Vi Sao Tre Bi Nac Cuc / Top 2 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Channuoithuy.edu.vn

Dấu Hiệu Trẻ Sơ Sinh Bị Mất Nước, Dau Hieu Tre So Sinh Bi Thieu Nuoc

Dấu hiệu trẻ sơ sinh bị mất nước

Trên thế giới, mất nước do tiêu chảy là một nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em. Trẻ sơ sinh và trẻ em đặc biệt dễ bị tổn thương vì trọng lượng cơ thể tương đối nhỏ và nhu cầu cao của nước và điện giải. Trẻ cũng là nhóm có nhiều khả năng tiêu chảy.

Dấu hiệu bé bị mất nước được thể hiện qua các dấu hiệu sau

Trông bé mệt mỏi, lờ đờ.

Nước tiểu của bé có màu sậm hơn bình thường.

Hơn 6 giờ đồng hồ, bé không làm ướt một chiếc tã.

Miệng và môi của bé bị khô.

Bé khóc mà không ra nước mắt.

Dấu hiệu nghiêm trọng: mắt bé trũng xuống; chân, tay của bé có vẻ lạnh; bé ngủ liên tục hoặc quấy khóc.

Dấu hiệu nghiêm trọng

Mất nước nghiêm trọng hơn, ngoài những dấu hiệu kể trên còn có các dấu hiệu khác như da bị khô, nhăn, mềm nhão (đặc biệt là da ở bụng, phần trên cánh tay và cẳng chân), trẻ trở nên ù lì, yếu ớt, mắt trũng sâu, hay buồn ngủ, bị co gân, chuột rút, hơi thở dồn dập… Đối với trường hợp mất nước nhẹ, có thể bù lại lượng nước mất đi thông qua quá trình ăn uống thông thường. Đối với những trường hợp mất nước nghiêm trọng thì cần có sự hướng dẫn cụ thể của bác sĩ tùy theo triệu chứng và độ tuổi của trẻ.

Dấu hiệu bệnh lý rõ rệt

Khát.

Khô, dính miệng.

Buồn ngủ hoặc mệt mỏi trẻ em có thể sẽ ít hoạt động hơn bình thường.

Giảm lượng nước tiểu ít hơn sáu tã ướt một ngày cho trẻ sơ sinh và tám giờ hoặc hơn mà không đi tiểu cho trẻ lớn và thiếu niên.

Rất ít hoặc không có nước mắt khi khóc.

Mất nước nghiêm trọng, một cấp cứu y tế có thể gây ra:

Khát tột cùng.

Cơ yếu.

Nhức đầu.

Chóng mặt hoặc nhầm lẫn.

Quấy khóc hoặc buồn ngủ ở trẻ sơ sinh và trẻ em; dễ cáu gắt và sự nhầm lẫn ở người lớn.

Rất khô miệng, da và màng nhầy.

Thiếu ra mồ hôi.

Đi tiểu ít hoặc không có bất kỳ nước tiểu được sản xuất sẽ được tối màu vàng hoặc màu hổ phách.

Mắt trũng.

Ở trẻ sơ sinh, thóp trũng sự mềm điểm trên đỉnh đầu của bé.

Huyết áp thấp.

Nhịp tim nhanh.

Sốt.

Trong các trường hợp nghiêm trọng nhất, mê sảng hay bất tỉnh.

Da khô héo và thiếu tính đàn hồi và không “trả lại” khi chèn ép vào.

Nguyên nhân mất nước trong cơ thể

Nguyên nhân do bỏng: Các bác sĩ phân loại bỏng theo độ sâu của tổn thương và mức độ thiệt hại mô. Bỏng độ thứ ba là nghiêm trọng nhất, thâm nhập cả ba lớp da và thường phá hủy tuyến mồ hôi, nang lông và dây thần kinh. Những người bị bỏng độ thứ ba hoặc độ thứ hai rộng có trải nghiệm sâu sắc mất chất lỏng và kết quả có thể đe dọa tính mạng.

Tăng đi tiểu: điều này thường được chẩn đoán hoặc đái tháo đường không kiểm soát được, một bệnh ảnh hưởng đến cách cơ thể sử dụng lượng đường trong máu và thường gây ra tăng sự khát nước và đi tiểu thường xuyên. Một loại bệnh tiểu đường, đái tháo nhạt cũng là đặc trưng của khát và đi tiểu quá nhiều, nhưng trong trường hợp này gây ra là một rối loạn nội tiết tố làm cho thận không thể để bảo tồn nước. Một số thuốc – thuốc lợi tiểu, thuốc kháng histamine, thuốc huyết áp và một số loại thuốc tâm thần, cũng như rượu cũng có thể dẫn đến mất nước, nói chung bởi vì họ làm cho đi tiểu hoặc ra mồ hôi nhiều hơn bình thường.

Tiêu chảy, ói mửa: Nặng, tiêu chảy cấp tính, tiêu chảy mà đến đột ngột và dữ dội, có thể gây ra một sự mất mát to lớn của nước và chất điện giải trong một khoảng thời gian ngắn. Nếu có cùng với nôn mửa – tiêu chảy sẽ mất nhiều hơn chất lỏng và khoáng chất. Trẻ em và trẻ sơ sinh đặc biệt là nguy cơ. Mất nước là một nguyên nhân tử vong hàng đầu ở trẻ em trên toàn thế giới.

Nguyên nhân do sốt: Nói chung, sốt càng cao càng trở nên mất nước. Nếu bị sốt, thêm vào tiêu chảy và ói mửa, mất chất lỏng hơn.

Quá nhiều mồ hôi: Bị mất nước khi đổ mồ hôi. Nếu tham gia vào các hoạt động mạnh mẽ và không thay thế các chất dịch, có thể trở nên mất nước. Nóng, thời tiết ẩm tăng đổ mồ hôi và số lượng chất lỏng bị mất. Nhưng cũng có thể trở nên mất nước trong mùa đông nếu không thay thế chất dịch bị mất. Trẻ em và thanh thiếu niên những người tham gia môn thể thao có thể đặc biệt nhạy cảm, cả hai bởi vì trọng lượng cơ thể của họ nói chung là thấp hơn so với người lớn và bởi vì họ có thể không có kinh nghiệm, đủ để biết các dấu hiệu cảnh báo mất nước.

Làm gì khi trẻ sơ sinh bị mất nước?

Nếu mất nước do tiêu chảy: Nếu mắc chứng bệnh về đường ruột, bé có thể bị mất nước vì bị tiêu chảy và nôn (trớ). Không nên cho bé uống nước hoa quả, vì nó sẽ khiến tình trạng bệnh ở bé tồi tệ hơn. Bạn cũng không nên tự ý cho bé dùng thuốc chống tiêu chảy, trừ khi có chỉ định của bác sĩ. Tăng cường số lần bú trong ngày cho bé, có thể cho bé uống thêm nước.

