Vì Sao Việt Nam Gia Nhập Tổ Chức Asean / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Channuoithuy.edu.vn

Việt Nam Gia Nhập Asean

Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm.

Nói về việc Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995, nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm luôn cho rằng, đó là một quyết sách đúng đắn và kịp thời thể hiện khả năng nắm bắt được sự phát triển của xu thế toàn cầu hóa gắn với khu vực hóa.

Trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN, theo nhà ngoại giao kỳ cựu, Việt Nam đã đáp ứng được lời tuyên bố của các nhà sáng lập ra Hiệp hội là “tăng cường hợp tác để mỗi nước phát triển và cả khu vực cùng phát triển”. Tham gia ASEAN, Việt Nam đồng thời gia nhập AFTA – tổ chức hợp tác kinh tế của ASEAN. Nhờ tranh thủ cơ hội hợp tác với các nước trong Hiệp hội sẽ giúp đất nước vừa thoát khỏi bao vây cấm vận, đẩy nhanh sự phát triển đất nước.

Sáu tháng sau khi gia nhập ASEAN, Hiệp hội (lúc này đã có bảy thành viên) cùng với ba nước châu Á khác là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đại diện cho châu Á họp với 17 nước châu Âu thành lập Diễn đàn Hợp tác Á – Âu (ASEM). Nhờ đó, Việt Nam nghiễm nhiên là một thành viên sáng lập của tổ chức liên khu vực, liên châu lục này, có quan hệ hợp tác, cả trên bình diện song phương lẫn bình diện đa phương, với các nước châu Âu có trình độ phát triển cao và tiềm năng lớn, góp phần đẩy nhanh hơn nữa sự phát triển. Năm 1998, Việt Nam gia nhập Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) bao gồm các nước ở hai bên bờ Thái Bình Dương, trong đó có những nước phát triển hàng đầu như Mỹ và Nhật Bản.

Như vậy, sau khi gia nhập ASEAN, Việt Nam cùng các nước trong tổ chức hoặc dựa vào uy tín và kinh nghiệm của ASEAN, tranh thủ được ngày càng nhiều đối tác phát triển mạnh, có tiềm năng, số vốn lớn, công nghệ, kỹ thuật cao cùng kinh nghiệm quản lý tốt đã góp phần tăng thế và lực của mình.

Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm (thứ 2 từ phải) cùng các Ngoại trưởng ASEAN trong cuộc họp kết nạp Việt Nam vào ASEAN tại Brunei, ngày 28/7/1995.

Thời khắc không phai

Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm gắn bó với sự nghiệp ngoại giao hơn 50 năm trời. Làm ngoại giao, ông có dịp đi nhiều nước, gặp nhiều bạn bè trên khắp thế giới và lưu lại trong mình không ít kỷ niệm.

Một trong hai sự kiện để lại ấn tượng không thể phai mờ trong ông là lễ kết nạp Việt Nam vào ASEAN diễn ra tại Quảng trường Trung tâm Hội nghị Quốc gia Brunei chiều 28/7/1995.

Ông kể lại, khoảnh khắc khi lá cờ đỏ sao vàng từ từ kéo lên, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN, “tôi xúc động đến rưng rưng nước mắt”. Khi lá cờ được kéo lên đỉnh, một tràng pháo tay vang lên, từng cái bắt tay, từng khuôn mặt hân hoan của các ngoại trưởng ASEAN, quan chức nước chủ nhà và các nước thành viên ASEAN dự buổi lễ chúc mừng cho Việt Nam khiến nhà ngoại giao kỳ cựu càng không thể quên.

Ngay sau đó, đại diện cho thành viên thứ bảy của ASEAN, ông Nguyễn Mạnh Cầm khi đó là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, thay mặt Chính phủ lên đọc diễn văn. Bày tỏ niềm vui khi Việt Nam trở thành thành viên ASEAN, ông cảm ơn đồng nghiệp và nhấn mạnh vai trò quan trọng của ASEAN và hứa sẽ làm hết sức với tư cách là một thành viên có trách nhiệm trong tổ chức này.

Cũng sau diễn văn của đại diện Việt Nam, sáu Ngoại trưởng và Tổng Thư ký ASEAN đã phát biểu chúc mừng và ca ngợi Việt Nam hết lời. Sự xúc động đó hòa quyện với niềm tự hào về đất nước và dân tộc từ những giờ phút ấy đã khắc sâu vào tâm trí nhà ngoại giao kỳ cựu…

Những người bạn thân thiết

Nghiệp ngoại giao nhiều thập niên giúp ông Nguyễn Mạnh Cầm gặp, tiếp xúc rồi thân thiết với nhiều bạn bè trên thế giới. Đó là những người bạn từ Bộ Ngoại giao và Ban đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô ông gặp khi bắt đầu sự nghiệp tại Moscow, những người bạn khi công tác tại Hungary. Và đặc biệt, đó còn là những đồng nghiệp trong ASEAN.

Năm tháng sau khi Thủ tướng Võ Văn Kiệt kết thúc chuyến thăm hai nước ASEAN, tháng 7/1992, ASEAN chủ động mời Bộ trưởng Ngoại giao hai nước Việt Nam và Lào dự Hội nghị Ngoại trưởng hàng năm, ký Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á – văn kiện chính của ASEAN và nhận cương vị quan sát viên.

Trong cuộc trò chuyện, ông Nguyễn Mạnh Cầm nhắc lại một điều đặc biệt thú vị trong buổi đầu, khi ông và Bộ trưởng Ngoại giao Lào nhận cương vị quan sát viên, các đồng nghiệp ASEAN đều đổi cách xưng hô từ “ông” hoặc “Ngài” bằng tên như những người bạn thân thiết từ lâu.

Kể từ sau đó, các cuộc họp đều diễn ra trong không khí thân mật và dễ đi đến đồng thuận dù có những vấn đề ban đầu khác nhau phải tranh cãi, nhưng dù có lời qua tiếng lại cũng nhẹ nhàng không ảnh hưởng bầu không khí thân thiện.

Từ ngày Việt Nam gia nhập ASEAN đến ngày ông Nguyễn Mạnh Cầm thôi kiêm chức Bộ trưởng Ngoại giao, ông tham gia các hoạt động trong ASEAN khoảng 4 năm rưỡi. “Trong thời gian đó, có một vài nước thay đổi Bộ trưởng, nhưng chúng tôi vẫn giữ cách xưng hô như buổi ban đầu”, ông nhớ lại.

Đến nay trong số đồng nghiệp làm việc với ông hồi đó có người đã mất hay chuyển sang làm nhiệm vụ khác. Ông vẫn giữ liên hệ với một số người bạn cũ, do điều kiện địa lý và công việc cũng như hoàn cảnh khác nhau nên ít khi gặp được nhau.

“Thỉnh thoảng, chúng tôi vẫn gửi thư thăm hỏi nhau, nhắc lại kỷ niệm những ngày hợp tác với nhau và gửi thư chúc mừng nhau nhân các ngày lễ, tết và Quốc khánh”, ông chia sẻ.

Khi golf là đầu câu chuyện

Một năm trước khi Việt Nam gia nhập ASEAN, tại cuộc họp Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN 7/1994 tổ chức ở Bangkok, theo lời dặn của Tổng Thư ký, Bộ trưởng Ngoại giao khi đó là ông Nguyễn Mạnh Cầm phải nói rõ rằng Việt Nam đã sẵn sàng tham gia ASEAN chưa. Bắt đầu cuộc họp, chủ tọa nêu vấn đề: “Đề nghị bạn Cầm cho biết Việt Nam đã sẵn sàng gia nhập ASEAN chưa, tự xét đã đủ điều kiện chưa?”. Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đứng dậy, dõng dạc nói: “Việt Nam sẵn sàng gia nhập ASEAN và tự nhận mình đã đủ điều kiện gia nhập”.

Cả khán phòng vỗ tay hoan nghênh và Việt Nam được ghi vào biên bản để chuẩn bị cho lễ kết nạp vào tháng Bảy năm sau tại Brunei. Đột nhiên, Ngoại trưởng Malaysia Badawi đứng dậy: “Cầm ơi, điều kiện Việt Nam thì đủ rồi, nhưng còn hai điều kiện với Ngoại trưởng”. Ông Nguyễn Mạnh Cầm khi đó hơi ngỡ ngàng nhưng vẫn vui vẻ hỏi lại Ngoại trưởng Badawi rằng: “Những điều kiện gì, có khó không?”. Ngoại trưởng Malaysia chậm rãi: “Điều kiện thứ nhất: Trong ASEAN chỉ nói tiếng Anh, không được nói tiếng Pháp hay tiếng Nga”.

Tuy với vốn tiếng Anh tự học và chỉ cần cố gắng thì sử dụng được nên ông Nguyễn Mạnh Cầm mạnh dạn trả lời: “Về tiếng Anh, tuy vốn ít nhưng tôi sẽ cố gắng. Còn điều kiện thứ hai?”, ông Nguyễn Mạnh Cầm hỏi. Ngoại trưởng Badawi vừa cười vừa nói: “Vào ASEAN phải đánh golf!”. Nhà ngoại giao kỳ cựu liền trả lời: “Điều kiện này khó quá, khó hơn cả điều kiện Việt Nam vào ASEAN vì từ bé đến giờ tôi có biết golf là gì đâu”.

