Vì Sao Việt Nam Thắng Mỹ / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Channuoithuy.edu.vn

Vì Sao Việt Nam Chiến Thắng Còn Mỹ Thất Bại Trong Cuộc Chiến Covid

Chiến thắng trong cuộc chiến chống Mỹ và giờ là thành công trong việc ngăn chặn sự lây lan của dịch Covid-19, Việt Nam đã đạt được những kết quả ấn tượng này đều nhờ khả năng điều phối người dân hành động, định hướng truyền thông và kiểm soát cả doanh nghiệp nhà nước lẫn tư nhân một cách đồng bộ.

Trong khi Việt Nam chưa có ca tử vong chính thức nào vì dịch Covid-19 thì tại Mỹ, quốc gia từng là kẻ thù chiến tranh trong lịch sử, số người thiệt mạng vì đại dịch này giờ đã vượt qua cả con số thương vong trong cuộc chiến mà họ hay gọi là “Chiến tranh Việt Nam”.

Theo số liệu mới nhất, con số người chết vì đại dịch Covid-19 tại Mỹ hiện 69.680. Trong khi đó, tổng số người Mỹ đã chết trong cuộc chiến với Việt Nam là khoảng 58.220 người, bắt đầu bằng cái chết của hai cố vấn người Mỹ năm 1959 và kết thúc vào năm 1975 khi quân Mỹ buộc phải rút khỏi nước ta.

Dù có chung đường biên giới với Trung Quố c – nơi đầu tiên bùng phát dịch bệnh, số ca nhiễm Covid-19 tại Việt Nam mới chỉ dừng ở con số 271 và không có bất kỳ một ca tử vong nào. Nhiều người tin rằng số ca lây nhiễm tại Việt Nam có thể nhiều hơn do hiện mới chỉ kiểm tra được trên 88.000 người, vậy nhưng dù sao nước ta vẫn là một trong những quốc gia có tỉ lệ tử vong vì Covid-19 thấp nhất thế giới.

“Đội ngũ của chúng tôi tại Hà Nội đang làm việc rất sát sao cùng với Bộ Y tế. Và theo những thông tin mà tôi nhận được thì tính tới thời điểm này, không có bất cứ một dẫn chứng nào cho thấy các con số đó là sai lệch”, ông MacArthur, đại diện của Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh (CDC) tại Thái Lan khẳng định.

Trái ngược với vị thế và sự hùng hậu về tài nguyên của Mỹ so với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, chính phủ Mỹ đã không có những động thái nhanh nhạy trong việc ứng phó với đại dịch ngay từ những bước đầu, bỏ qua cơ hội trong những khoảng thời gian quan trọng và quý báu, đó là một trong những yếu tố dẫn đến con số tử vong tăng cao tại nước này.

Chính phủ Mỹ đã không phối hợp hiệu quả trong công cuộc truyền tải những tin tức về sức khỏe và những thông điệp bảo vệ an toàn cho cộng đồng, hay lan tỏa thông điệp về dịch bệnh và sức khỏe qua những chương trình phát sóng, những ấn phẩm in ấn truyền thông, những áp phích đường phố hay nhiều cảnh báo khác như cách mà Hà Nội đã làm trong cuộc chiến với đại dịch lần này.

Chiến thắng trong cuộc chiến chống Mỹ và giờ là thành công trong việc ngăn chặn sự lây lan của dịch Covid-19, Việt Nam đã đạt được những kết quả ấn tượng này đều nhờ khả năng điều phối người dân hành động, định hướng truyền thông và kiểm soát cả doanh nghiệp nhà nước lẫn tư nhân một cách đồng bộ.

Ngày 23/4, một số văn phòng, cửa hàng, nhà hàng, khách sạn, địa điểm du lịch, trung tâm thể dục và một vài nơi khác tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh cũng nhưng một vài nơi khác đã bắt đầu mở cửa trở lại sau lệnh cách ly xã hội từ ngày 1/4. Quyết định nới lỏng cách ly của chính phủ được ban hành do không còn những ca nhiễm mới trong nhiều ngày.

Một số những địa điểm mang rủi ro cao như các lễ hội, vườn thú, các tiệm làm đẹp hay những cơ sở kinh doanh vẫn tiếp tục đóng cửa. Một số tỉnh thành như Bắc Ninh, Hà Giang hay các khu vực lân cận trong Hà Nội vẫn chịu lệnh bán phong tỏa.

“Chúng ta cần học cách sống chung với đại dịch. Chúng ta không thể để nó phá hủy nền kinh tế hay đất nước. Chúng ta cần đặt tính mạng người dân lên đầu và tiếp tục áp dụng các biện pháp chặt chẽ để kiểm soát dịch bệnh”, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh.