Mất nước do sốt: Trẻ nhỏ thường xảy ra hiện tượng sốt mất nước, khi trẻ bị sốt mất nước cha mẹ cần kịp thời bổ sung nước cho trẻ, thông thường cha mẹ có thể cho trẻ bổ sung nước bằng cách cho trẻ uống dung dịch glucoza 5%, uống mỗi lần 10-15ml, 2h/1lần. Bên cạnh đó cha mẹ có thể dùng dung dịch cồn 75% pha với lượng nước tương đương thấm vào vải sạch để lau trán, lòng bàn tay, bàn chân, gáy, nách, đùi cho trẻ để tản nhiệt, hạ sốt.

Mất nước do bé từ chối uống: Đau họng hoặc chứng bệnh tay – chân – miệng có thể gây đau trong khoang miệng nên khiến bé từ chối ăn, uống. Bạn nên đưa bé đi khám để bác sĩ tìm cách trị liệu thích hợp; sau đó, bạn nên cho bé bú mẹ – thường xuyên.

Gọi ngay bác sĩ hoặc đến viện nếu có các dấu hiệu sau

Phát triển tiêu chảy nghiêm trọng, có hoặc không có nôn mửa hoặc sốt.

Đã có nôn mửa trong hơn tám giờ.

Đã có tiêu chảy trung bình trong ba ngày hoặc hơn.

Không thể uống chất lỏng.

Khó chịu hoặc mất phương hướng và buồn ngủ nhiều hoặc ít hoạt động hơn hơn bình thường.

Có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng mất nước nhẹ hoặc vừa phải.

Các biến chứng khi cơ thể mất nước quá nhiều

Suy thận. Vấn đề này có khả năng đe dọa tính mạng xảy ra khi quả thận không còn có thể loại bỏ chất lỏng dư thừa và chất thải từ máu.

Sốc giảm lưu lượng máu. Đây là một trong những biến chứng nghiêm trọng nhất của mất nước. Nó xảy ra khi lượng máu thấp gây giảm huyết áp và giảm tương ứng lượng ôxy đến các mô. Nếu không được điều trị, sốc nặng có thể gây ra cái chết chỉ trong vài phút.

Não phù nề. Thông thường, các chất lỏng bị mất khi đang mất nước chứa cùng một lượng natri trong máu. Mặc dù vậy, trong một số trường hợp có thể mất natri nhiều hơn chất lỏng. Để bù đắp cho mất mát này, cơ thể sản xuất hạt kéo nước lại vào tế bào. Kết quả là các tế bào có thể hấp thụ quá nhiều nước trong quá trình bù nước làm cho chúng bị sưng tấy và vỡ. Hậu quả là đặc biệt nghiêm trọng khi các tế bào não bị ảnh hưởng.

Động kinh. Những xảy ra khi phóng điện bình thường trong não trở nên vô tổ chức, dẫn đến co thắt cơ bắp không tự nguyện và đôi khi để mất ý thức.

Hôn mê và tử vong. Khi không được điều trị kịp thời và thích đáng, mất nước nặng có thể gây tử vong.

Nhiệt chấn thương. Không đủ lượng chất lỏng kết hợp với tập thể dục mạnh mẽ và đổ mồ hôi nặng có thể dẫn đến tổn thương nhiệt , khác nhau ở mức độ từ nhẹ đến chuột rút nhiệt nhiệt kiệt sức để say nắng có khả năng đe dọa tính mạng.

Nhận biết các Dấu hiệu trẻ sơ sinh bị mất nước

làm gì khi trẻ sơ sinh bị mất nước, nguyên nhân mất nước trong cơ thể, các biến chứng khi cơ thể mất nước quá nhiều, dấu hiệu trẻ sơ sinh bị mất nước, dau hieu tre so sinh bi thieu nuoc

Trẻ sơ sinh hay vặn mình ngủ không ngon giấc vào ban đêm phải làm sao?

Cho bé uống nước cam hàng ngày có tốt không?

Mot So Phuong Phap Day Hoc Tich Cuc

Published on

5. Để giải quyết các vấn đề trên, HS cần phải thực hiện theo nhiều cách khác nhau. Để thu thập thông tin, HS cũng gặp phải vấn đề đặt ra. Ví dụ như ở đâu? bằng cách nào? phương tiện gì? Chọn cách nào là phù hợp và hiệu quả, đảm bảo thời gian phù hợp… Vấn đề đặt ra khi trình bày sản phẩm dự án và trình bày báo cáo là: Chọn cách nào cho phù hợp và thể hiện được sự sáng tạo? Ví dụ 3: Trong môn Hóa học, trong những bài nghiên cứu tính chất hóa học của các chất, GV có thể giúp HS phát hiện và giải quyết vấn đề đặt ra một cách linh hoạt giúp phát triển năng lực giải quyết vấn đề của HS. Thí dụ: Những vấn đề có thể xuất hiện khi nghiên cứu tính chất hóa học của sắt: Hóa trị của sắt là II hay III trong hợp chất tạo thành khi sắt tác dụng với phi kim (oxi, lưu huỳnh, clo), sắt tác dụng với dung dịch axit (HCl, H2SO4 loãng), sắt tác dụng với dung dịch muối của kim loại hoạt động yếu hơn (Cu, Hg, Ag…) ; Ví dụ 4: Trong môn lịch sử nên đặt ra những câu hỏi có tính chất vấn đề để HS tìm hiểu. Thí dụ như: Nguyên nhân nào khiến cuộc khởi nghĩa Nam Kì thất bại? Nguyên nhân thành công của chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ là gì? GV hướng dẫn HS phân tích tìm thông tin để giải quyết các vấn đề đặt ra. Ví dụ 5: Trong môn Địa lí nhiều câu hỏi có tính chất nêu vấn đề có thể thường xuyên được sử dụng. Thí dụ như Tại sao ở Miền Bắc nước ta có khí hậu nóng ẩm, 4 mùa rõ rệt? Tại sao có hiện tượng trái đất nóng lên toàn cầu?… Ví dụ 6: Môn Toán là môn học thường áp dụng phương pháp giải quyết vấn đề tương đối nhiều. Chẳng hạn như trước khi HS học và biết công thức tính chu vi hình chữ nhật, GV nêu vấn đề: Nếu không dùng thước để đo, làm thế nào để tính được chu vi của thửa ruộng hình chữ nhật biết chiều rộng là 10m , chiều dài là 50m? Hoặc : Mỗi tháng An được Bố mẹ cho 200.000 đồng để tiêu vặt và ăn quà sáng. An muốn mua một chiếc xe đạp giá 1. 100. 000 đồng. Để sau 10 tháng An có thể mua được chiếc xe đạp đó thì An cần có kế hoạch chi tiêu như thế nào nếu như An không có hỗ trợ nào khác . Giả sử trung bình mỗi tháng có 30 ngày. 1.1. 4. Ưu điểm và hạn chế của phương pháp a.Ưu điểm: Dạy học giải quyết vấn đề giúp phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của HS, phát triển năng lực nhận thức, năng lực giải quyết vấn đề cho HS. Đây là một phương pháp dạy học góp phần quan trọng phát triển năng lực cơ bản của người lao động đó là năng lực giải quyết vấn đề. Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực bảo đảm sự thành đạt trong cuộc sống nhất là trong kinh doanh. Kết quả của dạy học giải quyết vấn đề: Tri thức mới mà HS thu nhận được một cách sâu sắc, vững chắc, nhớ lâu. Nhưng quan trọng hơn HS biết cách tiến hành phương pháp chiếm lĩnh kiến thức và đánh giá được kết quả của bản thân và của người khác. Thông qua đó các năng lực cơ bản đã được hình thành trong đó có năng lực vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề thực tiễn một cách linh hoạt và sáng tạo. b.Hạn chế:

