Vì Sao Vua Quang Trung Chết / Top 7 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Channuoithuy.edu.vn

Vì Sao Vua Quang Trung Lại Chết Khi Còn Rất Trẻ?

Công việc xây dựng quốc gia đang tiến hành trôi chảy, thình lình Vua Quang Trung băng hà. Vua băng ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý [79](15-9-1792). Nguyên nhân gây ra cái chết của Vua Quang Trung đã trở thành một nghi án lịch sử. Ðại Nam Chính Biên Liệt truyện ghi rằng: Huệ trong lúc lấy kinh đô Phú Xuân có mạo phạm lăng tẩm của Liệt Thánh. Một ngày kia, đương ngồi, thình lình bắt đầu xây xẩm rồi ngã ra hôn mê. Mơ màng thấy một lão trượng đầu bạc áo trắng, cầm gậy sắt, từ không trung đi đến, mắng rằng: Ông cha mày đều sanh ở đất Vua, mày sao dám mạo phạm đến lăng tẩm?. Nói dứt lời liền lấy gậy sắt đánh nơi trán Huệ. Huệ ngã xuống bất tỉnh, hồi lâu mới tỉnh lại. Từ ấy bịnh càng ngày càng nặng, mới triệu viên Trấn thủ Nghệ An là Trần Quang Diệu về thương nghị việc dời đô ra Nghệ An. Ðó là lời của sử gia Nguyễn Gia Miêu[80] bịa ra để bôi nhọ Vua Quang Trung. Bịa không được khéo, bởi ai kể lại câu chuyện hoang đường ấy cho viết sử chép? Chẳng lẽ Vua Quang Trung kể lại giấc mộng không mấy đẹp của mình? Có người bảo nhà vua bị thượng mã phong. Ðó chỉ là chuyện hài hước. Lại có người độc miệng bảo rằng nhà vua bị Ngọc Hân Công Chúa ám hại bằng cách bỏ thuốc độc vào rượu[81]. Rõ là vu cáo giữa trời! Thiết tưởng Vua Quang Trung chết vì bệnh huyết áp cao, làm việc nhiều, suy nghĩ nhiều, bị đứt mạch máu. Cái chết đột ngột do bệnh huyết áp cao gây nên thường xảy ra và dân gian thường gọi là trúng gió. Chớ nếu quả có điều ám muội thì dễ gì triều đình Tây Sơn đã để yên. Truyền rằng: Mùa xuân năm Nhâm Tý (1792), Vua Quang Trung hay tin Nguyễn Phúc Ánh đã chiếm được Gia Ðịnh và kéo quân ra đánh Quy Nhơn, bèn nổi giận: – Giống cỏ gấu không diệt tận gốc, cứ nảy ra hoài! Liền chuẩn bị kéo đại binh vào đánh. Lục quân từ trên đánh xuống, Thủy quân từ dưới đánh lên. Bao vây mặt biển, cắt đứt đường núi, không cho quân Nguyễn chạy thoát. Mọi việc đã sắp đặt chu đáo thì thình lình nhà vua bị cảm. Bệnh mỗi ngày một nặng. Bèn triệu Trấn thủ Nghệ An là Trần Quang Diệu thương nghị về việc dời đô ra Nghệ An và việc đi đánh Nguyễn Phúc Ánh. Nhưng rồi biết mình không còn sống lâu được nữa, liền trối: – Ta mở mang bờ cõi gồm cả miền Nam. Nay bênh tình của ta không thể khá được, mà Thái Tử thì còn nhỏ. Phía trong thì bọn quốc cừu hoành hành ở Gia Ðịnh. Còn anh ta thì tuổi già, cầu an, không lo hậu hoạn. Ta chết rồi, trong vòng một tháng phải lo việc tống táng cho xong. Các khanh phải đồng lòng phò Thái tử và sớm lo việc thiên đô để khấu chế thiên hạ. Nếu không vậy, binh Gia Ðịnh kéo đến, các khanh không có đất chôn thây. Nói rồi băng tại điện Trung Hòa, ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý. Thọ 40 tuổi.Ở ngôi 5 năm. Thái Tử Nguyễn Quang Toản nối ngôi.

