an, không lo hậu hoạn. Ta chết rồi, trong vòng một tháng phải lo việc tống táng cho xong. Các khanh phải đồng lòng phò Thái tử và sớm lo việc thiên đô để khấu chế thiên hạ. Nếu không vậy, binh Gia Ðịnh kéo đến, các khanh không có đất chôn thây. Nói rồi băng tại điện Trung Hòa, ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý. Thọ 40 tuổi.Ở ngôi 5 năm. Thái Tử Nguyễn Quang Toản nối ngôi.

Vì Sao Vua Quang Trung Qua Đời?

Có thể nguyên nhân chính: Đột QuỵBàn luậnCái chết của Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ mãi mãi để lại những nghi vấn cho hậu thế. Đó là cái chết đột ngột, bất ngờ, không bình thường, khi ông mới ở tuổi 40 và đang sung sức. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện (Quốc sử quán triều Nguyễn) chép: “Huệ trong lúc lấy kinh đô Phú Xuân có mạo phạm vào lăng tẩm Liệt thánh. Một ngày kia, đương ngồi, thình lình bắt đầu xây xẩm rồi ngã ra hôn mê. Mơ màng thấy một lão trượng đầu bạc áo trắng, cầm gậy sắt từ không trung đi đến, mắng rằng: “Ông cha mày đều sinh ở đất vua, mày sao dám mạo phạm vào lăng tẩm?”. Nói dứt lời liền lấy gậy sắt đánh nơi trán Huệ. Huệ ngã xuống bất tỉnh, hồi lâu mới tỉnhlại. Từ ấy bệnh ngày càng nặng…” Gạt bỏ phần hoang đường do các sử gia nhà Nguyễn bịa ra để đề cao triều Nguyễn, ta có thể thấy rõ cốt lõi sự thật về cái chết của Hoàng đế Quang Trung. Đó là: ông đang ngồi làm việc thì bất thình lình bị xây xẩm mặt mày rồi ngã ra hôn mê, một hồi lâu được cấp cứu mới tỉnh lại. Sau đó, bệnh càng ngày càng nặng. Xét triệu chứng của hiện tượng trên, ta có thể suy đoán Nguyễn Huệ bị bệnh cao huyết áp do làm việc quá căng thẳng, suy nghĩ nhiều, dẫn đến tai biến mạch máu não. Đối với căn bệnh này, trình độ y học thời bấy giờ đành phải bó tay, dù triều đình có các lương y tài giỏi bên cạnh như Nguyễn Gia Phan, Nguyễn Hoành (còn với nền y học của thời đại chúng ta, bệnh này nếu có thể cứu sống được cũng để lại di chứng nặng nề cho người bệnh như ngớ ngẩn, mất trí nhớ, liệt nửa người…). Tóm lại, đây là một căn bệnh hiểm nghèo ngay cả với nền y học cuối thế kỷ XX. Về cái chết của Hoàng đế Quang Trung, ta cũng có thể nêu một giả thiết khác. Sách Hoàng Lê nhất thống chí ghi: “… Vừa lúc ấy thì vua Quang Trung bị bệnh rồi mất. Hôm ấy nhằm ngày mùa thu, tháng 8 năm Nhâm Tý (1792), sau khi lên ngôi Hoàng đế được 5 năm. Trước đó, khi sứ nhà Thanh sang phong, vua Thanh đã ban cho vua Quang Trung chiếc áo bào, trong có thêu bảy chữ bằng kim tuyến: Xa tâm chiết trục, đa điền thử. Bấy giờ không ai hiểu ra sao, thì ra đến lúc này mới nghiệm”. “Xa tâm chiết trục, đa điền thử” nghĩa đen là: bụng xe gãy trục, nhiêu chuột đồng. Chữ Xa và chữ tâm hợp lại thành chữ Huệ – tên vua Quang Trung. Chuột thuộc về Tý, ý nói năm Tý vua Quang Trung chết. Không phải ngẫu nhiên mà các tác giả Hoàng Lê nhất thống chí gắn cái chết của Hoàng đế Quang Trung với chiếc áo bào vua Thanh tặng. Phải chăng người chép sử muốn kín đáo gửi gắm lại cho hậu thế một nghi án rằng: chính chiếc áo bào là nguyên nhân gây nên cái chết của vua Quang Trung? Phải chăng triều đình Tây Sơn và vua Quang Trung đã mất cảnh giác với chiếc áo bào, có thể đã được tẩm một chất độc nào đấy? Và chính chất độc từ áo đã ngấm dần qua lỗ chân lông người mặc và gây nên cái chết của vua Quang Trung? Sau đại thắng mùa xuân Kỷ Dậu (1789), mấy chục vạn quân Thanh bị tiêu diệt, mấy chục vạn gia đình thân nhân của binh lính nhà Thanh phải chịu tang tóc. Trong bối cảnh đó, chẳng lẽ vua Càn Long và triều đình nhà Thanh không có một chút thù hận nào đó với vua Quang Trung? Đành rằng với tài ngoại giao khéo léo của Ngô Thì Nhậm, lại có sự thu xếp bên trong của Phúc Khang An, nhưng sự dễ dãi của Càn Long và triều đình nhà Thanh đối với nhà Tây Sơn vẫn làm chúng ta nghingờ. Triều đình Tây Sơn xin bỏ lệ cống người vàng, liền được chấp thuận. Càn Long lại coi Quang Trung như con (Càn Long hơn Nguyễn Huệ 42 tuổi). Dễ dãi đến mức Quang Trung đòi đất hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây mà Càn Long cũng chấp thuận thì thật đáng ngờ! Phải chăng sự dễ dãi bên ngoài đó là để làm cho Quang Trung mất cảnh giác nên bị hại ngầm bên trong? Đành rằng khi Càn Long yêu cầu Nguyễn Huệ phải đích thân sang Yên Kinh (1790), triều đình Tây Sơn đã phải dùng kế cho người đóng giả vuaQuang Trung, đó là sự cảnh giác cần thiết. Rồi khi Nguyễn Quang Thuỳ (con Nguyễn Huệ) trong đoàn đi sứ, nửa chừng bị ốm phải trở về (có thể là vờ ốm), đây cũng là sự cảnh giác cần thiết. Nhưng chúng ta vẫn có quyền nghi vấn về sự sơ suất của triều đình Tây Sơn và Hoàng đế Quang Trung đối với chiếc áo này. Sau khi Quang Trung mất, mộ táng ở phái Nam sông Hương. Gia Long lấy được Phú Xuân đã cho quật phá lăng mộ Quang Trung. Vì vậy, vấn đề tìm lại vị trí lăng mộ vua Quang Trung là một việc làm cần thiết, hợp với tình cảm, nguyện vọng và lòng ngưỡng mộ của nhân dân ta đối với vị Hoàng đế anh hùng. Gần đây, qua tìm tòi khảo sát, nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Đắc Xuân đã đồng nhất vị trí phủ Dương Xuân của chúa Nguyễn với Đan Dương lăng – lăng Hoàng đế Quang Trung. Đây là một hướng tìm tòi đúng đắn, cần được đầu tư thêm. Sau khi Quang Trung mất, triều đình Tây Sơn không muốn sứ đoàn nhà Thanh sang viếng tangđi sâu vào nội địa nước ta, nên đã làm mộ giả của vua Quang Trung ở làng Linh Đường (thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội ngày nay). Đây là một sự đề phòng đúng đắn bởi khi Quang Trung mất, triều đình Tây Sơn trong lúc bối rối, có thể bộc lộ nhiều sơ hở và nhược điểm, không thể để lộ cho người ngoài biết. Vì vậy, việc làm một ngôi mộ giả ở làng Linh Đường là cần thiết, nhất cử lưỡng tiện. Gần đây, trong cuốn “Bí mật mộ cố Linh Đường” một số tác giả (Nguyễn Tài Học, Nguyễn Mạnh Cường) cho rằng: lăng đá Linh Đường là mộcủa bà Nguyễn Thị Hoa Dung, vợ Trịnh Doanh (mẹTrịnh Sâm, bà nội Trịnh Tông, Trịnh Cán), đã được các triều thần Tây Sơn chọn làm mộ giả của vua Quang Trung. Theo chúng tôi, giả thiết này khó có thể chấp nhận. Một là, khi Quang Trung mất, triều đại Tây Sơn đang ở thời điểm cực thịnh, làm gì không bỏ ra được một ít công của, xây lăng cho vị Hoàng để lừng lẫy của mình (dù là lăng giả) mà lại phải “mượn” lăng của một người phụ nữ? Theo các tác giả cuốn sách trên, để biến mộ bà Hoa Dung thành mộ giả vua Quang Trung, người ta đã cho tu sửa và xây dựng lại toàn bộ cấu trúc bề ngoài của mộ. Nếu thế thì sao người ta không cho xây dựng hẳn một ngôi mộ mới ở một vị tri khác, công của bỏ ra cũng chỉ tốn đến thế mà thôi? Hai là, khi sang viếng tang, không lẽ cả đoàn sứ bộ nhà Thanh và các đại thần triều Tây Sơn lại phải tế lễ, bái lạy và dâng hương trước lăng mộ của một người phụ nữ thuộc một triều đại thù địch đã bị tiêu diệt? Điều đó thật khó chấp nhận đối với các đại thần nhà Tây Sơn. Vì những lẽ trên, lăng đá Linh Đường hiện còn không thể là mộ giả của vua Quang Trung. Mộ giả của vua Quang Trung đã bị Gia Long quật phá saukhi chiếm được thành Thăng Long (1802). Với chính sách tận diệt của triều Nguyễn, không một di tích nào của triều đại Tây Sơn có thể tồn tại được, huống chi là lăng mộ (dù là giả) của vua Quang Trung! Sau khi vua Quang Trung mất, nội bộ triều Tây Sơn lục đục, tranh giành quyền thế. Các đại than gây bè cánh, sát hại lẫn nhau. Vua Cảnh Thịnh còn nhỏ tuổi, nhu nhược, không thể khống chế được các đại thần khiến nội bộ ngày càng rối ren. Triều đại Tây Sơn suy yếu dần, để mất nước mươi năm sau đó. Gia Long – nhờ thế lực của Pháp – lấy lại được bờ cõi. Nước ta càng ngày càng bị lệ thuộc vào Pháp và cuối cùng, bị Pháp thống trị. Có thể nói: cái chết của Hoàng đế Quang Trung đã làm cho lịch sử rẽ sang một huớng khác, hoàn toàn bất lợi cho dân tộc Việt Nam mà những người đương thời chưa thể lường hết được.

