Vì Sao Bị Ung Thư Tử Cung? Nguyên Nhân Gây Bệnh Ung Thư Cổ Tử Cung

Vì sao bị ung thư tử cung? Đây là câu hỏi được nhiều người quan tâm. Ung thư cổ tử cung là căn bệnh dễ mắc phải nhất hiện nay. Đây chính là nỗi ám ảnh hoảng sợ của đa số phụ nữ. Bệnh hình thành do lối sống không lành mạnh, sinh hoạt ăn uống không khoa học.

Nguyên nhân của bệnh ung thư tử cung

Nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh ung thư cổ tử cung là do virus HPV. Vì thế HPV là câu trả lời đầu tiên cho câu hỏi: vì sao bị ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên trong 100 loại virus HPV thì chỉ có khoảng 40 loại có thể gây bệnh. Và 15 loại được liệt vào danh sách có nguy cơ gây bệnh ung thư. Để giảm thiểu tình trạng ung thư cổ tử cung đang có xu hướng gia tăng. Hiện nay đã có các chương trình chủng ngừa sẵn có về tiêm phòng vắc-xin HPV cho phụ nữ, bắt đầu từ độ tuổi thiếu niên.

Quan hệ tình dục sớm và quan hệ với nhiều người là câu trả lời cho câu hỏi vì sao bị ung thư cổ tử cung. Bởi vì quan hệ tình dục không bảo vệ là nguyên nhân chính gây truyền nhiễm virus HPV.Vì thế, việc quan hệ tình dục khi tuổi đời còn trẻ. Hay quan hệ tình dục với nhiều người làm tăng nguy cơ lây nhiễm virus gây bệnh. Vì vậy, lựa chọn an toàn nhất là sử dụng bao cao su để quan hệ tình dục. Rào cản vật lý này có thể bảo vệ bạn khỏi HPV.

Các nghiên cứu gần đây đều chỉ ra rằng. Nếu trong gia đình bạn từng có người mắc bệnh ung thư cổ tử cung. Thì nguy cơ mắc phải bệnh này sẽ cao hơn những người khác.

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học. Tình trạng bị ức chế thần kinh kéo dài cũng là một trong những câu trả lời cho việc vì sao bị ung thư cổ tử cung. Việc phụ nữ thường xuyên sống trong tâm trạng bị stress trầm trọng sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao. Chính vì vậy, để có thể hạn chế nguy cơ dẫn đến căn bệnh này. Phụ nữ được khuyến cáo nên sống lạc quan, vui vẻ. Điều này không chỉ góp phần tăng cường sức khỏe cho chị em. Mà còn giúp nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần.

Việc sinh con trước 17 tuổi sẽ góp phần đẩy các bé gái có nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung cao. Lý do là ở độ tuổi này cơ quan sinh dục. Sinh sản của các em chưa phát triển hoàn thiện cũng như thiếu kiến thức trong vấn đề vệ sinh. Vì thế sinh con khi tuổi đời còn quá trẻ cũng là nguyên nhân vì sao bị ung thư tử cung.

Các bà mẹ có ba trở lên sẽ có tỷ lệ mắc ung thư cao gấp đôi so với những phụ nữ không có con. Vì vậy chị em phụ nữ nên có kế hoạch sinh để thật hợp lý để có một sức khỏe thật tốt.

Nếu như trước đây bạn từng chịu sự phiền toái bởi các bệnh như phụ khoa như. Lậu hay giang mai thì bạn cũng nên đề cao cảnh giác đối với ung thư cổ tử cung.

Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến vì sao bị ung thư tử cung. Việc có một chế độ ăn đầy đủ chất dinh dưỡng sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh. Đẩy lùi được các nguy cơ gây bệnh. Trái lại, một chế độ ăn thiếu chất dinh dưỡng. Nhất là thiếu vitamin A sẽ giúp làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh ung thư cổ tử cung.