Giai Thoại Về Cái Chết Ly Kỳ Của Vua Quang Trung

Quang Trung Hoàng đế (1753 – 1792) tên thật là Nguyễn Huệ, là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn, sau khi Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc thoái vị và nhường ngôi cho ông. Quang Trung không những là một trong những vị tướng lĩnh quân sự xuất sắc mà còn là nhà cai trị tài giỏi, đưa ra nhiều cải cách kinh tế, xã hội nổi bật trong lịch sử Việt Nam.

Nguyễn Huệ và hai người anh em của ông, được biết đến với tên gọi Anh em Tây Sơn, là những lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã chấm dứt cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn phân tranh giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh ở phía bắc và Nguyễn ở phía nam, lật đổ hai tập đoàn này cùng nhà Hậu Lê, chấm dứt tình trạng phân liệt Đàng Trong – Đàng Ngoài kéo dài suốt 2 thế kỷ.

Ngoài ra, Quang Trung còn là người đánh bại các cuộc xâm lược Đại Việt của Xiêm La từ phía nam, của Đại Thanh từ phía bắc. Bản thân ông đã cầm quân chiến đấu từ năm 18 tuổi, trong 20 năm liền đã trải qua hàng chục trận đánh lớn, và chưa hề thua một trận nào. Đồng thời. khi ở cương vị hoàng đế, ông cũng tỏ rõ tài cai trị khi đề ra nhiều kế hoạch cải cách tiến bộ trong kinh tế, văn hóa, giáo dục, quân sự… nhằm xây dựng đất nước và tiếp thu khoa học kỹ thuật hiện đại từ phương Tây.

Sau 20 năm liên tục chinh chiến và 3 năm trị quốc, khi tình hình đất nước bắt đầu có chuyển biến tốt thì Quang Trung đột ngột qua đời ở tuổi 39. Sau cái chết của ông, nhà Tây Sơn suy yếu nhanh chóng.

Cuộc đời ông được biết đến qua các bộ sử của nhà Hậu Lê và nhà Nguyễn, các sử gia cận đại, hiện đại và cả trong văn học dân gian. Khi Quang Trung mất, nhân dân nhiều nơi đã xây lăng, lập đền thờ, dựng tượng đài và bảo tàng để tưởng nhớ công lao của ông. Dù sau này nhà Nguyễn (đối thủ của nhà Tây Sơn) tìm nhiều cách xóa bỏ uy tín của Quang Trung (phá bỏ đền thờ, cấm người dân thờ cúng, truy lùng các bề tôi, con cháu của Quang Trung…) và gọi ông là “giặc” trong các tài liệu triều đình, nhưng ký ức về các chiến công của ông vẫn được những người mến mộ ông truyền tụng suốt 150 năm.

Cái chết không rõ ràng của Quang Trung – Nguyễn Huệ

Tương truyền, vào một buổi chiều đầu thu năm 1792, vua Quang Trung đang ngồi làm việc, bỗng hoa mắt, tối sầm mặt mũi, mê man bất tỉnh. Khi tỉnh dậy, nhà vua cho triệu trấn thủ Nghệ An là Trần Quang Diệu về triều bàn việc thiên đô ra Phượng Hoàng Trung Đô. Nhưng việc chưa quyết xong thì bệnh tình nhà vua đã nguy kịch. Trước khi mất, nhà vua đã căn dặn Trần Quang Diệu và các quần thần:

“Ta mở mang bờ cõi, khai thác đất đai, có cả cõi Nam này. Nay đau ốm, tất không khỏi được. Thái tử tư chất hơi cao, nhưng tuổi còn nhỏ. Ngoài thì có quân Gia Định là quốc thù, mà Thái Đức thì tuổi già, ham dật lạc, cầu yên tạm bợ, không toan tính cái lo về sau. Khi ta chết rồi, nội trong một tháng phải chôn cất, việc tang làm lao thảo thôi. Lũ ngươi nên hợp sức mà giúp Thái tử sớm thiên đô về Vĩnh Đô để khống chế thiên hạ. Bằng không quân Gia Định kéo đến thì các ngươi không có chỗ chôn thân!”

Ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (16 tháng 9 năm 1792), vào khoảng 11-12 giờ đêm, Quang Trung Nguyễn Huệ qua đời, ở ngôi được 4 năm, hưởng thọ 40 tuổi, miếu hiệu là Thái Tổ Vũ hoàng đế.Thời điểm mất của vua Quang Trung được các tài liệu cổ ghi khác nhau.

Sách Đại Nam thực lục của nhà Nguyễn ghi ông mất tháng 7 âm lịch năm 1792, Hoàng Lê nhất thống chí ghi ông mất tháng 8 âm lịch năm 1792. Theo lý giải của Hoàng Xuân Hãn trong La Sơn phu tử, cả hai sách ghi đều không sai. Quang Trung mất vào khoảng 11 giờ đêm ngày 29 tháng 7 âm lịch, khoảng đó là giờ tý, nghĩa là bắt đầu được tính sang hôm sau; mà tháng 7 năm đó là tháng thiếu, ngày 29 là ngày cuối tháng, nên sau 11 giờ đêm đã chuyển sang tháng 8.

Theo Hoàng Xuân Hãn: “Ghi tháng 7 hay tháng 8 thực ra chỉ chênh nhau khoảng nửa giờ”. Bắc cung hoàng hậu Lê Ngọc Hân đã viết bài “Tế vua Quang Trung” và bài “Ai Tư Vãn” để bày tỏ nỗi đau khổ và tiếc thương cho người chồng anh hùng sớm ra đi.

Nhiều giai thoại kỳ lạ về cái chết

Cho đến nay, đã có nhiều giả thuyết về nguyên nhân cái chết của vua Quang Trung được đưa ra nhưng chưa giả thuyết nào có được chứng cứ xác thực, đủ sức thuyết phục.

Sách Ngụy Tây liệt truyện, một tài liệu chính sử của Sử quán triều Nguyễn ghi chép cái chết của vua Quang Trung như sau:

“Một hôm, về chiều, Quang Trung đang ngồi bỗng xây xẩm, tối tăm, thấy một ông già đầu bạc từ trên trời xuống, mặc áo trắng, cầm gậy sắt, mắng rằng: “Ông cha người sống ở đất của Chúa, đời đời làm dân Chúa Nguyễn, sao phạm đến lăng tẩm…”. Rồi lấy gậy đánh vào trán Quang Trung, mê man ngã xuống, bất tỉnh nhân sự lâu lắm… Từ đó, bệnh chuyển nặng…”

Ghi chép của Ngụy Tây liệt truyện có phần hư cấu để nâng cao sự mê tín vào “thiên mệnh” của nhà Nguyễn, nhưng nó cũng cho thấy Quang Trung bị bất tỉnh đột ngột, có lẽ là do tai biến ở vùng não bộ.

Sách Tây Sơn thực lục cũng có ghi “Huệ mắc bệnh nặng, chữa không khỏi… Năm ấy Nguyễn Huệ mất, tóc của Huệ thì quăn, mặt thì đầy mụt, có một con mắt nhỏ, nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, thì ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu… “.

Và sau khi Quang Trung mất, vào tháng 1 năm Càn Long thứ 58 (1793), Quách Thế Huân cũng báo cáo với Càn Long: “Quang Trung đã chết vì bệnh”. Cũng một giả thuyết được truyền lại nhiều nhất là một buổi chiều thu năm 1792, vua Quang Trung đang ngồi làm việc, bỗng hoa mắt, tối sầm mặt mũi, mê man bất tỉnh. Người xưa gọi là chứng “huyễn vận”, còn ngày nay y học gọi là tai biến mạch máu não.

Một giáo sĩ tên Longer, có mặt ở Đàng Ngoài vào những thời điểm này, đã viết trong một bức thư đề ngày 21 tháng 12 năm 1792 là vua Quang Trung chết vì bệnh, nhưng không rõ là bệnh gì. Các nhà nghiên cứu về sau gạt bỏ các chi tiết mê tín trong Ngụy Tây liệt truyện thì họ cho rằng Quang Trung đã bị một cơn tăng huyết áp đột ngột. Bác sĩ Bùi Minh Đức qua khảo cứu các nguồn tư liệu lịch sử, kết luận rằng Nguyễn Huệ bị “Xuất huyết não dưới màng nhện; nguyên nhân tử vong: do viêm phổi sặc” (tràn dịch màng phổi).