Bí Ẩn Cái Chết Của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ

Cái chết của Nguyễn Huệ thật sự là một trong những bí ẩn lớn nhất lịch sử Việt Nam, vì ông chết chỉ trước 20 ngày đánh trận cuối cùng với Nguyễn Ánh, chết trong cái độ tuổi sung mãn nhất là 40. Có vài giả thiết:

1. Bị Ngọc Hân đầu độc vì ghen khi Quang Trung sai hổ tướng Võ Văn Dũng qua hỏi cưới cách cách của Càn Long. Trong lúc đang đề nghị thì bỗng nghe tin dữ rằng vua qua đời, Dũng té quỵ xuống khóc lóc rồi trở về nước.

2. Bị Càn Long đầu độc bằng chiếc áo bào có mấy chữ thêu bằng kim tuyến “Xa tâm chiết trục, đa điền thử”. Nếu ghép lại thì thành ra lời tiên tri rằng người mặc áo này sẽ chết vào năm Tý. Quả thật năm 1792 là năm Nhâm Tý. Nhưng vua Quang Trung đâu có khờ đến mức mặc áo do kẻ thù ban. Càn Long hơn Quang Trung tới 42 tuổi, là một con cáo già, hẳn Quang Trung phải đề phòng.

3. Sử chép: ” Vua Quang Trung đang ngồi làm việc, bỗng hoa mắt, tối sầm mặt mũi, mê man bất tỉnh. Một hồi lâu được cấp cứu mới tỉnh lại”. Triệu chứng rất giống tai biến mạch máu não, bị cao huyết áp vì làm việc quá căng thẳng, suy nghĩ nhiều. Hoặc bị viêm phổi sặc, xuất huyết dưới màng não. Mà dù thế nào thì vua Quang Trung cũng khó qua khỏi, nếu qua khỏi thì cũng bại liệt, mất trí hoặc ngớ ngẩn. Đây là những căn bệnh nguy hiểm thậm chí đến tận thế kỷ 21.