Hút thuốc có nguy cơ làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư. Không loại trừ bệnh ung thư cổ tử cung. Vì thế hút thuốc là nguyên nhân vì sao bị ung thư tử cung.

Hệ thống miễn dịch thấp khiến bạn có nguy cơ nhiễm HPV ở mức cao. Đặc biệt là đối với những bệnh nhân mang trong mình virus HIV. Và sử dụng thuốc làm ức chế hệ miễn dịch.

Vì Sao Phải Tầm Soát Ung Thư Cổ Tử Cung

Ung thư cổ tử cung là loại ung thư đứng hàng thứ hai sau ung thư vú ở nữ giới. Trên thế giới, mỗi năm có khoảng 500.000 trường hợp mới mắc và khoảng 274.000 người tử vong vì ung thư cổ tử cung, phần lớn thuộc các nước đang phát triển ( 85%). Thế giới, cứ mỗi 2 phút có 01 người chết vì ung thư cổ tử cung, ở Châu Á Thái Bình Dương mỗi 4 phút có một người chết vì ung thư cổ tử cung. Theo dự đoán của cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế đến năm 2050, trên thế giới hàng năm có hơn 1 triệu trường hợp mới mắc ung thư cổ tử cung.

Tại Việt Nam, ước tính mỗi năm cả nước có hơn 13.500 ca mắc mới ung thư cổ tử cung; tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi của ung thư cổ tử cung trên cả nước là 15,7/100.000 dân. Đây là số liệu của Dự án Phòng chống ung thư quốc gia của Việt Nam tổng kết sau 2 năm 2008 – 2010.

Thủ phạm hàng đầu gây ung thư cổ tử cung là nhiễm virus HPV. Một số yếu tố được xem là tăng nguy cơ nhiễm HPV và phát triển ung thư cổ tử cung như: * Phụ nữ có quan hệ tình dục sớm (trước 18 tuổi) hoặc quan hệ với nhiều người * Dùng thuốc tránh thai kéo dài; Sinh đẻ nhiều (từ trên 4 lần); hút thuốc lá * Tình trạng suy giảm miễn dịch như nhiễm HIV, mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là viêm sinh dục do nhiễm Trichomonas, Chlamydia trachomatis, Herpes simplex virus type 2 (HSV2)… * Các yếu tố khác như: nghèo nàn, lạc hậu, vệ sinh kém, thực phẩm nghèo chất dinh dưỡng (sinh tố A, C, acid folic, trái cây, rau tươi…)

***Để tầm soát ung thư cổ tử cung cần phải khám phụ khoa định kỳ sáu tháng một lần cùng với phối hợp các biện pháp xét nghiệm sau:TẦM SOÁT UNG THƯ CỔ TỬ CUNG TA PHẢI LÀM GÌ? * Phết tế bào cổ tử cung. * Xét nghiệm tầm soát HPV. * Quan sát cổ tử cung với acid acetic.

Ung Thư Cổ Tử Cung Và Chích Ngừa Ung Thư Cổ Tử Cung

1. Ung thư cổ tử cung là gì?

Ung thư cổ tử cung là sự tăng trưởng bất thường của các tế bào ở tử cung – bộ phận có hình nón cụt và là một phần của hệ cơ quan sinh dục nữ.

2. Tìm hiểu về Virus Papillomavirus (HPV) 2.1. Virus Papillomavirus (HPV) là gì?

Papillomavirus (HPV) là tên được đặt cho một nhóm vi-rút gây u nhú ở người. Có hơn 100 loại HPV khác nhau và khoảng 40 loại ảnh hưởng đến vùng sinh dục.

HPV rất phổ biến và rất dễ lây qua bất kỳ loại quan hệ tình dục nào với người khác đã mắc bệnh này. Nhiễm trùng do HPV thường không gây ra bất kỳ triệu chứng nào và hầu hết mọi người sẽ không biết họ bị nhiễm bệnh. Nhiễm trùng với các loại HPV có thể gây ra:

+ Mụn có sinh dục – tăng trưởng nhỏ hoặc thay đổi da trên hoặc xung quanh khu vực sinh dục hoặc hậu môn; chính là bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất (STI) ở Anh;

+ Mụn cóc da và verrucas – không phải trên khu vực bộ phận sinh dục;

+ Mụn cóc trên hộp giọng nói hoặc dây thanh âm (u nhú thanh quản).

