Tế Bào Nhân Sơ Là Gì? Cấu Tạo Và Đặc Điểm Của Tế Bào Nhân Sơ

Số lượt đọc bài viết: 14.291

Tế bào nhân sơ có nhiều nét tương đồng cùng với tế bào nhân thực nhưng đơn giản hơn. Về cơ bản cấu tạo của hai dạng tế bào này có sự khác nhau khá rõ rệt. Trong sinh học tế bào nhân sơ là gì? – Bạn có thể hiểu tế bào nhân sơ chính là các vi khuẩn, vi sinh vật với cấu tạo tế bào đơn giản nhất.

Tế bào nhân sơ là gì? – Tế bào nhân sơ là tế bào của các sinh vật nhân sơ hay sinh vật nguyên thủy, sinh vật tiền nhân. Đây chính là tế bào không có màng nhân trên các nhóm sinh vật nhân sơ. Tuy nhiên không hẳn sinh vật nhân sơ nào cũng không có màng nhân. Một số loài Planctomycetales có ADN được bao bọc trong màng đơn.

Tế bào nhân sơ không có cấu trúc nội bào điển hình của tế bào eukaryote cũng như các bào quan. Màng sinh chất chính là nơi thực hiện các chức năng của các bào quan như lục lạp, ti thể, bộ máy Golgi. Sinh vật nhân sơ sẽ được cấu tạo với ba vùng cấu trúc: Tiêm mao, tiên mao (flagella), các protein bám trên bề mặt tế bào, lông nhung. thành tế bào và màng sinh chất, vỏ tế bào bao gồm capsule. Các ribosome và các thể vẩn (inclusion body), vùng tế bào chất có chứa ADN genome.

Cấu tạo của tế bào nhân sơ là gì?

Cấu tạo của tế bào nhân sơ là gì? – Cấu tạo của tế bào nhân sơ khá đơn giản. Hầu hết các tế bào nhân sơ đều có thành tế bào. Thành phần chính cấu tạo nên thành tế bào của các loại vi khuẩn là peptidoglycan. Thành phần hóa học này được cấu tạo từ các chuỗi cacbohiđrat liên kết với nhau bằng các đoạn pôlipeptit ngắn.

Thành của tế bào sẽ quyết định đến hình dạng của tế bào đó. Vi khuẩn được chia thành 2 loại nhờ thành phần hóa học và cấu trúc của thành tế bào. Cụ thể hơn vi khuẩn sẽ được chia thành hai loại Gram dương và Gram âm.

Lớp màng sinh chất được cấu tạo ở bên dưới thành tế bào. Màng sinh chất được cấu tạo từ lớp kép protein và photpholipit. Tại một số vi khuẩn phần bên ngoài của thành tế bào còn được cấu tạo thêm lớp vỏ nhầy. Lớp vỏ này có tác dụng giúp vi khuẩn tăng sức tự vệ hay bám dính vào các bề mặt, gây bệnh.

Vi khuẩn tế bào nhân sơ còn có cả cấu tạo lông và roi ở một số loài. Chức năng chính của lông là trở thành thụ thể tiếp nhận các virus. Ngoài ra nó còn có công dụng vi khuẩn trong quá trình tiếp hợp. Đối với một số vi khuẩn gây bệnh ở người thì lông giúp chúng bám được vào bề mặt tế bào người. Chức năng của Roi chính là giúp vi khuẩn di chuyển.

Về cấu tạo tế bào chất sẽ nằm giữa vùng nhân và màng sinh chất. Với hai thành phần chính là ribôxôm cùng một số cấu trúc khác cùng bào tương. Bào tương chính là một dạng chất keo bán lỏng chứa nhiều hợp chất hữu cơ và vô cơ khác nhau.

Ribosome được cấu tạo từ prôtêin là bào quan , ARN và không có màng bao bọc. Riboxom sẽ tổng hợp nên các loại protein của tế bào. Bình thường kích thước của Riboxom tế bào nhân sơ có kích thước nhỏ hơn ribôxôm của tế bào nhân thực.

Cấu tạo của tế bào nhân sơ cũng không có các bào quan với màng bọc và phần khung tế bào. Tế bào chất của vi khuẩn cũng không có hệ thống nội màng. Điều này chính là một trong những khác biệt lớn so với cấu tạo của sinh vật tế bào nhân thực.