4. Assassin’s Creed: Dai Viet chronicles. Do sát thủ của Nguyễn Ánh cử ra ám toán.

Mình từng muốn thăm mộ vua Quang Trung nhưng rất cay đắng khi Gia Long đã phá hết. Nhưng sau này tìm hiểu thì mình lại có thêm hy vọng:

Quang Trung hoàng đế không chết ngay buổi chiều hôm ấy mà vài ngày sau mới nhất. Dĩ nhiên ông còn đủ thời gian để trăn trối. Ông ý thức được sự nguy hiểm của Nguyễn Ánh nên bảo Trần Quang Diệu sau khi mình chết hãy đem Quang Toản về Phượng Hoàng Trung Đô, còn an táng cho mình thật sơ sài và nhanh chóng trong vòng 1 tháng, đừng làm cầu kỳ. Cái đêm vua mất thì mọi thứ vẫn nằm trong vòng bí mật. Thậm chí cả đại quân sư La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp mà còn không biết, khi biết thì cũng không được vào vì đường sá canh nghiêm.

Do đó vua sống và làm việc tại một cung điện ẩn dật gọi là Đan Dương. Và muốn giữ được bí mật tuyệt đối thì chỉ còn cách chôn vua ngay tại cung điện đó. Trong bài thơ “Cảm hoài” do Ngô Thì Nhậm viết có chú một đoạn rằng:

– Cung điện Đan Dương là sơn lăng phụng chứa bảo y tiên hoàng ta.

Rất có thể Gia Long đã đào nhầm phải mộ giả Quang Trung, như cách Tào Tháo đã từng làm trước kia. Hiện các nhà khảo cổ vẫn đang ra sức tìm kiếm cung điện Đan Dương ở đâu, mình mà biết là tới ngay.

P/s: Trong thâm tâm của vua Quang Trung là muốn xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô thật hoành tráng để làm thủ đô Tây Sơn, không phải “ở tạm” trên kinh đô cũ Phú Xuân của các chúa Nguyễn. Nên nhớ Tây Sơn lúc đó có 2 vùng, Nguyễn Huệ chỉ giữ đoạn từ Huế trở ra bắc thôi, còn giữa miền trung là của Nguyễn Nhạc. Xem Tây Sơn là 2 nhà khác nhau cũng được.

Vua cho rằng Nghệ An nằm giữa, đường sá từ Nam ra, từ Bắc vào đều bằng nhau, chưa kể quê tổ tiên ông cũng ở đấy. Bèn sai trưng dụng rất nhiều thợ thuyền, chuyên chở gỗ, đá, gạch ngói để xây dựng cung phủ, lâu đài. Đắp thành đất chung quanh và sai quân lính đào đá ong ở địa phương để xây thành trong. Dựng toà lầu rồng ba tầng cùng điện Thái Hoà hai dãy hành lang.

Trong thư gửi Nguyễn Thiếp, nhà vua viết:

-Trẫm nay đóng đô tại Nghệ An, cùng tiên sinh gần gũi. Rồi đây, tiên sinh hãy ra đây giúp nhau mà trị nước.

Nên nếu ông còn sống và triều Tây Sơn còn tồn tại thì có thể Nghệ An sẽ là thủ đô của nước ta.

Nguồn: (Blog Phạm Vĩnh Lộc)

Giai Thoại Về Cái Chết Ly Kỳ Của Vua Quang Trung

Quang Trung Hoàng đế (1753 – 1792) tên thật là Nguyễn Huệ, là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn, sau khi Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc thoái vị và nhường ngôi cho ông. Quang Trung không những là một trong những vị tướng lĩnh quân sự xuất sắc mà còn là nhà cai trị tài giỏi, đưa ra nhiều cải cách kinh tế, xã hội nổi bật trong lịch sử Việt Nam.

Nguyễn Huệ và hai người anh em của ông, được biết đến với tên gọi Anh em Tây Sơn, là những lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã chấm dứt cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh ở phía bắc và Nguyễn ở phía nam, lật đổ hai tập đoàn này cùng nhà Hậu Lê, chấm dứt tình trạng phân liệt Đàng Trong – Đàng Ngoài kéo dài suốt 2 thế kỷ.

Ngoài ra, Quang Trung còn là người đánh bại các cuộc xâm lược Đại Việt của Xiêm La từ phía nam, của Đại Thanh từ phía bắc. Bản thân ông đã cầm quân chiến đấu từ năm 18 tuổi, trong 20 năm liền đã trải qua hàng chục trận đánh lớn, và chưa hề thua một trận nào. Đồng thời. khi ở cương vị hoàng đế, ông cũng tỏ rõ tài cai trị khi đề ra nhiều kế hoạch cải cách tiến bộ trong kinh tế, văn hóa, giáo dục, quân sự… nhằm xây dựng đất nước và tiếp thu khoa học kỹ thuật hiện đại từ phương Tây.

Sau 20 năm liên tục chinh chiến và 3 năm trị quốc, khi tình hình đất nước bắt đầu có chuyển biến tốt thì Quang Trung đột ngột qua đời ở tuổi 39. Sau cái chết của ông, nhà Tây Sơn suy yếu nhanh chóng.

Cuộc đời ông được biết đến qua các bộ sử của nhà Hậu Lê và nhà Nguyễn, các sử gia cận đại, hiện đại và cả trong văn học dân gian. Khi Quang Trung mất, nhân dân nhiều nơi đã xây lăng, lập đền thờ, dựng tượng đài và bảo tàng để tưởng nhớ công lao của ông. Dù sau này nhà Nguyễn (đối thủ của nhà Tây Sơn) tìm nhiều cách xóa bỏ uy tín của Quang Trung (phá bỏ đền thờ, cấm người dân thờ cúng, truy lùng các bề tôi, con cháu của Quang Trung…) và gọi ông là “giặc” trong các tài liệu triều đình, nhưng ký ức về các chiến công của ông vẫn được những người mến mộ ông truyền tụng suốt 150 năm.