Việc an táng Quang Trung

Thi hài Quang Trung được táng ngay tại Phú Xuân, tại một cung điện của ông tên là Đan Dương. Nguyễn Quang Toản lên nối ngôi, tức là vua Cảnh Thịnh, sai sứ sang nhà Thanh báo tang và xin tập phong.Đô đốc Vũ Văn Dũng đang đi sứ nhà Thanh ở Bắc Kinh, nghe tin Quang Trung mất liền làm bài thơ viếng như sau:

Năm năm dấy nghiệp tự thân nông Thời trước thời sau khó sánh cùng Trời để vua ta thêm chục tuổi Anh hùng Đường, Tống hết khoe hùng.

Vua Càn Long tặng tên hiệu cho ông là Trung Thuần, lại thân làm một bài thơ viếng và cho một pho tượng, 300 lạng bạc để sửa sang việc tang. Sứ nhà Thanh đến tận mộ ở Linh Đường (mộ giả) thuộc huyện Thanh Trì (Hà Nội) để viếng.

Lăng mộ vua Quang Trung – Nguyễn Huệ bị Nguyễn Ánh sai người tàn phá

Thời Cảnh Thịnh, triều đình Tây Sơn sinh ra lục đục. Nguyễn Ánh nhân thời cơ đó kéo ra đánh bại nhà Tây Sơn. Mười năm sau ngày Quang Trung qua đời, nhà Tây Sơn sụp đổ hoàn toàn.

Để trả thù, Nguyễn Ánh sai đào phá mộ Nguyễn Huệ và Nguyễn Nhạc. Nơi đặt lăng mộ của Quang Trung cũng bị san phẳng, không cho để lại dấu tích, nên sau này có một số nhà nghiên cứu đã dày công tra cứu, khảo sát, tìm tòi song không thể xác định được mộ vua Quang Trung ở địa điểm nào. Bên cạnh đó các lăng mộ của gia tộc Tây Sơn ở Nghệ An và Quy Nhơn đều bị khai quật, hủy phá đến mức chỉ trơ hố huyệt sâu, khiến người sau phải gọi là “giếng huyệt”.

Khảo sát trong thời gian gần đây của các nhà nghiên cứu đã tìm ra bài thơ Kiến Quang Trung linh cữu (Nhìn thấy linh cữu vua Quang Trung) của nhà thơ Lê Triệu (1771-1846), người sống dưới thời Tây Sơn và thời Nguyễn. Bài thơ nói về cảm xúc của tác giả khi đứng trước nơi từng là lăng mộ của Quang Trung, chỉ sau mấy năm bị Nguyễn Ánh khai quật (theo các nhà nghiên cứu là năm 1801 hay 1802.

” Bao năm thét mắng át phong vân Đủ thấy anh hùng – bậc vĩ nhân Hàm Đan hận vùi muôn vạn xác “Khuân Sơn” phần mộ hoạ trăm năm Ngậm hờn chỉ trích ngàn thu hận Nỡ phụ đường đường tám thước thân Quang cảnh thảy đều thành cát bụi Khiến đời muôn thuở cợt Doanh Tần!”

Chưa xác định được vị trí lăng mộ vua Quang Trung

Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch đã cho phép thực hiện một cuộc thăm dò khảo cổ học tại khu vực gò Dương Xuân (nơi nghi ngờ đặt lăng mô vua Quang Trung) từ ngày 6 đến 15/10/2016.

Sau gần ba tháng nghiên cứu, chỉnh lý tư liệu thu thập từ cuộc khai quật, chiều 9/1/2017, đoàn thăm dò khảo cổ học đã có báo cáo sơ bộ.

PGS.TS Bùi Văn Liêm – viện phó Viện Khảo cổ học – cho biết tại năm hố thăm dò với tổng diện tích gần 24m2 đã phát hiện nhiều di tích, hiện vật và kiến trúc.

Phát hiện hằng trăm hiện vật bằng đồng, sắt, sứ, sành, đất nung, ngói, thủy tinh, vôi vữa, xương, vỏ sò, trong đó nhiều nhất là hiện vật gốm sứ (337 mảnh).