Đặc điểm chung của tế bào nhân sơ là gì?

– Chưa có nhân hoàn chỉnh

– Tế bào chất không có hệ thống nội màng.

– Kích thước nhỏ chỉ khoảng 1 – 5 mm (bằng 1/10 kích thước tế bào nhân thực)

– Tế bào nhân sơ có kích thước nhỏ có lợi:

+ Tỉ lệ S/V lớn thì tốc độ trao đổi chất với môi trường diễn ra nhanh.

+ Tế bào sinh trưởng nhanh, khả năng phân chia mạnh, số lượng tế bào tăng nhanh.

Cách sinh sản của tế bào nhân sơ là gì?

Cách sinh sản của tế bào nhân sơ là gì? – Tế bào nhân sơ sinh sản theo con đường sinh sản vô tính. Chính xác hơn thì chúng sinh sản qua quá trình phân đôi tế bào. Ở một số loại sinh vật nhân sơ tế bào em sẽ kéo dài rồi mới tiến hành phân chia sinh sản. Cũng có loài các tế bào con sẽ được tách phân đôi sau đó mới tiếp tục lớn lên.

Sinh sản và phân chia tế bào đối với tế bào nhân thực diễn ra rất nhanh chóng. Tốc độ sinh sản trung bình của vi khuẩn trong vòng 6 giờ là 250.000 tế bào mới. Có thể tính ra cứ 20 phút chúng lại tiến hành phân đôi một lần. Tốc độ sinh sản nhanh chóng này cũng mang đến nhiều tai họa cho nhân loại.

Tu khoa lien quan:

tại sao gọi là tế bào nhân sơ

đại diện của tế bào nhân sơ

bài 7 tế bào nhân sơ lớp 10

sơ đồ tư duy tế bào nhân sơ

đặc điểm của tế bào nhân sơ

kích thước tế bào nhân sơ

bảng cấu tạo tế bào nhân sơ

tế bào nhân sơ và tế bào nhân thực

Please follow and like us:

So Sánh Tế Bào Nhân Thực Và Tế Bào Nhân Sơ

Tế bào nhân thực

Đặc điểm: – Tế bào nhân thực có kích thước lớn – Có thành tế bào bằng Xenlulô.zơ (Ở tế bào thực vật), hoặc kitin (ở tế bào nấm) hoặc có chất nền ngoại bào (ở tế bào động vật) – Tế bào chất: Có khung tế bào, hệ thống nội màng và các bào quan có màng – Nhân: Có màng nhân. Cấu trúc tế bào nhân thực:

Nhân tế bào:

– Cấu trúc: + dạng hình cầu + dịch nhân chứa nhiễm sắt thể và nhân con + có nhiều lỗ nhỏ trên màng nhân – Chức năng: + thông tin di truyền được lưu trữ ở đây + quy định các đặc điểm của tế bào + điều khiển các hoạt động sống của tế bào

Lưới nội chất

– Cấu trúc: là hệ thống ống và xoang dẹp gồm lưới nội chất trơn và lưới nội chất hạt. – Chức năng: + nơi tổng hợp protein + chuyển hóa đường và phân hủy chất độc

Riboxom:

– Cấu trúc: rARN và protein – Chức năng: là nơi tổng hợp protein

Bộ máy Gongi:

– Cấu trúc: Có dạng các túi dẹp – Chức năng: lắp ráp, đóng gói và phân phối các sản phẩm của tế bào

Tế bào nhân sơ

Đặc điểm chung: Tế bào nhân sơ chưa có nhân hoàn chỉnh. Tế bào chất không có hệ thống nội màng. Kích thước nhỏ Cấu trúc của tế bào nhân sơ:

Thành tế bào:

– Cấu trúc: ấu tạo từ các chuỗi cacbohiđrat liên kết với nhau bằng các đoạn pôlipêptit ngắn – Chức năng: quy định hình dạng của tế bào

Màng sinh chất:

– Cấu tạo: ấu tạo từ phôtpholipit 2 lớp phôtpholipit và 1 lớp prôtein – Chức năng: trao đổi chất và bảo vệ tế bào

Long và roi:

Roi cấu tạo từ prôtein có tính kháng nguyên giúp vi khuẩn di chuyển. Lông: giúp vi khuẩn bám trên các giá thể.