Chiến lược “cùng sống an toàn” này cho phép người dân làm việc nhưng vẫn phải duy trì khoảng cách xã hội, thường xuyên rửa tay và khai báo thông tin sức khỏe khi di chuyển giữa các tỉnh thành.

Các chuyến bay quốc tế vẫn bị hạn chế nhưng một số chuyến cũng như giao thông công cộng tại Việt Nam đã bắt đầu hoạt động trở lại. Trường học cũng đã bắt đầu mở cửa đón học sinh trở lại.

“Mọi người được yêu cầu kiềm chế nói chuyện, ăn uống và phải đeo khẩu trang trên các phương tiện công cộng”, cổng thông tin của Chính phủ khuyến cáo.

Thế nhưng tại Mỹ, chính phủ lại phản ứng bằng những “bản vá” của lệnh phong tỏa với nhiều hạn chế khác nhau. Trong khi một số bang và các thành phố lớn áp dụng lệnh buộc ở nhà một cách nghiêm ngặt thì tại một số nơi khác lại dường như không chịu ảnh hưởng nhiều từ lệnh kiểm soát.

Những cách ứng phó không đồng đều ấy còn bắt đầu trong những ngày khác nhau, cho phép virus nguy hiểm này có thể lan từ những nơi đã bị phong tỏa và làm lây nhiễm những địa điểm vẫn còn mở cửa.

Cũng phải nhắc đến rằng, Việt Nam đã có được những kinh nghiệm quý báu khi đối phó với các dịch bệnh đến từ quốc gia láng giếng Trung Quốc như dịch SARS, cúm gia cầm và cúm lợn.

Bí quyết chiến thắng đại dịch của Việt Nam được tiết lộ khi nhìn về quãng thời gian qua khi cả nước gồng mình chống dịch.

Ngày 16/1, Bộ Y tế cảnh báo chính phủ về cách để ngăn chặn một đại dịch sắp bùng phát. Chính phủ đã phổ biến tới hàng trăm bệnh viện và phòng khám tại Việt Nam vào ngày 21/1 tinh thần đối phó với bệnh dịch.

Ca nhiễm đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam vào ngày 23/1 khi hai bố con người Trung Quốc bay sang từ Vũ Hán vào ngày 13/1.

Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng chống dịch bệnh đã được thiết lập ngay vào ngày 30/1 khi Hiệp hội sức khỏe thế giới (WHO) công bố virus là một “Mối lo ngại quốc tế về tình trạng khẩn cấp sức khỏe cộng đồng”.

Đầu tháng Hai, Việt Nam bắt đầu cảnh báo cộng đồng và tạo một trang web thông tin. Tiếp đó, những lệnh phong tỏa của chính phủ đã gần như giải tỏa hoàn toàn những nhóm tập trung đông người trên đường phố và tại một số tỉnh thành, khu vực. Người dân dần chỉ được phép ra ngoài để mua thực phẩm và các nhu cầu thiết yếu khác.

Cảnh sát được điều động để phạt những cá nhân không đeo khẩu trang khi ra đường, cảnh báo “sẽ bỏ tù” nếu người dân không đeo khẩu trang khiến lây bệnh cho người khác và ra lệnh cấm tụ tập từ 20 người trở lên.

Thành phố cũng cho cách ly tất cả các khu vực xuất hiện ca nhiễm Covid-19. Đội ngũ Y tế đã đi kiểm tra từng nhà quanh khu vực xuất hiện các ca nhiễm mới.

“Họ thực sự đang làm công việc của mình. Tôi cho rằng đó chính là lý do Việt Nam có thể duy trì số ca lây nhiễm nhỏ như vậy”, ông Takeshi Kasai, Giám đốc WHO khu vực Tây Thái Bình Dương cho biết.

Hàng chục ngàn người, bao gồm cả người dân lẫn khách du lịch đến Việt Nam đều trở thành đối tượng bị cách ly tại các khu tập thể quân đội khắp đất nước. Tại đó, những người lính đã đặt các suất ăn theo bữa bên ngoài mỗi phòng.

Trong tuần đầu tiên của tháng Ba, Việt Nam đã nhanh chóng cho dừng tất cả các chuyến bay đến, qua hay đi từ Trung Quốc. Chính quyền cũng theo dõi sát sao những hành khách từ các chuyến bay quốc tế, và ban lệnh cấm nhập cảnh đối với các khách quốc tế sau ngày 22/3, ngoại trừ công dân Việt Nam trở về nhà hay những cá nhân khác thì đều phải trải qua hai tuần cách ly.