14. Ở mỗi góc:Nhiệm vụ của mỗi góc, sản phảm cần có và tư liệu thiết bị cần cho họat động của mỗi góc phù hợp theo phong cách học hoặc theo nội dung hoạt động khác nhau. Ví dụ đồ dùng thí nghiệm, hóa chất cho góc trải nghiệm của môn Vật lí hoặc Sinh học hoặc môn Khoa học ở tiểu học. Thiết kế các nhiệm vụ và hoạt động ở mỗi góc. Căn cứ vào nội dung cụ thể mà HS cần lĩnh hội và cách thức hoạt động để khai thác thông tin GV cần: – Xác định số góc và tên mỗi góc. – Xác định nhiệm vụ ở mỗi góc và thời gian tối đa dành cho HS ở mỗi góc. – Xác định những thiết bị, đồ dùng, phương tiện cần thiết cho HS hoạt động. – Hướng dẫn để HS chọn góc và luân chuyển theo vòng tròn nối tiếp. GV cần thiết kế các nhiệm vụ học tập để HS hoàn thành theo phiếu học tập giúp HS có thể tự đọc và hoàn thành nhiệm vụ của mình. Có thể thiết kế góc với nhiệm vụ cụ thể như sau: – Góc thực hành nghe có thể gồm một máy nghe nhạc CD, một bộ chia gồm 4 tai nghe và một đề bài, có thể là bài tập vẽ hoặc bài tập nghe (môn ngoại ngữ). Cũng giống như các bài tập viết khác, giáo viên sẽ góp ý hoàn thiện bài làm của HS. – Góc số học là nơi học sinh sẽ thực hiện các bài tập số học và phải tự sửa kết quả của mình bằng máy tính và bảng cửu chương. – Góc thí nghiệm ( góc trải nghiêm) để học sinh khám phá các vật liệu dẫn điện thông qua một thí nghiệm tiến hành từng bước. Đây là ví dụ về nhiệm vụ cả nhóm cùng thực hiện. Các vật liệu sẽ được thử nghiệm gồm: đuốc, pin, pin đã hết, dây chão, dây đồng, cặp tài liệu, một bình chứa đầy nước và một bình chứa cát vv. – Góc sáng tạo có thể là nơi học sinh sẽ hoàn thành các tác phẩm thủ công hoặc vẽ theo cảm hứng, vẽ theo đề tài tự do hoặc snág tác thơ, nhạc… Chú ý thiết kế hoạt động để HS thực hiện chọn góc xuất phát và luân chuyển theo các góc trong bài học theo góc. Chúng ta chỉ có thể thiết kế lớp học theo số góc như trên nếu lớp học rất rộng và với nội dung làm việc là cả buổi học hoặc cả ngày học. Trong thực tế thường thời gian tối thiểu có thể là 45 phút hoặc 90 phút với lượng HS vừa phải và với lớp học bình thường thì chỉ nên thiết kế 2,3- 4 góc là cùng và nội dung chỉ là đối với một môn học cho một bài học hoặc một vài nội dung cụ thể. Tuy nhiên cần đặc biệt chú ý đảm bảo tính hiệu quả, tránh hình thức mà hiệu quả kém. Thiết kế hoạt động HS tự đánh giá và củng cố nội dung bài học. Cần chú ý học theo góc chủ yếu là cá nhân và các nhóm hoạt động do đó kết quả này cần được xem xét và điều chỉnh. Do đó việc cần thiết là HS báo cáo kết quả ở mỗi góc để xem xét đánh giá. HS được tạo cơ hội tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau. Để thực hiện điều này GV cần thiết kế và chuẩn bị sao cho HS có thể trình bày kết quả một cách trực quan rõ ràng cho các HS khác có thể nhìn nhận và đưa ra nhận xét.