Cái chết không rõ ràng của Quang Trung – Nguyễn Huệ

Tương truyền, vào một buổi chiều đầu thu năm 1792, vua Quang Trung đang ngồi làm việc, bỗng hoa mắt, tối sầm mặt mũi, mê man bất tỉnh. Khi tỉnh dậy, nhà vua cho triệu trấn thủ Nghệ An là Trần Quang Diệu về triều bàn việc thiên đô ra Phượng Hoàng Trung Đô. Nhưng việc chưa quyết xong thì bệnh tình nhà vua đã nguy kịch. Trước khi mất, nhà vua đã căn dặn Trần Quang Diệu và các quần thần:

“Ta mở mang bờ cõi, khai thác đất đai, có cả cõi Nam này. Nay đau ốm, tất không khỏi được. Thái tử tư chất hơi cao, nhưng tuổi còn nhỏ. Ngoài thì có quân Gia Định là quốc thù, mà Thái Đức thì tuổi già, ham dật lạc, cầu yên tạm bợ, không toan tính cái lo về sau. Khi ta chết rồi, nội trong một tháng phải chôn cất, việc tang làm lao thảo thôi. Lũ ngươi nên hợp sức mà giúp Thái tử sớm thiên đô về Vĩnh Đô để khống chế thiên hạ. Bằng không quân Gia Định kéo đến thì các ngươi không có chỗ chôn thân!”

Ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (16 tháng 9 năm 1792), vào khoảng 11-12 giờ đêm, Quang Trung Nguyễn Huệ qua đời, ở ngôi được 4 năm, hưởng thọ 40 tuổi, miếu hiệu là Thái Tổ Vũ hoàng đế.Thời điểm mất của vua Quang Trung được các tài liệu cổ ghi khác nhau.

Sách Đại Nam thực lục của nhà Nguyễn ghi ông mất tháng 7 âm lịch năm 1792, Hoàng Lê nhất thống chí ghi ông mất tháng 8 âm lịch năm 1792. Theo lý giải của Hoàng Xuân Hãn trong La Sơn phu tử, cả hai sách ghi đều không sai. Quang Trung mất vào khoảng 11 giờ đêm ngày 29 tháng 7 âm lịch, khoảng đó là giờ tý, nghĩa là bắt đầu được tính sang hôm sau; mà tháng 7 năm đó là tháng thiếu, ngày 29 là ngày cuối tháng, nên sau 11 giờ đêm đã chuyển sang tháng 8.

Theo Hoàng Xuân Hãn: “Ghi tháng 7 hay tháng 8 thực ra chỉ chênh nhau khoảng nửa giờ”. Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân đã viết bài “Tế vua Quang Trung” và bài “Ai Tư Vãn” để bày tỏ nỗi đau khổ và tiếc thương cho người chồng anh hùng sớm ra đi.

Nhiều giai thoại kỳ lạ về cái chết

Cho đến nay, đã có nhiều giả thuyết về nguyên nhân cái chết của vua Quang Trung được đưa ra nhưng chưa giả thuyết nào có được chứng cứ xác thực, đủ sức thuyết phục.

Sách Ngụy Tây liệt truyện, một tài liệu chính sử của Sử quán triều Nguyễn ghi chép cái chết của vua Quang Trung như sau:

“Một hôm, về chiều, Quang Trung đang ngồi bỗng xây xẩm, tối tăm, thấy một ông già đầu bạc từ trên trời xuống, mặc áo trắng, cầm gậy sắt, mắng rằng: “Ông cha người sống ở đất của Chúa, đời đời làm dân Chúa Nguyễn, sao phạm đến lăng tẩm…”. Rồi lấy gậy đánh vào trán Quang Trung, mê man ngã xuống, bất tỉnh nhân sự lâu lắm… Từ đó, bệnh chuyển nặng…”

Ghi chép của Ngụy Tây liệt truyện có phần hư cấu để nâng cao sự mê tín vào “thiên mệnh” của nhà Nguyễn, nhưng nó cũng cho thấy Quang Trung bị bất tỉnh đột ngột, có lẽ là do tai biến ở vùng não bộ.

Sách Tây Sơn thực lục cũng có ghi “Huệ mắc bệnh nặng, chữa không khỏi… Năm ấy Nguyễn Huệ mất, tóc của Huệ thì quăn, mặt thì đầy mụt, có một con mắt nhỏ, nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, thì ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu… “.

Và sau khi Quang Trung mất, vào tháng 1 năm Càn Long thứ 58 (1793), Quách Thế Huân cũng báo cáo với Càn Long: “Quang Trung đã chết vì bệnh”. Cũng một giả thuyết được truyền lại nhiều nhất là một buổi chiều thu năm 1792, vua Quang Trung đang ngồi làm việc, bỗng hoa mắt, tối sầm mặt mũi, mê man bất tỉnh. Người xưa gọi là chứng “huyễn vận”, còn ngày nay y học gọi là tai biến mạch máu não.

Một giáo sĩ tên Longer, có mặt ở Đàng Ngoài vào những thời điểm này, đã viết trong một bức thư đề ngày 21 tháng 12 năm 1792 là vua Quang Trung chết vì bệnh, nhưng không rõ là bệnh gì. Các nhà nghiên cứu về sau gạt bỏ các chi tiết mê tín trong Ngụy Tây liệt truyện thì họ cho rằng Quang Trung đã bị một cơn tăng huyết áp đột ngột. Bác sĩ Bùi Minh Đức qua khảo cứu các nguồn tư liệu lịch sử, kết luận rằng Nguyễn Huệ bị “Xuất huyết não dưới màng nhện; nguyên nhân tử vong: do viêm phổi sặc” (tràn dịch màng phổi).

Việc an táng Quang Trung

Thi hài Quang Trung được táng ngay tại Phú Xuân, tại một cung điện của ông tên là Đan Dương. Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi, tức là vua Cảnh Thịnh, sai sứ sang nhà Thanh báo tang và xin tập phong.Đô đốc Vũ Văn Dũng đang đi sứ nhà Thanh ở Bắc Kinh, nghe tin Quang Trung mất liền làm bài thơ viếng như sau:

Năm năm dấy nghiệp tự thân nông Thời trước thời sau khó sánh cùng Trời để vua ta thêm chục tuổi Anh hùng Đường, Tống hết khoe hùng.