Khi Bệnh viện Bạch Mai tại Hà Nội và quán bar Buddha tại TP Hồ Chí Minh trở thành điểm nóng của dịch bệnh, một lệnh phong tỏa quy mô lớn đã được ban hành vào ngày 1/4.

Trái ngược với những lùm xùm trong cuộc chiến đại dịch tại Mỹ, thành công của Việt Nam đã đến đúng vào dịp kỷ niệm 45 năm Việt Nam đánh bại Mỹ, thống nhất đất nước. Một lần nữa, Việt Nam đã thể hiện được sự ấn tượng, một sức mạnh không ngờ của một quốc gia Đông Nam Á nhỏ bé dù vẫn đang gánh chịu những vết thương chiến tranh nhưng không có sự mất mát nào mà đại dịch Covid-19 này đem lại.

(Nguồn: ASIATIMES)

Tại Sao Việt Nam Đánh Thắng B

Cuốn sách Tại sao Việt Nam đánh thắng B-52: Những chuyện bây giờ mới kể của trung tướng, phó giáo sư, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Phan Thu do NXB Trẻ xuất bản chào mừng kỷ niệm 76 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 – 22-12-2020) giúp bạn đọc hiểu thêm về tinh thần chiến đấu trí tuệ, anh dũng và sáng tạo của binh chủng Phòng không – không quân. 

* Thêm lý giải góc độ khoa học

Tính từ thời điểm cuối tháng 12-1972, khi Bộ đội Phòng không – Không quân Việt Nam chiến đấu dũng cảm, đánh bại cuộc tập kích đường không chiến lược bằng máy bay B-52 vào Hà Nội và một số địa phương miền Bắc, làm nên chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ trên không đến nay, thấm thoắt đã trải qua gần nửa thế kỷ. Suốt từ đó đến nay, theo trung tướng Lâm Quang Đại – Chính ủy Quân chủng Phòng không – không quân Việt Nam, thì “đã có rất nhiều câu hỏi được đặt ra là bằng cách nào và làm thế nào mà lực lượng Phòng không – không quân miền Bắc Việt Nam, chỉ trang bị các loại súng, pháo, tên lửa SAM-2 và máy bay MIG-21, lại có thể bắn trúng, bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay ném bom chiến lược B-52 của Mỹ – loại được mệnh danh là “Siêu pháo đài bay bất khả xâm phạm”.

Trung tướng Phan Thu (sinh năm 1931) là tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam, quân hàm trung tướng, phó giáo sư.

– Năm 1947, ông là đoàn viên thanh niên cứu quốc, phụ trách công tác thiếu nhi và tham gia dạy bình dân học vụ. Năm 1950, ông nhập ngũ và và theo học Trường Lục quân. Năm 1972, ông là Trưởng phòng Nghiên cứu khoa học kỹ thuật Cục Kỹ thuật quân chủng Phòng không – không quân. Sáng kiến chống nhiễu của Quân chủng Phòng không – không quân từ năm 1968-1972 có sự đóng góp lớn của trung tướng Phan Thu và các đồng chí trong Tiểu đoàn Nhiễu đã được Đảng, Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học kỹ thuật.

– Nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp quốc phòng và kinh tế, Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện Kỹ thuật quân sự, Cục trưởng Cục Kỹ thuật quân chủng phòng không.

– Nguyên Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI (dự khuyết) và khóa VII, nguyên Đại biểu Quốc hội khóa VIII và IX. Ông là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

– Sách đã xuất bản: Cuộc đối đầu không cân sức (năm 2014, tái bản năm 2020), Tại sao Việt Nam đánh thắng B-52: Những chuyện bây giờ mới kể (năm 2020).

* Mọi người đều góp công

Rất nhiều chính khách, nhà nghiên cứu lịch sử, nhà quân sự lẫn học giả trên thế giới và Việt Nam đã tập trung nghiên cứu, phân tích, đánh giá về chiến dịch, về nghệ thuật tác chiến phòng không. “Trong dư luận, đã có những câu hỏi được đặt ra như: Tại sao Việt Nam đánh thắng được B-52?; Tại sao B-52 bị bắn hạ ở Việt Nam trong khi trên toàn thế giới, chưa một nước nào làm được việc đó?” – tác giả, trung tướng Phan Thu cho biết.

Và người anh hùng từng chứng kiến, tham gia vào chiến dịch đánh thắng B-52 năm xưa lý giải: “Để đánh thắng B-52, ta đã dốc sức và tích cực chuẩn bị trên các mặt trận, từ cấp chiến lược đến cấp chiến dịch và cấp chiến thuật. Mọi người trong Quân chủng đều đóng góp phần của mình, từ người lãnh đạo chỉ huy, đến người chiến binh ngồi trên mâm pháo, bên giàn tên lửa, trên máy bay chiến đấu, trong trạm xưởng, trong phòng thí nghiệm khoa học kỹ thuật…”.