15. Trên cơ sở đó GV đưa ra ý kiến để trao đổi và hoàn thiện giúp HS hiểu bài sâu sắc và đầy đủ hơn. Bước 3. Tổ chức dạy học theo góc Trên cơ sở KHBH đã thiết kế GV tổ chức các hoạt động cho phù hợp với đặc điểm học theo góc. Bố trí không gian lớp học GV cần bố trí không gian lớp họp theo các góc học tập đã thiết kế. Mỗi góc có nhiệm vụ cụ thể và hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ rõ ràng kèm theo các tư liệu, thiết bị học tập cần thiết phục vụ cho phong cách học hoặc hình thức hoạt động khác nhau tùy thuộc vào nội dung học tập cụ thể. Nêu nhiệm vụ bài học, giới thiệu phương pháp học theo góc và hướng dẫn HS chọn góc xuất phát GV nêu nhiệm vụ hoặc vấn đề cần giải quyết của bài học. GV giới thiệu phương pháp học theo góc: GV nêu sơ lược về nhiệm vụ ở mỗi góc, thời gian thực hiện. GV cũng hướng dẫn HS chọn góc xuất phát theo năng lực theo phong cách theo sở thích. GV hướng dẫn HS luân chuyển góc và yêu cầu báo cáo kết quả cuối buổi học. Nếu quá nhiều HS chọn cùng góc xuất phát, GV hướng dẫn điều chỉnh để HS điều chỉnh góc xuất phát cho phù hợp. GV cũng có thể có gợi ý để HS chọn góc. Thí dụ với HS yếu thì không nên chọn góc áp dụng làm góc xuất phát còn với HS khá giỏi thì nên xuất phát từ góc áp dụng sẽ phù hợp hơn. Với góc thực nghiệm thì HS có kĩ năng thực hành tốt nên chọn làm góc xuất phát. Góc quan sát và góc phân tích có thể dành cho tất cả các đối tượng HS có thể chọn làm góc xuất phát. Các thỏa thuận HS cần biết là:  Mỗi một nhiệm vụ học theo góc phải được hoàn thành trong khoảng thời gian tối đa xác định. Có thể có góc dành cho HS có tốc độ học nhanh hơn.  Học sinh được quyền lựa chọn góc xuất phát và thứ tự chuyển góc theo một trật tự có thể nhưng cần đảm bảo tránh tình trạng hỗn loạn gây mất thời gian. GV có thể đưa ra sơ đồ chuyển góc để nhóm HS lựa chọn. Hướng dẫn HS hoạt động theo các góc Tiếp theo GV hướng dẫn hoạt động nhóm trong mỗi góc để hoàn thành nhiệm vụ. Ở mỗi góc, mỗi nhóm sẽ có kết quả chung Chú ý hoạt động ở mỗi góc, trong mỗi nhóm HS cần tổ chức nhóm có nhóm trưởng, thu kí, các nhóm viên và phân công nhiệm vụ phù hợp theo cá nhân, theo cặp và có sự hỗ trợ giữa HS khá giỏi với HS yếu để đảm bảo trong thời gian nhất định có thể hoàn thành nhiệm vụ và chuyển sang góc mới. Theo dõi và hướng dẫn trợ giúp HS tại mỗi góc Trong quá trình HS hoạt động GV thường xuyên theo dõi, phát hiện khó khăn của HS để có hỗ trợ kịp thời. Thí dụ ở góc HS tiến hành thí nghiệm thường có thể cần được theo dõi hỗ trợ về kĩ thuật thực hiện, cách quan sát và ghi thông tin. Ở góc quan sát băng hình HS cũng cần hỗ trợ về cách quan sát và giải thích các hiện tượng.

19. cùng có thể là một buổi thuyết trình có sử dụng các phương tiện nghe nhìn, một ấn phẩm báo chí, một trang Web hoặc một sản phẩm được tạo ra. Các loại dự án học tập có thể phân chia theo nội dung, theo thời gian thực hiện hoặc theo hình thức tham gia: Phân theo nội dung * Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học. Ví dụ: dự án thiết kế mạng điện trong trường học, dự án thiêt kế mô hình các máy điện (môn vật lí), dự án tìm hiểu virut cúm gia cầm (môn Sinh), dự án thiết kế mô hình nhà máy hóa chất Sunphat (môn Hóa học), … * Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau. Ví dụ: dự án cải tạo hồ bơi của trường (Môn toán-lí-mỹ thuật-kĩ thuật..) * Dự án ngoài môn học: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học, ví dụ dự án chuẩn bị cho các lễ hội trong trường, dự án tìm hiểu năng lượng mặt trời, dự án quảng bá du lịch địa phương… Phân theo sự tham gia của người học: dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân. Dự án dành cho nhóm HS là hình thức dự án dạy học chủ yếu. Trong trường phổ thông còn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học. Phân loại theo quỹ thời gian: chúng tôi đề nghị cách phân chia như sau: * Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học. * Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”), nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học. * Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”). Đặc điểm của dạy học dự án nhấn mạnh đến các định hướng sau: * Định hướng thực tiễn: Chủ đề của dự án gắn với thực tiễn, kết quả dự án phải có ý nghĩa thực tiễn xã hội. Dạy học dự án tạo ra kinh nghiệm học tập thu hút người học vào những dự án phức tạp trong thực tiễn xã hội và người học sẽ dựa vào đó để phát triển và ứng dụng các kĩ năng và kiến thức của mình. Ví dụ: Dự án tìm hiểu các nhạc cụ dân tộc (Môn Âm nhạc bậc cao đẳng), dự

20. án tìm hiểu về các đồ dùng bằng nhựa (Môn Tự nhiên xã hội bậc tiểu học), dự án tìm hiểu về sử dụng năng lượng điện (Môn Vật lí bậc trung học cơ sở) * Định hướng hứng thú: Chủ đề và nội dung của dự án phù hợp với hứng thú của người học, thúc đẩy mong muốn học tập của người học, tăng cường năng lực hoàn thành những công việc quan trọng và mong muốn được đánh giá. Khi người học có cơ hội kiểm soát được việc học của chính mình, giá trị của việc học đối với họ cũng tăng lên. Cơ hội cộng tác với các bạn cùng lớp cũng làm tăng hứng thú học tập của học sinh. * Tính tự lực cao của người học: Người học tham gia tích cực và tự lực vào các tất cả các giai đoạn của quá trình dạy học: đề xuất vấn đề, lập kế hoạch giải quyết vấn đề, giải quyết vấn đề và trình bày kết quả thực hiện. * Định hướng hành động: Khi thực hiện dự án, đòi hỏi học sinh phải kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, huy động nhiều giác quan. Người học khám phá, giải thích và tổng hợp thông tin sao cho có được sản phẩm có ý nghĩa. * Định hướng sản phẩm: Đó là những sản phẩm hành động có thể công bố, giới thiệu được. Kết quả của dự án có thể là bài báo, bài trình bày, các mô hình vật chất, thí nghiệm… * Có tính phức hợp: Nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc các môn học khác nhau. Dạy học dự án yêu cầu người học sử dụng thông tin của nhiều môn học khác nhau để giải quyết vấn đề. * Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, việc học mang tính xã hội. Dạy học dự án thúc đẩy sự cộng tác giữa người học với giáo viên và giữa người học với nhau. Nhiều khi, sự cộng tác được mở rộng đến cộng đồng. Sự làm việc mang tính cộng tác của người học có tầm quan trọng làm phong phú và mở rộng sự hiểu biết của người học về những điều họ đang học. Trong dạy học dự án, vai trò của giáo viên (người dạy) và người học là: *Vai trò của giáo viên – Thúc đẩy vai trò tự chủ của người học và làm sao để gắn sự chủ động của người học trong việc giải quyết vấn đề. – Hướng dẫn, tham vấn chứ không phải cầm tay chỉ việc. Không phải dạy kiến thức mà tạo ra sự hỗ trợ cần thiết. Năng lực, vai trò của giáo viên thể hiện ở các hỗ trợ đối với người học (không chỉ bằng các chỉ dẫn mà bằng các sản phẩm mẫu, các tài liệu, các nguồn thông tin, cách chuyển giao công việc, cách xây dựng các phiếu đánh giá…). * Vai trò của người học – Tham gia tích cực ở cả ba giai đoạn học tập (thu thập thông tin, xử lí thông tin, truyền đạt thông tin). Giai đoạn ba là giai đoạn hoạt động quan trọng, thể hiện kết quả của hai giai đoạn trước và là giai đoạn người học được phát huy khả năng sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề của mình. – Người học đóng vai là những “chuyên gia” thuộc những ngành nghề khác nhau trong xã hội, hoàn thành vai trò của mình dựa trên những kiến thức, kĩ năng nhất định (người học chủ động trong việc tiếp nhận kiến thức).