2.2. Papillomavirus (HPV) lây lan như thế nào?

Nhiễm trùng HPV có thể lây lan qua bất kỳ tiếp xúc da kề da và thường được tìm thấy trên ngón tay, bàn tay, miệng và bộ phận sinh dục. Điều này có nghĩa là virus có thể lây lan trong bất kỳ loại hoạt động tình dục nào, bao gồm cả việc chạm vào.

3. Vắc xin dùng để Chích ngừa ung thư cổ tử cung

Gần như tất cả các bệnh ung thư cổ tử cung (99,7%) là do nhiễm một loại HPV nguy cơ cao. HPV-16 và HPV-18 chiếm khoảng 70% trong tất cả các loại ung thư cổ tử cung. HPV-6 và -11 gây ra khoảng 90% mụn cóc sinh dục. Những loại HPV này cũng gây ra một số bệnh ung thư hậu môn và sinh dục, và một số bệnh ung thư ở đầu và cổ.

Hiện tại, có thể chích ngừa ung thư cổ tử cung bằng một trong hai loại vắc-xin là Gardasil (Mỹ) và Cervarix (Bỉ).

3.1. Vắc xin Gardasil (Mỹ)

Gardasil là một loại vắc xin, được cấp phép sử dụng vào tháng 6 năm 2006, bởi FDA – Hoa kỳ. Nó nhắm mục tiêu bốn chủng papillomavirus ở người (HPV) là HPV-6, 11, 16 và 18.

Nếu bị bỏ lỡ một trong hai liều vắc xin Gardasil nên tiêm bổ sung sớm nhất có thể. Điều quan trọng là phải có cả hai liều vắc xin để được bảo vệ hoàn toàn.

Những người chưa tiêm vắc xin ở năm 9 tuổi vẫn có thể được chích ngừa đến năm họ 26 tuổi.

Tiêm vắc xin Gardasil để phòng ngừa ung thư cổ tử cung và một số bệnh đường sinh dục.

3.2. Vắc xin Cervarix (Bỉ)

Chích ngừa ung thư cổ tử cung bằng vắc xin Cervarix

Vắc xin Cervarix nhắm mục tiêu hai chủng papillomavirus ở người (HPV) – HPV 16 và 18. Vắc xin Cervarix tiêm cho bé gái từ 10 đến 25 tuổi với 3 mũi liên tiếp. Mũi đầu nên tiêm khi bé gái 10 tuổi. Mũi thứ 2 cách mũi đầu 1 tháng. Mũi thứ 3 cách mũi tiêm thứ 2 là 6 tháng.

Khác với Gardasil, tiêm vắc xin Cervarix chỉ giúp phòng ngừa ung thư cổ tử cung.

4. Đôi điều cần biết về chích ngừa ung thư cổ tử cung 4.1. Chích ngừa ung thư cổ tử cung nên thực hiện khi nào?

Vắc xin ngừa ung thư cổ tử cung hoạt động tốt nhất nếu bé gái chưa tiếp xúc với virus (nói cách khác, trước khi chích hoạt động tình dục). Vì vậy, chích ngừa ung thư cổ tử cung được khuyến nghị trong những năm thiếu niên và có thể sau đó đến năm 26 tuổi. Hầu hết những người không được chích ngừa ung thư cổ tử cung sẽ bị nhiễm một số loại HPV tại một số thời điểm trong cuộc sống của họ.

4.2. Chích ngừa ung thư cổ tử cung như thế nào?

Chích ngừa ung thư cổ tử cung hiện đang được tiêm dưới da vào cánh tay.