Ngoại trưởng Indonesia liền đứng dậy: “Cầm ơi, golf trong ASEAN là làm việc đấy chứ không phải đánh cho vui hay để tăng sức khỏe đâu. Cậu yên tâm bọn tớ sẽ tạo điều kiện giúp cậu đánh golf. Người Việt Nam làm gì chẳng được!”. Tất cả cười xòa vui vẻ. Quả thực đúng như vậy, các cuộc họp của ASEAN từ chuyên viên cao cấp, Bộ trưởng đến Hội nghị cấp cao trong chương trình nghị sự bao giờ cũng có một buổi chơi golf…

“Lúc bấy giờ, nắm bắt được sự phát triển của xu thế toàn cầu hóa gắn với khu vực hóa, ta đã có một quyết sách đúng đắn và kịp thời là gia nhập ASEAN. Gia nhập ASEAN, chúng ta đáp ứng lời tuyên bố của các nhà sáng lập ra Hiệp hội tăng cường hợp tác để mỗi nước phát triển và cả khu vực cùng phát triển”. Nguyên Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm

Trong ASEAN, họp hẹp quan trọng như thế nào?

TGVN. Cơ chế họp hẹp ASEAN qua hơn 2 thập kỷ đã trở thành một quy trình tư vấn cho lãnh đạo cấp cao ASEAN …

Toàn cảnh AMM Retreat: Những đóng góp thầm lặng cùng tạo nên thành công

TGVN. Thành công của Hội nghị hẹp Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM Retreat) 2020 từ ngày 15-17/1 tại thành phố Nha Trang (Khánh Hòa) có …

Video toàn cảnh Hội nghị hẹp Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN

TGVN. Ngày 17/1, tại Nha Trang, Khánh Hòa, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã chủ trì Hội nghị hẹp Bộ …

Giới Thiệu Tổ Chức Asean

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

I. Khái quát về ASEAN

1. Thành lập

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 tại Băng Cốc, Thái Lan, với việc ký kết Tuyên bố ASEAN (Tuyên bố Băng Cốc) của 5 nước sáng lập ASEAN, cụ thể là In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, Xing-ga-po và Thái Lan. Sau đó, Bru-nây Đa-ru-sa-lam gia nhập ngày 07/01/1984, Việt Nam ngày 28/7/1995, Lào và Mi-an-ma ngày 23/7/1997, và Cam-pu-chia ngày 30/4/1999, nâng tổng số các quốc gia thành viên của ASEAN lên 10.

2. Mục tiêu và mục đích

Như quy định trong Tuyên bố ASEAN, mục tiêu và mục đích của ASEAN là:

1. Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác để củng cố nền tảng cho một cộng đồng thịnh vượng và hòa bình của các quốc gia Đông Nam Á;

2. Để thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực thông qua việc tuân thủ, tôn trọng công lý và nguyên tắc của pháp luật trong quan hệ giữa các nước trong khu vực và tuân thủ các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc;

3. Để thúc đẩy hợp tác tích cực và hỗ trợ lẫn nhau về những vấn đề quan tâm chung trong kinh tế, xã hội, văn hóa, kỹ thuật, lĩnh vực khoa học và hành chính;

4. Cung cấp hỗ trợ cho nhau dưới các hình thức đào tạo và nghiên cứu trong các lĩnh vực giáo dục, chuyên nghiệp, kỹ thuật và hành chính;

5. Phối hợp hiệu quả hơn cho việc tận dụng các ngành nông nghiệp và công nghiệp, mở rộng thương mại của các nước, bao gồm việc nghiên cứu các vấn đề thương mại hàng hóa quốc tế, cải thiện giao thông vận tải, các phương tiện truyền thông và nâng cao mức sống của người dân các nước;

6. Để thúc đẩy nghiên cứu về Đông Nam Á;

7. Để duy trì sự hợp tác chặt chẽ và có lợi với các tổ chức quốc tế và khu vực với mục tiêu và mục đích tương tự, và khám phá tất cả các con đường hợp tác gần gũi hơn với nhau.

3. Nguyên tắc cơ bản

Trong quan hệ giữa các nước với nhau, các thành viên ASEAN đã thông qua các nguyên tắc cơ bản sau đây, như được ghi nhận trong Hiệp ước Thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) năm 1976:

1. Tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các quốc gia;

2. Quyền của mỗi Nhà nước trong việc bảo vệ sự tồn tại quốc gia khỏi sự can thiệp từ bên ngoài, lật đổ hoặc cưỡng ép;

3. Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;

4. Giải quyết các bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hòa bình;

5. Sự từ bỏ các mối đe dọa hoặc sử dụng vũ lực;

6. Hợp tác hiệu quả với nhau.

4. Hiến chương ASEAN

Hiến chương ASEAN đóng vai trò là nền tảng vững chắc để tiến tới hình thành Cộng đồng ASEAN, trong đó quy định tình trạng pháp lý và khuôn khổ thể chế cho ASEAN. Văn bản này hệ thống hóa các tiêu chuẩn, quy tắc và giá trị ASEAN; đặt mục tiêu rõ ràng cho ASEAN; và quy định về trách nhiệm và sự tuân thủ.

Hiến chương ASEAN có hiệu lực từ ngày 15/12/2008. Từ đó, ASEAN hoạt động theo một khuôn khổ pháp lý mới và thiết lập một số cơ quan mới để thúc đẩy quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN. Trong thực tế, Hiến chương ASEAN đã trở thành một thỏa thuận ràng buộc pháp lý đối với 10 quốc gia thành viên ASEAN.

5. Cộng đồng ASEAN

Vào ngày 22/11/2015, trong khuôn khổ Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 27 diễn ra tại Ma-lai-xi-a, lãnh đạo của 10 quốc gia thành viên ASEAN đã đặt bút ký văn kiện lịch sử Tuyên bố thành lập Cộng đồng ASEAN. Đây là một cột mốc quan trọng trong tiến trình hội nhập ASEAN, phản ánh sự lớn mạnh của ASEAN sau 48 năm hình thành và phát triển vươn lên trở thành một cộng đồng liên kết chặt chẽ trên cả 3 trụ cột là: chính trị-an ninh, kinh tế và văn hóa-xã hội, với vị thế ngày càng cao ở cả khu vực và thế giới. Các nhà lãnh đạo ASEAN cũng thông qua Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2025 mang tên “Vững vàng cùng tiến bước”, hướng tới một cộng đồng hòa bình, ổn định và cùng chia sẻ sự phồn vinh và trách nhiệm xã hội; hiện thực hóa một Cộng đồng ASEAN dựa trên luật lệ, hướng đến người dân và lấy người dân làm trung tâm.

Cộng đồng ASEAN bao gồm ba trụ cột là Cộng đồng An ninh – chính trị ASEAN (APSC), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và Cộng đồng Văn hóa – xã hội ASEAN (ASCC). Mỗi trụ cột có một Kế hoạch tổng thể riêng.

Kế hoạch tổng thể AEC 2025 đưa ra những biện pháp chiến lược cho mỗi đặc trưng của AEC 2025. Nhằm thực hiện Kế hoạch tổng thể, các biện pháp chiến lược sẽ được xây dựng chi tiết và triển khai thông qua các kế hoạch công tác của các cơ quan chuyên ngành khác nhau trong ASEAN. Kế hoạch công tác ngành được xem xét và cập nhật định kỳ để đảm bảo tính phù hợp và hiệu quả. Bên cạnh đó, các nước cũng sẽ tích cực tìm kiếm, khuyến khích tham gia các thỏa thuận đối tác với khu vực tư nhân, các hiệp hội ngành công nghiệp và cộng đồng lớn hơn ở cấp khu vực và quốc gia để đảm bảo một cách tiếp cận toàn diện và có sự tham gia của các lực lượng này vào quá trình hội nhập.

Hội nhập trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng luôn được xác định là một trong những nội dung quan trọng trong AEC. Để đạt được các mục tiêu dài hạn nêu trên, lĩnh vực tài chính – ngân hàng sẽ tập trung vào 3 nội dung hợp tác: hội nhập tài chính, tài chính toàn diện và ổn định tài chính. Đối với trụ cột hội nhập tài chính, AEC theo đuổi mục tiêu thiết lập thị trường tài chính có tính kết nối khu vực cao thông qua nâng cao vai trò của các ngân hàng khu vực, gia nhập sâu vào thị trường bảo hiểm với mức độ phân tán rủi ro cao hơn, và duy trì mức độ lưu động vốn cao. Trụ cột tài chính toàn diện tập trung giáo dục và phổ biến kiến thức tài chính, đồng thời thúc đẩy đa dạng hóa sản phẩn và dịch vụ tài chính. Trụ cột ổn định tài chính thực hiện chiến lược tăng cường giám sát và hợp tác hệ thống tài chính – ngân hàng và khuôn khổ giám sát qua biên giới.