24. – Tham vấn giáo viên hướng dẫn Trong giai đoạn này, dự án được định hình. Người học học bằng cách nghiên cứu, biến đổi hoặc tạo ra thông tin mới trong sự hợp tác để đi đến kết quả chung. Họ thu thập dữ liệu, tiến hành các thí nghiệm, gặp gỡ các nhân vật cần thiết, phân tích, so sánh, cân, đo, tính toán, viết, vẽ, tranh luận… Máy tính cung cấp dữ liệu cập nhật về một số lớn các thông tin và các vấn đề thực tế, tạo thuận lợi cho sự hợp tác giữa các thành viên của cùng lớp học hoặc với các lớp học khác. Tổng hợp những đóng góp là một hoạt động cần thiết của việc thực hiện dự án. Hoạt động này thường thể hiện ở hai mặt: việc giới thiệu cho toàn lớp những đóng góp của nhóm nhỏ, đồng thời là dịp để thành viên này hay thành viên khác điều chỉnh bởi chính họ để có sản phẩm của tập thể, của cả lớp. Những đóng góp khác nhau sẽ được giới thiệu và mỗi đóng góp nhằm theo đuổi một câu hỏi để mang đến những sản phẩm chung. Trong quá trình này, giáo viên tôn trọng về kế hoạch đã xây dựng và sự hợp tác giữa các cá nhân người học nhằm tạo ra một cộng đồng trong đó trung tâm là việc học tập. Giáo viên tạo thuận lợi cho sự trao đổi thường xuyên và cởi mở giữa các thành viên, tạo sự tìm kiếm thông tin từ các nguồn tài liệu có sẵn bên cạnh sự chịu trách nhiệm về những nhiệm vụ, mời các nhóm thường xuyên đánh giá sự tiến triển của công việc và tận dụng dịp này để động viên, kích thích, và chỉnh sửa để nhằm đến đích. Những chiến lược người học sử dụng cần phải trở thành đối tượng của sự quan sát liên tục của giáo viên. Tuy nhiên, tác động của giáo viên cần mang đến một không khí cởi mở. Những câu hỏi về các hoạt động của nhóm, về sự chịu trách nhiệm, về phương pháp nghiên cứu, về sự phân biệt giữa cái đúng và cái sai, … sẽ dẫn đến những đề nghị hấp dẫn đối với các dự án tương lai. Khi thực hiện dự án, các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân, HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành. Những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau, như: – Thu thập các đồ dùng, tài liệu cần thiết – Nghiên cứu trong lớp – Nghiên cứu trong thư viện – Có sự tham gia của phụ huynh học sinh – Xin “chuyên gia” tư vấn – viết thư – phỏng vấn – gọi điện thoại xin hẹn – Phiếu hỏi – thu thập tạp chí để tìm thông tin – videos – sách trẻ em – Thu thập các bài báo, chỉnh sửa và viết lại sao cho dễ hiểu Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra. * Tổng hợp kết quả Tổng hợp kết quả bao gồm: – Thu thập kết quả và công bố sản phẩm – Đánh giá dự án: Kết quả thực hiện dự án có thể được công bố dưới dạng bài thu hoạch, báocáo bằng văn bản, bài trình diễn powerpoint. Trong nhiều dự án, các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành như: mô hình máy phát điện, mô hình mạng điện,… Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc

27. * Thực hiện dự án: Để biết được nên sử dụng loại đèn nào dùng để chiếu sáng trong công viên,dựa trên kế hoạch thực hiện dự án đã lập ra, nhóm học sinh đã thu được kết quả: – Qua khảo sát, công viên BT hiện có 100 bóng neon loại 200 W. – Qua tìm hiểu số liệu công bố của nhà sản xuất, một bóng đèn compact cócông suất chiếu sáng gấp 6 lần công suất chiếu sáng của một bóng đèn neon cùng công suất tiêu thụ điện năng. Ngoài ra bóng compact có tuổi thọ gấp 6 lần bóng neon. – Qua khảo sát thời gian chiếu sáng trung bình trong một ngày: 100% số bóngsử dụng liên tục 5 giờ ( từ 18h đến 23h), chỉ 50 % số bóng được sử dụng trong 7 giờ tiếp theo ( từ 23h hôm trước đến 6h hôm sau). Vì vậy nhóm học sinh dự kiến thay thế loại bóng đèn neon 200 W bằng loạibóng đèn compact 45W. Như vậy vừa tiết kiệm được điện năng mà công suất chiếu sáng lại hơn trước. Bằng cách sử dụng các kiến thức về công suất điện và năng lượng điện (Vật lílớp 9 THCS), học sinh đã tính được lượng điện năng tiết kiệm được trong 1 năm và thời gian thu hồi vốn cũng như số tiền tiết kiệm điện khi thay đèn nêon bằng đèn compắc. * Tổng hợp kết quả Thu thập kết quả thu được, học sinh công bố sản phẩm dưới dạng một bàitrình diễn để thuyết phục nhà đầu tư và đi đến kết luận: Phương án thay thế bóng đèn neon bằng bóng đèn compact tuy tốnkém chi phí đầu tư ban đầu nhưng đem lại nhiều hiệu quả: 1. Tiết kiệm một lượng lớn điện năng 2. Tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp 3. Góp phần bảo vệ môi trường 4. Làm tăng vẻ đẹp công viên Dự án của nhóm học sinh thử nghiệm cho một công viên tuy nhiên vẫn có thểáp dụng cho các hệ thống chiếu sáng công cộng, trong các nhà máy và trong các hộ gia đình. Đánh giá dự án cho thấy: Dự án vừa thực hiện cho phép học sinh vận dụng các kiến thức về công, côngsuất điện để đóng vai là nhà tư vấn nhằm giải quyết một vấn đề thực tiễn. Trong tương lai dự án có thể thực hiện bằng cách tìm hiểu thêm các loại đèncompăc tiết kiệm điện, cách bố trí hệ thống đèn chiếu sáng sao cho có hiệu quả cũng như sử dụng các thiết bị tiết kiệm điện tự động để giảm thời gian chiếu sáng… 1.5.4. Ưu điểm, hạn chế của dạy học dự án Khi áp dụng dạy học dự án, ta có thể thấy những ưu điểm nổi bật như: – Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học. – Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm, sáng tạo. – Phát triển năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp. – Phát triển năng lực cộng tác làm việc, hỗ trợ kĩ năng giao tiếp. – Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn. – Phát triển năng lực đánh giá.