Trung tướng Lâm Quang Đại bày tỏ hy vọng “những thông tin do cuốn sách cung cấp sẽ giúp độc giả hiểu thêm về những năm tháng hào hùng của bộ đội Phòng không – không quân, về các chiến công và những con người đã làm nên chiến thắng vĩ đại ấy, đồng thời góp phần khơi dậy lòng tự hào và trọng trách của các thế hệ sau trong sự nghiệp bảo vệ vững chắc bầu trời, chủ quyền lãnh thổ và biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc”.

* Một dân tộc bất khuất

Cuốn sách có những tư liệu quý do tác giả có được “từ việc sâu sát, thâm nhập, cùng các cộng sự tham gia chiến đấu với bộ đội”, bao gồm những thông tin về nhiễu, những thủ đoạn sử dụng tên lửa Shrike của địch, những đánh giá từ hai phía, những bản vẽ, ảnh chụp các dạng nhiễu của địch trên màn hiện sóng các loại radar của ta, những hình ảnh về máy bay, bom đạn, các khí tài gây nhiễu của địch do tác giả chụp lại từ các tạp chí quân sự nước ngoài kể từ năm 1967… Từ đó, trung tướng Phan Thu đưa ra những phân tích dưới góc độ khoa học kỹ thuật trong “chiến dịch Điện Biên Phủ trên không” hết sức sâu sắc, có giá trị chuyên môn cao. Một số uẩn khúc từ chiến dịch cách đây gần 50 năm cũng được tác giả cố gắng làm sáng tỏ như “không có việc nối tầng đánh B-52”, “tên lửa SAM-3 lỡ hẹn đánh B-52”, cùng những bài học rút ra sau chiến thắng…

Nhà quân sự nhiều kinh nghiệm như trung tướng Phan Thu cũng bộc bạch những trăn trở về tương lai với độc giả sách Tại sao Việt Nam đánh thắng B-52: Những chuyện bây giờ mới kể: “Nếu có cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc khác thì tác chiến phòng không trong nhiễu đương nhiên là mạnh hơn những gì ta đã gặp, thủ đoạn sử dụng tên lửa chống radar sẽ phổ biến hơn và lắt léo hơn. Không những thế, chúng ta còn phải tiến hành tác chiến phòng không trong điều kiện tàng hình với các loại máy bay không người lái và nhiều loại phương tiện kỹ thuật hiện đại, vũ khí điều khiển qua internet, điều khiển bằng tia lazer với công nghệ cao… Chiến tranh trong tương lai còn là chiến tranh mạng, xảy ra ngay trong thời bình lẫn thời chiến mà chúng ta không thể coi thường”.

Dù vậy, trung tướng Phan Thu khẳng định mạnh mẽ: “Một dân tộc đã có hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Bao nhiêu xương máu và mồ hôi nước mắt của cha ông nhiều thế hệ đã đổ ra để có và giữ được mảnh đất này. Một dân tộc như vậy, vạn người như một, triệu người như một, sẽ không có kẻ xâm lược nào có thể khuất phục được”.

Lời tâm huyết của vị tướng

Trung tướng Phan Thu bày tỏ niềm tự hào về ý chí và trí tuệ Việt Nam đã bắn rơi B-52. Ảnh tư liệu: Tổng cục Công nghiệp quốc phòng

Lịch sử ghi nhận trận Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không là một trong những trận chiến vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

Thắng lợi Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không, góp phần cho việc ký kết Hiệp định Paris, để sau đó 2 năm dẫn đến đại thắng mùa xuân năm 1975. Đất nước giành được độc lập hoàn toàn và thống nhất, đưa giang sơn gấm vóc của tổ tiên về một mối.

Chiến tranh đã kết thúc, có 3 vấn đề còn nợ mà chúng ta phải nghiên cứu tiếp để chủ động chuẩn bị nếu có cuộc chiến tranh khác xảy ra. Đó là:

1. Nhiễu SAM-3 sẽ xảy ra như thế nào, nếu chiến tranh vẫn tiếp tục?

2. Đánh những loại máy bay ném bom như B-52 đối với các yếu địa ven biển như Hải Phòng, Đà Nẵng, Cam Ranh… sẽ phải giải quyết thế nào để khắc phục khó khăn của ta như B-52 đã vào đánh Hải Phòng ngày 16-4-1972? Việc không cho máy bay và hạm tàu gây nhiễu ngoài đội hình vào gần là điều tối quan trọng để tên lửa phòng không đánh các loại máy bay ném bom kiểu đó.