Vua Càn Long tặng tên hiệu cho ông là Trung Thuần, lại thân làm một bài thơ viếng và cho một pho tượng, 300 lạng bạc để sửa sang việc tang. Sứ nhà Thanh đến tận mộ ở Linh Đường (mộ giả) thuộc huyện Thanh Trì (Hà Nội) để viếng.

Lăng mộ vua Quang Trung – Nguyễn Huệ bị Nguyễn Ánh sai người tàn phá

Thời Cảnh Thịnh, triều đình Tây Sơn sinh ra lục đục. Nguyễn Ánh nhân thời cơ đó kéo ra đánh bại nhà Tây Sơn. Mười năm sau ngày Quang Trung qua đời, nhà Tây Sơn sụp đổ hoàn toàn.

Để trả thù, Nguyễn Ánh sai đào phá mộ Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc. Nơi đặt lăng mộ của Quang Trung cũng bị san phẳng, không cho để lại dấu tích, nên sau này có một số nhà nghiên cứu đã dày công tra cứu, khảo sát, tìm tòi song không thể xác định được mộ vua Quang Trung ở địa điểm nào. Bên cạnh đó các lăng mộ của gia tộc Tây Sơn ở Nghệ An và Quy Nhơn đều bị khai quật, hủy phá đến mức chỉ trơ hố huyệt sâu, khiến người sau phải gọi là “giếng huyệt”.

Khảo sát trong thời gian gần đây của các nhà nghiên cứu đã tìm ra bài thơ Kiến Quang Trung linh cữu (Nhìn thấy linh cữu vua Quang Trung) của nhà thơ Lê Triệu (1771-1846), người sống dưới thời Tây Sơn và thời Nguyễn. Bài thơ nói về cảm xúc của tác giả khi đứng trước nơi từng là lăng mộ của Quang Trung, chỉ sau mấy năm bị Nguyễn Ánh khai quật (theo các nhà nghiên cứu là năm 1801 hay 1802.

” Bao năm thét mắng át phong vân Đủ thấy anh hùng – bậc vĩ nhân Hàm Đan hận vùi muôn vạn xác “Khuân Sơn” phần mộ hoạ trăm năm Ngậm hờn chỉ trích ngàn thu hận Nỡ phụ đường đường tám thước thân Quang cảnh thảy đều thành cát bụi Khiến đời muôn thuở cợt Doanh Tần!”

Chưa xác định được vị trí lăng mộ vua Quang Trung

Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch đã cho phép thực hiện một cuộc thăm dò khảo cổ học tại khu vực gò Dương Xuân (nơi nghi ngờ đặt lăng mô vua Quang Trung) từ ngày 6 đến 15/10/2024.

Sau gần ba tháng nghiên cứu, chỉnh lý tư liệu thu thập từ cuộc khai quật, chiều 9/1/2024, đoàn thăm dò khảo cổ học đã có báo cáo sơ bộ.

PGS.TS Bùi Văn Liêm – viện phó Viện Khảo cổ học – cho biết tại năm hố thăm dò với tổng diện tích gần 24m2 đã phát hiện nhiều di tích, hiện vật và kiến trúc.

Phát hiện hằng trăm hiện vật bằng đồng, sắt, sứ, sành, đất nung, ngói, thủy tinh, vôi vữa, xương, vỏ sò, trong đó nhiều nhất là hiện vật gốm sứ (337 mảnh).

Dựa vào tổng thể di tích, tư liệu địa tầng, các mảnh sứ có ghi niên đại, các mảnh sành, gạch, ngói, bước đầu có thể đoán định niên đại của di tích gò Dương Xuân nằm trong khoảng từ thế kỷ 17 đến 19 kéo dài đến đầu thế kỷ 20.

Theo chúng tôi Bùi Văn Liêm, cuộc thăm dò này đã cung cấp những tư liệu quan trọng nhưng vẫn chưa thể xác định cụ thể các di tích, hiện vật thuộc về thời kỳ nào, chủ nhân là ai.

(Tổng hợp)

Gò Đống Đa Và Đền Vua Quang Trung

Di tích gò Đống Đa – nơi ghi dấu chiến công vang dội nhất của nhân dân  ta ở thế kỷ XVIII – một trong những trận quyết chiến, chiến lược đã đi vào lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc ta.

Gò Đống Đa tọa lạc nằm ở cuối phố Tây Sơn và phố Đặng Tiến Đông, thuộc phường Quang Trung, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Xưa, đây thuộc đất làng Khương Thượng, huyện Quảng Đức, phủ Thuận Thiên, kinh thành Thăng Long.

Có nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc và sự hình thành của gò Đống Đa. Nhưng chắc chắn, quanh vùng này đã là bãi chiến trường của “xuân lửa Kỷ Dậu”, nơi Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh xâm lược. Xác giặc chết la liệt, xương cốt chôn vùi ngổn ngang thành gò, thành đống; Nơi đây cũng có nhiều cây đa cổ thụ mọc um tùm. Bởi vậy, nhân dân thường gọi những gò đống đó là “gò Đống Đa”, cái tên “gò Đống Đa” vì thế mà hình thành. Ngoài ra, Gò Đống Đa còn được gọi là “gò Trung Liệt” (tức gọi theo tên của ngôi miếu Trung Liệt xây dựng ở trên gò).

Năm 1788, vua Lê Chiêu Thống sau khi nghe Nguyễn Hữu Chỉnh chống lại nhà Tây Sơn thất bại đã chạy sang cầu cứu nhà Thanh. Vua Mãn Thanh lợi dụng tình hình trong nước rối ren, mượn cớ giúp đỡ Lê Chiêu Thống đã cho Tôn Sĩ Nghị đem 29 vạn quân chia làm 3 đạo theo đường Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang ồ ạt tiến vào Đại Việt.