29. + Các dự án có tầm vóc thời đại mang tính liên môn cao có thể thực hiệnchung với các môn học khác như: an toàn phóng xạ, chế ngự thiên tai, ngăn ngừa thảm họa, xử lí môi trường.. Tóm lại DHDA là một phương pháp dạy học để thực hiện quan điểm dạy họcđịnh hướng vào người học, quan điểm dạy học định hướng hoạt động. DHDA góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham gia tích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc tự lực, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học.

Chó Bi Giun Sán Và Cách Chữa

5.1. GIUN ĐŨA (Toxocara canis) 5.1.1. Đặc điểm: Toxocara canis ký sinh ở ruột non của chó, mèo. Thường thấy ở chó dưới 6 tháng tuổi. 5.1.2. Phân loại + Họ : Anisakidae + Loài: Toxocara canis 5.1.3. Đặc điểm hình thái cấu tạo

Toxocara canis ký sinh ở ruột non, bao tử của chó. Đầu hơi cong về mặt bụng có 3 môi, cánh đầu rộng, giữa thực quản và dạ dày ruột có dạ dày nhỏ, đây là một đặc điểm của họ Anisakidae. Con đực dài 50-100 mm, đuôi cong hơi tù, có cánh đuôi, có 2 spicule dài bằng nhau dài 0,075- 0,085 mm. Giun cái dài 90-180 mm, đuôi thẳng. Trứng hơi tròn kích thước 0,080 – 0,085 x 0,064-0,072 mm. Vỏ trứng dày màu vàng có lợn cợn như tổ ong. 5.1.4. Chu trình sinh học Trứng theo phân ra ngoài gặp điều kiện thuận lợi sau 5 ngày phát triển thành trứng có chứa ấu trùng gây nhiễm L2. Vật chủ cuối cùng ăn phải tới ruột ấu trùng được giải phóng theo mạch máuvề gan lột xác thành L3 lên tim, lên phổi sau đó ra khí quản được chó mèo nuốt trở lại ruột non lột xác 2 lần phát triển thành trưởng thành sau 1 tháng. Ấu trùng có thể di hành qua bào thai về phổi của thai lột xác thành L3. Khi được thai nhi nuốt xuống ruột phát triển thành trưởng thành sau 3 tuần. Khi chó con bú mẹ lẫn L3 vào ruột lột xác 2 lần thành trưởng thành. Một số ấu trùng do đi lại chỗ mà đóng kén Toxaskar ở chó ăn phải trứng, sẽ trở thành vật chủ tích trữ của Toxocara. Khi chó, mèo ăn phải sẽ bị nhiễm giun trưởng thành. 5.1.5. Triệu chứng, bệnh tích – Triệu chứng: Chó mất tính thèm ăn, thiếu máu gầy còm, chậm lớn, tiêu chảy, bụng to, ói mửa có lẫn cả giun. Những triệu chứng này thường thấy ở chó dưới 2 tháng tuổi. Chó có triệu chứng thần kinh, co giật. Ấu trùng di hành qua mặt thận, gan, phổi, não gây hoại tử các cơ quan và gây viêm phổi, phù thủng, xuất huyết. – Bệnh tích: – Ruột to hơn bình thường bên trong chứa nhiều giun, có khi gây tắc ruột hoặc vỡ ruột, làm tắc ống dẫn mật và vỡ ống dẫn mật. Niêm mạc ruột viêm cata xuất huyết. Nếu bệnh nặng gây viêm phúc mạc 5.1.6. Chẩn đoán Xét nghiệm phân tìm trứng theo phương pháp phù nổi, Willis hoặc trực tiếp, hoặc có thể dựa vào triệu chứng ói mửa, gầy còm, những lúc ói mửa có cả giun ra đường miệng. 5.1.7. Điều trị: – Cần kiểm tra định kỳ ít nhất 1 tháng 1 lần đối với chó con và 3 tháng 1 lần đối với chó mèo trưởng thành. Khi phát hiện thấy nhiễm định kỳ dùng thuốc để tẩy cho chó mèo. – Diệt vật chủ gậm nhấm, không cho chó tiếp xúc với cáo, chó sói và các loại thú ăn thịt. Không thả rong chó. – Nuôi dưỡng chăm sóc tốt để nâng cao sức đề kháng. – Sát trùng nơi nhốt chó bằng NOVADINE hoặc NOVAXIDE – Khi chó mèo hoặc các loại thú ăn thịt nhiễm giun đũa nên dùng cá loại thuốc sau của công ty ANOVA như sau: – Dùng thuốc NOVA-LEVA: 1 ml/ 15 kg thể trọng. Tiêm sâu vào bắp thịt, 1 liều duy nhất. + Thú non dưới 6 tháng tuổi: 2 tháng tẩy giun 1 lần. + Thú trên 5 tháng tuổi: 3-4 tháng tẩy giun 1 lần. – Dùng thuốc NOVA MECTIN 0,25%: + Phòng bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 6 kg thể trọng, 2 tháng 1 lần. + Trị bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 4 kg thể trọng, 2 tháng 1 lần – Dùng thuốc NOVA MECTIN 1%: + Phòng bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 25 kg thể trọng, 2 tháng 1 lần. + Trị bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 16 kg thể trọng, tuần 1 lần, trong 3 tuần. Trong thời gian điều trị cần nhốt thú nơi khô ráo, sạch sẽ, tránh phụ nhiễm. – Dùng thuốc NOVA-LEVASOL: 1g/ 8 kg thể trọng. Trộn đều thuốc vào 1 ít thức ăn hoặc pha vào một ít nước uống. + Thú non: Mỗi 2 tháng xổ 1 lần. + Thú lớn: Mỗi 6 tháng xổ 1 lần. 5.2. Giun móc (Ancylostoma caninum) 5.2.1. Đặc điểm: Ancylostoma caninum ký sinh ở ruột non chó mèo. 5.2.2. Phân loại5.2.3. Đặc điểm hình thái cấu tạo: ký sinh ở ruột non chó, mèo. Bao miệng mỗi bên có 3 đôi răng chia 3 nhánh. Con đực dài 9-12 mm. Đuôi phát triển có túi chitin. Spicule dài bằng nhau dài 0,74 -0,87 mm, đoạn cuối nhọn. Lái dài 0,13-0,21mm. Trứng hình bầu dục, hai đầu thon đều gồm 2 lớp vỏ. Trứng mới thải ra bên ngoài trong có 8 tế bào phôi.