3. Loại máy gây nhiễu mới khi máy bay chiến thuật đóng giả B-52 là loại gì? Là ALQ-87 hay ALQ-101? Có phải địch lại gây nhiễu rãnh đạn đợt mới đã được cải tiến, khiến 36 quả đạn của các trung đoàn 257 và 261 đều bị tự hủy hay không? Nhiễu rãnh đạn còn nguy hiểm hơn rãnh mục tiêu nhiễu. Rãnh mục tiêu bị nhiễu, ta còn có cách đánh 3 điểm, cần đánh giá chính xác sự nguy hiểm của nhiễu rãnh đạn so với nhiễu rãnh mục tiêu mà nghiên cứu cải tiến rãnh đạn tên lửa hiệu quả hơn nữa. Cần đặt những vấn đề trên để tiếp tục giải quyết.

Trung tướng PHAN THU

Yến Thanh

Phát huy triệt để ý chí và trí tuệ Việt Nam

Trả lời phỏng vấn Đồng Nai cuối tuần nhân kỷ niệm 76 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 – 22-12-2020), Trung tướng Phan Thu chia sẻ nhiều điều tâm đắc:

“Suốt gần 50 năm qua, ở nhiều lần kỷ niệm chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không”, chúng ta đều nói về các nguyên nhân của thắng lợi. Mỗi người đều nói về những khía cạnh mà mình cảm thấy thích thú. Lần này, tôi cũng vậy. Có những nét đặc biệt làm nên chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ trên không mà tôi đề cập trong cuốn sách mới của mình là:

1- Nguyên nhân tổng hợp, đó là: cả về chiến lược, chiến dịch, chiến thuật, kỹ thuật, Việt Nam đều chủ động, không bị bất ngờ, chủ động chuẩn bị, hạn chế những điểm mạnh, khoét sâu các điểm yếu của B-52, phát huy những điểm mạnh của ta, khiến ta mạnh hơn và đánh thắng đối phương.

2- Nguyên nhân về khoa học kỹ thuật. Đối phương dùng khoa học kỹ thuật để chế áp ta. Ta cũng sử dụng khoa học kỹ thuật để đánh thắng lại.

3- Ta đã có một cách đánh B-52 thông minh, sáng tạo vừa đánh thắng địch vừa bảo vệ mình. Ta đã chọn cự ly thích hợp để phát sóng làm sao vừa bắt được mục tiêu chọn được cách đánh vượt nửa góc là phương pháp bắn chính xác nhất của SAM-2, vừa hạn chế tên lửa Shrike của đối phương; đã phát huy cách đánh 3 điểm, một phương pháp thụ động “gậy ông đập lưng ông” rất hiệu quả. Chúng ta đã xử lý nhanh, thành thạo và chính xác cách thay đổi phương pháp bắn ngay trong quá trình điều khiển đạn. Tóm lại quân ta đã có cách đánh tổng hợp, phát huy triệt để ý chí và trí tuệ Việt Nam.

4- Tác chiến điện tử và chống tên lửa bám theo cánh sóng radar giữa ta và đối phương diễn ra giằng co, kéo dài suốt cuộc chiến tranh ở miền Bắc theo hướng một chiều: Mỹ tập trung gây nhiễu và sử dụng tên lửa Shrike, ta thì chủ yếu là chống nhiễu (vạch nhiễu tìm thù) và hạn chế tên lửa Shrike mà thôi. Nhiều lúc đối phương gây cho ta nhiều khó khăn như khi nghiên cứu cách đánh bằng phương pháp 3 điểm, chống nhiễu rãnh đạn, cải tiến kỹ thuật chống nhiễu và chống Shrike… Ta phải tác chiến trong một cuộc chiến tranh không cân sức, nhưng rồi chúng ta cũng vượt qua, vượt trên, mạnh hơn đối phương và chiến thắng.

* Trong sách, trung tướng có nói mình “lược viết những điều thấm thía”, đó là…?

– Điều mà tôi gửi gắm ở quyển sách là niềm tự hào về ý chí và trí tuệ Việt Nam đã bắn rơi B-52 mà trên thế giới cho đến nay vẫn chưa một nước nào làm được việc ấy. Tôi vô cùng vui sướng và thích thú khi được viết trong quyển sách của mình: “Chúng ta đã giành thắng lợi bằng chính thực lực của mình, bằng sức mạnh của mình mà không hề có sự may rủi nào!”. Hoặc câu: “Ta đã mạnh hơn địch, quật đổ thần tượng B-52 theo nghĩa bóng và xuống bùn đen ở hồ Ngọc Hà theo nghĩa đen”.