4.3. Chích ngừa ung thư cổ tử cung bảo vệ trong bao lâu?

Theo tài liệu từ các nhà sản xuất thì vắc xin phòng ngừa gây bệnh của HPV trong ít nhất 10 năm. Tuy nhiên vắc xin HPV không bảo vệ chống lại tất cả các loại virus có thể gây ung thư cổ tử cung nên tất cả các bé gái đã được tiêm vắc xin HPV vẫn nên được khám phụ khoa thường xuyên.

4.4. Có cần làm xét nghiệm trước khi chích ngừa ung thư cổ tử cung không?

Trước khi chích ngừa ung thư cổ tử cung không cần làm xét nghiệm. Nữ giới không mang thai, không dị ứng với bất cứ thành phần nào của vắc xin này đều có thể chích ngừa.

4.5. Bị nhiễm HPV có chích ngừa ung thư cổ tử cung được không?

Trên thực tế virus HPV rất dễ lây nhiễm nên việc tái nhiễm virus sau khi cơ thể đã đào thải là dễ dàng xảy ra. Miễn dịch tự nhiên của cơ thể không có đủ khả năng ghi nhớ để đề phòng tái nhiễm nhưng vắc xin thì có thể. Bên cạnh đó, như đã biết, HPV có nhiều chích khác nhau nên nếu trước đây bạn từng bị nhiễm một chích HPV nào đó thì vẫn nên chích ngừa HPV để được bảo vệ với các chích HPV khác. Như vậy, khi đã bị nhiễm HPV hay đã từng quan hệ tình dục thì việc chích ngừa ung thư cổ tử cung là vẫn cần thiết.

Như vậy, chích ngừa ung thư cổ tử cung là biện pháp hữu hiệu để giảm nguy cơ mắc ung thư cổ tử cung. Bên cạnh đó, một lối sống lành mạnh và luôn có biện pháp tình dục an toàn cũng là việc làm cần thiết để bảo vệ sức khỏe sinh sản của bạn.

Ung Thư Cổ Tử Cung

I

Ung thư khu trú tại cổ tử cung

IA

Ung thư được chẩn đoán chỉ bằng kính hiển vi, với sự xâm nhập mô đệm ≤ 5 mm chiều sâu và chiều rộng lớn nhất ≤ 7 mm *

IA1

Xâm nhập mô đệm được đo ≤ 3 mm chiều sâu và ≤ Rộng 7 mm

IA2

IB

Các tổn thương nhìn thấy trên lâm sàng khu trú ở cổ tử cung hoặc những tổn thương vi thể lớn hơn những tổn thương ở giai đoạn IA2

IB1

Thương tổn nhìn thấy trên lâm sàng có kích thước lớn nhất ≤ 4 cm

IB2

II

Tổn thương lan rộng ra ngoài cổ tử cung nhưng không vào thành khung chậu hoặc tới phần ba dưới của âm đạo

IIA

Tổn thương xâm lấn lên đến 2/3 trên của âm đạo; không quan sát thấy xâm lấn vào vùng lân cận xung quanh

IIA1

Tổn thương nhìn thấy trên lâm sàng có kích thước lớn nhất ≤ 4.0 cm

IIA2

IIB

Xâm lấn vùng xung quanh cổ tử cung

III

Lan rộng tới thành khung chậu và / hoặc xâm lấn 1/3 dưới của âm đạo và / hoặc gây chứng ứ nước thận hoặc thận không còn chức năng.

IIIA

Lan rộng tới 1/3 dưới của âm đạo nhưng không vào thành khung chậu

IIIB

Lan rộng tới thành khung chậu và / hoặc gây ứ nước thận hoặc thận mất chức năng

IV

Lan rộng vượt ra ngoài khung chậu hoặc có dấu hiệu lâm sàng do xâm lấn bàng quang hoặc niêm mạc trực tràng (phù rộp không có ý nghĩa giai đoạn IV)

IVA

Xâm nhập niêm mạc bàng quang hoặc trực tràng và / hoặc mở rộng thật sự ra ngoài xương chậu

IVB

Lan đến các cơ quan xa (bao gồm cả lan truyền ra phúc mạc)

Vì Sao Bệnh Nhân Ung Thư Cổ Tử Cung Dễ Bị Tái Phát?