II. Hợp tác khu vực trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ ASEAN

1. Hợp tác tài chính ASEAN

Tại Hội nghị Thống đốc NHTW ASEAN năm 2015 tại Viên Chăn, Lào, các nước đã khẳng định cam kết thực hiện các chính sách tài khóa và tiền tệ thích hợp để duy trì tăng trưởng kinh tế và ổn định thị trường tài chính thông qua việc điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp với mức độ phát triển và tình hình cụ thể của từng nước. Hội nghị nhất trí sẽ tăng cường hơn nữa cầu nội đia, tiếp tục cải cách cơ cấu, khuyến khích đầu tư khu vực tư nhân, với mục tiêu phát triển kinh tế cân bằng toàn khu vực. Đồng thời, Hội nghị thống nhất việc tăng cường nỗ lực hợp tác và hội nhập để cải thiện khả năng phục hồi của khu vực và đối phó với các nguy cơ bên ngoài.

1.1. Cơ chế giám sát ASEAN

Cơ chế giám sát ASEAN (ASP) bắt đầu vào năm 1999 như một cơ chế để rà soát và trao đổi quan điểm giữa các quan chức cao cấp (NHTW và Bộ Tài chính) về các vấn đề chính sách và phát triển kinh tế trong ASEAN gần đây. Kể từ đó, nó trở thành một cơ chế quan trọng trong ASEAN về theo dõi và giám sát kinh tế khu vực.

Tại Hội nghị Bộ trưởng tài chính ASEAN đặc biệt tại Tát-xken, U-dơ-bê-kít-xtan tháng 5/2010, các Bộ trưởng đã thông qua Điều khoản tham chiếu và ngân sách ban đầu cho việc thành lập Văn phòng giám sát kinh tế vĩ mô và tài chính, gọi tắt là MFSO. MFSO sẽ chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt động giám sát trong ASEAN và giám sát các sáng kiến ​​hội nhập kinh tế khu vực như hội nhập tài chính. MFSO hiện được đặt tại ASEC và đã đi vào hoạt động đầy đủ từ tháng 5/2010.

1.2. Lộ trình hội nhập tài chính – tiền tệ ASEAN

Lộ trình hội nhập tài chính – tiền tệ ASEAN (RIA-Fin) được thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng tài chính ASEAN năm 2003. RIA-Fin bao gồm các bước đi, mốc thời gian và các chỉ số hoạt động trong ba lĩnh vực: (i) Tự do hóa tài khoản vốn (CAL), (ii) Phát triển thị trường vốn (CMD) và (iii) Tự do hóa dịch vụ tài chính (FSL), với mục tiêu cuối cùng là hội nhập kinh tế sâu rộng hơn trong ASEAN vào năm 2015. Ngoài ra, Việt Nam và các nước đang triển khai các sáng kiến hợp tác tài chính khác như: Khuôn khổ hội nhập ngân hàng (ABIF), Hệ thống thanh toán (PSS), Tài chính toàn diện (FINC) và Ủy ban tăng cường năng lực hỗ trợ hội nhập tài chính ASEAN (SCCB).

Các Thống đốc NHTW và Bộ trưởng tài chính đã giao cho Ủy ban cấp cao về hội nhập tài chính – ngân hàng ASEAN (SLC) chỉ đạo các nhóm công tác trong khuôn khổ hợp tác tài chính – ngân hàng khu vực ASEAN xây dựng Kế hoạch hành động chiến lược (SAP) phù hợp với Tầm nhìn AEC 2025 để tổng hợp, xây dựng kế hoạch chiến lược tổng thể cho Tầm nhìn AEC 2025. SAP của mỗi nhóm công tác bao gồm các yếu tố sau: hành động chính sách, mục tiêu định lượng và mốc thời gian quan trọng.

Tự do hóa tài khoản vốn (CAL)

Mục đích của sáng kiến là nhằm tự do hóa hơn nữa các luồng vốn, phù hợp với tình hình kinh tế và mức độ sẵn sàng của mỗi nước, qua đó hỗ trợ phân bổ hiệu quả các khoản tiết kiệm trong ASEAN để tạo thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế và phúc lợi, bằng cách loại bỏ dần các hạn chế trong các luồng vốn vãng lai, đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư gián tiếp và các luồng vốn khác.

Đến nay, các nước ASEAN ghi nhận những nỗ lực nhằm mục tiêu tự do hóa hơn nữa tài khoản vốn của các quốc gia thành viên thông qua (i) Quy trình đối thoại chính sách về cơ chế bảo vệ an toàn trong khuôn khổ CAL nhằm cập nhật xu hướng vận động của các luồng vốn trong khu vực theo quy trình tự do hóa tài khoản vốn; (ii) Biểu đánh giá hiện trạng tự do hóa tài khoản vốn (CAL Heatmap) của từng quốc gia thành viên. Trong số đó, CAL Heatmap được coi là một công cụ đánh giá hiệu quả nhằm xác định hiện trạng/mức độ mở cửa tài khoản vốn của từng nước thành viên ASEAN và chỉ có tính tham chiếu nhằm hỗ trợ triển khai các nội dung hợp tác trong khuôn khổ Nhóm công tác CAL.

Việc tham gia sáng kiến CAL được triển khai thực hiện trên mức độ sẵn sàng của từng quốc gia có xem xét tới mức độ phát triển cũng như độ mở cửa của nền kinh tế các quốc gia trên. Chủ yếu việc tham gia là thực hiện công tác đánh giá, tham gia các diễn đàn, trao đổi hợp tác và đối thoại chính sách. Các cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ CAL phù hợp với chủ trương và lộ trình tự do hóa giao dịch vốn hiện hành.

Phát triển thị trường vốn (CMD)

Mục đích của sáng kiến là nhằm xây dựng năng lực và cơ sở hạ tầng để phát triển thị trường vốn ASEAN, để đạt được hội nhập thị trường vốn và tạo thuận lợi hơn cho thương mại và đầu tư. Những thành tựu chính cho đến nay bao gồm: nâng cấp Bảng chấm điểm mức độ phát triển thị trường trái phiếu ASEAN để theo dõi diễn biến và các chế độ quản lý thị trường trái phiếu; cung cấp các chỉ số thị trường trái phiếu theo các khoảng thời gian đều đặn, giá trái phiếu sau giao dịch và nhà đầu tư bán lẻ tiếp cận để mua trái phiếu chính phủ; và thông qua các tiêu chuẩn chứng khoán nợ của ASEAN.

Tự do hóa dịch vụ tài chính (FSL)

Mục đích của sáng kiến là nhằm tự do hóa hơn nữa các luồng dịch vụ tài chính (DVTC) trong khuôn khổ Hiệp định khung về thương mại dịch vụ ASEAN (AFAS). Các hoạt động của Nhóm công tác là hướng quá trình tự do hoá DVTC phù hợp với nguyên tắc và mục tiêu của Kế hoạch tổng thể AEC, hài hoà mục tiêu của Kế hoạch tổng thể AEC với Lộ trình hội nhập tài chính tiền tệ ASEAN và tạo cơ sở để đàm phán DVTC giữa ASEAN với các nước đối tác.

Đến nay, Nhóm công tác FSL đã hoàn tất đàm phán và ký kết Gói cam kết thứ 8 về Tự do hóa DVTC trong AFAS. Mức độ cam kết mở cửa thị trường ngân hàng trong khuôn khổ FSL hiện nay không vượt quá các cam kết cắt ngang trong WTO. Song song với đó là việc các nước đang nỗ lực đàm phán nâng cấp Phụ lục DVTC trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại dịch vụ ASEAN (ATISA) nhằm thay thế Hiệp định AFAS.

Trong việc kết nối ASEAN với nền kinh tế toàn cầu, Nhóm công tác FSL tiếp tục theo dõi diễn biến và tham gia đàm phán các nghĩa vụ dịch vụ tài chính trong các FTA ASEAN +, bao gồm Hiệp định Đối tác toàn diện kinh tế khu vực (RCEP) thông qua Nhóm phụ trách RCEP về Dịch vụ tài chính (SWG-FIN).

Khuôn khổ hội nhập ngân hàng khu vực ASEAN (ABIF)

Mục đích của sáng kiến là đạt được sự tự do đối với hoạt động ngân hàng giữa các quốc gia trong khu vực ASEAN thông qua việc xây dựng Hướng dẫn thực hiện hội nhập ngân hàng khu vực ASEAN. Hướng dẫn ABIF xác định các nguyên tắc và định hướng nhằm tăng cường hiện diện thương mại của các nước ASEAN trên thị trường lẫn nhau. Các nước ASEAN sẽ xem xét công nhận ngân hàng của một quốc gia khác là Ngân hàng đạt chuẩn ASEAN (QAB) thông qua đàm phán giữa hai quốc gia, ký kết Thỏa thuận song phương về ABIF. Việc một quốc gia công nhận QAB của nước đối tác, cho phép tiếp cận thị trường và/hoặc dành các ưu đãi đặc biệt hơn hoàn toàn dựa trên cơ sở “sẵn sàng” và mức độ hài hòa hóa khuôn khổ pháp lý nội bộ của nước chủ nhà. Sau khi Hướng dẫn thực hiện ABIF được phê duyệt vào năm 2015, các nước sẽ tiến hành triển khai, đàm phán Thỏa thuận song phương và công nhận QAB.