* Xin Trung tướng cho biết vai trò của việc nắm bắt công nghệ, khoa học kỹ thuật hiện đại trong quân chủng quốc phòng ngày nay?

– Việt Nam chúng ta nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa con người và vũ khí. Coi trọng vai trò của con người trong chiến tranh, nhưng không bao giờ coi nhẹ vũ khí trang bị, khoa học kỹ thuật quân sự. Ngày nay, trong sự phát triển của khoa học và công nghệ, trên thế giới, chúng ta phải từng bước hiện đại hóa quân đội, thậm chí ở một số ngành đòi hỏi phải hiện đại hóa nhanh để đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng.

* Xin chân thành cảm ơn trung tướng và kính chúc ông thật nhiều sức khỏe.

Y.Thanh (thực hiện)

Vì Sao Giới Khoa Học Mỹ Phản Đối Tấn Công Hạt Nhân Ở Việt Nam?

Hai em bé Việt Nam nhìn chằm chằm vào một lính dù Mỹ cầm khẩu súng phóng lựu M79 (ảnh chụp trong ngày đầu tiên của năm 1966, tại một con mương cách Sài Gòn 20km). Ảnh: Horst Fass

H ồi giữa thập niên 60, khi chiến tranh Việt Nam đang khốc liệt, Bộ Quốc phòng Mỹ bắt đầu một nghiên cứu để xác định tính khả thi và thích đáng của việc sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật ở Việt Nam, nhằm phong tỏa đường mòn Hồ Chí Minh, phá hủy các căn cứ quân sự, cảng biển, hoặc tàn sát một lượng lớn quân đối phương…

Bản nghiên cứu năm 1967 có tựa đề “Vũ khí hạt nhân chiến thuật ở Đông Nam Á” và được giải mật nhiều năm sau đó. Điểm mấu chốt của nghiên cứu này là việc sử dụng vũ khí hạt nhân ở Việt Nam sẽ không đem lại cho Mỹ lợi thế quân sự mang tính quyết định mà lại gây hậu quả nghiêm trọng đối với binh sĩ Mỹ trên chiến trường và lợi ích của Mỹ trên khắp thế giới.

Bản nghiên cứu do bốn nhà vật lý thực hiện. Họ cộng tác với Phòng vị Jason của Viện Nghiên cứu Quốc phòng Mỹ – nơi một nhóm nhà khoa học thường xuyên gặp gỡ để cung cấp những lời khuyên bí mật cho các quan chức quốc phòng. Kết luận của bản nghiên cứu được trình lên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lúc ấy là ông Robert McNamara.

“Tác động chính trị của việc Mỹ lần đầu sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật ở Việt Nam sẽ rất xấu và có thể rất thảm khốc”, các nhà khoa học Mỹ viết.

Họ cảnh báo rằng, việc Mỹ sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật lần đầu tiên có thể dẫn tới tình trạng Liên Xô hoặc Trung Quốc cung cấp vũ khí tương tự cho Việt Cộng (Quân Giải phóng miền Nam) và miền bắc Việt Nam. Điều đó làm tăng nguy cơ các lực lượng của Mỹ ở Việt Nam “sẽ bị hủy diệt tận gốc” trong các đợt phản công trả đũa của quân du kích được trang bị vũ khí hạt nhân.

Các nhà khoa học Mỹ viết rằng, nếu điều đó xảy ra, “các nhóm nổi dậy khắp nơi trên thế giới sẽ ghi nhớ và tìm mọi cách để có được vũ khí hạt nhân chiến thuật”.

Họ cảnh báo: “Việc lần đầu sử dụng vũ khí hạt nhân ở Đông Nam Á có thể dẫn tới việc tăng đáng kể nguy cơ dài hạn của các chiến dịch du kích hạt nhân ở những nơi khác trên thế giới”, như tấn công vào kênh đào Panama, kho chứa và đường ống dẫn dầu ở Venezuela, thủ đô Tel Aviv của Israel… “An ninh của Mỹ sẽ bị đe dọa nghiêm trọng nếu việc sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật của các lực lượng du kích trở nên phổ biến”, các nhà khoa học Mỹ kết luận.

Không quân Mỹ từng muốn dùng vũ khí hạt nhân ở Việt Nam và Lào

Không quân Mỹ từng muốn sử dụng vũ khí hạt nhân ở Việt Nam năm 1959 và 1968 và ở Lào năm 1961, để xóa sổ quân du kích, theo các tài liệu của Không quân Mỹ được giải mật gần đây.