Ung thư cổ tử cung có thể chữa khỏi nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Tuy nhiên, 1/3 bệnh nhân đối mặt nguy cơ tái phát.

Ung thư cổ tử cung là bệnh nguy hiểm với phụ nữ nhưng có thể chữa khỏi. Năm 2024, Việt Nam có khoảng 4.200 ca mắc mới ung thư cổ tử cung. Hơn 2.400 người tử vong vì bệnh này. Phần lớn bệnh nhân được phát hiện ở giai đoạn muộn khiến việc điều trị khó khăn.

Theo Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh (NHS), ung thư cổ tử cung thường ảnh hưởng phụ nữ đã quan hệ tình dục ở độ tuổi từ 30 đến 45. Bệnh có thể tái phát, ảnh hưởng nhiều tới sức khỏe và cuộc sống của bệnh nhân.

Các giai đoạn của ung thư cổ tử cung

Theo Mayo Clinic, ung thư cổ tử cung xuất hiện khi các tế bào khỏe mạnh trong cơ quan này có đột biến ở DNA. Các tế bào khỏe mạnh phát triển và nhân lên với tốc độ nhất định, sau đó, chúng tự chết đi.

Những đột biến khiến các tế bào phát triển vượt tầm kiểm soát và không thể tự hủy. Tế bào ung thư xâm lấn các mô lân cận và vỡ ra khỏi khối u, di căn đến những cơ quan khác trong cơ thể.

Ung thư cổ tử cung chia thành 4 giai đoạn. Trong đó, ở giai đoạn I, tế bào ung thư chỉ phát triển trong tử cung, chưa lan ra ngoài. Giai đoạn II của bệnh hình thành khi các khối u đã “ăn” ra ngoài cổ tử cung nhưng chưa đến khung chậu hoặc phần dưới âm đạo. Trong giai đoạn này, bệnh chưa di căn đến các hạch bạch huyết hoặc vị trí xa.

Nếu tế bào ung thư lan đến phần dưới của âm đạo hoặc khung chậu, bệnh nhân đã ở giai đoạn III. Khi đó, tế bào ung thư chưa lan đến các vị trí xa. Cuối cùng, ở giai đoạn IV, bệnh đã di căn sang các cơ quan lân cận hoặc bộ phận khác của cơ thể.

Ung thư cổ tử cung có thể chữa khỏi nếu được phát hiện sớm. (Ảnh: Freepik).

Hiện nay, nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung vẫn chưa có kết luận. Dấu hiệu đầu tiên của người mắc ung thư cổ tử cung là chảy máu âm đạo bất thường. Nó gây hiện tượng xuất huyết trong hoặc sau khi quan hệ, giữa các kỳ kinh hoặc ở độ tuổi mãn kinh.

Ngoài ra, người mắc ung thư cổ tử cung còn gặp tình trạng đau rát, khó chịu khi quan hệ, tiết dịch âm đạo bất thường, có mùi. Vùng lưng dưới, xương chậu đau.

Bệnh nhân ung thư cổ tử cung còn có thể gặp dấu hiệu: Đau tức lưng dưới, xương chậu và thận dữ dội; táo bón; không kiểm soát được tiểu hoặc đại tiện; tiểu ra máu; sưng phù chân…

Hiện nay, ung thư cổ tử cung được chia làm 2 loại chính là ung thư biểu mô tế bào vảy và ung thư biểu mô tuyến.

Trong đó, loại đầu tiên sẽ khởi phát khối u ở tế bào vảy lót bên ngoài của tử cung, sau đó tiến sâu vào âm đạo. Hầu hết bệnh nhân mắc ung thư cổ tử cung là loại này. Ung thư biểu mô tuyến ít gặp hơn. Nó khởi phát từ tế bào tuyến hình cột nằm trong ống cổ tử cung.