Dựa vào tổng thể di tích, tư liệu địa tầng, các mảnh sứ có ghi niên đại, các mảnh sành, gạch, ngói, bước đầu có thể đoán định niên đại của di tích gò Dương Xuân nằm trong khoảng từ thế kỷ 17 đến 19 kéo dài đến đầu thế kỷ 20.

Theo chúng tôi Bùi Văn Liêm, cuộc thăm dò này đã cung cấp những tư liệu quan trọng nhưng vẫn chưa thể xác định cụ thể các di tích, hiện vật thuộc về thời kỳ nào, chủ nhân là ai.

(Tổng hợp)

Vì Sao Chúa Chết Đau Thương?

Bài 26

Ê sai 53:6. Luca 23:33-46.

Hôm nay là Good Friday. Chúng ta họp nhau đây để thờ phượng Đức Chúa Giê su và kỷ niệm ngày Lễ Thương khó của Ngài. Cách đây hơn 2000 năm, Ngài đã chịu chết khổ hình trên thập tự giá. Vào thời đó, Đế quốc La mã cai trị dân Y sơ ra ên. Cho nên các người Pha ri si và các thầy thông giáo muốn giết Đức Chúa Giê su, họ phải xin lịnh của quan Tổng Đốc Phi lát. Sau khi xét xử Chúa Giê su, Phi lát tuyên bố rằng: “Ta không tìm thấy người có tội lỗi chi.” (Giăng 19:4). Nhưng bọn họ la lên rằng: “Hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự, hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự!” (Giăng 19:6).

Phi lát “khiến đánh đòn Đức Chúa Giê su, và giao Ngài ra để đóng đinh trên cây thập tự.” (Mathiơ 27:26). Khi bọn lính La mã dùng dây da có những móc sắt nhỏ làm roi đánh Chúa Giê su, cho nên những móc sắt nhỏ đó xé thịt xé da làm cho máu tươm ra nơi những lằn roi trên thân thể của Ngài.

Đánh nhiều rồi, họ đan cái mão gai nhọn, đội cho Ngài. “Họ bèn nhổ trên mặt Ngài, đấm Ngài, lại có kẻ vả Ngài.” (Mathio 26:67), và nhạo báng Ngài rằng: “Lạy Vua dân Giu đa.” Rôi họ bắt Ngài đi đến đồi Gô gô tha để đóng đinh Ngài.

Đi đến một nơi gọi chỗ cái Sọ, bọn lính đóng đinh hai tay và đóng đinh hai chân của Đức Chúa Giê su vào cây thập tự giá, rồi chúng dựng cây thập giá đứng lên, cây thập tự ngã nghiêng trước khi đứng thẳng, chúng ta thử tưởng tượng xem Chúa Giê su lúc đó bị đau đớn đến mức độ nào? Khi cậy thập tự được dựng lên xong, thân hình Đức Chúa Giê su bị treo chơ vơ trên đỉnh đồi Gô gô tha.

Thời đó, bị đóng đinh trên thập giá là một hình phạt chỉ để dành cho hạng người làm loạn, lừa thầy phản bạn, cướp của giết người, cho nên mọi người đi qua lại khinh bỉ nói những lời gièm chê nguyền rủa. Hình phạt nầy là khổ hình vì người bị đóng đinh muốn chết cũng không chết được, xoay qua đau đớn, xoay lại đớn đau, nhưng không chết, hơi thở mệt nhọc, đứt khoảng nặng nề, phải đợi cho những vết thương máu chảy ra thật nhiều rồi mới chết.

Khi đã bị quân lính đóng đinh vào thập giá, dù đau đớn tột cùng, Chúa Giê-su cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ.”

Tiếng “Cha” nói lên tình Cha-Con thắm thiết. Đức Chúa Giê-su là Đấng hoàn toàn thánh thiện, cho đến nỗi Đức Chúa Cha đã nói về Ngài rằng: “Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng.” (Ma thi ơ 3:17). Thế mà bây giờ kẻ thì đánh đập, kẻ thì mắng nhiếc, kẻ thì nhục mạ, kẻ thì nhổ vào mặt Ngài, và rồi mấy tên lính đóng những cây đinh to lớn treo Ngài lên thập tự giá khổ hình, đau thương.