Tế bào chất gồm bào tương và riboxom

Vùng nhân: không có màng bao bọc

So sánh sự giống và khác nhau giữa tế bào nhân thực và tế bào nhân sơ:

Giống: đều là tế bào nhân trong cơ thể Khác:

Bài 7. Tế Bào Nhân Sơ

Tế bào nhân sơ có cấu tạo đơn giản, gồm có 3 thành phần chính: màng sinh chất, chất tế bào và vùng nhân. Ngoài các thành phần đó, nhiều loại tế bào nhân sơ còn có thành tế bào, vỏ nhầy, roi và lông.Sơ đồ cấu trúc điển hình của một trực khuẩnII. Cấu tạo tế bào nhân sơ1. Thành tế bào, màng sinh chất, lông và roia/ Thành tế bào:Cấu tạo: chủ yếu từ peptidoglican (các chuỗi cacbohidrat liên kết với nhau bằng các đoạn polipeptit ngắn)Vai trò: quy định hình dạng của TBDựa vào thành TB vi khuẩn được chia thành hai nhóm:+ Vi khuẩn Gram dương+ Vi khuẩn Gram âmCâu hỏi: Phân biệt thành tế bào của vi khuẩn gram dương và vi khuẩn gram âm dựa vào thông tin trong SGK và hình bên?

Dựa vào cấu trúc và thành phần hóa học của thành tế bào, vi khuẩn được chia thành 2 loại: Gram dương (G+) và Gram âm (G-). Thành tế bào ở 2 nhóm này khác nhau ở những điểm chủ yếu sau: Việc xác định loại vi khuẩn Gram + và Gram – có ý nghĩa gì ? Biết được sự khác biệt này của chúng, ta có thể sử dụng các loại thuốc kháng sinh đặc hiệu để tiêu diệt từng loại vi khuẩn gây bệnh* Phương pháp nhuộm Gram:Gram là tên của nhà vi khuẩn học người Đan Mạch.Ông này đã dùng thuốc nhuộm để nhuộm màu và phân biệt hai nhóm vi khuẩn có cấu tạo khác nhau ( Chủ yếu khác nhau ở thành tế bào) Ở vi khuẩn G(+) sau khi nhuộm màu soi trên kính hiển vi chúng bắt màu tím-xanh,còn G(-) bắt màu hồng. Để nhớ ơn đến Christian Gram nên người ta đặt tên của phương pháp nhuộm màu này là nhuộm Gram. Ý nghĩa của việc phân biệt Gram âm và Gram dương là để phân loại vi khuẩn, từ đó có các biện pháp chữa trị các bệnh do chúng gây ra. Các vi khuẩn Gram âm thường gây ra một số bệnh nguy hiểm hơn.Hình: phương pháp nhuộm GramThí nghiệmKết luận Nếu loại bỏ thành tế bào của các loại vi khuẩn có hình dạng khác nhau, sau đó cho các tế bào này vào trong dung dịch có nồng độ các chất tan bằng nồng độ các chất tan có trong tế bào thì tất cả các tế bào đều có dạng hình cầu → vai trò của thành tế bào? ←Thành tế bào vi khuẩn quy định hình dạng của tế bào vi khuẩn.Cấu tạo: như các loại tế bào khác là đều từ photpholipit 2 lớp và protein.Vai trò chủ yếu:giúp thực hiện trao đổi chất giữa tế bào và môi trường b/ Màng sinh chất:c/ Lông (nhung mao) và roi (tiên mao):Lông: trên bề mặt tế bào có rất nhiều lông nhỏ, mịn bao phủ, có tác dụng đệm cho vi khuẩn tránh các tác động cơ học. Ở một số vi khuẩn gây bệnh ở người, lông giúp bám được vào bề mặt tế bào của người.Roi: cấu tạo từ prôtêin có tính kháng nguyên, giúp vi khuẩn di chuyển.