Nữ giới nên tầm soát ung thư để phát hiện bệnh sớm. (Ảnh: Freepik).

Gần 35% bệnh nhân có nguy cơ tái phát ung thư

Theo Cancer Treatment Centers of America, triệu chứng tái phát ung thư cổ tử cung có thể xảy ra vài tháng hoặc vài năm sau khi điều trị. Tổ chức này ước tính, thế giới có gần 35% trường hợp bị tái phát ung thư cổ tử cung hoặc mắc bệnh dai dẳng. Hầu hết ca tái phát đều xảy ra trong vòng 2 năm sau khi điều trị.

Ung thư cổ tử cung và nhiều loại khác có thể tái phát do các vùng nhỏ của tế bào ác tính vẫn còn sót trong cơ thể sau khi điều trị. Theo thời gian, những tế bào này có thể nhân lên và phát triển gây các triệu chứng. Ung thư tái phát khi nào và ở đâu phụ thuộc từng loại bệnh. Bệnh có 3 loại tái phát phổ biến. Đó là tái phát cục bộ, khu vực và tái phát xa.

Các khối u ác tính có thể xuất hiện ở bất kỳ vị trí nào trên cơ thể, bao gồm cả khung chậu, khoang bụng hoặc phổi, gan, xương. Theo Trung tâm Ung thư Cổ tử cung của Đại học Columbia, Mỹ, các vị trí tái phát phổ biến nhất là vòng bít âm đạo, khung chậu, hạch cạnh động mạch chủ, phổi và hạch thượng đòn.

Các triệu chứng tái phát ung thư cổ tử cung ở mỗi bệnh nhân là khác nhau. Với trường hợp tái phát tại chỗ, bệnh nhân bị chảy máu âm đạo bất thường sau khi quan hệ tình dục hoặc thời kỳ mãn kinh.

Âm đạo cũng tiết dịch bất thường như nước, màu hồng, có mùi hôi. Cùng đó, người bệnh bị đau vùng chậu khi làm “chuyện ấy”, rò rỉ nước tiểu từ âm đạo.

Nếu tái phát ung thư thể đã di căn, bệnh nhân có các dấu hiệu như: giảm cân, mệt mỏi, đau lưng, đau hoặc sưng chân, nhức xương…

Hơn 35% bệnh nhân có nguy cơ tái phát ung thư cổ tử cung. (Ảnh: Mayo Clinic).

Tổ chức này ước tính người mắc ung thư cổ tử cung giai đoạn đầu có 20% khả năng tái phát. Giai đoạn càng nặng, khả năng tái phát càng cao, lên đến 75%. Do đó, sau khi điều trị hoặc được chẩn đoán, bệnh nhân nên tái khám và theo dõi ít nhất 5 năm.

Tương tự như lần phát hiện đầu, ung thư cổ tử cung khi tái phát sẽ được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật triệt căn, hóa trị, xạ trị. Tùy vào giai đoạn của bệnh, bác sĩ sẽ đưa phác đồ điều trị phù hợp.

Trong đó, phẫu thuật là phương pháp phổ biến trong giai đoạn sớm. Cách này sẽ khoét chóp cổ tử cung hoặc cắt toàn bộ cơ quan này để loại bỏ các khối u, tế bào ác tính.

Ung thư cổ tử cung là bệnh có thể chữa khỏi nên yếu tố then chốt là chúng ta phát hiện bệnh sớm. Theo tổ chức Dịch vụ Y tế Quốc gia của Anh, ung thư cổ tử cung cũng như những bệnh hiểm nghèo khác không có cách ngăn ngừa tuyệt đối. Tuy nhiên, chúng ta có cách để giảm nguy cơ mắc bệnh. Tổ chức trên khuyến cáo phụ nữ nên kiểm tra cổ tử cung thường xuyên để phát hiện sớm các bất thường của tế bào trong cơ quan này.