Năm 1959, Tham mưu trưởng Không quân Mỹ, “tướng Thomas White muốn làm tê liệt quân nổi dậy và các tuyến đường tiếp tế của họ bằng cách tấn công một số mục tiêu ở miền bắc Việt Nam bằng vũ khí thông thường hoặc vũ khí hạt nhân”, một tài liệu viết.

Tuy nhiên, tham mưu trưởng của các binh chủng khác không tán thành tấn công Việt Nam bằng vũ khí hạt nhân. Bảy tháng sau đó, đề xuất của tướng White được rút lại. Tập tài liệu mật dài 400 trang có tựa đề “Không quân Mỹ ở Đông Nam Á: Cuộc chiến ở Bắc Lào giai đoạn 1954-1973”.

Theo báo cáo giải mật, tướng White “yêu cầu Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân bật đèn xanh cho việc gửi một phi đội máy bay ném bom B-47 của Bộ chỉ huy không quân chiến lược tới căn cứ không quân Clark ở Philippines” để chuẩn bị cho đợt tấn công Việt Nam.

Đề xuất sử dụng vũ khí hạt nhân của tướng White có thể bắt nguồn từ một công trình nghiên cứu của Không quân Mỹ có tựa đề “Vũ khí nguyên tử trong các cuộc chiến tranh hạn chế ở Đông Nam Á”, báo cáo giải mật viết.

Nghiên cứu đó tập trung vào việc sử dụng vũ khí nguyên tử để kiểm soát tình hình trong rừng rậm, tuyến tiếp tế vùng thung lũng, khu vực đá vôi, hẻm núi, nhằm ngăn địch di chuyển và khai quang những chỗ địch trú ẩn.

Một năm sau đó, trong giai đoạn từ tháng 12/1960 đến tháng 1/1961 diễn ra chiến dịch cầu hàng không của Liên Xô nhằm cung cấp “lương thực, nhiên liệu và thiết bị quân sự” cho các lực lượng thân Mátxcơva ở Lào, thông qua Hà Nội, tài liệu giải mật của Không quân Mỹ viết. Tháng 3/1961, Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ “bác bỏ một kế hoạch huy động tới 60.000 quân với sự hỗ trợ của không quân và vũ khí hạt nhân”.

Năm 1968, ngay trước cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, các lực lượng bắc Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam tấn công quân Mỹ ở khu vực chia cắt hai miền. Để đáp trả, tướng William Westmoreland, chỉ huy các lực lượng Mỹ ở miền nam Việt Nam, giơ tay với lấy nút bấm hạt nhân.

“Cuối tháng 1, tướng Westmoreland cảnh báo rằng, nếu tình hình gần khu phi quân sự và tại Khe Sanh xấu đi một cách trầm trọng, có thể sẽ phải sử dụng vũ khí hạt nhân hoặc vũ khí hóa học”, một tài liệu tuyệt mật khác (dài 106 trang) viết.

Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và bài học về Việt Nam

Robert McNamara là Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ từ tháng 1/1961 tới tháng 2/1968, giai đoạn mà sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Việt Nam tăng vọt từ vài trăm quân nhân và “cố vấn” CIA lên hơn 500.000 binh sĩ với sự hỗ trợ của hàng trăm máy bay chiến đấu, đội tàu hải quân ngoài khơi và nguồn quân nhu khổng lồ xuyên Thái Bình Dương, từ Úc tới Philippines và Nhật Bản.

Lúc đỉnh điểm, gần 600.000 quân Mỹ được triển khai ở Việt Nam. Con số này gấp 4 lần toàn bộ quân thường trực của Mỹ năm 1940. Vì chiến tranh kéo dài và chính sách định kỳ luân chuyển quân, nên số người Mỹ phục vụ ở Việt Nam cao hơn trong Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất hoặc ở bán đảo Triều Tiên. Số bom mà quân đội Mỹ thả ở Việt Nam lớn hơn số bom mà tất cả các bên sử dụng trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai.

Trong cuốn hồi ký In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vietnam (Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và bài học về Việt Nam), cựu Bộ trưởng Quốc phòng McNamara viết rằng, sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam có nguy cơ leo thang thành một cuộc xung đột lớn hơn và đẫm máu hơn.

Ít nhất 3 lần trong nhiệm kỳ của ông tại Lầu Năm Góc, vào mùa thu năm 1964, tháng 11/1965 và mùa xuân năm 1966, các tướng lĩnh Mỹ ép Bộ Quốc phòng và Nhà Trắng cho phép sử dụng vũ khí hạt nhân ở Việt Nam.