Hình 3. Hình dạng trứng giun móc 5.2.4. Chu kỳ phát triển – Trứng theo phân thải ra ngoài gặp điều kiện ngoại cảnh thích hợp sau 20 giờ tới một vài ngày hình thành ấu trùng trong trứng. Au trùng chui ra khỏi trứng qua 6-7 ngày, lột xác 2 lần để tạo thành ấu trùng gây nhiễm (L3). Ấu trùng gây nhiễm dài 0,59-0,69 mm, có thể bò ở nền chuồng hay cây cỏ quanh chuồng. Nếu gia súc ăn phải ấu trùng gây nhiễm vào trong phổi, lột xác lần 3 tạo L4, về ruột lột thành L5 sau 14 -20 ngày trở thành dạng trưởng thành. – Đường gây nhiễm chủ yếu cho chó mèo và gia súc, là đường chui qua da. Gia súc non dễ bị ấu trùng xâm nhập qua da hơn là gia súc trưởng thành. Ấu trùng gây nhiễm dạng còn non dễ xâm nhập qua da hơn là ấu trùng già. Khi xâm nhập qua da chỉ 40 phút tất cả các ấu trùng chuyển vào hệ thống tuần hoàn của chó. Trong 2 ngày đầu ấu trùng xâm nhập vào phổi nhiều nhất sau đó về ruột và phát triển thành trưởng thành. Trong khi cho con bú, L3 trong máu sẽ truyền qua sữa và gây nhiễm cho chó con. Ấu trùng cũng có thể bị chặn lại ở mô cơ của ruột non mà không phát triển thành dạng trưởng thành. Ở Uncinaria tương tự như Ancylostoma. Khi nhiễm qua đường miệng không có quá trình di hành. 5.2.5. Triệu chứng và bệnh tích – Triệu chứng: Chó có thể chết nếu không được chữa bệnh và chăm sóc tốt mặc dù giun móc không có nhiều . Chó thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, gầy còm, suy nhược. Khi nhiễm nặngchó, mèo bỏ ăn, kiết lỵ, táo bón, phân có lẫn máu.– Bệnh tích: Mổ khám thấy có nhiều giun cắn sâu vào niêm mạc ruột ở giai đoạn không tràng. Niêm mạc ruột viêm cata và loét, hoặc xuất huyết chảy máu. Giun móc hút máu và làm chảy máu nên vật thiếu máu trầm trọng và gầy rạc.

Hình.4. Niêm mạc ruột bị viêm do giun móc cắn ở giai đoạn không tràng 5.2.6. Chẩn đoán Dựa vào triệu chứng thiếu máu và chó thường chết nhanh để chẩn đoán. Cần xét nghiệm phân tìm trứng theo phương pháp phù nổi, Willis. Trứng giun móc chó dễ dàng nhận biết qua xét nghiệm. Trứng của giun móc Ancylostoma giống trứng của Uncinaria, chỉ có điểm khác biệt là trứng của Ancylostoma nhỏ hơn. Ở chó con khi triệu chứng đã xuất hiện vẫn không thấy trứng giun móc trong ruột. Nếu có 5000 trứng/ gam phân có dấu hiệu lâm sàng và thiếu máu. Nếu có 11.000 trứng/gam phân coi như nhiễm nặng. 5.2.7. Điều trị: – Chăm sóc nuôi dưỡng, chăm sóc chó, mèo chu đáo. Nếu thấy chó, mèo gầy ốm, thiếu máu cần kiểm tra phân, hoặc cho chó mèo uống các loại thuốc tẩy giun móc cho chó, mèo. – Xung quanh nhà ở nên phát quang các bụi cây để cho có ánh nắng trực tiếp xuống xung quanh nhà sẽ có tác dụng diệt trứng và ấu trùng. – Nuôi dưỡng chăm sóc tốt để nâng cao sức đề kháng. – Có thể định kỳ dùng thuốc trị và phòng cho chó, mèo. – Nên dùng thuốc cho chó mẹ 1 lần trong khi mang thai và 2 lần sau khi đẻ. – Dùng thuốc NOVA-LEVA: 1 ml/ 15 kg thể trọng. Tiêm sâu vào bắp thịt, 1 liều duy nhất. + Thú non dưới 6 tháng tuổi: 2 tháng tẩy giun 1 lần. + Thú trên 5 tháng tuổi: 3-4 tháng tẩy giun 1 lần. – Dùng thuốc NOVA-LEVASOL: 1g/ 8 kg thể trọng. Trộn đều thuốc vào 1 ít thức ăn hoặc pha vào một ít nước uống. + Thú non: Mỗi 2 tháng xổ 1 lần. + Thú lớn: Mỗi 6 tháng xổ 1 lần. 5.3. Giun tim Dirophilaria immitis 5.3.1. Đặc điểm Do một số loài ký sinh trong động mạch chủ, trong tim, dưới da, trong hốc cơ thể, xung quanh thực quản và các cơ quan của chó mèo và thú ăn thịt. Dirofilaria immitis (Leidy, 1856) ký sinh ở động mạch phổi, động mạch chủ và tim của chó. 5.3.2. Đặc điểm hình thái cấu tạo: Giun có màu trắng ngà mảnh và dài. Con đực 120-180 mm hai spicule không bằng nhau dài 0,216-0,318 mm và 0,188-0,200 mm. Con cái dài 250-300 mm. Âm hộ cách đầu 1,6-2,8 mm. Giun đẻ ra ấu trùng. Ấu trùng Microfilaria dài 0,220-0,290 mm rộng 0,007 mm và có vỏ bọc bên ngoài. 5.3.3. Chu kỳ sinh học Cần có sự tham gia của vật chủ trung gian là muỗi Anopheles hyrcanus var sinensis, A. vagus, Myzorhynchus preudopictus, Stegomyia fasciata, S. albopicta, Culex fatigans, Bọ chét Ctenocephalides felis, C.canis. Ngoài ra còn có muỗi Aedes và cả ve hút máu. Muỗi hút máu hút cả Microfilaria vào ống malpighi sau 10 ngày trở thành ấu trùng cảm nhiễm ( L3) sau đó chuyển lên vòi của muỗi. Khi hút máu gia súc Microfilaria xâm nhập vào vật chủ di chuyển về tim và động mạch phổi sau 85-120 ngày, sau đó phát triển thành trưởng thành trong động mạch mất khoảng từ 8-9 tháng. Giun có thể sống trong cơ thể chó từ 3-5 năm. 5.3.4. Triệu chứng và bệnh tích – Triệu chứng: Khi nhiễm nặng chó khó thở và kiệt sức, thiếu máu, viêm thận, viêm bàng quang, nước tiểu có máu. Chó ói mửa liệt chân phù thủng và rối loạn hoạt động của tim. Đầu chó hay nghiêng về một bên. Những nốt sần chứa đầy tương dịch và xung huyết. Máu bị phân giải gây hemoglobin niệu và bilirubin niệu. – Bệnh tích: Tâm nhĩ phải nở to, viêm cơ tim gây tắc mạch và nút mạch máu. Thành của tâm thất phải bị rách. Tổ chức xung quanh thực quản có nhiều khối u, xơ hóa và cứng. Da viêm những chỗ có ấu trùng giun thường bị xơ hóa. 5.3.5. Chẩn đoán – Xét nghiệm máu tìm ấu trùng theo phương pháp tập trung. Lấy 5-10 ml máu cho vào ống nghiệm, cho thêm một ít dung dịch chống đông máu. Để yên trong phòng 30 phút hoặc ly tâm trong vòng vài phút. Dưới đáy ống nghiệm là hồng bạch cầu và huyết thanh Microfilaria thường nằm ở giữa hồng cầu và huyết thanh. Dùng pipet hút nhẹ lớp dung dịch ở giữa hồng bạch cầu và huyết thanh nhỏ lên lam kiểm tra. Larvae của Dirofilaria đầu thon, đuôi thẳng chuyển động ngoe nguẩy. Kích thước lớn hơn 0,300 mm, phía ngoài ấu trùng có màng bọc. – Chẩn đoán huyết thanh học: Giun chỉ ở chó mèo khi chẩn đoán nếu dùng kháng nguyên gắn kết để tìm kháng thể không chính xác. Tạo kháng thể đơn dòng gắn kết sau đó xác định kháng nguyên trong vòng tuần hoàn cho kết quả chính xác hơn. 5.3.6. Phòng và trị bệnh – Dùng thuốc trị ấu trùng khi phát hiện chó có nhiễm larva. – Diệt muỗi và vật chủ trung gian hút máu. – Phòng chống muỗi đốt chó bằng kem hoặc các thuốc bôi thoa… – Thường xuyên phòng bằng thuốc diệt larva – Dùng thuốc NOVA-LEVA: 1 ml/ 15 kg thể trọng. Tiêm sâu vào bắp thịt, 1 liều duy nhất. + Thú non dưới 6 tháng tuổi: 2 tháng tẩy giun 1 lần. + Thú trên 5 tháng tuổi: 3-4 tháng tẩy giun 1 lần. – Dùng thuốc NOVA MECTIN 0,25%: + Phòng bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 6 kg thể trọng, 2 tháng 1 lần. + Trị bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 4 kg thể trọng, 2 tháng 1 lần – Dùng thuốc NOVA MECTIN 1%: + Phòng bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 25 kg thể trọng, 2 tháng 1 lần. + Trị bệnh: Tiêm dưới da 1ml/ 16 kg thể trọng, tuần 1 lần, trong 3 tuần. Trong thời gian điều trị cần nhốt thú nơi khô ráo, sạch sẽ, tránh phụ nhiễm. – Dùng thuốc NOVA-LEVASOL: 1g/ 8 kg thể trọng. Trộn đều thuốc vào 1 ít thức ăn hoặc pha vào một ít nước uống. + Thú non: Mỗi 2 tháng xổ 1 lần. + Thú lớn: Mỗi 6 tháng xổ 1 lần.