2) Tế bào chất: là vùng nằm giữa màng sinh chất và vùng nhân hoặc nhân, gồm 2 thành phần chính:* Bào tương:_ Cấu tạo: chủ yếu là nước và nhiều hợp chất hữu cơ, vô cơ khác nhau tạo thành một dạng chất keo bán lỏng._ Vai trò: giúp thực hiện trao đổi chất cho tế bào và là nơi xảy ra các phản ứng sinh hóa của tế bào như hô hấp, bài tiết,…

* Ri-bô-xôm:_ Cấu tạo: từ protein và rARN và không có mang bao bọc._ Vai trò: là nơi tổng hợp nên các loại protein của tế bào. Ngoài ra, trong tế bào chất ở một số vi khuẩn còn có các hạt dự trữ

3) Vùng nhân:a/ Cấu tạo: Không có màng nhân bao bọcChỉ chứa một phân tử AND dạng vòngMột số vi khuẩn có thêm AND vòng nhỏ nằm ngoài vùng nhân được gọi là plasmidb/ Vai trò: có vai trò quan trọng trong sự di truyền thông qua các hoạt động của nhiễm sắc thể và ADN

Sự Khác Biệt Giữa Thành Tế Bào Của Vi Khuẩn Gram Dương & Âm Tính Là Gì?

Thành tế bào gram dương chứa một lớp peptidoglycan dày bao quanh thành tế bào Gram âm chứa một lớp peptidoglycan mỏng giữa màng tế bào chất và màng ngoài.

tham khảo trang này để biết chi tiết đầy đủ: Vi khuẩn gram dương và vi khuẩn gram âm – Sự khác biệt và so sánh

Cảm ơn vì A2A

Vi khuẩn có hai loại chính. Gram dương và Gram âm dựa trên cách chúng nhuộm trong xét nghiệm Gram Stained sơ bộ. Điều này chủ yếu là do sự khác biệt trong thành phần thành tế bào của các vi khuẩn khác nhau.

Vi khuẩn gram dương có thành tế bào không có màng ngoài. Thành tế bào của chúng dày (20 trận30nm) và có thành tế bào thực sự nhẵn. Hàm lượng murein rất cao (70 thép80%) và có hàm lượng lipid rất thấp. Hàm lượng lipid thấp cũng có nghĩa là nó sẽ không có trong vết safranin thứ cấp được sử dụng để nhuộm gram. Một sự khác biệt lớn khác là sự vắng mặt của các vách tế bào cho sự hấp thu chất dinh dưỡng. Ngoài ra còn có axit Lipoteichoic cung cấp cho thành tế bào Gram dương độ cứng của nó.

Mặt khác, vi khuẩn gram âm có thành tế bào có màng ngoài lipid dễ thấy, đó là lý do tại sao chúng không có màu tím pha lê trong quá trình nhuộm Gram. Màng ngoài này dễ dàng bị rửa trôi bởi các dung môi lipid như rượu hoặc acetone. Thành tế bào của chúng tương đối mỏng hơn (8 trận10nm). Hàm lượng murein cũng rất thấp (101515%) nhưng hàm lượng lipid rất cao (30 cạn50%), đó là lý do tại sao nó sử dụng vết bẩn safranin trong quy trình nhuộm Gram. Hàm lượng lipid cao cũng có nghĩa là porins vắng mặt mà thay vào đó có các kênh lipid kỵ nước để hấp thu dinh dưỡng. Các axit lipoteichoic không có trong thành tế bào gram âm và chúng hoàn toàn phụ thuộc vào lipit kỵ nước để cung cấp độ cứng của tế bào.

Hi vọng điêu nay co ich 🙂

Cảm ơn vì A2A

Vi khuẩn có hai loại chính. Gram dương và Gram âm dựa trên cách chúng nhuộm trong xét nghiệm Gram Stained sơ bộ. Điều này chủ yếu là do sự khác biệt trong thành phần thành tế bào của các vi khuẩn khác nhau.

Vi khuẩn gram dương có thành tế bào không có màng ngoài. Thành tế bào của chúng dày (20 trận30nm) và có thành tế bào thực sự nhẵn. Hàm lượng murein rất cao (70 thép80%) và có hàm lượng lipid rất thấp. Hàm lượng lipid thấp cũng có nghĩa là nó sẽ không có trong vết safranin thứ cấp được sử dụng để nhuộm gram. Một sự khác biệt lớn khác là sự vắng mặt của các vách tế bào cho sự hấp thu chất dinh dưỡng. Ngoài ra còn có axit Lipoteichoic cung cấp cho thành tế bào Gram dương độ cứng của nó.