Thế giặc mạnh như vũ bão, lại hung hãn, lực lượng quân Tây Sơn đóng ở Lạng Sơn không chống cự nổi. Trước tình hình đó, Ngô Thì Nhậm cùng Ngô Văn Sở quyết định tạm rút lui về Biện Sơn (Thanh Hóa) và Tam Điệp để bảo toàn lực lượng, rồi cử đô đốc Nguyễn Văn Tuyết vào Phú Xuân báo tin với Nguyễn Huệ. Ngày 22/12/1788, nhận được tin cấp báo, Nguyễn Huệ xuất quân ngay hôm sau. Để cho chính danh, trong buổi xuất quân dưới chân núi Ngự Bình (Huế), ông tuyên bố lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung. Sau bốn ngày, đạo quân của Quang Trung tiến đến Nghệ An, tuyển thêm 10 vạn quân, chiêu nạp được một số sĩ phu Bắc Hà như Nguyễn Thiếp cùng hiến kế đánh giặc. Sau khi tham vấn ý kiến của Nguyễn Thiếp: “Nếu đánh gấp thì không quá 10 ngày sẽ phá tan. Nếu trì hoãn một chút thì khó lòng mà được nó”, vua Quang Trung quyết định hành quân thần tốc. Ngày 15/1/1789, quân Tây Sơn tập kết tại Tam Điệp – Biện Sơn, hợp với quân của Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm chờ sẵn ở đó. Trước khi xuất quân, để động viên tinh thần quân sĩ, Quang Trung mở tiệc cho quân lính ăn tết trước và nói rằng: “Nay hãy ăn tết Nguyên Đán trước, sang xuân ngày mùng 7 ta sẽ vào Thăng Long mở tiệc ăn mừng, các ngươi cứ nhớ lấy lời ta nói xem có đúng hay không”. Theo kế hoạch, nghĩa quân của Quang Trung chia làm 5 đạo theo 5 mũi tiến vào Thăng Long:

Mũi chính binh đánh trực diện vào phía Nam Thăng Long do đích thân Quang Trung chỉ huy;

Mũi đột kích đo đô đốc Bảo chỉ huy qua Sơn Minh, đến Đại Áng, áp sát đồn Ngọc Hồi;

Mũi kỳ binh do đô đốc Đông bí mật theo đường Chương Đức (Chương Mỹ, Hà Nội) vượt sông Nhân Mục tấn công cứ điểm Khương Thượng tiến vào Thăng Long từ phía nam;

Mũi vu hồi đo đô đốc Tuyết chỉ huy vòng theo đường biển, tiến lên chiếm giữ Lục Đầu, uy hiếp quân địch từ phía Đông;

Mũi bao vây do đô đốc Lộc chỉ huy, vượt lên Phượng Nhãn, khóa chặt đường rút lui của địch.

Đúng 30 tết, đại quân vượt sông Gián Khẩu (sông Đáy) đánh vào cứ điểm tiền tiêu khiến địch bị bất ngờ không kịp trở tay. Mùng 3 tết đồn Ngọc Hồi bị bức hàng. Từ đêm mùng 4, rạng sáng mùng 5, năm mũi tiến công của đại quân Tây Sơn đồng loạt bất ngờ tiến vào Thăng. Mũi kỳ binh của đô đốc Đông vào căn cứ Đống Đa. Được sự hỗ trợ của nhân dân địa phương bện rơm làm “rồng lửa” uy hiếp quân giặc, nhanh chóng hạ đồn Khương Thượng, tướng giặc là Sầm Nghi Đống phải thắt cổ tự tử. Sau thắng lợi tại Đống Đa, mũi chủ lực của Quang Trung tấn công trực diện vào Ngọc Hồi với lực lượng hùng mạnh nhất: ngoài bộ binh được trang bị bạch khí, hỏa hổ, súng điểu thương…còn có sự yểm trợ của hơn 100 voi trang bị pháo dã chiến trên lưng do nữ tướng Bùi Thị Xuân chỉ huy. Quân Thanh đóng chặt cửa thành cho pháo bắn ra tới tấp, Quang Trung cho quân ghép ván, bên ngoài quấn rơm ướt làm thành 20 lớp tường di động che chắn cho bộ binh, sau nửa ngày đồn Ngọc Hồi bị tiêu diệt, các tướng giặc đều tử trận.

Rạng sáng ngày mùng 5 tết, Tôn Sĩ Nghị nghe tin Đống Đa thất thủ, Sầm Nghi Đống tự vẫn, đồn Ngọc Hồi bị hạ. Quá hoảng sợ, y không kịp mặc áo giáp lên ngựa chạy về Bắc quốc. Thấy vậy, quân giặc cũng xô đẩy nhau chạy theo, rơi xuống sông chết rất nhiều. Sau đó tàn quân chạy đến Phượng Nhãn thì gặp đạo quân của đô đốc Lộc phục sẵn xông ra chặn đánh. Đạo quân của Ô Đại Kinh ở Sơn Tây nghe tin hoảng sợ rút vội về nước.

Trưa ngày mùng 5 tết, trong bộ chiến bào sạm đen vì khói súng, Quang Trung dẫn đại binh tiến vào Thăng Long với niềm tự hào và niềm kiêu hùng dân tộc. Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mãn Thanh toàn thắng. Chỉ trong 5 ngày đêm, dưới sự lãnh đạo tài tình của vua Quang Trung, quân và dân ta đã làm nên kỳ tích đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược, đưa đất nước lên một vị thế cao chưa từng có trong lịch sử.

Sau này, với lòng khoan dung của nhân dân ta và để có bang giao chấm dứt chiến tranh, vua Quang Trung đã cho lập đền thờ Sầm Nghi Đống ngay tại gò Đống Đa.

Gò Đống Đa hiện nay gồm có các công trình: Cổng ra vào (cổng chính và cổng phụ), Nghi môn, khu vực gò Đống Đa, Tượng đài và Đền thờ Hoàng đế Quang Trung, khu trưng bày lưu niệm sự kiện trận đánh Đống Đa lịch sử.

* Cổng chính: Gồm một lối đi, nằm ngay sát vỉa hè phố Tây Sơn, hạng mục này mới được tu bổ trong vài năm gần đây. Cổng làm một tầng với bốn mái đao cong, đỉnh bờ nóc để trơn, hai đầu mái là hai con kìm cách điệu, bốn đầu đao là hình tượng rồng lá, mái lợp ngói vẩy.