Các Dấu Hiệu Cho Thấy Gan Bi Yếu

Gan là bộ phận lớn nhất trong cơ thể, mang trọng trách giải độc gan và lọc máu. Thực phẩm, thuốc và đồ uống có thể chứa những chất gây hại cho cơ thể. Khi cơ thể hấp thụ những chất này, chính gan là bộ phận chịu trách nhiệm làm sạch cơ thể. Có một vài triệu chứng cho thấy gan của bạn trở nên xấu đi, một khi gặp phải, hãy tới gặp bác sĩ, thăm khám ngay lập tức để tránh hậu họa khó lường.

Gan sản xuất ra mật, một chất đóng vai trò quan trọng đối với quá trình tiêu hóa của cơ thể. Nếu một người đang mắc bệnh về gan, triệu chứng thường gặp nhất ở anh ta là hệ thống tiêu hóa kém. Một người thường xuyên gặp các hiện tượng như ợ chua, trào ngược axit, buồn nôn và nôn mửa thì có thể anh ta đã bị bệnh về gan. Những người này có thể bị cổ trướng, bụng phình to giống phụ nữ mang thai. Đau bụng thường đi kèm với chứng viêm cổ trướng.

Một triệu chứng thường gặp của các bệnh về gan là vàng da. Khi người bệnh bị vàng da, tức gan đã không còn đủ sức loại bỏ những sắc tố billirubin không cần thiến ra khỏi cơ thể, sắc tố này là sản phẩm của quá trình phân lọc các tế bào máu ở gan. Billirubin có thể được tích tụ trong cơ thể, dẫn tới vàng da hoặc vàng mắt. Sự chuyển màu này thường xuất hiện trong lòng trắng mắt. Thậm chí bã kẹo cao su hoặc lưỡi cũng bị biến màu khi bạn bị bệnh về gan như viêm, xơ gan.

Nhiều người gan kém thường có dấu hiệu nổi mẩn trên da hoặc có các đốm trên gan. Các triệu chứng này có thể xuất hiện ở bất kỳ đâu trên cơ thể. Các vết mẩn có thể màu đỏ hoặc hồng, gây ngứa ngáy. Trong một số trường hợp, bệnh nhân cảm thấy ngứa ngáy, một số trường hợp lại hoàn toàn không cảm thấy gì. Các chấm trên gan xuất hiện như các vết mẩn bình thường trên da, nhưng nó có màu vàng sáng. Các vết này thường không gây ngứa, khó chịu.

Lượng đường huyết và Insulin trong máu không đồng đều

Gan cùng với tuyến tụy có vai trò điều chỉnh lượng đường huyết trong cơ thể. Thông thường, khi cơ thể cảm nhận được lượng đường huyết quá cao, nó sẽ sản xuất ra insulin tự do giúp giảm lượng đường trong máu tới một mức vừa phải. Khi gan bị tổn thương hay hủy hoại, quá trình này không thể hoạt động bình thường. Một người có chức năng gan kém có thể có lượng đường huyết thấp hay lượng đường huyết cao. Lượng đường huyết thấp có thể dẫn tới chết não nếu không được điều trị kịp thời. Tương tự như vậy, lượng đường huyết cao có thể dẫn tới tổn thương gan, gây hôn mê và thậm chí tử vong.