Mặt khác, vi khuẩn gram âm có thành tế bào có màng ngoài lipid dễ thấy, đó là lý do tại sao chúng không có màu tím pha lê trong quá trình nhuộm Gram. Màng ngoài này dễ dàng bị rửa trôi bởi các dung môi lipid như rượu hoặc acetone. Thành tế bào của chúng tương đối mỏng hơn (8 trận10nm). Hàm lượng murein cũng rất thấp (101515%) nhưng hàm lượng lipid rất cao (30 cạn50%), đó là lý do tại sao nó sử dụng vết bẩn safranin trong quy trình nhuộm Gram. Hàm lượng lipid cao cũng có nghĩa là porins vắng mặt mà thay vào đó có các kênh lipid kỵ nước để hấp thu dinh dưỡng. Các axit lipoteichoic không có trong thành tế bào gram âm và chúng hoàn toàn phụ thuộc vào lipit kỵ nước để cung cấp độ cứng của tế bào.

Hi vọng điêu nay co ich 🙂

Cảm ơn vì A2A

Vi khuẩn có hai loại chính. Gram dương và Gram âm dựa trên cách chúng nhuộm trong xét nghiệm Gram Stained sơ bộ. Điều này chủ yếu là do sự khác biệt trong thành phần thành tế bào của các vi khuẩn khác nhau.

Vi khuẩn gram dương có thành tế bào không có màng ngoài. Thành tế bào của chúng dày (20 trận30nm) và có thành tế bào thực sự nhẵn. Hàm lượng murein rất cao (70 thép80%) và có hàm lượng lipid rất thấp. Hàm lượng lipid thấp cũng có nghĩa là nó sẽ không có trong vết safranin thứ cấp được sử dụng để nhuộm gram. Một sự khác biệt lớn khác là sự vắng mặt của các vách tế bào cho sự hấp thu chất dinh dưỡng. Ngoài ra còn có axit Lipoteichoic cung cấp cho thành tế bào Gram dương độ cứng của nó.

Mặt khác, vi khuẩn gram âm có thành tế bào có màng ngoài lipid dễ thấy, đó là lý do tại sao chúng không có màu tím pha lê trong quá trình nhuộm Gram. Màng ngoài này dễ dàng bị rửa trôi bởi các dung môi lipid như rượu hoặc acetone. Thành tế bào của chúng tương đối mỏng hơn (8 trận10nm). Hàm lượng murein cũng rất thấp (101515%) nhưng hàm lượng lipid rất cao (30 cạn50%), đó là lý do tại sao nó sử dụng vết bẩn safranin trong quy trình nhuộm Gram. Hàm lượng lipid cao cũng có nghĩa là porins vắng mặt mà thay vào đó có các kênh lipid kỵ nước để hấp thu dinh dưỡng. Các axit lipoteichoic không có trong thành tế bào gram âm và chúng hoàn toàn phụ thuộc vào lipit kỵ nước để cung cấp độ cứng của tế bào.

Hi vọng điêu nay co ich 🙂

Tìm Hiểu Về Các Loại Tế Bào Khác Nhau: Tế Bào Nhân Sơ Và Tế Bào Nhân Thực

Trái đất được hình thành cách đây khoảng 4,6 tỷ năm. Trong một thời gian rất dài của lịch sử trái đất, đã có một môi trường núi lửa và rất khắc nghiệt. Thật khó để tưởng tượng bất kỳ cuộc sống nào có thể tồn tại trong những loại điều kiện đó. Mãi cho đến khi kết thúc khi cuộc sống bắt đầu hình thành.