Nhìn cảnh đau thương nầy, chúng ta nhớ lại bà Gióp đã nói với Ông trong cảnh khổ rằng: “Ủa? Ông hãy còn bền đỗ trong sự hoàn toàn mình sao? Hãy phỉ báng Đức Chúa Trời, và chết đi!” (Gióp 2:9). Ý bà Gióp nói rằng chịu cảnh nầy mà Ông còn thờ phượng Đức Chúa Trời sao? Hãy nói xấu Ngài, rồi đừng theo Ngài nữa! Và “chết đi!”

Thưa Quý vị, làm con dân của Chúa, khi gặp phải hoàn cảnh khó khăn, Quý vị vẫn bền đổ theo Chúa, hay Quý trách móc Chúa, rồi không thờ phượng Ngài nữa? Xin nhớ Bà Gióp nói: “phỉ báng Ngài, từ bỏ Ngài sau đó được gì? Chỉ là chết đi mà thôi!”

Đức Chúa Giê su cho chúng ta tấm gương là dù cảnh đời quá đau thương đi nữa Ngài vẫn yêu mến Đức Chúa Trời. Vì Ngài biết là dù hoàn cảnh có đổi thay, nhưng Đức Chúa Trời không hề thay đổi. Đức Chúa Trời vẫn nắm quyền tể trị và Ngài vẫn giữ lời hứa rằng: “Ta đã lấy sự yêu thương đời đời mà yêu ngươi.” (Gieremi 31:3). Xin nhớ dù trong hoàn cảnh nào, Chúa vẫn yêu quý vị!

“Lạy Cha, xin tha cho họ.” “Họ” là ai đây? “Họ” là những người Pha ri si, những thầy tế lễ, là Phi Lát, là những kẻ hô to: “đóng đinh hắn trên thập tự giá,” những kẻ đánh đập, nhục mạ Ngài, chưỡi bới Ngài và những kẻ cầm búa, cầm đinh đóng vào hai tay, hai chân Ngài. Nghĩa là những kẻ ghét Ngài, giết Ngài cách đau thương.

Chúng ta nên theo gương Chúa tha thứ cho những người không tốt với chúng ta và cầu nguyện cho họ. Như vậy mới đẹp lòng Chúa.

Khi đóng đinh Đức Chúa Giê su trên thập giá, người ta cũng đóng đinh hai tên trộm cướp bên phải và bên trái của Ngài.

Một tên bị đóng đinh đau đớn quá không biết trách móc ai, nó quay lại mắc mỏ với Chúa Jêsus rằng: Ngươi là Đấng Christ thì “hãy tự cứu lấy mình đi rồi cứu chúng ta với.” (Luca 23:39). Nhưng tên kia nói với nó rằng: Tội chúng ta làm, xứng với hình chúng ta chịu. Ngươi chẳng sợ Đức Chúa Trời sao? (Luca 23:39). Còn người nầy không làm điều ác gì.” Và nó thưa cùng Đức Chúa Giê-su rằng: “Hỡi Jêsus, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi!” (Lu ca 23:42). Đức Chúa Giê su phán cùng người rằng: “Hôm nay ngươi sẽ được ở với Ta trong nơi Paradi.” (Lu ca 23:43).

Đây là lời phán của Đấng Cứu Thế. Ngài sẵn sàng tha tội và ban sự cứu rỗi cho bất cứ ai tin nhận Ngài. Thưa quý vị, ngoài Ngài ra, quý vị không thể tìm một Giáo Chủ nào có quyền nói với quý vị là sau khi qua đời linh hồn quý vị sẽ về đâu, vì chính các vị Giáo chủ cũng không biết linh hồn mình về đâu? Chỉ có Đức Chúa Giê su mới có thẩm quyền cứu qúy vị. Vì vậy mà Kinh Thánh nói về Ngài rằng: “Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu.” (Công vụ 4:12). Hãy cầu xin với Đức Chúa Giê su, khi Quý vị qua đời Ngài sẽ dẫn đưa linh hồn Quý vị bình an vào nước Đức Chúa Trời.