Hệ thống thanh toán (PSS)

Mục đích của sáng kiến là nhằm thực hiện các nghiên cứu và đưa ra khuyến nghị chính sách để phát triển một hệ thống thanh toán khu vực nhằm đạt được mục tiêu về hội nhập về tài chính và thị trường vốn vào năm 2025 trong Kế hoạch tổng thể AEC.

Hiện nay, Nhóm công tác PSS đang triển khai Kế hoạch hành động chiến lược ASEAN sau năm 2015 với 2 nội dung về: (i) Kết nối và đảm bảo khả năng liên thông giữa các hệ thống thanh toán; (ii) Hài hòa hóa và chuẩn hóa hệ thống thanh toán.

Tài chính toàn diện (FINC)

Tại Hội nghị Bộ trưởng tài chính và Thống đốc NHTW các nước ASEAN (AFMGM) năm 2015 tại Ma-lai-xi-a, các Bộ trưởng đã thống nhất về việc tài chính toàn diện sẽ là một trong 3 trụ cột trong Kế hoạch hội nhập tài chính ASEAN hậu 2015 (bên cạnh 2 trụ cột khác là hội nhập tài chính và ổn định tài chính). Các Bộ trưởng cũng nhất trí về sự cần thiết của việc thành lập Nhóm công tác ASEAN về Tài chính toàn diện (FINC).

Tôn chỉ hoạt động của Nhóm công tác FINC là xem xét, đề xuất các giải pháp chính sách, phối hợp/điều phối hoạt động giữa các đối tác quốc tế và các nước ASEAN nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận tài chính toàn diện thông qua các phương diện trung gian tài chính và các kênh phân phối, giáo dục nâng cao nhận thức tài chính và bảo vệ người tiêu dùng.

Nhóm công tác FINC đề ra các nhiệm vụ sau: (i) Xây dựng khung chính sách, chiến lược, hệ thống chỉ số/công cụ giám sát phục vụ cho các mục tiêu tài chính toàn diện; (ii) Tăng cường năng lực và chia sẻ kinh nghiệm và hiệu quả thực thi các chương trình tài chính toàn diện quốc gia; (iii) Hợp tác với các đối tác phát triển  để phát huy thế mạnh về tài chính toàn diện và điều phối cùng các nhóm công tác trong ASEAN về tài chính toàn diện;

Ủy ban tăng cường năng lực hỗ trợ hội nhập tài chính ASEAN (SCCB)

Uỷ ban tăng cường năng lực để hỗ trợ hội nhập tài chính ASEAN (SCCB) đã được thành lập tại Hội nghị SLC lần thứ 2 vào tháng 9/2011. Các thành viên Uỷ ban bao gồm đại diện của ADB, SEACEN, ASEC và các NHTW ASEAN. Uỷ ban là cơ quan đầu mối có nhiệm vụ: (i) khớp nối nhu cầu và nguồn cung cho sáng kiến tăng cường năng lực; (ii) giám sát và hướng dẫn thực hiện các sáng kiến tăng cường năng lực; (iii) báo cáo lên SLC và đệ trình các khuyến nghị về các sáng kiến tăng cường năng lực đã được khớp nối. Uỷ ban sẽ ưu tiên cho nhóm các nước Bru-nây, Cam-pu-chia, Lào, Mi-an-ma và Việt Nam (BCLMV) trong các sáng kiến tăng cường năng lực, phù hợp với những thoả thuận đạt được tại các cuộc họp SLC. Các hoạt động tăng cường năng lực bao gồm đào tạo, các đoàn học tập kinh nghiệm, trao đổi cán bộ, cung cấp chuyên gia tư vấn, nghiên cứu và phát triển.

Ủy ban cấp cao về Hội nhập tài chính ASEAN

Ủy ban cấp cao về Hội nhập tài chính ASEAN (SLC) được các Thống đốc NHTW ASEAN thông qua tại Hội nghị Thống đốc NHTW ASEAN tháng 4/2011. Thành viên Ủy ban gồm: các Phó Thống đốc NHTW trong nhóm Troika – nhóm ba nước đăng cai tổ chức Hội nghị Thống đốc NHTW ASEAN liền kề nhau; đồng chủ trì Nhóm đặc trách về Mốc mục tiêu hội nhập; đồng chủ trì/chủ trì các nhóm công tác ASEAN; ASEC và ADB. Ủy ban được thành lập nhằm mục đích đưa ra định hướng chỉ đạo và hài hòa hóa tiến độ các nội dung hội nhập tài chính tiền tệ trong khu vực ASEAN. Nhiệm vụ chính của Ủy ban là vạch ra các mốc chủ chốt và lịch biểu, giám sát việc thực hiện, đưa ra ý tưởng và khuyến nghị chung về phương pháp và cách thức triển khai cũng như ưu tiên các hành động cần thiết.

Hội nghị Thống đốc NHTW ASEAN, Hội nghị Phó Thống đốc NHTW ASEAN và Hội nghị Bộ trưởng Tài chính và Thống đốc NHTW ASEAN

Theo cơ chế luân phiên, hàng năm, NHTW các nước ASEAN sẽ tiến hành đăng cai tổ chức Hội nghị Thống đốc NHTW ASEAN (ACGM) và Hội nghị Phó Thống đốc NHTW ASEAN (ACDM). Đây là diễn đàn để các nhà lãnh đạo và các chuyên gia về tài chính – ngân hàng trong khu vực trình bày quan điểm và cùng nhau trao đổi về các vấn đề chung của khu vực cũng như khả năng tăng cường và mở rộng quan hệ hợp tác tài chính – ngân hàng trong khối ASEAN. Bên cạnh đó, Hội nghị cũng là dịp để các nhà lãnh đạo đánh giá tiến độ cũng như đưa ra các định hướng chỉ đạo đối với việc triển khai các sáng kiến hội nhập khu vực.

Kể từ năm 2012, các quốc gia ASEAN đã thống nhất việc tổ chức Hội nghị Bộ trưởng tài chính và Thống đốc NHTW ASEAN (AFMGM) với mục tiêu tạo dựng một diễn đàn trao đổi chính sách kinh tế vĩ mô và tài chính – ngân hàng giữa các Bộ trưởng tài chính và Thống đốc NHTW các nước khu vực ASEAN. Đây sẽ là hoạt động thường niên của các nhà hoạch định chính sách trong khu vực.

2. Hợp tác tài chính ASEAN+3

2.1. Đa phương hóa Sáng kiến Chiềng Mai

Từ bài học kinh nghiệm khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á năm 1997, các Bộ trưởng tài chính ASEAN+3 đã thống nhất quan điểm rằng các nước trong khu vực cần có một quỹ dự trữ ngoại tệ lớn để hỗ trợ cán cân thanh toán và duy trì dự trữ ngoại hối của từng quốc gia để đối phó với các trường hợp xảy ra khủng hoảng. Ý tưởng về hỗ trợ tài chính đa phương trong ASEAN+3 đã được đề xuất và bắt đầu nghiên cứu từ năm 2006 và Thỏa thuận Đa phương hóa sáng kiến Chiềng Mai (CMIM) đã được Bộ trưởng tài chính và Thống đốc NHTW các nước ASEAN+3 ký kết và có hiệu lực vào ngày 24/3/2010.

CMIM là thể thức hỗ trợ tài chính ngắn hạn giữa các nước trong khu vực ASEAN+3 được thực hiện thông qua các giao dịch hoán đổi tiền tệ giữa các NHTW để các thành viên CMIM giải quyết khó khăn khẩn cấp trong cán cân thanh toán và thanh khoản nhằm thực hiện mục tiêu ổn định tiền tệ và kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, trong bối cảnh bất ổn toàn cầu gia tăng, đặc biệt là sự bùng nổ của cuộc khủng hoảng nợ châu Âu, các nước thành viên đã thống nhất ký kết một Thỏa thuận CMIM mới thay thế cho Thỏa thuận 2010, tăng gấp đôi quy mô quỹ CMIM lên 240 tỉ đô la Mỹ đồng thời bổ sung cơ chế ngăn ngừa khủng hoảng. Thỏa thuận CMIM sửa đổi lần 1 có hiệu lực vào ngày 17/7/2014.

Hiện nay, các quốc gia thành viên ASEAN+3 tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi Thỏa thuận CMIM và dự kiến Thỏa thuận mới sẽ có hiệu lực vào 2020.