Có một số giả thuyết về cách sự sống đầu tiên xuất hiện trên Trái đất. Những lý thuyết này bao gồm sự hình thành các phân tử hữu cơ trong cái được gọi là , sự sống đến Trái đất trên các tiểu hành tinh , hoặc các tế bào nguyên thủy đầu tiên hình thành trong các miệng phun thủy nhiệt

Loại tế bào đơn giản nhất rất có thể là loại tế bào đầu tiên hình thành trên Trái đất. Chúng được gọi là . Tất cả các tế bào nhân sơ đều có màng tế bào bao quanh tế bào, tế bào chất là nơi diễn ra tất cả các quá trình trao đổi chất, các ribosome tạo ra protein và một phân tử DNA tròn được gọi là nucleoid nơi chứa thông tin di truyền. Phần lớn các tế bào nhân sơ cũng có một thành tế bào cứng được sử dụng để bảo vệ. Tất cả các sinh vật nhân sơ đều là đơn bào, nghĩa là toàn bộ sinh vật chỉ là một tế bào.

Sinh vật nhân sơ là sinh vật vô tính, nghĩa là chúng không cần bạn tình để sinh sản. Hầu hết sinh sản thông qua một quá trình gọi là phân hạch nhị phân, nơi về cơ bản tế bào chỉ tách làm đôi sau khi sao chép DNA của nó. Điều này có nghĩa là nếu không có đột biến trong DNA, con cái sẽ giống với bố mẹ của chúng.

Tất cả các sinh vật trong các lĩnh vực phân loại Cổ và Vi khuẩn đều là sinh vật nhân sơ. Trên thực tế, nhiều loài trong miền Archaea được tìm thấy trong các miệng phun thủy nhiệt. Có thể chúng là những sinh vật sống đầu tiên trên Trái đất khi sự sống mới hình thành.

Loại tế bào khác, phức tạp hơn nhiều, được gọi là . Giống như tế bào nhân sơ, tế bào nhân thực có màng tế bào, , ribosome và DNA. Tuy nhiên, có nhiều bào quan hơn trong tế bào nhân thực. Chúng bao gồm một hạt nhân để chứa DNA, một nucleolus nơi tạo ra ribosome, mạng nội chất thô để lắp ráp protein, lưới nội chất trơn để tạo ra lipid, bộ máy Golgi để phân loại và xuất khẩu protein, ti thể để tạo ra năng lượng, một bộ xương tế bào để cấu trúc và vận chuyển thông tin , và các túi để di chuyển protein xung quanh tế bào. Một số tế bào nhân thực cũng có lysosome hoặc peroxisomes để tiêu hóa chất thải, không bào để lưu trữ nước hoặc những thứ khác, lục lạp để quang hợp và trung tâm để phân chia tế bào trong . Thành tế bào cũng có thể được tìm thấy bao quanh một số loại tế bào nhân thực.

Hầu hết các sinh vật nhân thực là đa bào. Điều này cho phép các tế bào nhân thực trong cơ thể trở nên chuyên biệt. Thông qua một quá trình được gọi là biệt hóa, các tế bào này đảm nhận các đặc điểm và công việc có thể hoạt động với các để tạo ra toàn bộ sinh vật. Cũng có một số sinh vật nhân thực đơn bào. Đôi khi chúng có những chùm lông li ti giống như lông mao gọi là lông mao để quét sạch các mảnh vụn và cũng có thể có một cái đuôi dài như sợi chỉ gọi là trùng roi để vận động.

Miền phân loại thứ ba được gọi là Miền Eukarya. Tất cả các sinh vật nhân thực đều thuộc phạm vi này. Miền này bao gồm tất cả động vật, thực vật, sinh vật nguyên sinh và nấm. Sinh vật nhân chuẩn có thể sử dụng hình thức sinh sản vô tính hoặc hữu tùy thuộc vào mức độ phức tạp của sinh vật. Sinh sản hữu tính cho phép con cái đa dạng hơn bằng cách trộn lẫn các gen của bố mẹ để tạo thành một tổ hợp mới và hy vọng là một sự thích nghi thuận lợi hơn với môi trường.

Vì tế bào nhân sơ đơn giản hơn tế bào nhân thực nên người ta cho rằng chúng xuất hiện trước tiên. Thuyết tiến hóa tế bào được chấp nhận hiện nay được gọi là . Nó khẳng định rằng một số bào quan, cụ thể là ti thể và lục lạp, ban đầu là các tế bào nhân sơ nhỏ hơn bị các tế bào nhân sơ lớn hơn nhấn chìm.