Bọn lính đóng đinh Chúa Giê su vào khoảng 9 giờ sáng. Tại đó ánh nắng chói chang của vùng Trung Đông càng về trưa sức nóng trên đồi Gô gô tha càng thêm gay gắt. Những vết thương của Chúa Jêsus càng lúc máu ra càng nhiều. Ngài khát nước quá chừng, nhưng không có một chút thấm ướt môi. Ước chừng lúc 3 giờ chiều, biết mình sắp chết, Đức Chúa Giê su cầu nguyện rằng: “Hỡi Cha, con giao linh hồn lại trong tay Cha! Vừa nói xong thì Ngài tắt hơi.” (Luca 23:46).

Khi sống, Đức Chúa Giê-su đã dạy chúng ta nguyên tắc quý báu để sống. Đó là: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài.” Trước khi chết, Ngài dạy chúng ta nguyên tắc quý báu để chết. Nguyên tắc đó là “con giao linh hồn lại trong tay Cha!” Cha là Đấng Toàn năng gìn giữ linh hồn của chúng ta được an toàn trong vòng tay yêu thương phước hạnh của Ngài.

Bây giờ xin mời Quý vị nhìn lại cái chết của Đức Chúa Giê su. Đây không phải cái chết bình thường. Vì Ngài chịu chết để gánh thay hình phạt cho nhân loại tội lỗi. Mão gai làm cho máu quanh đầu Ngài tuông chảy, vì đầu óc chúng ta có toan tính những điều tội lỗi. Hai tay, hai chân Ngài bị đóng đinh, máu ra không ngớt vì hai bàn tay, chúng ta làm những công việc tội ác và hai bàn chân chúng ta đi con đuờng lầm lạc. Những lằn roi trên thân thể Ngài hằn sâu oằn oại vì thân thể chúng ta dự vào những nơi truy hoan bất khiết. Đức Chúa Giê su thật sự đã lãnh cái chết nhục nhã và đau thương. Tại sao vậy? Vì Đức Chúa Trời là Đấng Thánh khiết. Ngài không chịu được tội lỗi. Tội lỗi phải bị hình phạt dưới cơn thạnh nộ của Ngài. Vì vậy khi Đức Chúa Giê su gánh hình phạt cho tội nhơn, là Đức Chúa Giê su phải gánh cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Nghĩa là tại thập tự giá, “Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người.” (Ê sai 53:6).

Xin quý vị suy nghĩ xem tội lỗi của hết thảy chúng ta gồm có những tội lỗi nào? Nhiều hay ít? Nặng hay nhẹ? Thế mà “Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta.” (2 Corinhto 5:21). Cho nên, để chuộc tội cho chúng ta, Chúa Giêsu phải chịu trả giá bằng cái chết vô cùng nhục nhã và tột cùng đớn đau!

Tại sao Đức Chúa Giê su bằng lòng chịu hình phạt nhục nhã như vậy? Tại vì Ngài yêu thương tội nhơn. Vì yêu chúng ta, chẳng những Chúa Giê su bằng lòng, mà Ngài còn thỏa lòng. Như Kinh Thánh chép: “Người sẽ thấy kết quả của sự khốn khổ linh hồn mình, và lấy làm thỏa mãn.” (Esai 53:11). Và Đức Chúa Giê su “vì sự vui mừng đã đặt trước mặt mình, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục.” (Hê bơ rơ 12:12).

Đức Chúa Giê su thỏa mãn, vui mừng vì nhìn thấy kết quả của sự khốn khổ linh hồn mình đem đến hằng tỉ người được cứu trong đó có quý vị và tôi. Ngài vui mừng. Quý vị có thấy chính mình ở trong sự vui mừng của Ngài không?

Vì Đức Chúa Giê su vốn là Đấng vô tội. Ngài đã bằng lòng hy sinh chịu chết để cứu nhân loại tội lỗi cách trọn vẹn xong rồi, cho nên ba ngày sau, Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ cõi chết sống lại. Ngài không phải là một Giáo Chủ chết luôn. Nhưng Ngài là Chúa Cứu Thế Hằng Sống của nhân loại. Trong Ngài con dân Chúa dù có qua đời thì sẽ được phước lớn lao là Ngài sẽ ban cho sự “sống lại nơi ngày sau rốt.” (Giăng 6:40).