2.2. Văn phòng Nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3

Việc thực hiện cơ chế giám sát kinh tế vĩ mô ASEAN+3 là một điều kiện bắt buộc đối với các nước ASEAN+3 khi tham gia Thỏa thuận CMIM. Cơ chế giám sát này được thực hiện định kỳ nhằm đảm bảo sự vận hành hiệu quả của CMIM. Để thể chế hoá cơ chế này, Văn phòng Nghiên cứu kinh tế vĩ mô ASEAN+3 (AMRO) được thành lập vào ngày 4/5/2011. Nhận thấy vai trò quan trọng của AMRO trong quá trình giám sát kinh tế vĩ mô khu vực, Hội nghị Bộ trưởng tài chính và Thống đốc NHTW ASEAN+3 (AFMGM+3) năm 2012 đã nhất trí nâng cao vị trí pháp lý của AMRO thành một tổ chức quốc tế. Vào ngày 10/10/2014, Hiệp ước thành lập AMRO đã được ký bên lề Hội nghị thường niên IMF/WB. Ngày 09/02/2016, Hiệp ước AMRO chính thức có hiệu lực.

Nhằm tạo điều kiện cho AMRO thực hiện nhiệm vụ phân tích và giám sát kinh tế khu vực, hỗ trợ cho quá trình vận hành của CMIM, hàng năm, NHNN đã đón tiếp các đoàn công tác AMRO và cung cấp thông tin, số liệu xây dựng báo cáo giám sát khu vực.

2.3. Sáng kiến phát triển thị trường trái phiếu châu Á

Sáng kiến phát triển thị trường trái phiếu châu Á (ABMI) được khởi xướng vào năm 2003 với mục tiêu phát triển có hiệu quả và sâu rộng các thị trường trái phiếu trong khu vực; tăng cường hợp tác qua biên giới giữa các thị trường. Sáng kiến này tập trung vào những nỗ lực và hành động của các nước trên hai lĩnh vực là (i) thúc đẩy khả năng tiếp cận thị trường của các nhà phát hành trái phiếu; (ii) tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các thị trường trái phiếu khu vực. Theo sáng kiến, ASEAN+3 thiết lập các Nhóm công tác để triển khai nghiên cứu, thực hiện các sáng kiến khu vực về phát triển thị trường trái phiếu bao gồm 4 Nhóm đặc trách theo lĩnh vực, 1 Nhóm Hỗ trợ kỹ thuật, 1 Nhóm hỗ trợ và Nhóm điều phối chung; đồng thời thành lập Quỹ Bảo lãnh tín dụng và đầu tư (CGIF) nhằm thúc đẩy hoạt động bảo lãnh trái phiếu trong nước của khu vực.

Nhằm thúc đẩy hơn nữa ABMI, Hội nghị Bộ trưởng tài chính ASEAN+3 lần thứ 11 tháng 5/2007 đã thông qua Lộ trình ABMI mới, theo đó thiết lập lại cơ cấu và mục tiêu hoạt động của sáng kiến này. Để triển khai nội dung trên, trong thời gian qua, các Nhóm đặc xây dựng chương trình công tác và tập trung vào các ưu tiên chính trong từng lĩnh vực. ASEC hỗ trợ ABMI với tư cách quản trị viên của các chương trình hỗ trợ kỹ thuật do Bộ Tài chính Nhật Bản thực hiện dưới sự hỗ trợ của Quỹ Hỗ trợ kỹ thuật Nhật Bản (JAFTA). Hỗ trợ kỹ thuật tập trung vào việc xây dựng năng lực của các nước ASEAN trong các khía cạnh khác nhau của phát triển thị trường trái phiếu như trái phiếu Chính phủ và hỗ trợ cơ sở hạ tầng.

Quỹ bảo lãnh và tín dụng đầu tư (CGIF) là nội dung quan trọng thuộc ABMI trong khuôn khổ hợp tác tài chính, ngân hàng ASEAN+3. CGIF được chính thức tuyên bố thành lập tại Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN+3 vào tháng 5/2010 tại U-dơ-bê-kít-xtan với quy mô là 700 triệu USD. CGIF được thành lập dưới hình thức một Quỹ tín thác do ADB quản lý, hoạt động độc lập với ADB và chỉ sử dụng nguồn vốn góp từ ADB và các nước ASEAN+3. CGIF sẽ bảo lãnh cho doanh nghiệp phát hành trái phiếu huy động vốn trên thị trường vốn trong nước và dưới sự bảo lãnh của CGIM, trái phiếu doanh nghiệp sẽ được xếp hạng AAA (bằng mức xếp hạng của ADB). Việt Nam cam kết đóng góp 1,1 triệu đô la Mỹ vào Quỹ từ nguồn ngân sách trung ương hàng năm.

Đến nay, CGIF đã tiến hành 17 giao dịch bảo lãnh phát hành trái phiếu cho các nước ASEAN. Trong đó, đối với Việt Nam, CGIF đã thực hiện bảo lãnh phát hành trái phiếu cho Công ty Masan Consumer Holidings (10/12/2014, cập nhật ngày 17/2/2017), Tập đoàn Vingroup (2/3/2016), Công ty cổ phần đầu tư Thế giới di động (21/11/2017), Công ty cổ phần Tập đoàn PAN (10/9/2018) và Tập đoàn Y khoa Hoàn Mỹ (5/10/2018) với trị giá huy động lần lượt là 2.100 tỉ đồng, 3.000 tỉ đồng, 1.135 tỉ đồng, 1.135 tỉ đồng và 2.330 tỉ đồng.  

III. Việt Nam và vai trò chủ tịch ASEAN

Một sự kiện và đồng thời là đóng góp hết sức quan trọng của Việt Nam đối với tiến trình hợp tác ASEAN là việc Việt Nam sẽ đảm nhận vai trò chủ tịch ASEAN vào năm 2020 theo cơ chế luân phiên. Đây là một trọng tâm đối ngoại của Việt Nam trong năm 2020, thể hiện quyết tâm của Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng và nâng tầm đối ngoại đa phương. Trong năm 2020, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sẽ phối hợp với Bộ Tài chính tổ chức các hội nghị trong tiến trình hợp tác tài chính, ngân hàng ASEAN với các mục đích, yêu cầu như sau:

(i) Đảm nhiệm và hoàn thành tốt vai trò chủ trì của Việt Nam, đóng góp vào việc thực hiện Chiến lược tổng thể Cộng đồng Kinh tế ASEAN đến năm 2025 (AEC Blueprint 2025) và Kế hoạch Hành động chiến lược về hội nhập tài chính – ngân hàng đến năm 2025 (SAP – Fin 2025).

(ii) Tạo dấu ấn về vai trò chủ trì của Việt Nam thông qua xây dựng các nội dung, văn kiện của Hội nghị, lễ tân hậu cần, tăng cường hình ảnh của Việt Nam trong khu vực ASEAN, ASEAN+3. Củng cố và tăng cường vị thế của Việt Nam, đặc biệt là vị thế trong hợp tác tài chính trên trường quốc tế.

(iii) Đẩy mạnh quảng bá hình ảnh về đất nước, con người và thành quả của công cuộc cải cách tại Việt Nam, góp phần tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ thương mại, đầu tư và du lịch giữa các nước trong khu vực.

Phù hợp với kế hoạch tổng thể năm chủ tịch ASEAN 2020 do Ủy ban Quốc gia ASEAN 2020 ban hành, các Hội nghị trong khuôn khổ hợp tác tài chính, ngân hàng cũng cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

(i) Tôn trọng nguyên tắc đồng thuận của hợp tác ngân hàng trong khu vực ASEAN và ASEAN+3. Thực hiện chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước, trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia, an ninh kinh tế và tài chính. Khai thác tối đa và có chọn lọc những kết quả hợp tác của ASEAN, ASEAN+3 nói chung và kênh hợp tác ngân hàng ASEAN, ASEAN + 3 nói riêng, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế.

(ii) Tuân thủ các quy định, hướng dẫn và thông lệ của ASEAN và ASEAN+3.

(iv) Đảm bảo tính linh hoạt, hiệu quả và khả thi trong quá trình triển khai thực hiện.

25 Năm Việt Nam Tham Gia Asean: Chung Tay Vì Một Cộng Đồng Asean Gắn Kết Và Thích Ứng

Ngày 28/7/2020 đánh dấu 1/4 thế kỷ Việt Nam chính thức gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Đặc biệt năm nay, lễ kỷ niệm sự kiện đáng nhớ này trùng với thời điểm Việt Nam đảm nhiệm trọng trách Chủ tịch luân phiên lần thứ hai của Hiệp hội.