* Cổng phụ: Hướng mặt ra phố Đặng Tiến Đông, cổng này được mở chủ yếu để đón khách khi vào thăm quan di tích. Cổng được xây một tầng với một lối đi dẫn vào bên trong bằng chất liệu bê tông, mái dán ngói vẩy, không có họa tiết trang trí, chủ yếu với công năng xuất nhập hanh thông phục vụ du khách khi vào chiêm bái.

* Khu vực Gò Đống Đa: Sau trận đánh ngày mùng 5 tết Kỷ Dậu (1789), khu vực Đống Đa xác giặc chết ngổn ngang khắp nơi, từ làng Nam Đồng, Khương Thượng tới làng Thịnh Quang. Vua Quang Trung đã cho thu nhặt các xác chết đem chôn vào 12 hố và chất cao thành gò. Năm 1851, do mở đường, mở chợ, nhân dân lại phát hiện thấy có nhiều hài cốt giặc, nên thu nhặt chôn vào một hố to, cạnh núi Ốc (còn gọi là Loa Sơn), rồi đắp đất cao lên liền với núi cũ và cũng được gọi là Gò Đống Đa. Sau này, khi mở rộng thành phố Hà Nội, thực dân Pháp đã bạt đi 12 gò, chỉ còn lại gò ở núi Ốc. Do đó, Gò Đống Đa hiện nay là gò thứ 13 còn sót lại, còn gọi là “Kình Nghê quán” (tức gò chôn xác giặc dữ như cá Kình, cá Nghê ngoài biển). Sự kiện này được ghi lại trong bài thơ “Loa Sơn điếu cổ”(Viếng núi Ốc) của thi sĩ đương thời Ngô Ngọc Du có chép:        

         Thành Nam thập nhị Kình Nghê quán

         Chiếu điện anh hùng đại võ công

Nghĩa là:

         Mười hai gò xác phía Nam thành

          Ngời sáng chiến công bậc anh hùng

Thế kỷ XIX, kinh lược sứ Hoàng Cao Khải do có công đàn áp các cuộc khởi nghĩa của sĩ phu yêu nước nên được thực dân Pháp phong cho ấp Thái Hà. Hắn đã cho phá bỏ đền thờ Sầm Nghi Đống và di dời miếu Trung Liệt (vốn được xây dựng từ năm Chính Hòa thứ 6 (1685) từ thôn Văn Tân (cạnh khu vực Văn Miếu) về gò Đống Đa. Trong miếu thờ các vị trung thần, liệt quốc như: Lê Lai, Tổng đốc Thành Hà Nội Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Lâm, Tổng đốc Hoàng Diệu, Trương Quốc Dụng, Đoàn Thọ, Nguyễn Cao, Trương Đăng Quế. Từ năm 1946, miếu thờ thêm vua Quang Trung). Tuy nhiên, hiện nay, ngôi miếu không còn, chỉ còn lại duy nhất hạng mục cổng miếu, mang đậm dấu ấn thời Nguyễn. Cổng được xây dựng theo kiểu cổng thành gồm vọng lâu 3 tầng để quan sát hướng xuống phía dưới. Tầng trên cùng với bốn mái đao cong giả ống và hai con kìm ở hai đầu bờ nóc. Chính giữa là những chấn song con tiện để tạo sự thông thoáng và có chức năng như vọng gác tiền tiêu. Tầng dưới cùng nằm lưng chừng gò gồm một lối đi chính cuốn hình vòm, phía trên là ba chữ đại tự “Trung Liệt Miếu” (Miếu Trung Liệt), hai bên đắp đôi câu đối chữ Hán:

         Thử thành quách, thử giang san, bách chiến phong trần dư xích địa

         Vị nhật tinh, vị hà nhạc, thập niên tâm sự cộng thanh thiên

Tạm dịch:

         Ấy thành quách, ấy núi sông, trăm trận phong trần có dư trong thước đất

         Vì trời đất, vì sông núi, nỗi niềm mười năm chỉ biết bày tỏ với trời xanh

Nghi Môn: Là hạng mục mới được tu bổ, làm bằng chất liệu đá nhám, nằm hơi chếch hướng mặt phố Đặng Tiến Đông. Nghi môn gồm bốn trụ: hai trụ chính xây to và cao hơn, đỉnh trụ đắp chái giành cách điệu, phần dưới trang trí tứ linh, tứ quí. Hai trụ bên, chất liệu, kiểu thức, sắc thái giống hai trụ giữa nhưng có kích thước và tiết diện nhỏ hơn.

Tượng đài Quang Trung: Được xây dựng bên cạnh gò Đống Đa vào dịp kỷ niệm 200 năm Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa. Công trình này trông rất đồ sộ, mở lối chính hướng ra mặt phố Đặng Tiến Đông. Hai bên phía sau tượng đài là hai bức phù điêu. Bức bên phải dài 30m, cao 4,5m, diện tích 135m2; Bức bên trái dài 17m, cao 4,5m, diện tích 77,4m2, mô tả trận đánh của quân và dân ta dưới sự chỉ huy tài tình của Quang Trung tấn công thần tốc vào giải phóng kinh thành Thăng Long. Phù điêu làm bằng chất liệu đá trắng chạm nổi, đường nét tinh xảo, chân thực và sống động, diễn tả những bước tiến công thần tốc, công phá hạ các đồn của quân Thanh ở Hà Hồi, Ngọc Hồi, Khương Thượng, Đống Đa với những hình ảnh người, ngựa, voi chiến, hỏa đồng và những đoàn người. Mặt sau của hai bức phù điêu được ốp đá hoa cương, có ghi lời hịch của vua Quang Trung, sơ đồ các trận đánh, ngọc tỷ đề bốn chữ Hán “Sắc mệnh chi bảo”…

Từ Nghi Môn bước qua khoảng sân rộng, hai bên là hệ thống cây lưu niên là tới tượng Quang Trung – Nguyễn Huệ. Tượng được tạc dưới dạng một vị tướng, lưng đeo gươm, đầu chít khăn, mình vận áo thắt đai lưng, tay chạm hờ vào đốc kiếm. Tượng tạc cân phân, khuôn mặt quắc thước, mắt sáng, mũi cao, ngực nở, bắp tay cuồn cuộn. Tượng cao 14,65m làm bằng chất liệu bê tông cốt thép nặng 200 tấn, được ốp đá hoa cương và phun vảy đồng. Phía dưới chân tượng là lư hương đồng và một sân khấu rộng lát đá hoa cương và các đường băng, thảm cỏ và cây xanh. 