Trong cuốn hồi ký, ông McNamara kể câu chuyện thâm cung bí sử về quá trình ra chính sách của chính quyền Kennedy và Johnson, làm rõ sự phá sản của phương pháp thực dụng. Các quyết định được đưa ra theo từng ngày, ít quan tâm hậu quả lâu dài và không hiểu mối quan hệ nối liền giữa hành động quân sự, ngoại giao và chính trị.

Theo ông McNamara, chính quyền Kennedy khởi động vụ đảo chính lật đổ và sát hại Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa là Ngô Đình Diệm vào tháng 11/1963 mà không đạt được sự đồng thuận về sự cần thiết loại bỏ ông Diệm hoặc chế độ nào, người nào sẽ thay thế ông ta.

Các quan chức cấp cao của Mỹ không hiểu biết về lịch sử, văn hóa, truyền thống chính trị của các nước Đông Nam Á và sự mù quáng này là một vết thương tự gây ra.

Thái An

Mỹ Phẩm Chính Hãng Tại Việt Nam

Mách nhỏ cách nhận biết son Black Rouge chính hãng

Cách nhận biết son Black Rouge thật hay giả đơn giản nhất chính là qua bao bì sản phẩm. Sản phẩm son Black Rouge chính hãng là vỏ ngoài có dải hologram sáng rõ, độ sắc nét cao. Còn đối với những hàng fake thì vỏ được in với chất liệu mỏng, dễ bong tróc. Bên cạnh đó khi mua hàng các bạn cũng nên chú ý đến logo của thương hiệu – đây là cách kiếm tra son Black Rouge chính hãng chuẩn nhất. Bởi đối với những son chính hãng thì logo thường in nổi và sắc nét hơn, đậm hơn so với hàng fake.

Son Black Rouge thật có vỏ cứng, đường nét rõ ràng hơn so với hàng fake

Trên thân son Black Rouge chính hãng cũng có dải hologram nét mảnh, in phẳng. Còn đối với sản phẩm hàng giả thì dải này có nét thô và dễ tróc. Bên cạnh đó tag màu dán dưới đáy son của hàng auth đúng với màu son, còn tag của hàng fake thì bị lệch khá nhiều so với màu thực tế.

Black Rouge hàng fake đường nét thô và dễ bong tróc

Cách kiếm tra son Black Rouge bằng mã vạch

Check mã vạch là cách tốt nhất để kiếm tra hàng thật hay giả

Cách nhận biết son Black Rouge thật và giả qua cấu tạo của thỏi son

+ Khi đặt hai thỏi son đúng cạnh nhau, son thật thường có chiều dài thấp hơn và thân son thật mờ và nhám hơn thân son giả

+ Thỏi Black Rouge thật có khoanh nhựa tròn để điều tiết lượng son cần dùng. Bên cạnh đó, cọ son Black Rouge thật có dạng hình chiếc lá lơn, lông cọ dày hơn hẳn hàng fake.

+ Nắp son của hàng thật sẽ vặt khít hơn, trong khi hàng fake thì nắp lệch khá nhiều.

Nắp vặt của Black Rouge thật kít hơn so với hàng fake

Cọ son của Black Rouge thật có hình chiếc lá còn hàng fake thì cọ dày hơn

Nhận biết son Black Rouge chính hãng qua chất son

Son Black Rouge chính hãng thường có mùi thơm nhẹ nhàng, dễ chịu của trái cây. Chất son Black Rouge chính hãng cũng mịn, mướt hơn, khi thoa lên môi rất dễ bám và mang lại cảm giác ấm nhẹ.

Còn đối với Black Rouge giả thì có mùi thơm nồng, khó chịu, chất son thì vón cục và gây cảm giác khó chịu cho da.

Black Rouge chính hãng có chất son mịn và lì hơn so với hàng giả

Mua son Black Rouge chính hãng tại địa chỉ uy tín

Việc sử dụng son Black Rouge giả sẽ gây ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe, ngoại hình của người dùng. Chính vì vậy, để mua được sản phẩm chính hãng thì việc lựa chọn địa chỉ mua hàng uy tín là điều rất cần thiết. Hãy lựa chọn cho mình showroom bán hàng chính hãng và chuẩn nhất để đảm bảo chất lượng son là tốt và an toàn. Tuy nhiên, nếu bạn chưa có thời gian đến cửa hàng mua thì có thể đặt hàng qua website hoặc fanpage chính thức của thương hiệu Black Rouge. Chỉ tầm từ 5-7 ngày là bạn sẽ có được thỏi son Black Rouge auth về tay. Hoặc có thể lựa chọn địa lý bán hàng chính hãng như chúng tôi Đây là địa chỉ chuyên cung cấp không chỉ son Black Rouge chính hãng mà của tất cả những thương hiệu mỹ phẩm nổi tiếng trên thế giời.