Thưa Quý vị, nhân vô thập toàn, cuộc đời ai cũng có ít nhiều tội lỗi. Vì yêu chúng ta, Đức Chúa Giê su đã bằng lòng chết khổ hình gánh thay hình phạt cho chúng ta. Đức Chúa Trời bằng lòng làm cho tội tỗi của tất cả chúng ta chất trên Ngài. Bây giờ chúng tôi xin mời quý vị chấp nhận tình yêu của Chúa Giê su để tội lỗi được tha và linh hồn được cứu.

Đức Chúa Trời không đòi công đức gì của quý vị. Quý vị hãy thưa với Ngài rằng: “Lạy Đức Chúa Trời con có tội với Ngài. Nay con xin nhận Đức Chúa Giê su đã chết thay cho con, chịu hình phạt vì tội lỗi của con, Ngài là Cứu Chúa của con. Xin Chúa tha thứ tội cho con. Con cầu xin trong Danh Đức Chúa Giê su. A-men.

Cầu xin Đức Chúa Trời Tứ Ái ban phước và ban bình an cho quý vị.

Mục sư Trần Hữu Thành.

Trường Thpt Quang Trung Đống Đa

Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học, từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học.Để đảm bảo được điều đó,nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối ‘truyền thụ một chiều” sang dạy cách học,cách rèn luyện kĩ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm,đem lại niềm vui,hứng thú, phát triển phẩm chất, năng lực cho người học;đồng thời phải coi trọng cả kiểm tra đánh giá kết quả học tập với với kiểm tra đánh giá trong quá trình học tập để có thể tác động kịp thời nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động dạy học và giáo dục.

Để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình SGK , với sự cần thiết phải đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục theo định hướng phát triển năng lực người học. Sáng ngày 26 tháng 12 năm 2018, trường THPT Quang Trung- Đống Đa đã tổ chức hội thảo: ” BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC”.

Tham dự buổi báo cáo có Cô giáo Nguyễn Thị Kiều Hạnh- Bí thư Đảng bộ, Hiệu trưởng; cô giáo Đinh Thị Thu Trang- Phó Hiệu trưởng; cùng toàn thể giáo viên, cán bộ CNVC trong hội đồng sư phạm nhà trường.

Mở đầu buổi báo cáo thầy Doãn Ngọc Lân- Tổ trưởng tổ Hóa – Sinh – Công nghệ trình bày tầm quan trọng của việc đổi mới giáo dục cũng như vai trò của giáo viên trong giáo dục 4.0.

Thầy giáo Bế Xuân Hợp- GV Vật Lí

Cuối cùng là bản báo cáo của tổ Văn: “VẬN DỤNG HÌNH THỨC DẠY HỌC DỰ ÁN VÀO GIẢNG DẠY MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THPT” do cô giáo Trương Thị Huyền trình bày. Báo cáo đã nêu khái niệm,ưu điểm, hạn chế khi vận dụng DADH vào bài học. Từ việc cho học sinh tìm hiểu về các món ăn yêu thích của người Hà Nội, những thói quen đi chợ hoa ngày tết hay tìm hiểu về những địa danh nổi tiếng của Hà Nội cô đã giáo dục cho học sinh của mình về những giá trị nhân văn của cuộc sống. Một tiết học vô cùng bổ ích với sự tích cực, chủ động của học sinh.

Cô giáo Vũ Đỗ Quyên- GV Văn

Cuối cùng, Cô giáo Nguyễn Thị Kiều Hạnh- Bí thư Đảng bộ, Hiệu trưởng nhà trường; cô giáo Đinh Thị Thu Trang- Phó Hiệu trưởng lên tổng kết và đánh giá cả 3 báo cáo đều vô cùng chất lượng, như một làn gió mới thổi vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học và khẳng định thêm sức mạnh, lòng nhiệt huyết say nghề của giáo viên trường THPT Quang Trung- Đống Đa.

Ban Giám hiệu chụp ảnh kỉ niệm cùng các thầy cô tham gia báo cáo