Việc Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995 là một trong những mốc quan trọng nhất trong lịch sử đối ngoại của Việt Nam kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cũng như trong quá trình phát triển của ASEAN. Sự kiện lịch sử này có ý nghĩa quan trọng, đưa khu vực Đông Nam Á từ đối đầu sang đối thoại, từ nghi kỵ sang tin cậy, từ chia rẽ sang đoàn kết. Với ASEAN, việc kết nạp Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 giúp đẩy nhanh quá trình mở rộng Hiệp hội ra cả 10 nước trong khu vực, qua đó củng cố hòa bình, ổn định ở một khu vực có tầm quan trọng đặc biệt về địa – chính trị và địa – kinh tế, là trung tâm kết nối Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Khi Việt Nam gia nhập ASEAN, khu vực mới bước ra khỏi Chiến tranh Lạnh, vị thế, vai trò và quy mô kinh tế của ASEAN vẫn còn khiêm tốn. Song 25 năm qua đã chứng kiến sự đổi thay mạnh mẽ của Hiệp hội. Để đến nay, cả 10 nước Đông Nam Á trở thành một Cộng đồng thống nhất với uy tín ngày càng cao ở châu Á – Thái Bình Dương và trên thế giới.

Trên nền tảng các cơ chế Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC), với sự hình thành Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) và Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWFZ), ASEAN dần trở thành một khu vực hòa bình, ổn định với vị thế từng bước được khẳng định. Việc thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA) cùng với việc ký kết các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) giữa ASEAN với hàng loạt các nền kinh tế chủ chốt trên thế giới đã góp phần tạo nên phồn vinh cho ASEAN, đưa ASEAN trở thành một trong những khu vực phát triển kinh tế năng động nhất trên thế giới. Năm 2019, ASEAN đã là mái nhà chung của khoảng 650 triệu người dân, với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt hơn 3.200 tỉ USD và kim ngạch thương mại đạt 2.800 tỉ USD.

Đặc biệt, Cộng đồng ASEAN hình thành ngày 31/12/2015, đã đưa ASEAN trở thành một Cộng đồng gắn kết về chính trị, liên kết về kinh tế và sẻ chia trách nhiệm xã hội. ASEAN ngày nay được coi là hình mẫu thành công về hợp tác khu vực. Các diễn đàn do ASEAN khởi xướng đã quy tụ được nhiều quốc gia, được tất cả các nước lớn coi trọng.

Không chỉ gắn kết, liên kết về nội khối, ASEAN còn tích cực mở rộng quan hệ với các đối tác bên ngoài, trở thành một đối tác quan trọng của các nước lớn trong và ngoài khu vực. Trên cơ sở quan hệ đối ngoại rộng mở bao gồm 10 đối tác đối thoại, trong đó có tất cả các nước lớn, tiếng nói ASEAN được lắng nghe và vai trò trung tâm của ASEAN ngày càng được củng cố.

Trên thực tế, vai trò trung tâm của ASEAN đã được khẳng định thông qua việc ASEAN thúc đẩy sự ra đời và dẫn dắt Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng (ADMM) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng Mở rộng (ADMM Plus), đóng góp ngày càng quan trọng vào việc giải quyết những vấn đề chung của khu vực. Tiêu biểu là việc ASEAN đã bày tỏ lập trường kiên định trong việc duy trì hòa bình, ổn định trên Biển Đông và khu vực, như Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 và đàm phán về Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC) đang được kỳ vọng sớm hoàn tất, cùng nhiều tiến triển quan trọng khác.

Với Việt Nam, ngày 28 tháng 7 của 25 năm trước đồng thời là cột mốc quan trọng đánh dấu bước tiến rất quan trọng của Việt Nam trên con đường hội nhập khu vực và quốc tế. Chúng ta đã từng bước hội nhập với tâm thế ngày càng tự tin, ngày càng tích cực, chủ động, không ngừng phát huy vai trò là một đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng các nước Đông Nam Á nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung.

Trong quá trình hội nhập của đất nước, ngành ngoại giao luôn đóng vai trò tiên phong đột phá, mở đường ra thế giới. Trong nhiệm vụ thuở ban đầu đưa đất nước phá thế bao vây, cô lập, ASEAN được xem là đột phá khẩu đầu tiên của Việt Nam trong hội nhập. Ở những giai đoạn sau, hội nhập và tham gia của Việt Nam trong ASEAN gắn liền với quá trình Đổi mới, hội nhập quốc tế của đất nước. Chúng ta đã có những bước tiến mạnh mẽ trong đổi mới tư duy đối ngoại, từ chủ trương “thêm bạn, bớt thù” tới trở thành “thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm” trong ASEAN và nay là phương châm “chủ động, tích cực và có trách nhiệm cùng các nước ASEAN xây dựng Cộng đồng vững mạnh” 1, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, “chuyển từ đối đầu sang đối thoại” 2 .

Việt Nam từng bước khẳng định là một phần không thể tách rời của ASEAN và khu vực Đông Nam Á, gắn sự phát triển của đất nước với ASEAN và mong muốn gánh vác công việc chung của ASEAN. Chính sách đối với ASEAN đã trở thành một bộ phận quan trọng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Điều này được nhấn mạnh trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng về đối ngoại, đặc biệt là Chỉ thị 25-CT/TW ngày 8/8/2018 về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030.

Ngay sau khi gia nhập ASEAN năm 1995, Việt Nam đã tích cực thúc đẩy để các nước ở Đông Nam Á còn lại gia nhập ASEAN. Các nước Lào, Mi-an-ma và Cam-pu-chia đã tham gia ASEAN lần lượt các năm 1997 và 1999. Qua đó, giấc mơ về một ASEAN gồm toàn bộ 10 nước Đông Nam Á đã trở thành hiện thực. Là thành viên của ASEAN, Việt Nam đã chủ động, tích cực, và có trách nhiệm khi tham gia vào các công việc của ASEAN trong đó có xây dựng thể chế cho ASEAN như Hiến chương ASEAN (2008), Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN (2009-2015), Kế hoạch Tổng thể 2009, 2015, và 2025, Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN sau 2015, 2025 và xa hơn …và triển khai toàn diện cả ba trụ cột Cộng đồng ASEAN. Việt Nam đã tổ chức tốt Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 6, đảm nhận thành công vai trò Chủ tịch Ủy ban Thường trực ASEAN (ASC) khóa 34 (7/2000-7/2001), Chủ tịch ASEAN 2010, và hiện đang nỗ lực hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch ASEAN 2020. Với nhiều sáng kiến và đóng góp quan trọng như mở rộng EAS hay thành lập cơ chế ADMM cộng, Việt Nam tích cực cùng các thành viên ASEAN duy trì vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc khu vực đang định hình.

Thứ hai , tham gia ASEAN giúp chúng ta hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, huy động các nguồn lực phục vụ phát triển và nâng cao sức mạnh tổng hợp. Tiếp sau quá trình tham gia ASEAN, Việt Nam đã chủ động tham gia Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Hợp tác Á-Âu (ASEM), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các FTAs thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) giúp Việt Nam đẩy mạnh cải cách, mở rộng thị trường, tăng cường xuất khẩu, thu hút đầu tư, ODA, qua đó giúp cho kinh tế tăng trưởng cao trong nhiều năm.

Thứ ba , hội nhập ASEAN giúp Việt Nam từng bước nâng tầm đối ngoại giao đa phương, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Thành công trong tham gia ASEAN đã và đang giúp Việt Nam thực hiện tốt nhiều nhiệm vụ đối ngoại đa phương quan trọng như Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008-2009, 2020-2021), đăng cai Cấp cao APEC (năm 2006, năm 2017), tích cực tham gia xây dựng các “luật chơi” quốc tế, hợp tác đối phó với các thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, đối phó với đại dịch Covid-19…

Thứ tư , quá trình tham gia ASEAN 25 năm qua đã rèn luyện, đào tạo và nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ đối ngoại, nhất là cán bộ làm công tác đa phương của Việt Nam; giúp chúng ta ngày càng vững vàng hơn khi “vươn ra biển lớn” – hội nhập toàn cầu.

Cái cách mà ASEAN vượt qua những sóng gió bất ngờ và không có tiền lệ mà đại dịch Covid-19 gây ra minh chứng cho một ASEAN gắn kết và chủ động thích ứng, kiên định và không khuất phục trước nghịch cảnh. Hơn bao giờ hết, chúng ta thấu hiểu tầm quan trọng của tư duy Cộng đồng và hành động Cộng đồng. Như Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh “…các nỗ lực đơn lẻ cần được gắn kết lại, vượt tầm quốc gia, trở thành hành động chung của cả Cộng đồng ASEAN”./.

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam (1991). Văn kiện Đại hội Đảng VII , Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, tr. 154

Phương Pháp Tổ Chức Thi Đấu – Trung Tâm Bóng Đá Nam Việt

PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC THI ĐẤU

MỘT GIẢI BÓNG ĐÁ

I. CÔNG TÁC TỔ CHỨC THI ĐẤU :

1. Công tác chuẩn bị trước giải

Lập phương án tổ chức:

Đơn vị tổ chức phải căn cứ vào quy mô, kế hoạch nhiệm vụ và tính chất của giải để lập ra phương án  tổ chức với các nội dung chủ yếu sau:

”   Tên gọi, mục đích và nhiệm vụ của giải.

”   Quy mô của giải: Phải căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ của giải để quyết định thành phần tham dự chủ yếu bao gồm các VĐV của đơn vị tổ chức chính và các VĐV của các đơn vị khác. Bên cạnh đó còn phải đề cập tới các vấn đề như địa điểm, thời gian thi đấu…

”   Các khoản chi bao gồm: Tiền sửa chữa sân bải, mua sắm trang thiết bị dụng cụ, tiền thưởng, tiền thuê sân bãi, đi lại, ăn ở, tiếp đón, thuốc men và những đồ dùng vật dụng cần thiết cho các thành viên tham gia.

Lập cơ cấu tổ chức giải.

Cơ cấu tổ chức giải phải phù hợp với quy mô và tình hình thực tế của giải thi đấu. Ví dụ các giai thi đấu quốc gia phải do UBTDTT quốc gia tổ chức , các giải thi đấu cấp tỉnh, thành sẽ do các sở TDTT tổ chức và các giải thi đấu với quy mô nhỏ hơn  sẽ do các đơ n vị cơ sở tổ chức,.

Phân công chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận trong BTC giải.

Các bộ phận phải căn cứ vào kế hoạch tổ chức giải và chức năng, nhiệm vụ đã được phân công để hợp tác và tương trợ lẫn nhau trong công việc nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ đã được giao.

Đối với các giải thi đấu có quy mô vừa và nhỏ thì thông thường cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận thường được bố trí như sau:

”   Ban tổ chức.

+ Đặt ra và quán triệt nhiệm vụ, mục tiêu của giải.

+ Thông qua kế hiạch công tác của các bộ phận chức năng.

+ Thường xuyên kiểm tra công tác của các bộ phận chức năngtrong suốt thời gian tiến hành giải, đồng thời nghiên cứu và sử lý những vấn đề nảy sinh trong thi đấu.

”   Ban thư ký.

+ Căn cứ vào quyết định của BTC tiến hành sắp xếp, bố trí nhân sự vào các bộ phận chức năng.

+ Lập kế hoạch làm việc và thực hiện các công việc như:

–    Tổ chức các cuộc họp  của BTC.

–    Nhận các báo cáo của trọng tài.

–    Sắp xếp thời gian đi lại.

–    Kiểm tra sân bãi thi đấu, và các trang thiết bị cần thiết.

–    Giúp BTC thực hiện và tổ chức tốt lễ khai mạc, bế mạc.

–    Tổ chức tốt các cuộc họp với Lãnh đạo các đội bóng.

–    Tổ chức tốt các hội nghị liên tịch giữa trọng tài và HLV

–    Kiểm tra y tế

–    Tổng kết đánh giá giai đoạn và toàn giải.

+ Đặt ra các chế độ và ban hành điều lệ giải.

+ Phụ trách vấn đề đối ngoại.

”   Ban tuyên truyền:

+ Đặt ra các tiêu chuẩn để bình chọn tập thể, cá nhân xuất sắc và phụ trách công tác bình chọn.

+ Tổ chức các hoạt động tham gia và giải trí cho các thành viên tham gia.

”   Ban giám sát:

+ Kiểm tra tình hình chuẩn bị sân bãi và các trang thiết bị khác.

+ Lập – kiểm tra kế hoạch công tác và tình trạng thể lực của Trọng tài.

+ Tổ chức các cuộc họp để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thi đấu.

+ Sắp xếp thời gian tập luyện và sân bãi cho các đội.

”   Ban hành chính tổng hợp:

+ Lập dự trù kinh phí trong thời gian tổ chức giải.

+ Phụ trách vấn đề đi lại, ăn ở, y tế và mua sắm các trang  thiết bị cần thiết cho các thành viên tham gia.

”   Ban trọng tài:

+ Nhiệm vụ quan trọng nhất  là điều khiển một cách công bằng các trận đấu.

+ Sử lý tất cả những lỗi hoặc những vi phạm về các điều luật, điều lệ giải của các đội, các cầu thủ, chỉ đạo viên, huấn luyện viên… bằng hình thức như phạt, cảnh cáo, truất quyền thi đấu…

+ Cùng với các bộ phận chức năng ban hành điều lệ thi đấu.

Ban hành điều lệ giải:

+ Điều lệ giải là văn kiện chỉ đạo cho tất cả các đơn vị tham gia thi đấu.

+ Đơn vị tổ chức chính phải ban hành và phát cho tất cả các đơn vị tham gia trước khi giải được tiến hành.

+ Điều lệ giải chủ yếu bao gồm những nội dung sau:

–    Tên gọi.

–  Ý nghĩa – Mục đích – nhiệm vụ của giải.

–    Đơn vị tổ chức.

–    Đối tượng tham dự.

–    Quy định tham dự.

–    Thời gian địa, điểm thi đấu.

–    Kế hoạch tổ chức thi đấu

–    Hình thức thi đấu – cách tính điểm – xếp hạn g.

–    Luật.

–    Giải thưởng ( Khen thưởng – kỷ luật)

–    Những quy định khác

+ Mục đích chủ yếu của điều lệ giải là nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các đơn vị tham gia chấp hành nghiêm túc điều luật bóng đá đã được ban hànhvà đưa ra những quy định cụ thể giúp BTC thực hiện tốt công việc của mình.

+ Điều lệ phai đảm bảo tính công bằng trong thi đấu, phải thống nhất với các điều luật Bóng đá, và phải phù hợp với tình hình thực tế…Quy mô của giải càng lớn thì điều lệ giải càng chặt chẽ.

Lập kế họach công tác:

Các bộ phận chức năng phải căn cứ vào kế hoạch tổ chức, quy  mô của giải và chức năng nhiệm vụ của mình để đặt ra kế hoạch công tác cụ thể cho phù hợp với tình hình thực tế…

2.  Hoạt động của các bộ phận chức năng trong thời gian thi đấu:

Các bộ phận chức năng và trọng tài nên thâm nhập vào các đội bóng và trưng cầu ý kiến của họ để không ngừng cải tiến cũng như nâng cao hiệu quả công tác và kịp thời nghiên cứu giải quyết những vấn đề phát sinh.

Ban giám sát phải thường xuyên tiến hành kiểm tra sân bãi, bảo vệ và quản lý trang thiết bị, để đảm bảo cho việc thi đấu được tiến hành thuận lợi.

Trong hoàn cảnh đặc biệt cần phải thay đổi ngày, thời gian và sân thi đấu thì ban tổ chức phải kịp thời thông báo cho các bộ phận và các đội càng sớm càng tốt.

Ban hành chính – tổng hợp phải thường xuyên đảm bảo các điều kiện như ăn, ở, đi lại và duy trì tốt trật tự trên sân trong thời gian có trận đấu.

3.  Hoạt động của các bộ phận chức năng khi kết thúc giải:

Các bộ phận chức năng phải tổng kết công tác của mình sau khi kết thúc giải.

Tổ chức lễ bế mạc, làm báo cáo tổng kết, tuyên bố thành tích thi đấu và trao giải thưởng.

Tổ chức sắp xếp phương tiện đi lại cho các đội bóng và các thành viên tham gia.

Sử lý sân bãi và các trang thiết bị thi đấu, in ấn và công bố thành tích thi đấu, quyết toán kinh phí. Kiểm kê vật tư tài sản.

Ban tổ chức hoàn tất công việc và báo cáo kết quả của quá trình tổ chức giải lên cấp trên ( Tổng kết giải bằng văn bản).

II. THỂ THỨC THI ĐẤU VÀ PHƯƠNG THỨC TÍNH ĐIỂM XẾP HẠNG

Trong thi đấu bóng đá thường áp dụng 3 hình thức thi đấu chủ yếu là:

Vòng tròn tính điểm( một lượt hoặc hai lượt.)

Đấu loại trực tiếp.( một lần thua hoặc hai lần thua)

Thi đấu theo thể thức hỗn hợp( Kết hợp giữa hai loại trên) Chia bảng, vòng loại thi đấu vòng tròn, vòng chung kết thi đấu loại trực tiếp.

Ban tổ chức phải căn cứ vào yêu cầu, ,nhiệm vụ quy mô, kế hoạch tổ chức giải thi đấu và tình hình thực tế để lựa chọn thể thức thi đấu sao cho phù hợp.

1.Thể thức thi đấu vòng tròn tính điểm:

Ap dụng thể thức thi đấu vòng tròn số trận đấu sẽ tăng lên rất nhiều vì vậy chỉ phù hợp với số đội tham gia ít.( Nếu số đội tham gia nhiều mà thời gian bị hạn chế thì phương thức chia nhóm là tốt nhất).  song rất có lợi cho việc các đội có cơ hội cọ sát, học tập lẫn nhau để nâng cao trình độ, đồng thời việc sắp xếp thứ tự cũng tương đối khách quan.

Phương pháp tổ chức theo thể thức thi đấu vòng tròn.

Thi đấu vòng tròn một lượt là tất cả những đội tham gia thi đấu chi gặp nhau một lần và căn cứ vào số điểm đạt được của các đội trong quá trình thi đấu để sắp xếp thứ tự.

  a.1.   Cách tính tổng số trận đấu và số ngày thi đấu:

Tổng số trận đấu được tính theo công thức.

Trong đó:      X    Là tổng số trận đấu

A    Là số đội tham gia

Điều kiện:   Nếu A lẻ thì tổng số ngày thi đấu bằng tổng số đội tham gia.

Nếu A chẵn thì A – 1.

Ví dụ: A = 6

Tổng số trận đấu  =  =    = 15 Trận

Tổng số ngày thi đấu = 6 – 1 = 5 ngày

Nếu theo thể thức thi đấu vòng tròn 2 lượt thì tổng số trận đấu bằng 2 lần tổng số trận đấu vòng tròn một lượt.

Nếu chia bảng đấu vòng tròn thì tổng số trận đấu sẽ bằng tổng những trận đấu ở các bảng đấu.

a.2.     Phương pháp xếp lịch thi đấu:

BTC phải căn cứ vào số đội tham gia để xác định số ngày thi đấu và xếp lịch thi đấu.

Khi xếp lịch thi đấu bất kể số đội tham gia thi đấu chẵn hay lẻ thi cũng phải sắp xếp theo số chẵn. Nếu số đội tham gia lẻ thì phải thêm số ( O).

Số (O) thay thế cho một đội để biến số đội thành số chẵn, và các đội khi gặp số (O) sẽ được nghỉ.

Khi xếp lịch thi đấu , trước hết phải chia số đội tham gia thi đấu thành hai nửa, trong ngày đầu tiên nửa trước bắt đầu từ số (O) nếu đội tham gia lẻ, hoặc số 1 nếu đội tham gia chẵn, đánh từ trên xuống ở bên trái, nửa sau đánh từ dưới lên trên ở bên phải. Hai đội cùng ngang nhau sẽ là hai đội gặp nhau trong ngày thứ nhất.

Từ ngày thứ hai trở đi số (O) hoặc số 1 giữ nguyên vị trí cũ còn các đội khác dịch chuyển 1 vị trí theo chiều ngược kim đồng hồ để xác định số trận thi đấu cua ngày tiếp theo.

Ví dụ: Xếp lịch thi đấu cho 7 đội hoặc 6 đội.

LỊCH THI ĐẤU VÒNG TRÒN TÍNH ĐIỂM A = 7

( 7 ĐỘI)

Ngày 1 2 3 4 5 6 7

  1-0

2-7

3-6

4-5

1-7

0-6

2-5

3-4

1-6

7-5

0-4

2-3

1-5

6-4

7-3

0-2

1-4

5-3

6-2

7-0

1-3

4-2

5-0

6-7

1-2

3-0

4-7

5-6

LỊCH THI ĐẤU VÒNG TRÒN TÍNH ĐIỂM A = 6

(6 ĐỘI)

Ngày 1 2 3 4 5

  1-6

2-5

3-4

1-5

6-4

2-3

1-4

5-3

6-2

1-3

4-2

5-6

1-2

3-6

4-5

”   Thi đấu vòng tròn hai lượt là những đội tham gia thi đấu trong giải sẻ gặp nhau 2 lần ( Lượt đi và về), và cũng căn cứ vào số điểm mà các đội đạt được trong quá trình thi đấu để xếp thứ tự.

”   Chia bảng đấu vòng tròn là chia các đội tham gia thi đấu ra thành nhiều bảng đấu, các bảng tiến hành thi đấu một lượt hoặc hai lượt đấu tùy theo quy định của điều lệ giải, để sắp xếp theo thứ tự và chọn các đội có số điểm cao vào thi đấu ở giai đoạn tiếp theo.

Để đảm công bằng số thứ tự của các đội sẽ được thực hiện bằng cách rút thăm:

”   Tuy nhiên khi xếp lịch thi đấu phải chú ý tới thời gian nghỉ giữa hai trận đấu của mỗi đội và phải bảo đảm số lần thi đấu các buổi thi đấu cho mỗi đội tương đương nhau.

”   Khi số đội tham gia thi đấu quá lớn thì nên áp dụng hình thức chia bảng đấu vòng tròn. Khi chia bảng cần chú ý tới trình độ của các đội vì vậy cần phải áp dụng phương pháp phân chia theo: “đội hạt gống” hoặc theo ” hình con rắn”

”   Chia nhóm theo “hình con rắn ” là dựa vào kết quả thi đấu cuả giải trước để tiến hành chia nhóm. Ví dụ nếu co 12 đội thì sẽ chia thành 3 nhóm và sắp xếp theo như

BẢNG CHIA NHÓM THEO “ HÌNH CON RẮN”

(12 DỘI)

Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3

1

6

7

12

2

5

8

11

3

4

9

10

* Cách tính điểm và xếp hạng theo thể thức thi đấu vòng tròn tính điểm.

”   Cách tính điểm trong thể thức thi đấu cần phải được quy định rõ ràng trong điều lệ thi đấu. Ví dụ thắng 3 hòa 1 thua 0.Vị trí của các độisẽ được quyết định dựa vào tổng số điểm, đội nào nhiều điểm hơn sẽ đựơc xếp lên trên. Nếu có hai hoặc nhiều đội bằng điểm nhau thì có thể sử dụng cách tính hiệu số bàn thắng, bàn thua hoặc kết qủa giữa các lần  đối đầu trực tiếp, nếu cuối cùng kết qủa vẫn bằng nhau, thì có thể tiến hành rút thăm để quyết định thứ tự.

    Thể thức thi đấu loại trực tiếp.

    Loaị trực tiếp một lần thua:

    Thường sử dụng trong thi đấu giải Cúp

    ”   Cách tính tổng số trận và số ngày thi đấu :

    Tổng số trận thi đấu theo thể thức thi đấu loại trực tiếp một lần thua = Tổng số đội tham gia thi đấu  – 1.

    Nêú tổng số đội tham gia thi đấu là 2n ( n là số nguyên dương bất kỳ) thì số ngày thi đấu = n. Trong trường hợp số đội tham gia thi đấu không bằng 2 n  thì n phải được lựa chọn sao cho 2n có giá trị lớn hơn nhưng gần với tổng  số đội tham gia thi đấu nhất.

    Ví dụ 8 đội tham gia thi đấu thì tổng số trận đấu sẽ là 8 – 1 = 7 trận, số ngày thi đấu là 3 ngày (8 = 23).

    XẾP LỊCH CHO 8 ĐỘI THAM GIA THI ĐẤU

    Trong trừơng hợp tổng số đội tham gia thi đấu là số lẻ thì phải áp dụng công thức  tính đặc biệt để xác định tổng số đội tham gia thi đấu thi đấu ngày đầu hoặc nghỉ ngày thi đấu ngày đầu, sao cho số đội còn lại trong ngày thi đấu thứ 2 = 2n : Ta có công thức tính tổng số đội phải tham gia thi đấu ngày đầu như sau:

    Công thức: X = ( A – 2 n )2

    Trong đó : X: là số đội tham gia thi đấu  ngày đầu

    A: là tổng số đội tham gia thi đấu.

    n: là số nguyên dương bất kỳ sao cho 2n có giá trị < A.

    Công thức tính số đội phải thi đấu trước, khi số đội không phải là: 2n ( 4,8,16,32…)

    Ví dụ: Có 11 đội tham gia thi đấu.

    X = ( 11 – 8 ) x 2 = 6 đội thi đấu trước.

    –    Các đội hạt giống là các đội đạt thứ hạng cao của giải Cúp năm trước hoặc ở hạng cao hơn.

    Các mã số: 1 – 4 – 7 – 11 là các mã số dành cho các đội ưu tiên hạt giống.

    HƯỚNG DẪN LỄ TRAO GIẢI THƯỞNG

    Công tác chuẩn bị:

    Lập danh sách và thứ tự trao giải thưởng:

    TT GIẢI THƯỞNG ĐƠN VỊ HOẶC NGƯỜI NHẬN GIẢI THƯỞNG TÊN NGƯỜI TRAO GIẢI CHỨC VỤ HIỆN VẬT GHI CHÚ

    1 Giải vua phá lưới Nguyễn văn A        

      Kiểm tra lại giải thưởng và xếp theo thứ tự trên.

      Chuẩn bị bục trao thưởng. bàn để giải thưởng. Khay và khăn để giải thưởng.

      Bộ phận phục vụ trao thưởng: Tổ trưởng + 2 đến 4 nhân viên.

      Trao giải:

      Người điều khiển đọc danh sách trên. Đồng thời tổ trưởng bộ phận phục vụ chuyển giải thưởng cho người trao giải, cũng căn cứ vào danh sách đó để sắp xếp giải thưởng( Tránh được sự nhầm lẫn ).

      Lưu ý:

      –    Trao giải thưởng từ có giá trị từ thấp tới cao nhất.

      –    Bục trao giải nên để ở trong sân, cách đường biên dọc 5m, tạo khoảng cách cho các phóng viên hoạt động.

      Chia sẻ