Đền thờ vua Quang Trung: Đây là hạng mục nổi trội nhất nằm sau tượng đài, tôn lên vẻ uy nghi lộng lẫy cho di tích. Ngôi đền mới được xây dựng năm 2010, nhân kỷ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội với hai tầng công năng: Tầng trên là đền thờ làm theo phong cách kiến trúc truyền thống hai tầng mái; Tầng dưới sử dụng làm phòng trưng bày các hiện vật, các bức  ảnh diễn tả cuộc tiến công thần tốc của nghĩa quân Tây Sơn.

Tầng trên của ngôi đền làm theo kiến trúc truyền thống 2 tầng 8 mái đao cong thắt cổ diêm mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, gồm hai hạng mục Đại Bái và Hậu Cung.

Tòa Đại Bái: gồm 3 gian, 2 chái, làm kiểu chồng diêm hai tầng 8 mái, bờ nóc để trơn, chỉ có hai đầu bờ nóc gắn hai con kìm lá cách điệu đuôi xoắn. Ngăn cách giữa tầng mái trên và tầng mái dưới là phần cổ diêm đóng ván đố lụa ở bốn mặt. Ba gian giữa phía trước đặt những chấn song con tiện và bức hoành đề “Điện thờ Hoàng đế Quang Trung”. Tầng dưới quây gạch ba mặt, mặt trước hai gian hồi trổ cửa sổ tròn hình chữ “Thọ” cách điệu để lấy ánh sáng, 3 gian giữa để cửa bức bàn “thượng song hạ bản”. Toàn bộ tường hiên xung quanh được quây bởi lan can và trụ đá lửng, trang trí hoa văn theo đề tài truyền thống với nét chạm sắc nét, tinh tường.

Vào bên trong là các bộ vì đỡ mái làm theo hai dạng cách: Bốn vì giữa làm theo kiểu“Thượng giá chiêng chồng rường, trung bán giá chiêng chồng rường, hạ kẻ bẩy” trên sáu hàng chân cột, hai bộ vì của hai chái làm theo kiểu “Thượng chồng rường, trung bán giá chiêng chồng rường, kẻ xó, hạ kẻ bẩy”.Tại đây bài trí 3 ban thờ: Giữa là Ban Công đồng; hai bên thờ Quan võ và Quan văn nhưng quy mô nhỏ và giản lược hơn.

Hậu Cung là hạng mục nằm song song với Đại Bái, được ngăn cách bởi khoảng nền sân lọng nhỏ. Hậu cung được làm biến thể hai tầng mái kiểu điện Thánh chùa Bối Khê (thôn Song Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai) nhưng giản lược hơn. Hệ thống các đấu củng được thay bằng các con sơn và tay co, tám đầu đao uốn cong như đang bay vút lên nền trời, trang trí giống ở phần Đại bái.

Mái Hậu Cung là loại ngói vẩy, phần cổ diêm trang trí chấn song con tiện ở bốn mặt, tầng dưới quây kín bằng ván đố lụa cùng hệ thống kẻ hiên đua ra gối lên các cột hiên. Trong cung bài trí 3 ban thờ: Ban thờ giữa thờ Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ; Ban bên hữu thờ Thân phụ và Thân mẫu vua Quang Trung; Ban bên tả thờ Bắc cung Hoàng hậu Ngọc Hân Công Chúa.

Phòng trưng bày tại tầng dưới có tổng diện tích 100m2. Bên ngoài cửa nhà trưng bày là hai khẩu súng thần công (mô phỏng). Ngay sau cửa vào là bộ Bát Xà Mâu, phía sau là sa bàn trận đánh Ngọc Hồi – Đống Đa; bên phải là tượng vua Quang Trung được làm bằng thạch cao, bên trái là tượng Đô đốc Long cạnh dàn cồng chiêng Tây Nguyên. Sát tường bên phải của nhà trưng bày gồm ảnh vườn trầu, ấp Tây Sơn Nhất, điện thờ Tây Sơn Tam Kiệt, Gò Lăng…Tiếp đó là phả đồ họ Hồ, phía dưới là tấm bia Mộ Tổ phục chế. Sau là mô hình thuyền Đại Hiệu – một loại thuyền chiến cỡ lớn có trang bị hoả lực mạnh của quân Tây Sơn.

Phía bên trái của nhà trưng bày là một số loại vũ khí thời Tây Sơn như súng thần công, kiếm của nữ tướng Bùi Thị Xuân, một số bút tích chiếu chỉ, lệnh chỉ của vua Quang Trung. Ngoài ra nhà trưng bày còn lưu giữ một số hiện vật như tảng đá ong dùng để xây thành Hoàng Đế năm 1778, tảng đá cột đình làng Kiên Mỹ – quê hương Tây Sơn tam kiệt. Đây là nơi lưu giữ những chứng tích quan trọng nhất của phong trào Tây Sơn tại kinh thành Thăng Long.

Di tích gò Đống Đa – nơi ghi dấu chiến công vang dội nhất của nhân dân  ta ở thế kỷ XVIII – một trong những trận quyết chiến, chiến lược đã đi vào lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc ta. Khu di tích được xem là biểu tượng chiến thắng của nghĩa quân Tây Sơn, là minh chứng cho tinh thần yêu nước, đoàn kết, dũng cảm và khát vọng hòa bình của mỗi người dân Việt Nam. Đến với Gò Đống Đa hôm nay, chúng ta càng thêm tôn kính người anh hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ và trân quí những giá trị của hòa bình – độc lập – tự do.

Ngày 24/12/2024, Gò Đống Đa đã được Thủ tưởng chính phủ ra quyết định công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt.