Vi Sao Toi Theo Dao Phat Mc Huu Luan / Top 10 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Channuoithuy.edu.vn

Tieu Luan Triet Hoc: Triet Hoc Phat Giao

III. Nhân sinh quan Phật giáo.

Từ một vũ trụ quan căn cứ trên những thuyết nhân duyên sinh, thuyết sự vật duyên khởi đi đến nhận thức là vô thủy, vô chung, từ những thuyết vô thường, vô ngã bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu về những quan niệm của Đạo Phật về vấn đề nhân sinh quan. Ở đây chúng ta sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi:

– Con người là gì ? Từ đâu mà sinh ra? Chết rồi đi đâu ?

Vị trí của con người trong Đạo Phật.

– Quan niệm của Phật về các vấn đề:bình đẳng, tự do, dân chủ….

– Có phải cuộc sống chỉ toàn là đau khổ ? và vấn đề giải thoát trong Đạo Phật là gì ?

Trước khi trả lời các câu hỏi trên chúng ta sẽ tìm hiểu và phân tích Tứ diệu đế vì đây là giáo lý kinh điển của Phật giáo bao quát toàn bộ các vấn đề trên.

Tứ diệu đế hay còn gọi là tứ chân đế hay tứ thánh đế, là bài thuyết pháp đầu tiên của Phật sau khi thành đạo tại vườn Lộc giã cho năm từ khưu trước kia đi theo Phật.

Tứ đế là đạo lý căn bản của Thanh Văn Thừa, đồng thời cũng là cơ sở của các thuyết khác trong giáo lý Phật. Tứ đế gồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế.

Trong tứ đế, Phật đưa ra đầu tiên vấn đề khổ, rồi giảng cho ta thấy vì sao mà khổ , phương pháp diệt khổ và con đường đi đến diệt khổ.

Nói như thế có người hiểu lầm cho rằng đạo Phật chủ trương cuộc đời chỉ toàn là khổ, và đạo Phật là đạo yếm thế. Thực ra, đạo Phật nhìn cuộc đời một cách khách quan, không ru người ta vào một giấc mơ Niết Bàn hay cực lạc và cũng không làm cho người ta sợ hãi, chán nản bởi những đau khổ trong cuộc sống. Phật chỉ cho chúng ta nhận thức sự vật, cuộc đời theo chân tướng của nó và chỉ dẫn cho chúng ta đi đến giải thoát.

Danh từ Dukkha của tiếng Xantít ta thường dịch là khổ là chưa thật hết nghĩa nên mới dẫn đến những hiểu lầm trên.

Trong phép tướng duy thức có nói đến ba loại thụ: khổ thụ, lạc thụ, xả thụ. Như vậy không phải chỉ có khổ thụ mà còn có lạc thụ. Đối với cảnh nghịch sinh ra khổ thụ nhưng đối với cảnh thuận thì sinh ra lạc thú. Các cảnh có thể làm cho người ta vui hoặc khổ hoặc không vui, không khổ. Đạo phật không phủ nhận những cảm giác vui (lạc thú ) của cuộc đời mà còn phân tích ra nhiều hình thức vui. Nhưng những cái vui ấy, cũng như những cái khổ ấy đều bao gồm trong danh từ Dukkha, vì những cái vui, cũng như những cái khổ ấy đều là vô thường hư giả.

Dù người tu hành chứng được những trạng thái thiền định cao siêu thì những lạc thú siêu thoát ấy vẫn là Dukkha vì những người tu hành ấy chưa thoát khỏi tam giới vô thường, hư giả.

Khổ thụ và lạc thụ đều là Dukkha cả, do đó chúng ta phải diệt là diệt cái Dukkha ấy chứ không phải là tránh khổ, tìm vui như thế gian thường hiểu, thường lầm.

Theo cách phân tích khác Phật chia cái khổ ra làm 8 loại:

1, Sinh khổ: Đã có sinh là có khổ vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật vô thường chi phối nên khổ.

2, Lão khổ: người ta mong muốn trẻ mãi nhưng cái già theo thời gian vẫn cứ đến. Cái già vào mắt thì mắt bị mờ đi, cái già vào lỗ tai thì tai bị điếc, vào da, xương tủy thì da nhăn nheo, xương tủy mệt mỏi. Cái già tiến đến đâu thì suy yếu đến ấy làm cho người ta phiền não.

3, Bệnh Khổ: Trong cuộc sống, thân thể thường ốm đau, nhất là khi già yếu, thân thể suy nhược, bệnh tật dễ hoành hành làm cho người ta đau khổ.

4, Tử khổ : Là cái khổ khi người ta chết. Chứng sinh do nghiệp báo chịu cái thân nào thì gắn bó với cái thân ấy coi như cái thân duy nhất của mình thì khi chết thì phiền não vô cùng.

5, Cầu bất đắc khổ: Người ta thường chạy theo những điều mình ưa thích, mong cầu hết cái này đến cái khác. Khi chưa cầu được thì phiền não, khi cầu được rồi thì phải lo giữ nó, nếu nó mất đi thì lại luyến tiếc.

6, Ái biệt ly khổ: nỗi khổ khi phải chia ly.

7, Oán tăng hội khổ: những điều mình chán ghét thì nó cứ tiến đến bên mình.

8, Ngũ ấm xí thịnh khổ: ngũ ấm ấy là sắc ấm, thụ ấm, tưởng ấm, hành ấm, thức ấm. Ngũ ấm ấy che lấp trí tuệ, phải chịu cái khổ luân hồi trong vô lượng kiếp.

Tập đế còn gọi là nhân đế, là những nguyên nhân tạo thành sự khổ. Những nguyên nhân đó không phải tìm đâu xa mà ở ngay trong mỗi chúng ta. Nguyên nhân thì có nhiều nhưng có thể tóm lại như sau:

1. Tham lam. 2. Giận dữ. 3. Si mê. 4. Kiêu mạn. 5. Nghi ngờ. 6. Thân kiến ( tưởng thân thể là thực có là trường tồn). 7. Biên kiến ( sự hiểu biết một mặt như chấp đoạn, chấp thưởng ). 8. Tà kiến ( sự hiểu biết không đúng ). 9. Kiến thử ( chấp trí hiểu biết của riêng mình là đúng). 10. Giới cấm tu ( tu hành không chính đạo ).

Ba nguyên nhân chính ( tham, sân, si) Phật còn gọi là tam độc, là nguồn gốc của mọi sự khổ. Nguyên nhân của tam độc là do ái dục và vô minh được thể hiện trong công thức sau:

Đạo Phật là một đạo không chỉ để người ta học mà chủ yếu cho người ta hành. Thực ra, những cái mà ta học được trong kinh điển mới chỉ là một kiến thức lỏng lẻo có tính chất lý thuyết. Ta mới chỉ nghe thấy nói đến những thuyêt vô thường, vô ngã, sắc không… mà thôi. Còn tu hành là phải gắng sức thực nghiệm những chân lý đó. Hiểu đạo không phải chỉ là nghiệm đạo qua kinh điển mà phải trải qua học đạo, tu đạo, chứng đạo. Thời đại ngày nay là thời đại của phát triển, của khoa học kỹ thuật và công nghệ mới. Để phù hợp với sự phát triển đó, con người cần phải có tham vọng lớn, năng động, lạc quan, tin tưởng, dũng cảm sáng tạo. Nhưng không vì thế mà con người ngày nay xa rời với con người của Phật giáo: từ, bi, hỷ, xả. Con người có tham vọng nhưng không tham nhũng cái do người khác làm ra, không vun vén lợi ích cho riêng mình biết kết hợp những phẩm chất đạo đức của con người Phật giáo với tư cách, trí tuệ của con người hiện đại là chúng ta tự hoàn thiện mình, cùng nhau xây dựng một xã hội văn minh, hạnh phúc.

Qua những vấn đề cơ bản trong Phật học, ta thấy Đạo Phật là một hệ thống tư tưởng thống nhất quy tụ về Nhất Thừa Phật pháp. Tất cả giáo lý Phật là nền tảng cho việc xây dựng con người vị tha và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình, tiến tới con người vị tha và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình, tiến tới con người từ, bi, hỷ, xả, con người Phật. Vì thế vấn đề nhân vị trong đạo Phật là một vấn đề quan trọng vì đạo Phật cho rằng con người là tất cả, con người quyết định số phận của mình, quyết định hình thái xã hội. Con người ác chỉ biết lợi mình hại người tạo ra một xã hội với áp bức bất công. Con người thiện, sống vị tha xây dựng một xã hội tiến bộ, lành mạnh.

Người học Phật, tu Phật hàng ngày phải sống với đạo, thực nghiệm đạo, không một phút nào xa lìa đạo. Trong mọi hoạt động của thân, khẩu, ý đều phải gắn liền với Đạo, thể hiện Đạo. Với cách sống như thế, người tu hành luôn là người dũng cảm có đủ nghị lực chiến thắng ngũ dục, chiến thắng những bất công áp bức.

Và một đặc điểm lớn nhất của đạo Phật là suốt đời, Phật không bao giờ tự nhận là người duy nhất đem lại sự giải thoát cho loài người. Phật nói: Con người ai ai cũng có Phật tính. Trước người đã có hằng hà sa số Phật.

Sự giải thoát không chỉ nhằm đấu tranh chống những áp bức về xã hội về kinh tế như lịch sử Phật giáo đã chứng minh mà sự giải thoát nhằm tiêu diệt tận gốc mọi đau khổ là tham lam và dục vọng. Việc giải phóng này là con người phải tự lực đảm nhiệm, không ai có thể làm thay được và mỗi người đều coi sự giải thoát là cứu cánh cuối cùng của cuộc đời.

Như vậy, đạo Phật đã đặt con người lên một vị trí hết sức quan trọng và cao quý. Hạnh phúc của con người là do con người xây đắp nên. Con người thấm nhuần giáo lý Phật, con người vị tha, từ, bi, hỉ, xả sẽ kiến lập một xã hội hoà bình, an lạc, công bằng, mọi người sống vì lợi ích của nhau, còn tập thể.

Trái lại. con người ích kỷ chỉ biết mình, hại người, con người sống tàn bạo, độc ác thì cái gì trong tay con người cũng sẽ trở thành khí cụ sát hại và xã hội của những con người ấy sẽ là xã hội địa ngục, xã hội áp bức bóc lột.

(Sưu tầm)

Vien Chien Luoc Phat Trien

Tại buổi sinh hoạt, Ths. Nguyễn Quỳnh Trang đã giới thiệu đến các nghiên cứu viên trong Viện về phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng; đặc điểm, nguyên tắc, công cụ và lợi ích sử dụng phương pháp PRA; áp dụng phương pháp PRA ở Việt Nam. PRA là viết tắt của Participatory Rural Appraisal. Phương pháp PRA là cách tiếp cận từ dưới lên, khai thác các nguồn thông tin từ người dân, giúp họ tự tìm ra vấn đề và biện pháp khắc phục. Phương pháp này xuất hiện từ năm 1980 tại Ấn Độ và Châu Phi, do các nhà hoạt động trong công tác xóa đói giảm nghèo của Anh (Robert Chamber) nghiên cứu. Phương pháp PRA được phát triển từ phương pháp RRA (Rapid Rural Appraisal).

Nguyên tắc của phương pháp PRA là chủ yếu sử dụng kết quả định tính, kết quả định lượng chỉ mang tính hỗ trợ; kiểm tra chéo các nguồn thông tin từ các nhóm đối tượng khác nhau; vận dụng linh hoạt, sử dụng các phương tiện đơn giản, dễ hiểu; bình đẳng trong sự tham gia, tránh phân biệt giới và đối xử thiếu công bằng.

Phương pháp PRA cũng mang lại một số lợi ích như: nâng cao được tính xác thực, tính hiệu quả, bền vững cho quá trình xóa đói giảm nghèo và phát triển; tạo ra công bằng xã hội trong xóa đói giảm nghèo và phát triển; làm giảm bớt đi được sự phụ thuộc vào nguồn lực của nhà nước vì thông qua quá trình PRA sẽ phát huy được trách nhiệm của người dân trong phát triển cộng đồng.

Chủ đề sinh hoạt cũng đã nhận được nhiều ý kiến trao đổi xoay quanh vấn đề làm thế nào để có thể áp dụng phương pháp này vào Việt Nam một cách hiệu quả cũng như lồng ghép phương pháp vào các quy hoạch, chiến lược mà Viện thực hiện trong thời gian tới.

Kết thúc buổi sinh hoạt, Ths. Nguyễn Thu Lan, Phó trưởng ban Ban Phát triển nhân lực và xã hội cảm ơn bài chia sẻ của Ths. Nguyễn Quỳnh Trang và mong muốn sẽ có nhiều buổi sinh hoạt khoa học như thế này để các nghiên cứu viên trong Viện cùng tìm hiểu, nghiên cứu và chia sẻ những thông tin bổ ích./.

Nguồn: Viện Chiến lược phát triển.

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 Mc

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 3 MC-C Bài 1-50 Cây vả không trái

Điều làm chúng ta khó sám hối đó là cảm thấy mình ở trong tình trạng an toàn. Đức Giêsu nói về hai biến cố nóng hổi tính thời sự, một do sự tàn ác của Philatô, một do tai nạn lao động. Cả hai đều dẫn đến cái chết thảm khốc: những người Galilê bị đổ máu ngay lúc dâng lễ ở Đền Thờ, mười tám người chết vì bị tháp Silôa đè bẹp. Vào thời Đức Giêsu, họ bị coi là kẻ có tội, bị Chúa phạt. Những người khác dễ nghĩ mình vô tội, vì còn được bình yên. Điều này đưa đến sự tự hào và an toàn giả tạo. “Đừng tưởng…”: Đức Giêsu đưa ta ra khỏi ảo tưởng về mình. Ngài nhắc mọi người sám hối vì biết ai nặng tội hơn ai. Lúc còn được sống yên lành là lúc cần hoán cải. Có thể đây là cơ hội cuối cùng, trước khi cái chết ập xuống. Cây vả trong dụ ngôn cũng ở trong tình trạng an toàn. Nó không cho trái độc, không làm hại nho, không phá cảnh quan. Nó chỉ phạm một tội thôi: tội làm hại đất, tội sử dụng đất màu mỡ mà không sinh trái. Chúng ta có thể cảm thấy an toàn như cây vả cằn cỗi. Tự hào vì mình không làm điều xấu, chẳng làm hại ai, nhưng lại quên rằng mình đã phạm tội không làm điều tốt, những điều tốt có thể làm được và phải làm. Có bao nén bạc Chúa giao không được đầu tư (Mt 25,18), bao người túng thiếu mà ta không giúp đỡ (Mt 25,42). Khi không làm điều tốt cho đời, cho người, ta tiếp thêm sức mạnh cho sự dữ tung hoành. Sống đạo không phải chỉ là lo tránh tội, mà còn là tích cực gieo rắc phát huy cái tốt. Một Kitô hữu sống an phận, cằn cỗi là một phản chứng. Thế giới cần những Kitô hữu dấn thân biết bao! Dụ ngôn cây vả cho ta thấy khuôn mặt Thiên Chúa. Chúa Cha là người chủ vườn kiên nhẫn: “Đã ba năm nay…” Ngài đã nuôi bao hy vọng: “Tôi ra tìm trái mà không thấy”. Quyết định chặt cây chỉ đến sau những lần hụt hẫng. Ngài chỉ phạt khi đã làm đủ cách để lay động tim ta. Chúa Giêsu là người làm vườn kiên nhẫn không kém: “Xin ông cứ để nó lại năm nay nữa”. Ngài không ngừng ấp ủ chút hy vọng mong manh: “Tôi sẽ vun xới, bón phân, may ra sang năm nó có trái”. Nhưng đừng quên lời đe dọa cuối cùng: “Nếu không ông chủ cứ chặt nó đi”. Kiên nhẫn, hy vọng, chăm bón, nhưng cương quyết đòi hỏi: đó là thái độ của Thiên Chúa đối với tội nhân. Đức Giêsu vừa thôi thúc chúng ta mau mau hoán cải, vừa chấp nhận cho ta có thời gian trì hoãn. Hoán cải là đón lấy những săn sóc tế nhị của Chúa, là đừng để thui chột những ơn lành Ngài ban. Mùa Chay không phải chỉ là để thú tội, mà còn thú cả sự cằn cỗi, ì ạch của mình. Ước gì cây đời của ta có nhiều trái hơn và ngọt hơn.

Tội thiếu sót việc bổn phận, tội sống vô trách nhiệm, tội không làm điều lẽ ra phải làm: có khi nào bạn phạm những tội này không? Bạn có thấy xã hội xấu đi vì nhiều người thản nhiên phạm thứ tội này không? Bạn nghĩ gì về cây vả của đời bạn? Tình trạng này hiện nay của nó ra sao? Làm sao để có thêm nhiều trái ngọt?

Lạy Chúa Giêsu, xin dẫn con vào nhà của con, căn nhà của trái tim, căn nhà vừa quen vừa lạ. Xin hãy cho con thấy những phức tạp, rắc rối, những che đậy, giằng co, những mâu thuẫn và vô lý nơi con. Xin hãy cho con thấy những nhỏ mọn, ích kỷ, những yếu đuối, khô khan, những cứng cỏi và tự ái nơi con. Xin cho con ý thức những lo âu, sợ hãi đang đè nặng làm con ngột ngạt, những nỗi đau thầm kín khiến đời con mất vui, những vết thương không biết bao giờ lành, những đổ vỡ khiến lòng con khép lại. Lạy Chúa Giêsu, Xin giúp con dọn những bề bộn nơi tim con. Xin biến đổi tim con, để nó trở nên đơn sơ hơn, hồn nhiên hơn và tươi tắn hơn. Ước gì con nhìn mọi sự, mọi người, bằng trái tim bao dung của Chúa. Và ước gì khi đã ra khỏi nỗi bận tâm về mình, trái tim con được nhẹ nhàng hơn và tự do hơn để yêu mến mọi người. Amen.

Lời Chúa hôm nay mời gọi mọi người sám hối, vì Thiên Chúa là Đấng luôn nhân từ hay thương xót, Ngài luôn động lòng trước nỗi thống khổ của con người, Ngài luôn thương và cứu giúp con người. Thiên Chúa giải phóng dân Người Dân Do Thái bị bóc lột, bị đàn áp và bị tiêu diệt từng ngày. Trong cùng quẫn, họ đã kêu lên Thiên Chúa, và Ngài đã giải phóng họ bằng việc sai gởi Môsê tới lãnh đạo dân, thương lượng với vua Pharaô, đưa dân ra khỏi Ai-cập. Thiên Chúa động lòng trước nỗi khổ của dân Do Thái, trước nỗi khổ của Môsê lang bạt trong hoang địa khi trốn chạy Pharaô. Thiên Chúa đã hiện ra cho Môsê qua bụi gai bốc cháy mà không tàn, để sai Môsê đi giải phóng dân. Môsê lãnh đạo giải phóng dân, nhưng không phải Môsê lãnh đạo giải phóng dân, mà chính là Thiên Chúa giải phóng dân. Đây chính là điều dân Do Thái cần ghi nhớ để dạy lại cho con cháu. Thiên Chúa, Đấng tự hữu, luôn yêu thương và cứu trợ dân người.

Người đời cho rằng những người bị tai họa là những người tội lỗi, nên bị Chúa phạt. Nhưng Đức Yêsu lại không cho rằng những người bị Philatô sát hại cũng như những người bị thác Siloê đổ đè chết, là những người tội lỗi hơn những người còn đang sống. Đức Yêsu nói: “Không đâu! Nhưng nếu các người không sám hối, các người sẽ bị như vậy”. Những người bị nạn đó, trở thành tấm gương, là bài học để con người hôm nay nhìn vào, hầu thay đổi cách sống. Thiên Chúa vì yêu thương những người còn đang sống, hôm nay vẫn dùng bao biến cố, như những tấm gương, để răn dạy con người.Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người Dụ ngôn cây vả không sinh trái, và người làm vườn đã xin ông chủ khoan nhượng để bón phân tưới nước, hy vọng cây vả sẽ ra trái vào năm sau, bằng không thì sẽ chặt nó sau, cũng là dụ ngôn cho thấy Thiên Chúa vẫn luôn nhân từ và kiên nhẫn đối với con người tội lỗi. Xin cho con người hôm nay, cụ thể là mỗi người chúng ta, được cảm nhận lòng yêu thương nhân từ kiên nhẫn của Thiên Chúa, để mỗi người chúng ta trở về với Ngài, và sinh hoa kết trái trong đời sống. Dân Do Thái là bài học cho mọi người mọi dân tộc Dân Do Thái là dân riêng của Thiên Chúa, được Thiên Chúa thương yêu với bao đặc ân. Nhưng Thiên Chúa cũng thương mọi dân tộc như thương dân Do Thái. Họ được chọn để trở thành “tấm gương tầy liếp” (tấm gương to), cho tất cả mọi người, mọi dân tộc nhìn vào để soi, để thấy tình yêu của Thiên Chúa với dân Do Thái, và qua dân Do Thái đối với các dân tộc khác, với mọi người trên trần gian. Dân Do Thái được Thiên Chúa đưa ra khỏi Ai-cập, được Ngài nuôi ăn bằng manna, được uống nước từ tảng đá. Nhưng tất cả những điều đó, cũng là dấu chỉ, là hình bóng, cho thấy Thiên Chúa vẫn luôn nuôi sống con người qua cơm bánh họ có từng ngày. Hơn nữa, con người hôm nay còn được nuôi sống bằng mình máu Đức Yêsu nơi bí tích Thánh Thể. Cả lịch sử dân tộc Do Thái thành bài học cho con người của mọi thời đại sau này. Xin cho mỗi người cũng như mỗi dân tộc biết nhìn lịch sử dân Do Thái để nhận ra tiếng Chúa nói với mình, nhận ra tình yêu Thiên Chúa dành cho mình.

1. Qua các thiên tai cũng như những sự dữ con người gây ra, nhiều người cho rằng Thiên Chúa độc ác, với tư cách là người ki-tô hữu bạn giải thích hay trả lời họ thế nào? 2. Bạn có cảm nghiệm tình yêu của Thiên Chúa đối với bạn và những người thân của bạn qua những biến cố bao giờ chưa? Nếu được xin chia sẻ. 3. Sám hối, trở lại với Thiên Chúa, theo bạn, chủ yếu hệ tại đâu?

Có một nhà thiên văn vừa mới hoàn chỉnh được chiếc viễn vọng kính của mình. Ông đặt chiếc viễn vọng kính ấy lên sân thượng, và đêm đêm, ông nhìn các vì tinh tú trên bầu trời. Một buổi tối kia, ông bỗng khám phá ra một con rồng xanh trên mặt trăng. Ông báo cho bè bạn hay, thế là người ta ùn ùn kéo đến để được nhìn thấy con vật lạ. Ai cũng tấm tắc khen ngợi nhà thiên văn. Thế nhưng, có một nhà bác học già cũng đến để được nhìn xem con rồng. Sau khi đã xem qua, ông lắc đầu và tiếp tục quan sát thật kỹ ống kính. Cuối cùng, ông khám phá ra một sợi chỉ xanh vướng vào đầu ống kính, ông liền nói với nhà thiên văn : – Này anh bạn, trước khi quan sát các vì tinh tú, anh hãy coi lại cái ống kính của mình, xem có trục trặc chi không ? Cái ống kính viễn vọng trong câu chuyện vừa nghe là một hình ảnh tượng trưng cho cách chúng ta nhìn đời và nhìn người. Thực vậy, nhiều khi cái ống kính ấy có vướng mắc những sợi chỉ mong manh, có nghĩa là lắm lúc chúng ta đã nhìn đời và nhìn người bằng cặp mắt thiển cận. Chúng ta muốn suy bụng ta ra bụng người, chúng ta muốn lấy lòng mình làm thước đo người khác. Chúng ta muốn cư xử rộng rãi với bản thân mà lại nghiêm khắc với người khác. Chúng ta muốn lấy cái rơm trong mắt người khác mà không chịu lấy cái xà ra khỏi mắt mình. Đây cũng là trường hợp đã xảy ra cho hai biến cố mà Chúa Giêsu đã nhắm đến. Đứng trước cái chết bi thương và đẫm máu của những người bị Philatô giết chết, cũng như mười tám người khác bị tháp Siloe đổ xuống đè bẹp, dân Do thái đã mau mắn đi tới kết luận : – Sở dĩ họ bị như vậy vì họ là những kẻ tội lỗi, đáng bị Thiên Chúa trừng phạt. Thế nhưng, quan điểm của Chúa Giêsu thì khác. Ngài xác định họ không phải là những kẻ tội lỗi, đồng thời Ngài muốn dùng những biến cố ấy, những sự kiện ấy như tiếng chuông cảnh tỉnh cho chính bản thân mỗi người. Đúng thế, thay vì đánh giá người khác, chúng ta phải đánh giá chính bản thân chúng ta. Thay vì kết án người khác, chúng ta phải kết án chính bản thân chúng ta, để rồi từ đó ăn năn sám hối mà quay trở về cùng Chúa như lời Ngài đã phán : – Nếu các ngươi không chịu ăn năn, thì các ngươi cũng sẽ chết thê thảm như vậy. Từ đó chúng ta nhận thấy rằng : điều cần thiết là phải thay đổi cách nhìn, thay đổi cách đánh giá. Hãy nhìn vào bản thân mình, chứ đừng nhìn vào người khác. Hãy nghiêm khắc với bản thân mình chứ đừng nghiêm khắc với người khác. Hãy biết đấm ngực mình mà rằng : – Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng. Chứ đừng đấm ngực người khác mà rằng : – Lỗi tại anh, tại chị, tại ông, tại bà mọi đàng. Có như thế, những biến cố xảy đến trong cuộc đời mới thực sự đem lại lợi ích, bởi vì những biến cố ấy chính là tiếng chuông cảnh tỉnh thúc đãy chúng ta thoát ra khỏi tình trạng tội lỗi. Những biến cố ấy chính là lời Chúa mời gọi chúng ta vươn lên, thăng tiến bản thân và đổi mới cuộc đời, để trở nên tốt lành và thánh thiện hơn.

Bài đọc 2 của Chúa nhật III Mùa chay năm C trích thơ thánh Phaolô tông đồ gởi giáo đoàn Côrintô : “Tất cả cha ông chúng ta đã được ở dưới áng mây khi đi ngang qua biển đỏ và tất cả nhờ Môisê mà được thanh tẩy dưới áng mây và trong lòng biển. Tất cả đã cùng ăn một thức ăn thiêng liêng ; tất cả đã cùng uống một thức uống thiêng liêng. Thật vậy, tất cả đã uống nước phát xuất từ tảng đá thiêng liêng, tảng đá ấy chính là Đức Kitô. Tuy nhiên, không phải phần đông trong họ đã sống đẹp lòng Thiên Chúa, vì họ đã bị ngã gục trong hoang địa. Bao nhiêu sự kiện đó nêu gương cho chúng ta, để chúng ta đừng chiều theo dục vọng xấu xa như những người đã chiều theo nó. Anh em đừng lẩm bẩm kêu trách như một số người trong bọn họ đã làm và đã vong mạng bởi một tay sứ thần hủy diệt”. Thánh Phaolô giải thích Kinh thánh Cựu ước cho rõ nghĩa và đồng thời áp dụng vào đời sống cho giáo đoàn tại Côrintô. Phaolô đã áp dụng điều gì cho giáo đoàn Côrintô ? Chúng ta lần lượt nhận ra điều đó trong những dòng sau đây : Đọc trong toàn thể thư gửi giáo đoàn Côrintô, bài sách Thánh này nằm trong phần bàn về những liên hệ đức tin của người tín hữu. Đức tin này đòi hỏi một thái độ dứt khoát với những thói tục xấu, với việc tôn thờ không đúng trong quá khứ. Việc từ khước một số tự do vì Tin Mừng và tính cách cố gắng liên tục để chiếm đoạt trọn vẹn Tin Mừng cũng như để khỏi bị sa ngã. Thánh Phaolô viết : Cha ông chúng ta đã được ở dưới đám mây, băng ngang qua biển và tất cả đã nhờ Môisê mà được thanh tẩy dưới áng mây và trong lòng biển. Tổ phụ, áng mây, lòng biển, Môisê đưa người tín hữu Côrintô trở về qúa khứ cách đó hơn 13 thế kỷ. Việc dân Israel bỏ Ai Cập lên đường về đất hứa, các biến cố này Môisê dẫn đầu với sự trợ giúp của Thiên Chúa. Sự trợ giúp này được biểu dương bằng áng mây ban ngày và cột lửa ban đêm, bằng việc vượt qua biển đỏ an toàn. Sự trợ giúp này có tính cách thường xuyên, vì suốt cả cuộc hành trình của dân Israel, Thiên Chúa đã cho đám mây và cột lửa ngang đầu giúp cho dân. Sự trợ giúp này còn có tính cách bất thường trong những hoàn cảnh đặc biệt, vì Thiên Chúa đã cứu họ khi họ bị dồn vào thế cùng đường cũng như khi họ không còn của ăn và nước uống. Như vậy, hai biểu hiệu “áng mây” và “biển” đã nói lên ơn bảo trợ của Thiên Chúa liên tục và trọn vẹn. Sự trợ giúp này còn nói lên sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Ngài. Mây là biểu hiệu của sự hiện diện của Thiên Chúa. Ngày xưa sự hiện đó được biểu hiện qua đám mây, nhưng trong thời Tân ước, Thiên Chúa hiện diện giữa dân Ngài qua chính Con Một của Ngài nhập thể là Chúa Giêsu Kitô. Điều này thánh Phaolô nói lên trong đoạn văn tảng đá thiêng liêng là chính Chúa Kitô. Thiên Chúa đã ban cho dân Israel nhiều ân huệ trong thời gian lưu lạc trong sa mạc, nhưng dù vậy có người trong bọn họ đã sa ngã, đã phạm tội và do đó họ là đối tượng của hình phạt của Thiên Chúa. Các ân huệ không là thứ bảo đảm an toàn cho họ, nếu họ không biết sống đẹp lòng Chúa, và đây cũng chính là điều mà thánh Phaolô muốn dạy bảo các tín hữu Côrintô. Các ơn Thiên Chúa ban cho Giáo hội, cho tín hữu thật là dồi dào, nhưng chúng ta không được phép tự hào về các ơn này để rồi sống buông thả, thiếu cố gắng và sau cùng sẽ bị tai họa cho đời mình. Như vậy, Cựu ước là biểu tượng của Tân ước, Phaolô dùng nó để dạy dỗ giáo đoàn và nhắc mỗi người chúng ta hãy tỉnh thức và hãy làm trổ sinh những hoa trái tốt. Đừng an phận với những ân huệ Thiên Chúa ban cho mỗi người, nhưng chúng ta phải cộng tác với ân huệ này và làm cho nó sinh hoa trái trong cuộc đời. Hãy làm cho đời sống chúng ta triển nở thêm phong phú. Đây cũng là điều được nhắc nhớ chúng ta qua bài Phúc âm của Chúa nhật III Mùa chay mà mỗi người chúng ta cần phải lãnh nhận và áp dụng vào trong cuộc sống hằng ngày của mỗi người Kitô hữu.

Bài Tin Mừng kể lại hai câu chuyện thời sự và một dụ ngôn. Chúa Giêsu đã dùng hai mẩu thời sự này để dạy một bài học về việc phải ăn năn sám hối. Rồi Chúa kể dụ ngôn “cây vả” để nhấn mạnh thêm yếu tố : phải khẩn trương ăn năn sám hối. Câu chuyện thời sự thứ nhất do dân chúng kể cho Chúa, đó là một sự kiện mới xảy ra tại Giêrusalem : một nhóm người xứ Galilê đến tế lễ, đã bị tổng trấn Philatô ra lệnh tàn sát. Có lẽ đây là một nhóm người quá khích tranh đấu cho một nước Do thái độc lập, thoát ách ngoại bang Rôma, bằng phong trào “cứu thế” chống đế quốc ngay tại đền thờ Giêrusalem. Tổng trấn Philatô vì có trách nhiệm với Rôma, nên đã thẳng tay tiêu diệt nhóm phản loạn. Ông ra lệnh sát hại họ và lấy máu của họ hòa trộn với máu của con vật được dùng làm của lễ rồi đem tế thần. Nghe câu chuyện này, Chúa Giêsu nhắc tới một sự kiện khác, đó là vụ 18 người bị tháp Silôac đổ xuống đè chết. Chúng ta thấy : sau khi nghe người ta kể câu chuyện trên cũng như sau khi chính Chúa Giêsu kể câu chuyện sau, Ngài đều kết luận giống y như nhau : “Nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ bị giết chết y như vậy”. Do đó, chúng ta thấy rõ ràng điều Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh là ăn năn sám hối. Sau đó, Chúa Giêsu kể dụ ngôn “cây vả” để củng cố thêm cho chủ đích của Ngài và nhấn mạnh một chi tiết nữa : không những phải sám hối mà còn phải khẩn trương sám hối nữa. Chúa dùng hình ảnh cây vả để khích lệ người Do thái ăn năn sám hối. Người Do thái được ví như cây vả lâu ngày không sinh trái, nên chủ vườn là Thiên Chúa định chặt đi, nhưng người làm vườn là Chúa Giêsu xin khất một hạn kỳ : nếu sau đó mà vẫn không sinh hoa trái thì sẽ bị đốn bỏ. Cây vả được gia hạn kia chính là hình ảnh người Do thái : nếu các ông không chịu sám hối, thì chính các ông cũng sẽ chết y như những người Galilê bị Philatô giết, hoặc như những người bị tháp Silôac đè chết. Hiện thời các ông còn đứng đó chưa chết, là các ông đang ở trong tư thế cây vả được gia hạn. Nếu cây vả vẫn không sinh trái, nó sẽ bị chặt đi. Nếu các ông không chịu sám hối, các ông cũng sẽ bị hủy diệt. Bài học đã quá rõ ràng, nhắc nhở chúng ta hai điều : phải ăn năn sám hối và phải khẩn trương chứ đừng chần chừ, chậm trễ. Chúng ta có thấy bài học này cần thiết cho mình không ? Trước hết, chúng ta cần phải ăn năn sám hối, vì tất cả chúng ta đều là những kẻ có tội. Điều này thật rõ ràng. Có ai dám cho mình không có tội không ? Chắc chắn là không, vì chúng ta đều là con cháu Adong Evà : ai cũng sinh ra trong tội. Rồi mỗi người đã phạm thêm những tội cá nhân nữa. Có phải chúng ta càng thêm tuổi lại càng thêm tội không ? Do đó, việc ăn năn sám hối chúng ta phải làm mà còn phải làm thường xuyên nữa. Tiếp đến, việc ăn năn sám hối là việc khẩn trương, chúng ta phải làm ngay, không được chần chừ hay chậm trễ. Chúng ta đừng bao giờ có ý nghĩ “đâm lao theo lao”. Lỡ yếu đuối sa ngã phạm tội, rồi cho lỡ luôn, cứ kéo lê cuộc sống trong lầm lỡ đó. Hoặc là chúng ta cũng đừng ru ngủ mình bằng ý tưởng : “Đời còn dài, lo gì, đến lúc già, ăn chay đền tội còn kịp chán. Tên ăn trộm kia còn kịp ăn năn, huống chi mình”. Chúng ta có chắc mình sống tới già không ? có chắc tuổi già cô đơn, bệnh tật cho phép chúng ta dễ dàng ăn năn không ? Hay là “Trẻ đi đàng nào, già đi đàng đó”, “Cây ngả chiều nào sẽ đổ chiều ấy”. Thời gian gần đây, không hiểu tại sao người ta chết bất ưng, chết đắc kỳ tử, chết không kịp ngáp… nhiều quá. Quả thực, không ai biết mình sẽ sống bao lâu, và cũng không ai biết được khi nào mình hết sống. Mỗi người đều có thể phải đối diện với Đấng phán xét bất cứ lúc nào. Bởi vậy, ngày nào, giờ nào, phút nào cũng mang tính khẩn trương : có thể đó là ngày cuối, giờ cuối, phút cuối đối với tôi chăng? Vì thế, lời Chúa hôm nay là lời thức tỉnh chúng ta : đừng đấm ngực người khác, hãy đấm ngực mình và sám hối cho thật, cho mau kẻo trễ : trông người mà nghĩ đến ta, phận mình tội lỗi liệu mà ăn năn.

Người Pharisêu không có thì giờ dành cho người tội lỗi. Họ tin rằng những người đó chỉ là đồ bỏ đi. Đức Giêsu không đồng ý, và kể lại cho họ một câu chuyện : Vườn nho là một nơi rất đặc biệt, thường chỉ dành ra để trồng nho mà thôi. Tuy nhiên, trong dụ ngôn của mình, Đức Giêsu lại nói về một cây vả được trồng trong một vườn nho. Vào thời kỳ đó, điều này không phải là bất thường. Đất đai quá khan hiếm, đến nỗi người ta phải trồng cây ở bất cứ chỗ nào có thể được. Vậy chúng ta đang có một cây được trồng ở một nơi rất đặc biệt. Thông thường, một cây vả phải mất ba năm mới trưởng thành. Nếu đến lúc đó, mà nó vẫn không trổ sinh hoa quả, thì chắc chắn nó sẽ không thể nào đơm hoa kết trái được. Đây là trường hợp thân cây mà Đức Giêsu đang nói đến. Sau ba năm, người chủ vườn đến xem, và nhận thấy thân cây này vẫn cứ cằn cỗi. Ông ta kết luận rằng đó là một thân cây vô dụng. Nó đã rút chất bổ dưỡng từ lòng đất, mà không hề trả lại gì cả, phải chặt nó đi thôi, vì nó chiếm mất khoảng không gian có giá trị. Thế là ông bảo người làm vườn chặt bỏ thân cây này. Nhưng vốn là một người có nhiều hiểu biết về cây vả, và là một người rất kiên nhẫn, nên người làm vườn đã đáp lại “Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó. May ra sang năm, nó có trái, nếu không, thì chúng ta sẽ chặt nó đi”. Người chủ vườn đồng ý. Chúng ta không được nghe kể thêm điều gì sẽ xảy ra cho cây vả đó, nhưng không thành vấn đề. Đức Giêsu đã cho thấy quan điểm của Người : Tương tự như người làm vườn kiên nhẫn với cây vả, cũng vậy, Thiên Chúa rất kiên nhẫn với các tội nhân. Lịch sử của Giáo hội đầy rẫy các ví dụ về những cây vả cằn cỗi, nhưng cuối cùng cũng đã trổ sinh hoa quả ; nói cách khác, đó là các tội nhân đã hối cải và nên thánh. Môsê, nhân vật trung tâm của bài đọc 1, là một gương mẫu tốt đẹp. Khi còn trẻ, ông đã giết chết một người khác. Tuy nhiên, Thiên Chúa không hề loại bỏ ông. Thật vậy, ông có tính tình nóng nảy. Nhưng nơi ông vẫn có điểm tốt. Ông là một con người hiếm có – loại người không thể chấp nhận đứng yên, khi nhìn thấy xảy ra điều bất công hoặc tội ác. Chính nhờ tính cách này, mà Thiên Chúa đã chọn ông trong việc dẫn dắt dân của Người từ tình trạng nô lệ đến với tự do. Người ta có thể cho rằng Einstein là người có trí tuệ vĩ đại nhất trong thế kỷ 20. Tuy nhiên, đến năm lên 2 tuổi, ông vẫn chưa biết nói. Cha mẹ của ông rất lo lắng cho ông, đến nỗi họ đã đưa ông đi khám bác sĩ. Sau này, một trong những giáo viên của ông rất thất vọng về ông, đến nỗi đã nói rằng “Anh sẽ không bao giờ đáng giá một chút gì cả”, bởi vì chưa hề có dấu hiệu nào về sự vĩ đại của ông trong tương lai. Nhưng cha mẹ và thầy giáo của ông đã phán đoán về ông quá sớm. Một số người phát triển một cách từ từ và chậm trễ, nhưng điều đó lại càng tốt hơn. Nhưng loại người này cần có một người nào đó tin tưởng nơi họ, một người nào đó kiên nhẫn đối với họ, nếu không, nhiều tài năng sẽ bị mai một dần. Chúng ta có khuynh hướng hay khắt khe với người khác, cho đến khi chính bản thân chúng ta cần có một cơ hội thứ hai. Chúng ta phải cởi mở tâm hồn với người khác, bằng tấm lòng nhẫn nại và khoan dung, mà chúng ta mong muốn cho bản thân mình. Nhưng dụ ngôn này cũng cho thấy rõ ràng rằng đây như là một cơ hội cuối cùng. Nếu người ta khước từ hết cơ hội này đến cơ hội khác, thì khi ngày cuối cùng đến, không phải là Thiên Chúa không cho họ vào, nhưng là họ cố tình chọn loại trừ bản thân. Nhưng ai trong chúng ta muốn cho mình trở nên cằn cỗi, trong khi chúng ta có thể trổ sinh hoa quả ?

Cây vả được trồng ba năm thì tới lúc có trái. Nếu đến khi đó mà nó vẫn chưa có trái thì hầu như sẽ chẳng bao giờ có trái nữa. Đây là trường hợp của cây vả trong bài Tin Mừng hôm nay. Bởi vậy ông chủ ra lệnh đốn bỏ nó, để khỏi chật đất, để khỏi tốn công chăm sóc, để dành chỗ trồng cây khác hữu ích hơn. Nhưng người làm vườn vẫn chưa nản lòng. Người này vẫn con hy vọng nơi cây vả, nên xin ông chủ cho thêm thời hạn một năm nữa. Trong thời gian này ông sẽ tích cực bồi dưỡng và chăm sóc cho nó. Sau đó nếu nó vẫn không có trái thì mới bị chặt đi. Dụ ngôn không cho ta biết kết quả cuối cùng thế nào. Nhưng bấy nhiêu cũng đủ nói lên điều Chúa Giêsu muốn nói : cũng như người làm vườn kiên nhẫn chờ đợi cây vả ra trái, Thiên Chúa luôn kiên nhẫn chờ đợi kẻ tội lỗi ăn năn sám hối. Lịch sử đầy dẫy những thí dụ về những người nhờ được người khác kiên nhẫn cho thêm cơ hội nên về sau trở thành những vĩ nhân. Ngay trong bài đọc 1 hôm nay đã có một tấm gương : Môsê khi còn trẻ đã phạm tội giết người. Chúa không phạt ông, mà còn sử dụng tính khí nhiệt tình của ông để giải phóng dân Do thái khỏi ách nô lệ Ai Cập. Einstein mãi đến hai tuổi mới bắt đầu biết nói bập bẹ. Khi Einstein đến trường, các giáo viên cũng ngã lòng vì sự chậm chạp của ông. Vậy mà Einstein đã trở thành nhà bác học được đánh giá là nổi bật nhất của thế kỷ. Có nhiều người phát triển rất chậm và muộn màng, nhưng lại là những nhân tài. Những người như thế cần có ai đó tin tưởng họ, kiên nhẫn chờ đợi họ và tạo cơ hội cho họ. Nếu không thì kho tàng tài năng của họ sẽ bị vùi dập và mai một đi. Chúng ta biết cho chính bản thân mình thêm cơ hội. Tại sao chúng ta không làm như thế đối với người khác ?

Trong bài đọc 1 kể chuyện Chúa hiện ra với Môsê, điều đáng ngạc nhiên là Chúa không hiện ra cho ông trong đền thờ mà là trong sa mạc ; và Chúa hiện ra không phải khi Môsê đang cầu nguyện mà trong lúc ông chăn cừu. Chúa hiện ra cho Môsê ở một nơi phàm trần và trong một sinh hoạt phàm trần. Ngày nay thế giới đã trở thành một nơi phàm trần. Thật khó mà giữ được một ý thức thiêng thánh trong một thế giới như thế. Tuy nhiên, nếu không có thiêng thánh và ý thức hướng thượng, thì cuộc đời sẽ nghèo nàn và thấp hèn biết bao. Trong cuộc gặp gỡ giữa Môsê với Thiên Chúa, cảm xúc lấn át nhất xem ra là sợ hãi. Nhưng thực ra không phải thế. Khi Thánh Kinh nói về sự sợ đối với Thiên Chúa thì không phải là sợ hãi mà là kính sợ. Sợ hãi là một cảm xúc tiêu cực, nó khiến ta co rúm lại và muốn chạy trốn ; còn kính sợ là một cảm xúc tích cực, nó khuyến khích ta tiến đến gần đối tượng đang tác động lên mình, ta không cảm thấy bị hạ xuống, mà được nnag lên. Tín ngưỡng bắt đầu bằng cảm xúc kính sợ, kính sợ vì nhận biết sự cao cả của Thiên Chúa và giới hạn thấp hèn của con người. Kính sợ đi trước, và đức tin đến sau. Mà kính sợ thì bắt đầu bằng sự ngỡ ngàng. Môsê đã ngỡ ngàng khi thấy bụi gai cháy rực mà không rụi tàn. Tuy nhiên rất dễ ngỡ ngàng trước một sự kiện bất thường như thế. Ngay cả người khùng cũng biết ngỡ ngàng trước sự bất thường. Còn người khôn thì biết ngỡ ngàng trước những sự bình thường. Đây mới là vấn đề. Chúng ta ước ao được ngỡ ngàng trước một phép lạ, nhưng chúng ta không ngỡ ngàng khi ngắm cảnh hoàng hôn. Hầu hết chúng ta cảm thấy khó mà nhận ra nét cao cả và đáng ngỡ ngàng nơi những sự việc bình thường trong cuộc sống ; chúng ta không nhận ra những “phép lạ” vẫn diễn ra hàng ngày chung quanh chúng ta. Tâm tình tôn thờ bắt nguồn từ ý thức về những phép lạ như thế. Kính sợ và ngỡ ngàng có thể được khơi lên bởi những sự việc rất nhỏ bé, chẳng hạn một hạt cát, một chiếc lá hay một giọt mưa. Một đức tin cần được củng cố bằng phép lạ là một đức tin nghèo nàn. Những ai đã gắn bó với Chúa thì không cần phép lạ nữa, vì họ đã ý thức mình đang sống trong một thế giới được quyền năng Chúa bao bọc, họ nhìn đâu cũng thấy Chúa. Người nào có khả năng nuôi dưỡng đức tin của mình bằng những phép lạ đời thường thì giống như người đang ngồi nơi bàn tiệc. Dù Môsê đang đứng tại một nơi phàm trần giữa hoang địa, nhưng Chúa bảo ông rằng đó là nơi thánh. Điều gì đã khiến nơi đó thành nơi thánh ? Thưa chính là sự hiện diện của Chúa. Nếu thế thì nhà thờ cũng là nơi thánh, vì có Chúa hiện diện trong nhà thờ.

(cc.1-5) Chỉ có một mình Luca kể lại các biến cố này. Trong bầu khí chính trị sôi sục của một thuộc địa bị La Mã đô hộ, Đức Giêsu lại phải đối phó với một cái bẫy nữa của những người tìm đủ mọi cách làm hại Ngài. Nếu Ngài tránh né không có ý kiến gì về việc Philatô giết một số người vô tội thì người ta sẽ lên án Ngài là không có lòng ái quốc. Nhưng nếu Ngài lên án Philatô, họ sẽ đi tâu với nhà cầm quyền La Mã và có thể Ngài sẽ bị trừng phạt. Thường thường cây vả được trồng sau ba năm sẽ sinh trái. Kể từ năm đó cây sẽ sinh trái liên tục trong vòng mười tháng nghiã là gần như lúc nào cũng có trái. Trái cây trong ba năm tiếp theo đó không ai được phép hái ăn (Lêvi 19:23). Từ năm thứ bảy, trái cây được coi là sạch và phải làm của lễ hiến dâng lên Thiên Chúa (Lêvi 19:24). Người chủ trong dụ ngôn này đã chờ đợi sáu năm, rồi ba năm sau nữa, tức là tổng cộng chín năm trời mà cây vẫn chưa sinh trái. Dụ ngôn này không có ý muốn nói về cây cối nhưng muốn nói đến tầng lớp lãnh đạo của Do Thái thời đó gồm các luật sĩ và tư tế. Họ (được tượng trưng bởi những cây vả) đang chiếm đoạt sự sống của dân (tượng trưng bởi vườn nho; theo Isạ 5:7). Đức Giêsu tố cáo họ là đã không sinh hoa trái và cần phải bị bứng rễ đi. Sau này trong một dụ ngôn khác về vườn nho (20:19), họ hiểu ý Đức Giêsu muốn ám chỉ đến họ và đã vô cùng căm tức. Dụ ngôn cây vả của Luca đã có thêm một chi tiết khác so với hai Phúc Âm của Matthêu và Máccô. Ở đây người làm vườn khẩn khoản xin cho cây vả được thêm thời giờ để bón phân và chăm nom kỹ lưỡng hơn.

Việc xảy ra ở Ga-li-lê và tại Si-lô-a không phải là những hình phạt của Thiên Chúa. Nhưng một án phạt nặng nề hơn sẽ xảy đến ở một nơi khác: Giê-ru-sa-lem, nơi Thiên Chúa đến trú ngụ giữa dân mà Ngài tuyển chọn.

Tôi có qúa chú trọng đến việc xóa bỏ những tệ đoan, cải thiện xã hội bên ngoài mà quên đi nhu cầu phải thay đổi chính bản thân tôi chăng? Nếu tôi được biết trước ngày mai tôi sẽ qua đời thì có một việc gì tôi mong đã làm khác hơn, điều gì đáng lẽ tôi đã phải thay đổi từ lâu?

Từ sau biến cố Hiển dung được xem là giai đoạn khởi đầu, chuẩn bị cho cuộc Xuất hành của Chúa Giêsu, Tin mừng Luca tiếp tục gây hứng khởi cho độc giả bằng trình thuật “xuất hành” rất đặc trưng (x. 9,51-19,27). Trong cuộc xuất hành đó, như một thiên ký sự, thánh sử thâu tóm toàn bộ những sự việc xảy ra trên hành trình lên Giêrusalem của Chúa Giêsu. Những gì xảy ra trong Tin mừng Chúa nhật hôm nay nằm trong thiên ký sự đó. Sự kiện Philatô cùng với binh lính bao vây, tàn sát những người Galilê, lấy máu của họ hoà lẫn với máu tế vật gây chấn động dư luận vùng Giêrusalem lúc bấy giờ. Cái chết đẫm máu của những người Galilê khiến cho dân chúng xôn xao bàn tán. Họ xôn xao không phải vì lo sợ sự đàn áp của Philatô mà lịch sử đã ghi nhận chính ông còn gây ra nhiều cuộc đẫm máu tương tự tại Giêrusalem, mà là đi tìm nguyên nhân vì sao những người ấy lại bị tàn sát như vậy. Con người thường hay áp dụng triệt để nguyên lý nhân quả nhằm lý giải những biến cố của thời đại. Họ đem sự việc đó kể cho Chúa Giêsu nghe thầm mong nhận được nơi Ngài một sự đồng cảm với cách suy xét về một biến cố mà họ đã được thụ hưởng từ trong truyền thống của cha ông. Thật vậy, truyền thống Dothái cho rằng những người bệnh hoạn, gặp tai ương hoặc chết chóc là do Giavê Thiên Chúa trừng phạt vì tội lỗi của họ. Chính vì thế, với nguyên lý “gieo gió gặt bão”, họ cho rằng cái chết của những người Galilê kia là hoàn toàn xứng với những gì họ đã gây nên, đồng thời họ vui mừng vì thấy mình không rơi vào tình trạng của những người cùng khốn đó. Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp cho những suy xét của họ. Nhắc đến sự kiện tháp Silôa bị sập đè chết 18 người, Chúa Giêsu muốn lên tiếng cảnh tỉnh họ đừng rơi vào tâm trạng của những người tự cho mình là công chính, là thánh thiện trước những biến cố của thời đại. Trái lại, hãy xem đó như là bài học báo trước những gì sẽ xảy đến với mình nếu không biết hối cải ăn năn. Thật vậy, chúng ta thường hay xét đoán và quy kết cho những người chẳng may bị bệnh hoạn hoặc tai nạn,v.v… là do hậu quả của một cuộc sống bê tha, trác táng, đầy tội lỗi, nay bị “trời phạt” chứ không bao giờ coi đó là bài học để cảnh báo cho chính mình. Mỗi một biến cố xảy đến trong cuộc sống phải chăng là tiếng chuông cảnh tỉnh mỗi người chúng ta cần phải duyệt xét lại đời sống mình, nhằm uốn nắn, chỉnh sửa những gì lầm lỗi thiếu sót chứ không phải là dè bỉu, chê bai, lên án đồng loại khốn cùng. Dụ ngôn cây vả không sinh trái mà người làm vườn xin chủ vườn đừng đốn vội luôn luôn là lời loan báo về thời hạn cuối cùng nhằm cho thấy lòng nhân hậu và sự kiên nhẫn của Thiên Chúa. “Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa…” Sở dĩ cây vả chưa bị đốn là vì người làm vườn còn hy vọng nó sẽ trổ sinh hoa trái. Người làm vườn luôn kỳ vọng nhờ sự chăm sóc và vun xới của mình, cây vả sẽ hấp thụ dưỡng chất, tức là nhận thức được rằng mình cần phải biến đổi, cần phải trổ sinh, để không trở nên cây vả vô dụng, chỉ làm hại đất. Thiên Chúa chúng ta là thế. Người luôn nhân hậu và kiên nhẫn. Người luôn yêu thương chúng ta bất luận chúng ta là ai và tình trạng của chúng ta như thế nào. Như người cha, Thiên Chúa luôn nhẫn nại chờ đợi chúng ta, mong ước chúng ta nhận ra những lầm lỗi để trở về với Người trong tình yêu. Vấn đề ở chỗ chúng ta có nhận thức được đây là thời hạn sau cùng mà Thiên Chúa dành cho chúng ta trước khi Người ra tay “đốn” những cây vả vô dụng vì không biết sinh hoa trái. Mùa Chay, hơn bao giờ hết, luôn là thời gian sau cùng, thời gian khẩn thiết mời gọi mỗi người chúng ta trở về với Thiên Chúa trong sám hối ăn năn. Hãy biết rằng Thiên Chúa đang kiên nhẫn chờ đợi, phần chúng ta, đừng để thời gian này trở nên vô ích…

1. Tại sao có người cho rằng những người bị giết hay bị chết trong bài Tin Mừng là những kẻ tội lỗi? Đức Giêsu có quan niệm như thế không? Ngài có đồng ý với việc xét đoán người khác kiểu đó không? Lập trường Ngài thế nào? 2. Áp dụng dụ ngôn cây vả vào đời sống người Kitô hữu hôm nay, thì hoa trái mà Thiên Chúa mong muốn nơi chúng ta là gì? Là việc tham dự những nghi thức tôn giáo cho đầy đủ, hay là tình thương phải có đối với nhau?

Ta chỉ có trách nhiệm xét lỗi của ta, chứ không có trách nhiệm xét lỗi người khác: “Chỉ có một Đấng ra Lề Luật và xét xử, đó là Đấng có quyền cứu thoát và tiêu diệt. Còn anh là ai mà dám xét đoán người thân cận?” (Gc 4,12). Nếu thấy mình có lỗi thì ta phải sám hối và tự sửa chữa, nếu không, e rằng ta sẽ bị Thiên Chúa trừng phạt: “Nếu các ông không chịu sám hối, các ông cũng sẽ chết hết y như vậy”. Rất nhiều người cảm thấy mình vô tội, không cần sám hối, vì thấy rằng mình chẳng bao giờ làm điều ác cho ai. Mình vẫn được mọi người cho là ngoan đạo: vẫn đi lễ, rước lễ hàng ngày, xưng tội hàng tháng, vẫn đóng góp vào nhà thờ… Nhưng tới ngày phán xét, rất có thể họ sẽ bật ngửa khi nghe Chúa nói: “Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác” (Mt 7,23). Lúc ấy họ sẽ phân bua: “Lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?” (Mt 7,22). Chúa sẽ nói lại: “Quân bị nguyền rủa kia, hãy đi cho khuất mắt Ta. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã không cho ăn; Ta khát, các ngươi đã không cho uống…” (Mt 25,41-44). Quả thật, rất nhiều Kitô hữu không biết được cốt tủy của tinh thần Kitô giáo nằm ở đâu. Họ tưởng nằm ở trong các nghi thức tôn giáo, trong việc lễ lạy, rước sách. Nhưng Đức Giêsu đã nói thật rõ ràng: “Ta muốn lòng nhân chứ không cần lễ tế” (Mt 9,13; 12,7), và “điều quan trọng nhất trong Lề Luật là công lý, tình thương và lòng thành thật” (Mt 23,23) chứ không phải mấy chuyện “nộp thuế thập phân về bạc hà, thì là, rau húng” cho đền thờ (nt), thậm chí cả việc dâng lễ vật lên Thiên Chúa nữa. Thật vậy, thánh Phaolô nói: “Những lễ vật và hy lễ dâng tiến Thiên Chúa không thể làm cho lương tâm người cử hành việc phụng tự trở nên hoàn thiện” (Dt 9,9). Điều làm cho con người nên hoàn thiện và nên giống Thiên Chúa là tình thương, vì tình thương chính là bản chất của Thiên Chúa (x. 1Ga 4,8.16). Nhiều người không hiểu cốt tủy của tinh thần Kitô giáo nằm ở đâu, nên họ hay lên án những ai không giữ những luật lệ giống như họ. Họ hành xử không khác gì những người Pharisêu xưa lên án Đức Giêsu và các tông đồ: nào là vi phạm ngày sabát (chữa bệnh, bứt bông lúa mì…), nào là không giữ luật lệ tiền nhân (ăn không rửa tay, nhậu nhẹt với phường tội lỗi…). Nhưng Đức Giêsu trả lời họ: “Nếu các ông hiểu được ý nghĩa của câu này: Ta muốn lòng nhân chứ không cần lễ tế, ắt các ông đã chẳng lên án kẻ vô tội” (Mt 12,7). Trước mặt Đức Giêsu, những người Pharisêu này mới chính là kẻ có tội. Nhưng tiếc thay cho họ: tội mình thì không thấy, mà lại thấy tội của những kẻ vô tội! Thời nay, nhiều Kitô hữu trách cứ những người khác là khô khan, nguội lạnh chỉ vì những người này không sốt sắng giữ đạo theo kiểu của họ, đang khi những người bị trách cứ này lại giữ luật yêu thương của Đức Giêsu gấp nhiều lần họ. Thiết tưởng câu của thánh Phaolô trong bài đọc II hôm nay đáng cho họ suy nghĩ: “Ai tưởng mình đang đứng vững, hãy coi chừng kẻo ngã” (1Cr 10,12). 3. Thiên Chúa kiên nhẫn chờ con người hối cải Điều Thiên Chúa mong đợi nơi con người là sự hối cải. Hối cải là quay trở với với Ngài: quan niệm giống như Ngài, nói và hành động theo gương Ngài. Theo quan niệm của Ngài, yêu thương là điều quan trọng nhất, cốt yếu nhất, nền tảng nhất. Nhưng rất nhiều Kitô hữu lại quan niệm khác với Ngài, họ coi chuyện yêu thương là thứ yếu, mà coi những nghi thức tôn giáo mới là quan trọng. Họ đã đi vào đúng vết xe đã đổ của các kinh sư, của giới lãnh đạo Do Thái giáo xưa. Đức Giêsu đến trần gian đã 2000 năm nay để chỉnh đốn lại quan niệm sai lầm xưa. Nhưng cho đến hôm nay, biết bao kẻ mang danh theo Đức Giêsu vẫn coi thường việc chỉnh đốn đó, vẫn tiếp tục đi theo con đường Ngài đã đả phá từ thời đó. Ngài thì đặt nặng quan hệ yêu thương giữa con người với con người, còn họ vẫn tiếp tục coi trọng những nghi thức tôn giáo hơn quan hệ đó. Ngài nói: “Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5,23-24). Hãy xem Ngài quan trọng hóa quan hệ yêu thương giữa con người với con người hơn các nghi thức tế tự như thế nào! Nhưng rất nhiều Kitô hữu, kể cả những người có trách nhiệm dạy dỗ Kitô hữu, đã quan trọng hóa theo chiều ngược hẳn lại với Ngài! Thiết tưởng dụ ngôn cây vả không ra trái trong bài Tin Mừng là một lời cảnh tỉnh cho tất cả mọi Kitô hữu ngày nay. Thiên Chúa đang chờ đợi thêm một thời gian nữa trước khi ra tay trừng phạt chúng ta. Ngài chờ đợi chúng ta sinh hoa kết trái yêu thương, nhưng cho đến nay, phải nói rằng người Kitô hữu chúng ta đã sống với nhau thiếu tình thương một cách trầm trọng. Chúng ta không ý thức được tình trạng nguy hiểm đang chờ chúng ta: “Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa” (Mt 3,10; Lc 3,9). Các Kitô hữu quan niệm không đúng một phần khá quan trọng là do những người có trách nhiệm giáo dục họ đã không chỉ dạy họ cho đúng, hoặc đã không nhấn mạnh đủ điều nào là điều Đức Giêsu đã nhấn mạnh trên tất cả những điều khác.

Lạy Cha, Đức Giêsu kêu gọi sám hối, nếu không sẽ bị trừng phạt tất cả. Nhưng chúng con phải sám hối điều gì đây? Chúng con phải thay đổi điều gì trước tiên? Hoa trái mà Cha mong mỏi nơi chúng con là gì? Đọc kỹ Tin Mừng, chúng con thấy hoa trái mà Cha mong đợi nơi chúng con chính là tình thương. Nhưng chúng con lại quan trọng hóa chuyện khác. Chúng con lại đi đúng vào vết xe đã đổ của người Pharisêu xưa, là quan trọng hóa các nghi thức tôn giáo mà coi thường luật yêu thương của Cha. Xin giúp chúng con sửa đổi lại quan niệm cho đúng.

Thường khi đọc thánh kinh, ta có khuynh hướng chọn những lời êm ái dịu dàng, những lời có sức làm dịu mát tâm hồn và làm phấn khởi tâm can. Tuy nhiên Chúa cũng dùng những lời khắt khe để cảnh giác dân Người. Trong Phúc âm hôm nay Chúa cảnh tỉnh dân chúng là: Nếu các ông không ăn năn sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy (Lc 13: 3). Chúa Giêsu muốn nói đến những người Galilê bị tổng trấn Philatô giết không phải vì họ tội lỗi hơn những người Galilê khác, hay mười tám người kia bị tháp Silôác đổ xuống đè chết, không phải vì họ tội nặng hơn những người khác trong thành Giêrusalem. Còn Thánh Phao-lô nhắc nhở cho tín hữu Cô-rin-tô: Ai tưởng mình đang đứng vững, thì hãy coi chừng kẻo ngã (1Cr 10:12). Thánh Phao-lô xác nhận rằng Chúa ban nhiều đặc ân cho dân được chọn trong cuộc giải thoát khỏi cảnh nô lệ bên Aicập. Trong sa mạc, Người đã nuôi dưỡng họ cách kỳ diệu. Họ biết rằng họ là dòng dõi được lựa chọn. Tuy nhiên trong sa mạc, họ đã súc phạm đến Chúa. Họ rơi vào cái tình trạng tự mãn. Họ nghĩ rằng tất cả mọi sự trong đời sống họ đều tốt đẹp, và họ nghĩ rằng Chúa sẽ săn sóc họ, bất kể việc họ làm. Họ cho rằng họ trổi vượt hơn các dân tộc tộc khác. Từ những cảm nghĩ kiêu căng tự phụ đó, họ đánh mất ơn nghĩa với Chúa, vì phần đông họ không đẹp lòng Thiên Chúa, bằng chứng là họ đã quỵ ngã trong sa mạc (1Cr 10:5). Nhờ bí tích rửa tội, ta cũng được giải thoát khỏi cuộc lưu đầy trong tội lỗi và trở thành dân tộc mới được chọn. Do đó ta cũng có thể có thái độ tự mãn. Thực ra thì Chúa nhẫn nại chờ đợi ta. Chúa ban cho ta nhiều cơ hội để sửa đổi cuộc sống. Chúa ban cho ta thời giờ để cắt tỉa, vun xới và tưới bón, khả dĩ có thể mang lại hoa trái thiêng liêng trong đời sống. Và đó là ý nghĩa về dụ ngôn cây vả trong phúc âm hôm nay. Chúa kêu gọi ta phải sinh hoa kết quả thiêng liêng. Nhưng làm sao ta có thể sinh hoa trái trong miền đất khô chồi cằn cỗi của tâm hồn. Để có thể sinh hoa kết quả trong đời sống, ta phải cắt tỉa, phải vun xới và tưới bón. Vậy thề nào là cắt tỉa trong đời sống thiêng liêng? Ta phải cắt bỏ tội lỗi và nết xấu, và còn cắt bỏ dịp tội. Rồi ta phải vun xới cho đời sống thiêng liêng bằng việc dự lễ, đọc kinh, cầu nguyện, ăn chay hãm mình và làm việc từ thiện bác ái. Ta còn phải tưới bón cho tâm hồn bằng của ăn thiêng liêng là lời Chúa và Mình thánh Chúa. Giáo hội dùng mùa chay như là phương thế để giúp ta ăn năn sám hối và trở về với Chúa. Thường ta dễ thấy lỗi lầm của người khác, nhưng lại khó chấp nhận những lầm lỗi của mình. Khi có xích mích với người khác, ta luôn cho mình là phải và đúng. Khi nói về tội, ta cũng thường chỉ nghĩ về tội trong hành động, mà không mấy khi nghĩ về tội trong tư tưởng. Chúa phán: Từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu (Mk 7:22). Tâm lý học cũng xác định là hành động là do tư tưởng mà ra. Nếu ta cho rằng ta vô tội và đạo đức, thì đâu là những hoa quả thiêng liêng trong đời sống? Có phải mỗi tuần ta đến nhà thờ lẩm bẩm vài câu kinh một cách máy móc theo thói quen hình thức? Hay là ta đã sống tâm tình cầu nguyện, hướng lòng về Chúa và kết hợp với Chúa. Đâu là gương sáng của ta cho con cái? Đâu là những gương hi sinh, vị tha, bác ái? Thiết tưởng hôm nay và trong mùa chay này, ta cần tự xét và kiểm điểm xem đâu là hoa quả của đời sống thiêng liêng?

Mùa chay là mùa chuẩn bị cử hành Lễ Vượt Qua. Phụng vụ mùa chay giúp các tín hữu sống bí tích Thánh Tẩy và sám hối để trở về cùng Thiên Chúa. Theo ý nghĩa đó, bài Tin Mừng hôm nay, mời gọi mỗi người chúng ta nhận biết ra tội lỗi của mình để trở về với Thiên Chúa. Đức Giêsu đưa ra hai bài học song song rút ra từ hai biến cố bi đát đã xảy ra cách đó không lâu. Theo quan niệm thông thường của người Do Thái lúc bấy giờ, họ nghĩ về việc nhân quả như chúng ta thường nghĩ: “ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác”. Hình phạt mà Thiên Chúa giáng xuống trên người bất hạnh là quả báo dành cho những người tội lỗi và những ai thoát nạn thì tự cho mình là người công chính. Đức Giêsu bác bỏ cái nhìn tiêu cực này và mở mắt cho họ thấy rõ các biến cố đó xảy ra là một lời cảnh cáo: Mọi người đều có tội, đều cần phải sám hối. Sám hối là hành vi cao cả, nhận ra những yếu đuối của mình cần xin tha thứ, xin đền bù và xin sửa chữa. Sám hối biểu lộ tính cách đáng trân trọng nhất của con người, tôn vinh con người đưa con người lại gần với nhau trong sự hiệp nhất. Một cậu bé nọ có tình rất xấu là rất hay nổi nóng. Một hôm, cha cậu bé đưa cho cậu một túi đinh rồi nói với cậu: “Mỗi khi con nổi nóng với ai đó thì hãy chạy ra sau nhà và đóng một cái đinh lên chiếc hàng rào gỗ”. Ngày đầu tiên, cậu đã đóng tất cả 37 cái đinh lên hàng rào. Nhưng sau vài tuần, cậu bé đã tập kìm chế dần cơn giận của mình và số lượng đinh cậu đóng lên hàng rào ngày một ít đi. Cậu nhận thấy rằng kiềm chế cơn giận của mình dể hơn là phải đi đóng một cây đinh lên hàng rào. Đến một ngày, cậu đã không nổi giận một lần nào suốt cả ngày. Cậu đến thưa với cha và ông bảo: “Tốt lắm, bây giờ nếu sau mỗi ngày mà con không hề nổi giận với ai dù chỉ một lần, con hãy nhổ một cây đinh ra khỏi hàng rào”. Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một hôm cậu bé đã vui mừng hãnh diện tìm cha mình báo rằng đã không còn một cái đinh nào trên hàng rào nữa. Cha cậu liền đến bên hàng rào. Ở đó, ông nhỏ nhẹ nói với cậu: “Con đã làm rất tốt, nhưng con hãy nhìn những lổ đinh còn để lại trên hàng rào. Hàng rào đã không giống như xưa nữa rồi. Nếu con nói điều gì trong cơn giận dữ, những lời nói ấy cũng giống như những lổ đinh này, chúng để lại những vết thương rất khó lành trong lòng người khác. Cho dù sau đó con có nói xin lỗi bao nhiều lần đi nữa, vết thương đó vẫn còn lại mãi. Con hãy luôn nhớ: vết thương tinh thần còn đau đớn hơn cả những vết thương thể xác. Những người xung quanh ta, bạn bè ta là những viên đá quí. Họ giúp con cười và giúp con mọi chuyên. Họ nghe con than thở khi con gặp khó khăn, cổ vũ con và luôn sẵn sàng mở trái tim mình ra cho con. Hãy nhớ lấy lời chua.” Những vết đinh còn lại trên hàng rào là những lỗi lầm để lại hậu quả. Nếu hậu quả ấy cứ còn mãi thì thật đáng buồn. Niềm vui Phục Sinh của Kitô Giáo khác hẳn với tất cả niềm tin khác là ở điểm : Thiên Chúa là Đấng hay quên, Người quên tất cả những gì chúng ta đã lỗi phạm và không những chỉ quên Người còn băng bó chữa lành cho mọi hư hỏng của con người sám hối, phục hồi lại những gì đã mất cho đẹp hơn xưa, như người cha mặc lại chiếc áo mới cho người con hư hỏng trở về. Không còn lại những lỗ đinh trên người tội lỗi mà họ còn thấy được niềm vui khôn tả bởi nhận ra được lòng Chúa yêu thương. Đó là niềm vui lớn nhất của ý nghĩa Phục Sinh. Xin Chúa cho chúng ta nhận ra được lòng Chúa yêu thương qua thân phận yếu đuối của mình nhờ vào việc biết sám hối.

– Lm. Hà Ngọc Đoài (DCUC) Ex 33:1-8, 13-15; 1Cor 10:1-6,10-12; Lk 13:1-9 ” Nếu các ngươi không ăn năn hối cải, thì tất cả các ngươi cũng sẽ bị hủy diệt như vậy.” (Lk 13:3) Người đời thường nghĩ rằng, những kẻ bị tật nguyền hoặc những ai bị tai họa là bởi tội của họ hoặc do tiên nhân để lại! Nên mới có câu: “Nếu đời cha ăn mặn, thì đời con bị khát nước!”. Trong thực tế, mọi người phải học biết chấp nhận giới hạn của mình và hậu qủa do mình gây ra hoặc vì sự liên đới nào đó do người khác đem lại. Chẳng hạn những tai nạn được trưng dẫn hôm nay đều có nguyên nhân. Tai nạn thứ nhất là trong thời gian đó, khi Philatô cần tiền để xây hệ thống dẫn nước đem ích lợi cho toàn dân. Vì thiếu tiền nên đã vào đền thờ quyên góp. Nhóm cực hữu cho hành động này là xúc phạm sự thánh, nên trang bị khí giới để chống đối và bảo vệ đền thờ. Thấy thế Philatô đã ra lệnh cho lính bắn chết họ trong đền thờ! Chính vì hành động này, cho dù với mục đích tốt, nhưng thiếu khôn ngoan nên họ đã bị thiệt mạng! Tai nạn thứ hai cũng là vì giới hạn của những người thiếu kỹ thuật trong việc xây cất, hoặc vô trách nhiệm trong việc an sinh, nên tháp ở Siloam sập đè chết mười tám người! Đành rằng những tai họa thường là do chính mình gây nên, hoặc do kẻ khác, nhưng Đức Giêsu không tuyệt đối đồng ý với những suy nghĩ và lý luận này. Ngài muốn chúng ta nhận định những ỏtai họaõ cách tích cực hơn. Những điều bất hạnh đều là bài học cho mọi người biết nhận ra giới hạn của mình để phát triển đời sống cách tốt hơn. Sự kém may mắn chúng ta gặp thường ngày đều là những cơ hội cho chúng ta biết thăng hóa đời mình bằng sự liên kết mật thiết với Thiên Chúa, và có tinh thần trách nhiệm với tha nhân. Và cũng nên biết rằng, những người bị thiệt thòi ở đời này chưa phải là họ bị thiệt thòi ở đời sau.Thực Hành: “Chúa là Đấng từ bi và hay thương xót”(TV 102:8) Chúa là Đấng Thánh tuyệt đối. Ngài không thương lượng để thần dữ ngự trị trong thánh điện của Ngài, cũng chẳng nhượng bộ để tội lỗi thống trị tâm hồn Kitô hữu. Nhưng Ngài luôn kiên nhẫn và từ bi cho tội nhân có cơ hội để sám hối để sống xứng đáng với ơn thánh.

Chúa Kitô bắt đầu sứ mạng rao giảng của Ngài bằng việc kêu gọi sám hối. Ngài nói: “Hãy sám hối, vì nước Trời đã gần đến.” Lời kêu gọi này không chỉ đặc biệt dành cho người thu thuế giầu có Giakêu, hay người đàn bà ngoại tình Mađalêna, hoặc cho tên trộm cướp bị xử án treo trên thập giá, nhưng còn cho cả những người tự cho mình là hạng người đạo đức tốt lành như các Pharisiêu chẳng hạn. Nói tóm lại, lời kêu gọi sám hối này dành cho tất cả mọi người không trừ ai: “Nếu các ngươi không ăn năn hối cải, thì tất cả các ngươi cũng sẽ bị hủy diệt như vậy.” Tuy nhiên, một câu hỏi được nêu lên là: Tại sao người tốt lại cần phải hối cải chứ? Tôi là người thường đọc kinh, thường tham dự thánh lễ và rước lễ, tôi không trộm cắp, tôi cũng chẳng nói hành nói xấu ai cả, và như vậy tại sao tôi lại phải cần ăn năn sám hối chứ?Một ông chủ tiệm đồ cổ kể lại câu chuyện rằng: Vào một đêm đông nọ, trời đã khuya, bão tuyết rơi lạnh lẽo, gió thổi mạnh từng cơn. Bỗng dưng, có ai đến gõ cửa nhà ông. Ông cảm thấy khó chịu vì bị quấy rầy giữa lúc đêm khuya. Khi cánh cửa vừa mở, trước mắt ông là một chàng thanh niên bụi đời. Mặt chàng đỏ gay. Hơi thở nồng nặc mùi rượu. Chàng không hé miệng nói nửa lời chào hỏi hay xin xỏ điều gì, chỉ đứng đó với một bàn tay đỡ cây gậy trên vai có treo ít đồ đạc cá nhân, còn tay kia xòe ra trước mặt. Thấy hoàn cảnh đáng thương, ông đưa tay với lấy ít kẹp bánh mì, và vài đồng bạc cắc trao cho người thanh niên. Sau khi nhận đồ ăn, chàng thanh niên bụi đời trở gót quay đi, không nói lời cám ơn hay giã từ. Rồi ông chủ tiệm kể tiếp: Khi đó một ý tưởng chợt đến trong đầu của ông là nên mời người thanh niên đó vào nghỉ đỡ một đêm, vì nhà có phòng trống cho khách, có giường có bàn ghế đàng hoàng, đầy ấm cúng và thoải mái, tuy nhiên ông lại ngần ngừ suy nghĩ, vì nếu để cho anh chàng bụi đời này vào, căn nhà sạch sẽ của ông sẽ bị ẩm ướt, bị dơ bẩn, và ảm mùi rượu nho rẻ tiền. Điều này thật quá đáng, và nghĩ như thế nên ông vội đóng cửa lại, và để kệ cho chàng thanh niên sống lang thang vất vưởng dưới bão tuyết lạnh lẽo.Thế rồi, hai ngày sau đó, có một người thợ đem đến tiệm của ông một cây gậy làm bằng gỗ quí, và được chạm trổ một cách công phu. Sau khi thương lượng giá cả xong xuôi, người mang cây gậy cho ông biết anh ta là một người thợ chuyên đào mộ ở nghĩa trang. Anh vừa đào lỗ chôn một người thanh niên mới chết. Người thanh niên này là một người vô gia cư, không tiền, không bạc, không người thân thuộc. Tài sản của anh chỉ là cây gậy này. Rồi người thợ nói tiếp: “Thực ra, chàng thanh niên này chết không phải vì bệnh tật chi cả, mà chết chỉ vì bị lạnh, máu bị đông lại trong khi nằm ngủ trên đống tuyết.”Kể câu chuyện tới đây, ông chủ tiệm tỏ ra xấu hổ và hối hận, ông hối hận không phải vì ông đã làm điều gì xấu, ông không làm điều gì xấu cả, nhưng ông hối hận vì điều tốt ông đã có thể làm cho chàng thanh niên nhưng ông đã không làm, khiến cho anh phải chết. Ông tâm sự thêm rằng những gì ông nói đây chỉ có ý dành riêng cho ông, và không muốn trở nên một gánh nặng cho ai hết: “Điều tôi ước ao muốn nói là: Những sự dữ chúng ta làm, Thiên Chúa có lẽ tha thứ cho chúng ta. Nhưng những gì tốt chúng ta đã không làm, sẽ mãi mãi không được thứ tha.” (The evil that we do, God will perhaps forgive. But the good we fail to do, remains unforgiven.) Phải chăng đó là điều Chúa muốn nói đến qua dụ ngôn cây vả trong bài tin mừng hôm nay. Mục đích của cây vả là gì nếu không phải là sinh hoa trái? Người chủ vườn thất vọng không phải tại cây vả sinh trái chua, trái độc, nhưng là tại nó không sinh ra trái tốt nào cả. Chúa Giêsu kêu gọi mọi người sám hối. Lời mời gọi sám hối không chỉ là lời mời gọi xa tránh sự dữ, nhưng còn là lời mời gọi làm việc lành, sản sinh hoa trái tốt lành. Do đó việc sám hối liên hệ ràng buộc tới tất cả mọi người. Mọi người đều có bổn phận phải lánh dữ và làm lành. Lánh dữ, không làm điều xấu chưa đủ, từ bỏ tội lỗi chưa đủ, nhưng còn phải tích cực thực hành những điều tốt lành nữa, còn phải tích cực dấn thân giúp đỡ tha thân. Khuynh hướng tự nhiên của con người là muốn yên thân, muốn được yên ổn, không muốn ai phiền hà tới mình và mình cũng chẳng muốn gây phiên hà cho ai. Vì thế, một người “ngoan đạo” rất có thể bị rơi vào tình trạng tự mãn, sống đầy ích kỷ mà không hay biết. Nhiều khi tôi cảm thấy tôi là người “vô tội” vì tôi đã không phạm một tội ác nào cả, trong khi tôi vẫn thản nhiên sống ích kỷ, chỉ lo gom góp những lợi lộc cá nhân, cho gia đình mình, không màng gì đến người khác.Mùa chay là mùa ân sủng. Người chủ vườn đã quảng đại cho cây vả thêm một năm nữa để hy vọng có thể sản sinh hoa trái. Mỗi mùa chay đến Thiên Chúa cũng cho chúng ta thêm một cơ hội để đổi mới con người, để sản sinh hoa trái tốt lành. Người ta sợ nói gở hay cho là trù ẻo nhưng biết đâu được rằng rất có thể đây là năm cuối đời của mỗi người chúng ta như những anh chị em đã ra đi về với Chúa từ dịp lễ Phục sinh năm rồi. Chúng ta không rõ lúc nào mình sẽ phải ra đi về với Chúa. Đây là thời giờ thuận tiện để mỗi người chúng ta kiểm điểm về cây vả của đời chúng ta. Phải chăng nó đã trổ sinh hoa quả tốt lành hay ngược lại nó đã làm cho Thiên Chúa là ông chủ phải thất vọng vì đã không sinh được hoa quả gì? One more chance. Thêm một cơ hội nữa, thêm một kỳ hạn nữa, và điều quan trọng là chúng ta đã đang làm gì với cơ hội đó, với kỳ hạn đó? Lm. Louis Minh Nhiên, CMC

Trong bộ sưu tập về các vị ẩn tu, người ta đọc được câu chuyện này: Có hai tội nhân quyết tâm vào sa mạc để ăn chay đền tội. Nhiều tháng trời ròng rã, ai nấy giam mình trong một túp lều, ngày đêm đánh tội, ăn năn và cầu nguyện. Ngày ngày các tu sĩ của một cộng đoàn ẩn tu mang thức ăn nước uống đến tận căn lều của mỗi người. Sau đúng một năm thử thách, các tu sĩ nhận thấy có sự khác biệt giữa hai bên. Một người thì khỏe mạnh vui tươi, một người thì ốm o phiền não. Cả hai đến trình diện trước bề trên cộng đoàn để chờ đợi sự phán quyết của ngài, theo đó họ có xứng đáng gia nhập cộng đoàn hay không. Khi được hỏi trong suốt một năm qua, họ đã suy niệm những gì, con người ốm o phiền não lên tiếng đáp: “Suốt một năm qua, ngày ngày tôi nhớ lại những tội mình đã phạm. Từng giây từng phút tôi nghĩ đến hình phạt mình sẽ gánh chịu sau khi chết và tôi sợ hãi đến mất ăn mất ngủ” Tới lượt mình, con người vui tươi khỏe mạnh trình bày như sau: “Suốt một năm qua, từng giây từng phút tôi hằng nhớ lại những ơn lành TC đã xuống cho tôi, nghĩ đến tình thương của Người và những cơ hội mà Người sẽ lại ban tặng để tôi có thể sinh quả phúc đức, cải thiện cuộc sống”. Các tu sĩ cộng đoàn rất cảm kích về chứng từ của con người khỏe mạnh vui tươi, vì lòng sám hối của anh đã biến thành lời ca tụng, tri ân đối với tình yêu TC. Nhưng con người ốm o buồn sầu kia cũng được đón nhận vào cộng đoàn. 1. Khẩn cấp hoán cải trước thảm họa của người Nghĩ đến quá khứ tội lỗi để thống hối trước khi chết và quyết tâm sinh quả phúc đức để đền bù trong tương lai, đó chính là hai bài học của đoạn Tin Mừng hôm nay, hai bài học được Đức Giêsu dạy qua một biến cố thời sự và qua một dụ ngôn ngắn ngủi.Đức Giêsu thường theo dõi thời sự. Vừa nghe những kẻ đến nói với mình cái tin nhiều cư dân Galilê bị Philatô tàn sát, Người liền tung ra một sự kiện khác nữa: tháp Siloác đổ sập gây nên18 nạn nhân. Và như đoán được suy nghĩ của những kẻ đưa tin lẫn kẻ nghe tin, Đức Giêsu đã chặn lại tức thì: “Các ông tưởng mấy kẻ phải chịu số phận thê thảm đó vì họ tội lỗi hơn những người khác sao?” Thông thường là thế: đứng trước bất hạnh của người khác, ta tự nhiên tìm xem đâu là lỗi lầm của nạn nhân. Họ đã chết như thế có lẽ là do Chúa phạt! Nếu nạn nhân đó không may là kẻ thù của ta, có thể ta còn độc địa buột miệng: “Nó đã đền tội rồi!” Và ta tự cho mình là công chính vì đã tai qua nạn khỏi. Lý luận kiểu đó thì hỏi còn ai có thể sống sót? Bạn và tôi, liệu chúng ta còn có dịp nhìn thấy mặt trời lên mỗi ngày nữa không? Và nếu như Thiên Chúa là quan tòa nghiêm khắc đến thế, liệu Người có còn là Thiên Chúa nữa không? Từ khước thành kiến thông thường, đảo lộn cung cách suy nghĩ bình dân ấy (thảm họa là dấu chỉ Trời phạt), Đức Giêsu, rất thực tế, khuyên chúng ta tốt hơn hãy năng nhận biết mình tội lỗi và mau mắn hoán cải. Hai kiểu chết khốc liệt nói trên phải là lời cảnh báo cho những ai không mau mắn thay đổi đời sống, chẳng xét lại ý kiến và những hoài vọng lầm lạc của mình. Mọi người đều là tội nhân và cần hoán cải trước khi ra trước Tòa Chúa phán xét.Thành thử ở đây Đức Giêsu không nói với chúng ta về thái độ của Thiên Chúa đối với các tội nhân. Người chỉ muốn chúng ta hãy suy nghĩ về chính mình: tất cả anh em đều có thể chết bất đắc kỳ tử. Nhưng cái chết đó không tai hại bằng cái chết trong tình trạng phạm tội. Anh em là những kẻ có tội. Vậy hãy coi chừng cái chết đang rình rập anh em. Không phải cái chết phá hủy thân xác, song là cái chết tàn phá phần đẹp nhất trong tâm hồn mình, cái chết làm khô cạn nguồn suối sự sống, cái chết có thể khiến anh em đánh mất hạnh phúc vĩnh cửu. Vậy, điều khẩn cấp là anh em phải thay đổi, phải hồi tâm, phải quay về với Thiên Chúa!Các biến cố thời sự có thể năng khiến ta nghĩ tới điều đó: nếu chuyện rủi ro ấy xảy đến cho tôi thì sao? Cái cách đưa mình về lại cuộc sống mình như thế là bài học của việc lắng nghe thời sự. Ta có nguy cơ chỉ trở thành những kẻ tiêu thụ vô độ (nhất là trong thời đại Internet này) những tin tức chẳng làm ta lay chuyển, đang lúc chúng có thể là những lời liên tục kêu gọi hãy sống khôn ngoan và sắp sẵn theo kiểu Tin Mừng. Nếu biết đọc các biến cố ở một mức độ chú ý và mức độ đức tin thật sâu, lời kêu gọi hoán cải hôm nay còn nhắm rất xa: đó là thay đổi sâu xa não trạng, và cuối cùng là luyện được những phản ứng kiểu Tin Mừng trước mọi chuyện và trong mọi hoàn cảnh2. Sinh hoa kết quả như lòng Chúa mong muốnVà như để làm dịu lại những lời lẽ nghiêm khắc của mình, đồng thời đề ra những điều tích cực, Đức Giêsu kể dụ ngôn cây vả không trái. Người làm vườn mà dụ ngôn trình bày cho ta luôn hy vọng rằng cây vả của ông, dù vẫn chưa ra trái, sẽ có ngày sinh quả. Ông thuyết phục chủ vườn hãy hoãn lại quyết định đốn cái cây ăn hại đất ấy và nó đã nhận được một án treo. Thiên Chúa chúng ta là như thế. Người tha thiết mong ta hoán cải nhanh chóng và đem tình yêu đáp lại tình yêu bước trước của Người. Người nhẫn nại vô biên đối với kẻ tội lỗi. Người chấp thuận cho họ một sự trì hoãn ân huệ. Người chẳng tuyệt vọng với bất kỳ ai. Chẳng có ai là đồ bỏ đối với Người. “Với Chúa chẳng có ai quá xa. Với Chúa chẳng có gì hư hỏng. Với Chúa chẳng có chuyện chấm dứt. Với Chúa chẳng có đứa con hoang đàng nào không được tha thứ”, một bài ca đã hát lên như vậy. Nếu giờ phán xét chưa đến ngay, đó là vì Thiên Chúa ban cho ta một ân huệ sau cùng để ta hoán cải, chứ chẳng phải là Người đã chấp thuận các hành vi của ta. Cây vả không trái chưa bị nhổ ngay là do lòng nhân hậu khôn tả, tuy nhiên nó vẫn còn bị đe dọa phải chết nếu năm sau vẫn không ra trái. Lời khiển trách cây vả là lời cảnh báo cho thính giả của Đức Giêsu: họ không được trì hoãn việc chính yếu cho đến ngày mai và phải quyết định sinh hoa kết quả cho Chúa ngay. Vậy phải làm gì? Một cuộc xưng tội tổng quát đầu mùa Chay (hay cho cả một năm) sẽ có thể là một cách để chúng ta sửa lại lòng mình, nhưng một tháng sau chúng ta sẽ ra sao: các khuynh hướng và các lầm lỗi sẽ trở lại. Đó không phải là giải pháp chân thực, triệt để! Chắc ta đã có lần tấn công những cây cỏ cú xâm lăng một khoảnh vườn, đã dùng liềm để cắt sạch tất cả, nhưng rồi chúng lại mọc lên còn hung tợn hơn bao giờ hết. Một tay làm vườn chuyên nghiệp sẽ khuyên chúng ta: “Nhổ cỏ thì phải nhổ cả rễ!”Đức Giêsu gọi đó là “ra công sám hối”. Mùa chay là mùa giúp chúng ta suy niệm kỹ, là mùa được ban mỗi năm để ta hoàn tất việc hoán cải, lời mời gọi đầu tiên của Tin Mừng: “Hãy sinh những hoa quả xứng với lòng sám hối” (Lc 3,8). Có thể coi việc sám hối đó vừa như một sự dừng lại, một sự đổi hướng và một sự sinh quả. Một con người không thể tiến tới cách nào cũng được, phát sinh cái tốt lẫn cái xấu. Phải biết thình lình dừng lại và tự hỏi: “Tôi đang sống cho cái gì đây? Cái đó dẫn tôi đến chỗ nào?” Nếu tất cả xảy ra tốt đẹp, đương sự sẽ bắt đầu cầu nguyện để thấy rõ và để có thể tìm được can đảm chọn một hướng mới: Tin Mừng. Bản chất của lòng hoán cải, đó là quyết định sống từ nay theo Tin Mừng. Và bắt đầu việc đó ngay lập tức! Nhưng chọn lựa Tin Mừng và thực sự sinh ra những hành vi kiểu Tin Mừng cũng là công việc của cả một tập thể cộng đoàn, một tập thể Giáo Hội. Trong một xã hội đang bị thống trị bởi chính thể độc tài, bởi đường lối bóc lột đàn áp, bởi phương cách trấn áp kẻ đối lập, bởi chủ trương công cụ hóa các tôn giáo, thì hoa trái kitô hữu chúng ta cần sinh ra chẳng phải là tranh đấu cho những kẻ thấp cổ bé miệng, dành lại quyền tối thượng cho Thiên Chúa và khôi phục tự do cho các tôn giáo hay sao?

A. HẠT GIỐNG… – Lm. Trọng Hương Lc 13,1-9 Ý chính của đoạn Tin Mừng này là kêu gọi sám hối:- cc 1-5:người Do Thái thời Chúa Giêsu quen nghĩ “ác giả ác báo”. Trước hai tai nạn đột ngột làm chết nhiều người, họ kết luận ngay rằng những nạn nhân ấy là “ác giả” cho nên bị “ác báo”. Chúa Giêsu khuyên đừng hồ đồ suy đoán về người khác những mỗi người hãy coi các tai nạn đó là tiếng nhắc nhở hãy xét lại lương tâm mình để lo sám hối.- cc 6-9: Qua dụ ngôn cây vả không sinh trái, Chúa Giêsu bảo mỗi người hãy tận dùng thời gian gia hạn mà Thiên Chúa đã ban cho mình để sớm lo sám hối.B…. NẨY MẦM.1. “Hãy sám hối”, đó là câu nói được khẩn thiết kêu gọi rất nhiều lần bởi Gioan Tiền hô, bởi Chúa Giêsu, bởi các tông đồ và bởi Giáo Hội. Tại sao? Vì con người luôn đi lệch đường. Sám hối là nhận ra mình đang lệch đường và mau mắn quay về đường chính.2. “Tôi sẽ vun xới, bón phân cho nó. May ra sang năm nó có trái. Nếu không ông sẽ chặt nó đi”. Hôm nay, tôi dám nói câu này với Chúa không?3. Sau khi đánh tan một cuộc nổi loạn, nhà vua bắt những kẻ phản loạn về. Ông ra lệnh thắp lên một cây nến, rồi nói với họ: “Ai chịu đầu hàng và thề trung thành với ta thì sẽ được tha, bằng không sẽ bị giết Các ngươi hãy suy nghĩ. Khi cây nến tắt thì cuộc hành quyết sẽ bắt đầu”. Thiên Chúa cũng đối xử với tội nhân như vậy: Ngài cho họ một thời gian gia hạn. Tuy nhiên có một khác biệt quan trọng: không ai biết cây nến của đời mình còn dài hay ngắn. (Tonne).4. “Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu. Nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết như vậy.””Sám hối”.Vâng, tôi đã hơn một lần sám hối, thế mà cuộc đời tôi vẫn thế. Và hôm nay Chúa lại mời gọi tôi sám hối, mời gọi tôi hãy làm cuộc cách mạng tận căn mà lấy Lời Chúa làm chuẩn mực, một cuộc cách mạng dựa trên nền tảng của tình yêu thương, không đố kỵ. không ghen ghét, để nơi con có được tình yêu mà Chúa đã đem đến nơi thế gian này.Lạy Chúa, xin giúp con sám hối, xin biến đổi tâm hồn con, để mọi việc con làm, mọi điều con suy nghĩ đều dựa trên tình yêu. (Hosanna).

NGHE: – NCK: Lc 13,1-9 Xh 3,1-8a.13-15 : (Thiên Chúa gọi ông Mô-sê từ bụi cây bốc cháy và cho biết tên của Ngài). 1 Cr 10,1-6.10-12 : “Ai tưởng mình đang đứng vững, thì hãy coi chừng kẻo ngã”. TIN MỪNG: NẾU KHÔNG SÁM HỐI THÌ SẼ CHẾT HẾT”Khi ấy, có mấy người đến kể lại cho Đức Giêsu nghe chuyện những người Ga-li-lê bị tổng trấn Phi-la-tô giết, khiến máu đổ ra hòa lẫn với máu tế vật họ đang dâng. Đức Giêsu đáp lại rằng: “Các ông tưởng mấy người Ga-li-lê này phải chịu số phận đó vì họ tội lỗi hơn mọi người Ga-li-lê khác sao? Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy. Cũng như mười tám người kia bị thác Xi-lô-ác đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giê-ru-sa-lem sao? Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy”.DỤ NGÔN CÂY VẢ KHÔNG RA TRÁI”Rồi Đức Giêsu kể dụ ngôn này: “Người kia có một cây vả trồng trong vườn nho mình. Bác ta ra cây tìm trái mà không thấy, nên bảo người làm vườn: ‘Anh coi, đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt nó đi, để làm gì cho hại đất?’. Nhưng người làm vườn đáp: ‘Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa, tôi sẽ vun sới chung quanh, và bón phân cho nó. May ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi'”.Ngẫm :Câu hỏi gợi ý : 1. Ta nghĩ gì về những người thình lình bị tai nạn, về những người xấu số hơn ta, có phải họ bị Chúa phạt vì tội lỗi của họ không?2. Thiên Chúa có hài lòng khi ta nhận ra rằng mình đạo đức hay thánh thiện hơn người không? Tại sao?Suy tư gợi ý :1. Khi thấy ai bị tai nạn, đừng vội nghĩ họ bị Chúa phạtNgày xưa, khi thấy một người nào bị tai nạn khủng khiếp, người Do Thái thời ấy thường nghĩ rằng vì người ấy tội lỗi, nên bị Chúa phạt. Nhân xảy ra một vụ có nhiều người bị thảm sát, Đức Giê-su đã chỉnh lại quan niệm ấy. Theo Ngài, tất cả mọi người đều là người tội lỗi trước mặt Thiên Chúa, đều cần phải nhìn ra tội lỗi của mình và sám hối. Thánh Kinh có lời chép: “Không ai là người công chính, dẫu một người cũng không; chẳng ai có lương tri, chẳng ai tìm kiếm Thiên Chúa” (Cv 3,10-11; xem Tv 14,1-3). Vì thế, trước Thiên Chúa, đừng ai tự hào mình công chính hơn người khác. Thiên Chúa rất ghét sự tự hào này (xem Lc 18,9-17). Đồng thời không nên phán đoán về giá trị đạo đức của người khác, nhất là không bao giờ nên kết án người khác, vì chỉ một mình Thiên Chúa mới có khả năng xét đoán chính xác và được quyền kết án mà thôi. “Đừng xét đoán để khỏi bị kết án” (Mt 7,1).Tốt nhất, khi thấy ai bị tai nạn, ta không nên cho rằng người đó tội lỗi, đáng bị Chúa phạt. Biết bao người hiền lành, thánh thiện bị Chúa thử thách và thánh hóa bằng nghịch cảnh, bằng những tai ương dồn dập. Thánh vịnh nói: “Người hiền đức gặp nhiều bước gian truân”.Các Ki-tô hữu thời sơ khai, các thánh tử đạo thường là những người hiền đức nhưng cuộc đời của họ nhiều khi gặp toàn nghịch cảnh, và có khi phải chết một cách thảm thiết, chẳng hạn rất nhiều Ki-tô hữu bị Nê-rô cho sư tử xé xác và bị thiêu sống tập thể. Chính thánh Tê-rê-xa A-vi-la cũng gặp rất nhiều thử thách, đến nỗi ngài phải than với Chúa: “Bây giờ con mới hiểu tại sao Chúa lại quá ít bạn như thế, vì Chúa thường đối xử với bạn thân thiết của Chúa như thế này đây!”. Thật vậy, Chúa thương ai nhiều thì thường thử thách người đó nhiều bằng đau khổ, vì đau khổ có khả năng thánh hóa rất cao. Do đó, không thể cứ thấy ai lâm hoạn nạn là ta nghĩ họ vì tội lỗi nên bị Chúa phạt.2. Hãy nhận ra lỗi của mình, đừng tự hào rằng mình đạo đứcThiên Chúa muốn chúng ta tự xét lỗi và nhận ra lỗi của bản thân mình hơn là xét lỗi và thấy lỗi của người khác. Thấy lỗi của người khác mà không thấy lỗi mình chỉ khiến ta phát sinh lòng kiêu ngạo, tự mãn, khinh người. Còn nhận ra tội lỗi hay yếu đuối của mình, sẽ giúp ta khiêm nhường, nhất là cảm thông được những yếu đuối và tội lỗi của người khác. Nếu vì những yếu đuối hay vì một số tội lỗi ta đã phạm mà ta trở nên khiêm nhường và thông cảm với người khác hơn, thì những yếu đuối hay tội lỗi ấy đúng là những tội lỗi hồng phúc. Vì Thiên Chúa đánh giá một người tội lỗi mà khiêm nhượng còn cao hơn một kẻ thánh thiện mà kiêu ngạo. Hạng trước có thể lên thiên đàng, còn hạng sau thì không bao giờ. Lu-xi-phe ban đầu chắc hẳn thánh thiện hơn bất kỳ ai trong chúng ta, nhưng sự thánh thiện ấy trở thành vô giá trị khi đi đôi với tính kiêu ngạo và lòng tự hào. Tính kiêu ngạo phá hủy tất cả mọi nhân đức, mọi việc lành. Minh họa sau đây nói lên điều ấy:Một người nổi tiếng đạo đức, sáng nào cũng dậy đi lễ và làm rất nhiều việc phúc đức khác, chỉ có điều đáng tiếc là ông ta tự hào rằng mình đạo đức hơn người vì đã làm được những việc tốt lành ấy. Một hôm, ông bị bệnh, và dự định sáng hôm sau sẽ không đi lễ. Nhưng sáng hôm sau, có người lạ mặt đến tận giường đánh thức ông dậy, bảo ông mau dậy đi lễ. Ông hỏi thì người ấy tự nhận mình là ma quỉ. Ông hỏi tại sao quỉ lại khuyến khích ông đi lễ thay vì theo lẽ thường là ngăn cản ông. Quỉ cho ông biết là cám dỗ ông đi lễ thì có lợi cho hỏa ngục hơn, và thiệt hại cho phần rỗi của ông hơn. Vì càng đi lễ nhiều thì ông càng tự hào mình đạo đức hơn người, và điều ấy làm cho ông bớt đẹp lòng Chúa hơn, thậm chí có thể làm ông trở thành đạo đức giả, làm gì cũng là để người khác ca tụng, nể phục. Đó là điều Chúa rất ghét. Câu chuyện trên minh họa một sự thật, được Đức Giê-su nói đến trong dụ ngôn người thu thuế và người Pharisiêu lên đền thờ cầu nguyện (xem Lc 18,9-17). Người thu thuế tuy tội lỗi nhưng khiêm nhường thì làm Chúa hài lòng hơn người Pharisiêu tuy đạo đức nhưng lại tự kiêu.3. Tinh thần khiêm nhường, sám hốiQua bài Tin Mừng này, ta thấy Đức Giê-su muốn ta có tâm tình sám hối thường xuyên, nghĩa là luôn khiêm nhường, ý thức được tình trạng yếu đuối, mỏng dòn, và tội lỗi của mình trước mặt Thiên Chúa, để càng ngày càng cố gắng sống tốt đẹp hơn, mà vẫn luôn khiêm nhượng, không tự cho mình là hơn ai.Thật vậy, trong cuộc đời ta, lúc nào ta cũng bị vướng vào một số khuyết điểm nào đó, khiến ta không bao giờ có thể tự hào mình hoàn toàn vô tội hay hoàn hảo, khiến ta luôn luôn có lý do để khiêm nhường, để sám hối trước mặt Chúa, để quyết tâm trở nên hoàn hảo hơn. Sự thánh thiện của ta không hệ tại tình trạng toàn hảo cho bằng tình trạng luôn luôn hướng về sự hoàn hảo đó, trong nhận thức rằng mình còn khiếm khuyết để rồi cố gắng hoàn hảo hơn nữa. Nếu ta thật sự sống lý tưởng “nên hoàn hảo như Cha trên trời là Đấng hoàn hảo”(Mt 5,48), ta sẽ cảm thấy mình luôn luôn có lý do để sám hối, vì thấy mình còn xa mức đó lắm, vì thấy mình còn vướng nhiều khuyết điểm, tội lỗi, và còn phải sửa sai nhiều chuyện. Chính khi ta có tâm tình khiêm nhường sám hối như thế, không dám nghĩ rằng mình là thánh thiện, thì Cha trên trời lại đánh giá sự thánh thiện của ta rất cao. Ngược lại, chính khi ta tự hào mình là thánh thiện và cảm thấy không cần phải sám hối về điều gì, thì Ngài lại đánh giá sự thánh thiện của ta rất thấp. Mà chỉ có sự đánh giá của Ngài mới chân thực và có giá trị.Thông thường, khi nghĩ tới sám hối, chúng ta chỉ nghĩ tới những hành vi sai trái, những tội lỗi ta đã phạm, và nhiều người trong chúng ta cảm thấy nghĩ hoài mà không thấy mình có lỗi gì, nghĩa là thấy mình vô tội, hoặc chỉ thấy mình có một vài khiếm khuyết nho nhỏ. Vì thế, ta cảm thấy không có nhu cầu phải sám hối, thậm chí còn nghĩ rằng mình đã thánh thiện lắm rồi, hoặc không mấy ai sống tốt lành được như mình. Nhưng nếu ta xét về những tội do thiếu sót, nghĩa là về những việc mà đáng lẽ ta phải làm nhưng ta đã không làm, thì người lành thánh tới đâu cũng khó tránh khỏi tội, nhất là về đức bác ái, là nhân đức bị Chúa xét tới nhiều nhất trong ngày phán xét. Khi ta tự nhận ra mình còn nhiều thiếu sót, ta sẽ thấy mình luôn luôn cần phải cố gắng hơn nữa để tiến tới, nhờ đó ta sẽ tiến mãi. Nếu ta tự cho mình là công chính, thì đó là một ảo tưởng khiến ta tự mãn và đứng lại, không tiến tới nữa. Chính sự tự hào tự mãn ấy làm ta không đề phòng những cám dỗ, vì thế, ta có thể sa ngã bất cứ lúc nào. Vì trong thực tế, ta yếu đuối hơn ta tưởng rất nhiều, sự thánh thiện của ta mỏng dòn và bị lệ thuộc vào nhiều điều kiện thuận lợi ta đang có. Những điều kiện đó bị mất, có thể ta sẽ rơi vào tội lỗi ngay. Vì thế, bài đọc hai đã cảnh báo ta: “Ai tưởng mình đang đứng vững, thì hãy coi chừng kẻo ngã”. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy: có nhiều người đã từng nổi tiếng đạo đức hơn ta, thế mà nay đã sa ngã, bị thiên hạ liệt vào hạng người không tốt.Nguyện :Lạy Chúa, xin cho con luôn luôn nhận ra sự yếu đuối và bất toàn của con, đồng thời nhận ra mức độ thánh thiện hay đạo đức mà con đang có được chủ yếu là một hồng ân Chúa ban hơn là do con làm nên. Xin cho con một tinh thần sám hối, luôn luôn nhận ra những thiếu sót của mình để cố gắng hoàn thiện nhiều hơn nữa. Đừng bao giờ để con tự hào về mức độ hoàn thiện của mình. Amen.(NCK)

Lời hứa có một ảnh hưởng nào trong cuộc sống ? Hôn ước cũng chỉ là một lời hứa vắn tắt, nhưng ràng buộc con người suốt đời.Thiên Chúa cũng bị lời hứa ràng buộc. Giao ước chính là lời Thiên Chúa hứa cứu độ nhân loại. Nhưng rõ ràng có một sự khác biệt lớn lao giữa Thiên Chúa và con người trong việc giữ lời hứa. Chính nhờ lời hứa, giá trị được xác định. Vì chữ tín càng cao, con người càng được mọi người kính nể. Chúng ta thử xem Thiên Chúa đã giữ lời hứa như thế nào trong khi thiết lập tương giao với nhân loại. TƯƠNG QUAN HAI CHIỀU Thiên Chúa đã chứng tỏ tất cả uy quyền khi thiết lập giao ước với loài người. Chính vì yêu thương, Chúa đã hạ cố đến với Môsê. Người đã dẫn ông qua những nẻo đường, đến tận núi Sinai để thiết lập giao ước với dân tộc Do thái. Mười Điều Răn chính là cách diễn tả cụ thể giao ước đó (Faley 1994:244). “Mười Điều răn thể hiện quyền bình Thiên Chúa trên chúng ta” (Disciples in Mission, Homily Guide, Lent Cycle B 1999:13). Quyền bính ấy không nhằm đè bẹp, nhưng thăng tiến con người. Con người chỉ thực sự thăng tiến khi biết rõ mình là ai trong tương quan với Thiên Chúa và tha nhân. Bởi vậy ” trước khi ban Mười Điều Răn cho Israel, Thiên Chúa mạc khải Người là ai. Israel khám phá mình là ai khi đáp trả lại lời Thiên Chúa mời gọi bước vào tương quan giao ước, nhờ vậy có một căn tính mới” (Disciples in Mission, Homily Guide, Lent Cycle B 1999:13). Quả thực chính nhờ giao ước, Do thái thực sự được Chúa yêu thương và trở thành người con đầu lòng của Thiên Chúa. Họ rất hãnh diện vì như chiếm được lòng ưu ái của Thiên Chúa, trong khi dân ngoại bơ vơ giữa đủ thứ thần tượng. Nhờ thực thi giao ước, họ sẽ chiếm được niềm hi vọng thiên sai. Chính vì thế, Đức Giêsu đã sinh ra trong dân tộc Do thái. Người đến để thực hiện tất cả những gì Thiên Chúa đã hứa qua giao ước. Thiên Chúa phải được tôn thờ là vị Thần độc nhất. Đối với Do thái, nhận thêm một vị thần vào bảng phong thần không khó lắm. Nhưng tôn thờ Người là vị thần độc nhất, loại trừ tất cả các thần khác là cả một vấn đề. “Giới răn thứ nhất (cc.3-6) là một cách diễn tả niềm tin độc thần trong thực tế” (Faley 1994:245). Đền thánh là lãnh vực tuyệt đối dành cho một mình Giavê mà thôi. Nếu ai đem thần ngoại bang vào đền thờ, tức là chối bỏ Giavê. Xúc phạm tới đền thánh tức là xúc phạm tới Thiên Chúa. Đền thờ trở nên trung tâm sinh hoạt tôn giáo và chính trị của toàn dân. Đó là biểu tượng của niềm tin và hi vọng. Dân tộc trở thành một cộng đồng qui tụ quanh đền thờ. Cộng đồng đó cần được Thiên Chúa hướng dẫn về Đất hứa. “Mười Điều Răn đã được Thiên Chúa phác họa để dẫn dân Do thái tới một cuộc sống thánh thiện trong thực tế. Trong Mười Điều Răn đó, họ sẽ nhìn thấy bản tính Thiên Chúa và kế hoạch Người chỉ vẽ cho dân lối sống. Mệnh lệnh và những chỉ dẫn nhằm hướng dẫn cộng đoàn gặp gỡ từng nhu cầu cá nhân một cách đầy thương yêu và có trách nhiệm” (Life Application Study Bible 1991:136). Thực hành Mười Điều Răn là cách duy nhất để cảm nghiệm tình yêu Thiên Chúa đối với dân Người. Biểu tượng của tình yêu và niềm hi vọng chính là đền thờ. Bởi vậy mỗi khi nhìn đến hay hướng về đền thờ, dân Chúa vô cùng phấn khởi và hăng say giữ tất cả những gì Thiên Chúa đòi hỏi qua giao ước. Họ không cảm thấy gò bó hay miễn cưỡng khi giữ luật vì đó là “phương tiện duy nhất chu toàn luật thương yêu của Thiên Chúa” (Life Application Study Bible 1991:136). Ngày sabát là một bằng chứng. Chính vì biến phương tiện thành mục đích, người Do thái đã đánh mất nét tinh hoa cao quí nhất của lề luật. Nói khác, khi không còn là phương tiện đạt mục đích Thiên Chúa đã vạch ra, luật lệ hay đền thờ trở thành những thứ thừa thãi, vô bổ. Chính vì thế Đức Giêsu mới không ngần ngại nổi nóng với những lạm dụng đền thờ, cản trở việc thờ phượng. Làm sao có thể tưởng tượng nổi một Đấng “hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11:29) lại có thể “lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả bọn họ cùng với chiên bò ra khỏi Đền Thờ; còn tiền của những người đổi bạc, Người đổ tung ra, và lật nhào bàn ghế ho.” (Ga 2:15). Giữa chốn ồn ào hỗn loạn đó, chắc chắn Người đã phải quát lên : “Đem tất cả những thứ này ra khỏi đây, đừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán” (Ga 2:16). Công cuộc thanh tẩy Đền Thờ làm Người hầu như quên bản chất hiền lành của mình. Người sẵn sàng vượt lên trên mức thường tình để thanh tẩy Đền Thờ. Người còn muốn cho mọi người thấy mạc khải lớn lao về bản chất đích thực. Người chính là Đền Thờ mới thay thế Đền Thờ cũ vào thời Thiên sai (Ml 3:1-4; Dcr 14:21). Bởi thế, “hành động của Đức Giêsu mang tính cánh chung, thúc đẩy người Do thái thắc mắc về tư cách Thiên sai của Người” (Ga 2:18) (Faley 1994:248). Thắc mắc đó phải đợi sau cái chết và phục sinh của Người được trả lời thỏa đáng. “Đền Thờ ấy sẽ được một thực tại mới thay thế là Đức Kitô tràn đầy Thần khí” (Faley 1994:248). Chính nơi Người, Thiên Chúa sẽ hiện diện cách sung mãn và sống động nhất. Người sẽ trở nên trung tâm thu hút mọi người về với Thiên Chúa. Quả thế, sau khi phục sinh, Đức Giêsu là nơi nhân loại tìm được dung nhan Thiên Chúa và sự tôn thờ đích thực trong “thần khí và sự thật”(4:23-24). Trước đó, Người đã làm nhiều dấu chỉ chứng tỏ nơi Người, sự thật mới đạt đến độ sâu sa nhất. Vì nhờ thiên tính, Người đã đi sâu vào tận bản tính nhân loại (c.25; 1:47). ĐỀN THỜ HÔM NAY Đức Giêsu cũng muốn thanh tẩy Đền Thờ hôm nay là Giáo hội. Nếu Giáo hội không được thanh tẩy, những hoạt động trần tục sẽ che khuất dung nhan Thiên Chúa trước mắt mọi người. Nói khác, chính vì Giáo hội quá nặng nề với lỗi lầm quá khứ, những nghi lễ và luật lệ rườm rà, nhiều người đã không thể đến được với Chúa Kitô. Bởi đấy, ngày 12.3.2000 vừa qua, ĐGH Gioan Phaolô II đã làm một cử chỉ ngoạn mục trước mắt toàn thể nhân loại. Giáo hội đã tự thanh tẩy. Đúng hơn, Thánh Linh đã thanh tẩy khuôn mặt Giáo hội, không phải để Giáo hội được nổi tiếng, nhưng để mọi người nhận biết Đức Kitô là “sự thật và là sự sống” (Ga 14:6), có sức giải thoát nhân loại khỏi mọi cảnh khốn cùng hiện tại. Trong khi rao giảng Đức Kitô, Giáo hội nhìn nhận lịch sử Giáo hội là một chuỗi “các tội đã phạm trong khi phục vụ chân lý, các tội đã làm tổn thương đến sự hiệp nhất Kitô giáo, các tội chống lại dân tộc Israel, các tội chống lại tình yêu, hòa bình và kính trọng đối với các nền văn hóa và các tôn giáo, các tội chống lại phẩm giá của người phụ nữ và sự hiệp nhất của loài người, và các tội phạm đến các quyền cơ bản của con người” (VietCatholic 19/3/2000). Không phải vì những lầm lỗi ấy mà Giáo hội phải bị phá hủy, vì bản chất Giáo hội vẫn là thánh. Hi vọng sau lời thú tội này, Giáo hội sẽ phục vụ Thiên Chúa và con người đắc lực hơn. Mọi người có thể dễ dàng đến với Đức Kitô qua cung cách khiêm nhường của Giáo hội. Nhân loại như bước vào “thời gian hòa giải, thời gian cứu độ cho tất cả mọi người tín hữu và cho tất cả mọi người đang tìm kiếm Thiên Chúa !” (ĐGH Gioan Phaolô II, “Ngày Xin Ơn Tha Thứ”, VietCatholic, 19/3/2000). Đức Giáo Hoàng đã tô một nét son thật đậm vào lịch sử Giáo hội. Các Giáo hội địa phương cũng theo gương sáng đó. Chẳng hạn tại Giáo hội Hoa Kỳ, các Đức Hồng y Roger Mahony, TGM Los Angeles, đã xin lỗi cả những người đống tính luyến ái và những tín đồ thuộc các tôn giáo khác. Người cũng xin lỗi cả những gia đình hay cá nhân về những lạm dụng tình dục của một số linh mục. Đức Hồng y Bernard Law tại Boston cũng xin lỗi về nạn nô lệ tại Hoa Kỳ. Các Giám mục Âu châu cũng đã thú nhận người Kitô hữu đã không cố sức để cứu người Do thái trong thời Đệ nhị thế chiến (VietCatholic 19/3/2000). Trước bao nhiêu thành kiến đang ngăn cản mọi người đến với Chúa hôm nay, sao chưa thấy Giáo hội Việt Nam có một lời thú tội nào ? Còn đợi đến bao giờ ? ? ? Như Hạ

Còn gì vui hơn khi thấy giấc mơ thành sự thật. Các môn đệ đã thấy rõ Đức Giêsu đến thực hiện tất cả mộng ước của dân Do thái về Đấng Messia. Niềm hi vọng tưởng như bừng lên khi ông Phêrô tuyên xưng : “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa” (Lc 9:20). Nhưng đám mây đen đã kéo đến với lời Đức Giêsu tiên báo về cuộc khổ nạn sắp tới (x. Lc 9:22), tiếp sau biến cố Gioan Tẩy giả vừa mới bị giết (Mt 14:1-12; Mc 6:14-29). CẢNH BỒNG LAI Để khai quang đám mây đen đó, “Đức Giêsu lên núi cầu nguyện đem theo các ông Phêrô, Gioan và Giacôbê” (Lc 9:28b). Chỉ có lời cầu nguyện mới giữ nổi niềm hi vọng. Chính vì thế, Đức Giêsu đặt hết niềm tin tưởng nơi Chúa Cha, Đấng có thể thỏa mãn mọi niềm hi vọng. “Đang lúc Người cầu nguyện, dung mạo Người bỗng đổi khác” (Lc 9:29). Cuộc kết hiệp đã đưa Người xa rời thế giới chung quanh, đi vào cảnh bồng lai Thiên Chúa. Cả cảnh vật chung quanh cũng biến đổi theo cuộc kết hiệp vĩ đại đó: “Y phục Người trở nên trắng tinh chói lòa” (Lc 9:29). Cuộc kết hiệp thần kỳ đã mở ra tất cả bí mật của thế giới Thiên Chúa. Rõ nhất là tương quan phụ tử : “Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn.” (Lc 9:35). Tương quan này sẽ chi phối tất cả cuộc đời và con người của Đức Giêsu. Tương quan cực kỳ sâu đậm, cao đẹp và thắm thiết. Tất cả những tương quan khác trong biến cố biến hình đều tùy thuộc vào tương quan đó. Nhờ thế, Đức Giêsu đã có thể làm tất cả mọi sự để hoàn thành sứ mệnh cứu độ trần gian. Sứ mệnh đó bắt nguồn từ lời hứa của Thiên Chúa. Lời hứa đó được nhắc lại khi “ông Môsê và ông Elia hiện ra, rạng ngời vinh hiển, và nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem” (Lc 9:31). Những hình ảnh Cựu Ước tuyệt vời này đã củng cố niềm tin cho các tông đồ. Nguyên sự xuất hiện đó đã đưa uy tín của Đức Giêsu lên tột đỉnh niềm tin của các ông. Huống nữa các ông Môsê và Elia còn nói về một cuộc xuất hành mới tại Giêrusalem. Cuộc xuất hành mới sẽ đem muôn dân vào miền đất hứa mới. Đức Giêsu rất xứng đáng lãnh đạo toàn thể nhân loại, chứ không chỉ một dân tộc như Môsê. Người còn có thể phóng tầm nhìn xa hơn một tiên tri như Elia để đem lại niềm hi vọng lớn lao cho lòng người, vì Người sẽ đem tất cả nhân loại vào tương quan sâu xa với Thiên Chúa. Chỉ trong tương quan này, “con người mới tìm thấy chính mình cách trọn vẹn và khám phá ra ý nghĩa tối hậu của đời sống” (Gioan Phaolô II, VietCatholic 27/2/2001). Nhờ tương quan đó, Người đã có thể hoàn thành cuộc xuất hành ở Giêrusalem, cao điểm của mọi lời hứa. Khi các nhân vật Cựu Ước đã hoàn thành nhiệm vụ, các nhân vật Tân Ước cũng được trình diện với Thiên Chúa trong công cuộc xuất hành mới. Đây là những nhân vật quan trọng sẽ góp phần vào công cuộc giải phóng dân Chúa. Do đó các ông cũng cần đi vào cuộc tiếp xúc sâu xa với Thiên Chúa. Cuộc tiếp xúc với các nhân vật Cựu Ước đã khiến Phêrô muốn dừng lại để định cư với những túp lều lý tưởng. Nhưng ông bị đẩy xa hơn. Đám mây đã đem các ông vào một trời đất mênh mông, vượt trên mọi biên giới trần gian. Các ông bị choán ngợp trong thế giới Thiên Chúa. Thật vậy, khi “ông (Phêrô) còn đang nói, thì bỗng có một đám mây bao phủ các ông. Khi thấy mình vào trong đám mây, các ông hoảng sợ” (Lc 9:34). Lúc này các ông không còn nghe thấy tiếng loài người nữa, nhưng trực tiếp nghe Thiên Chúa xác quyết về bản chất và sứ mệnh của Đức Giêsu. Người thực sự là Con Thiên Chúa, được tin tưởng và ủy thác việc hoàn thành cuộc xuất hành mới. Nếu Thiên Chúa còn tin tưởng và giao cho Người sứ mệnh cao cả như vậy, làm sao con người lại không tin ? Tiếng nói của Chúa Cha là một bảo đảm vững chắc nhất : “Hãy vâng nghe lời Người !” (Lc 9:35) ngay cả trong những nghịch lý của cây khổ giá. Từ nay, Lời Chúa phải có một giá trị tuyệt đối. Chỉ cần nghe lời Đức Giêsu là vâng phục Thiên Chúa. Bởi vậy, “tiếng phán vừa dứt, thì chỉ còn thấy một mình Đức Giêsu” (Lc 9:36). Từ nay chẳng cần một cuộc biến hình nào nữa, vì chỉ một mình Đức Giêsu cũng đủ cho con người thấy tất cả hồng ân cao cả của Thiên Chúa. CUỘC XUẤT HÀNH MỚI. Chỉ khi nào vào trong đám mây, nghĩa là cũng biến hình như Chúa, các tông đồ mới có thể định hướng cho cuộc xuất hành mới. Hướng mới chính là Đức Giêsu Kitô. Trước đây, dù ngay khi còn trên núi, các ông đã lâm vào tình trạng “không biết mình đang nói gì”(Lc 9:33) hay “hoảng sợ” (Lc 9:34). Nhưng giờ đây, sau khi đã thấy rõ tất cả sự thật về Đức Giêsu, chắc chắn các ông sẽ vững tâm hơn. Từ nay, các ông tin tưởng tuyệt đối “Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3:21). Cuộc biến hình này sẽ đẩy chúng ta vào cuộc xuất hành mới. Cuộc biến hình đó có thể thực hiện ngay trên mặt đất. Xưa kia, vì “tin Đức Chúa” (St 15:6), ông Abraham được “Đức Chúa lập giao ước” (St 15:18). Không những thế, ông còn trở thành tổ phụ của dòng dõi đông như sao trên trời (x. St 15:5). Nhưng trên hết, nhờ lòng tin, ông được “Đức Chúa kể là người công chính” (St 15:6). Nói khác, lòng tin đã thực hiện một cuộc biến hình ngoạn mục trong đời ông. Cuộc biến hình hôm nay còn ngoạn mục hơn nhiều. Chính cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu sẽ biến Kitô hữu thành người công chính, hơn nữa trở nên bạn hữu Đức Kitô, để có thể đi vào cuộc hiệp thông sâu xa với Thiên Chúa. Từ cuộc hiệp thông này, chúng ta mới có thể hòa giải với tha nhân. “Hòa giải cho dù mình có lỗi đã là khó. Hòa giải ngay cả khi người ta lỗi đến mình xem ra còn khó khăn hơn vì nhiều người vẫn cho là điều nhục nhã vô lý” (Gioan Phaolô II, VietCatholic 25/2/2001). Lòng tự ái thật là trái núi lớn nằm chình ình giữa tương giao nhân loại. Nhưng nếu “có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này “rời khỏi đây, qua bên kia”! nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được” (Mt 17:20-21). Ai có thể lường hết sức mạnh đức tin ?! Đức tin đã khiến Abraham vượt núi băng rừng đến miền đất hứa. Đất hứa đó ngày nay không đóng khung trong ranh giới Do thái, vì miêu duệ Abraham là Giáo hội đã trải rộng khắp mặt đất. Mặc dù niềm tin đó đã gặp nhiều thử thách, nhưng Giáo hội vẫn sống mạnh với niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô. Nhờ đó, Giáo hội đã biến hình và luôn phản ánh vinh quang Thiên Chúa giữa muôn dân. Là con cái Giáo hội và là chính Giáo hội, người Kitô hữu phải làm gì để luôn phản ánh “vinh quang của Đức Giêsu” (Lc 9:32) giữa những sinh hoạt muôn mặt hôm nay ? Làm sao sống xứng đáng “là niềm vui, là vinh dự” (Pl 4:4) của Giáo hội giữa một thế giới đầy bất ổn và buồn chán hôm nay ? Chỉ có cách bám chặt vào niềm hi vọng duy nhất là Đức Kitô. Sống giữa trần thế, nhưng chúng ta vẫn không quên “quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta” (Pl 3:20).

Một cô gái trẻ tên là Têrêxa đã bỏ đức tin Công giáo. Khi được hỏi lý do gì đã làm cho cô bỏ đạo, cô trả lời: “Các lý do thì vô kể”. Rồi sau bốn năm không sống đạo, cô vẫn cảm thấy mình không có hạnh phúc. Một hôm, anh bạn trẻ mà cô quen biết đã chết vì tai nạn xe hơi. Cô đã đi dự đám tang của anh bạn ở chính nhà thờ mà hồi xưa cô đã tham dự. Cô ấy diễn tả cảm nghĩ của mình khi tham dự đám tang của anh bạn như sau: “Tôi quá xúc động khi tôi thấy quan tài phủ vải trắng từ từ được khiêng vào nhà thờ. Linh mục chủ tế giải thích rằng vải phủ trắng tượng trưng cho việc rửa tội của anh trong Chúa Ki-tô. Điều này đã đánh động tôi và làm cho tôi tỉnh giấc. Tôi bắt đầu nghi vấn quyết định của tôi để lìa bỏ tất cả những cái này. Tôi bắt đầu nhận ra Chúa yêu chúng ta dường nào và tôi nhận thấy cần thiết tôi phải trở lại sống niềm tin của mình trong cộng đoàn đức tin này”.Cô kết luận rằng: “Từ hôm đám tang đó đã một năm rồi. Trong thời gian đó Chúa đã canh tân và chữa lành nhiều lãnh vực trong đời sống của tôi. Thần Chân lý đã cho tôi thấy sự trọn vẹn của Đạo Công giáo và đây là con đường tôi phải đi để được hạnh phúc. Tôi đã tìm được tất cả những cái này lần thứ hai tôi sống đạo”.Câu chuyện ơn Chúa đã đánh động Têrêxa, cho cô được thêm một cơ hội rất hợp với bài học Chúa dạy trong dụ ngôn cây vả trong Tin Mừng hôm nay. Cây vả dường như sắp bị tiêu diệt. Nó sắp bị chặt xuống. Rồi bỗng nhiên một tia sáng hy vọng chiếu vào. Cây vả không bị tiêu diệt. Trong lúc nguy ngập nó được thêm một cơ hội.Câu chuyện dụ ngôn cây vả của Chúa trong Tin Mừng biểu dương một ý nghĩa quan trọng đối với chúng ta. Nơi Chúa Ki-tô, chúng ta luôn luôn còn cơ hội.Làm thế nào để áp dụng những bài học này vào đời sống hằng ngày của chúng ta? Mọi người chúng ta, ở một mức độ nào đó, giống như cây vả trong dụ ngôn Chúa kể và như cô gái trong câu chuyện trên. Mọi người chúng ta, không lúc này thì lúc khác, tới một lúc trong đời sống mà dường như chúng ta không thể vượt nổi. Có lẽ ngay lúc này có người đang cảm thấy thất vọng như thế. Có thể là chúng ta đang bị một việc nào đang đè nặng ghì ta xuống. Có thể là một liên hệ nào đó làm cho ta khủng hoảng nghi ngờ tất cả những cái mà mình đặt niềm tin vào. Có thể ta đang gặp một chuyện rắc rối xem như bị dẫn vào con đường tối tăm mà chúng ta không thấy có lối thoát.Đây Tin Mừng muốn nói với chúng ta một điều rất cần thiết. Vì Chúa Ki-tô, chúng ta không bao giờ bị diệt vong dù tình thế tăm tối. Trong Chúa Ki-tô, chúng ta vẫn còn hy vọng dù tình thế bi quan.

CHỦ ĐỀ CÁC BÀI ĐỌC : Bài 1: Xh 3:1-8.13-15; Bài 2: 1 Cor 10:1-6.10-12; Tin Mừng: Lc 13:1-9 Các bài đọc Chúa nhật 3 Mùa Chay phác họa cho chúng ta đôi nét về Thiên Chúa của Kitô giáo.Trong bài đọc 1, Thiên Chúa tự mạc khải mình là Đấng Hiện Hữu qua hình ảnh ngọn lửa bốc cháy mà không tàn lụi.Bài đọc 2 cho thấy Thiên Chúa trong Kitô giáo còn là Thiên Chúa quan phòng đã dùng lịch sử dân Israen làm bài học răn dạy chúng ta để ai tưởng mình đang đứng vững thì hãy coi chừng kẻo ngã.Bài Tin Mừng lại trình bày hình ảnh một vị Thiên Chúa nhân ái khao khát và chờ đợi tội nhân trở về trước khi Ngài thi hành công lý.SỨ ĐIỆP NIỀM TINThiên Chúa, ngọn lửa cháy mà không lụi tàn.Theo tâm thức của người xưa, lửa là biểu tượng quyền lực và sức mạnh thần linh. Trong Cựu Ước, lửa cũng là biểu tượng sự hiện diện của Thiên Chúa trong công cuộc tạo thành ( mặt trời, tia nắng) và trong dòng lịch sử các dân tộc. Thiên Chúa là Đấng vĩnh cửu nên ngọn lửa, chỉ sự hiện diện và quyền lực của Ngài, không thể tàn lụi. Đây là một cách diễn tả Thiên Chúa luôn luôn gần gũi với Môsê và với con cháu Israen. Sự hiện diện đầy quyền năng của Thiên Chúa giữa dân Người đạt đến mức hoàn hảo khi chính Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể trong cung lòng Đức Maria và làm người giống như ta mọi đàng, chỉ trừ tội lỗi. Trong cuộc đời công khai, Đức Giêsu sẽ nói: Ta đem lửa đến thế gian và Ta ước mong sao cho lửa ấy bùng cháy lên. Lửa ấy chính là Thiên Chúa trong tiếp cận nhiệm mầu với con người; ngọn lửa cháy như ngọn cờ giương cao giữa nơi tâm điểm của lịch sử nhân loại và của cuộc sống mỗi người.Thiên Chúa xác định Ngài là Đấng Hiện Hữu.Giavê phán cùng Môsê: “Ngươi nói với con cái Israen thế này, Đấng Hiện Hữu sai tôi đến với anh em”. Ngọn lửa của Thiên Chúa không mang tính hủy diệt nhưng như là bạn hữu, là ân nhân và là chỗ tin cậy của dân. Theo văn mạch, lối giải thích hiện sinh về tên Thiên Chúa mạc khải cho Môisê vẫn thích hợp hơn tuy không loại trừ khả năng giải thích theo bản thể. Cũng giống như Môsê đã nói với dân Israen ở Ai cập, “Thiên Chúa đã sai tôi đến với anh em, nơi Ngài anh em tin tuởng chắc chắn vì chính Ngài sẽ giải phóng anh em.” Hoàn cảnh có thể là vô vọng không chỉ riêng cho dân Israen ở Ai cập mà còn cho người Do thái qua nhiều thời đại lịch sử của họ cũng như cho các kitô hữu trong 20 thế kỷ vừa qua. Hoàn toàn không có tương lai, không có hy vọng. Ai sẽ cứu thoát chúng ta khỏi tình trạng tội lỗi này? Thiên Chúa sẽ lập lại và sẽ tiếp tục lập lại cùng những lời ta nghe trong bài đọc 1: “Ta là Đấng hiện hữu. Đây là điều ngươi đi nói cho con dân Israen, “Đấng Hiện Hữu sai tôi đến với anh em”. Tín thác chắn chắn vào những lời này của Chúa sẽ luôn luôn làm đổi mới lịch sử của con người.Một Thiên Chúa khát mong chúng ta sám hối.Trước tiên, Môsê tự mình trở lại với Giavê và quay về Ai cập để giải phóng dân Israen theo ý Thiên Chúa. Trong bài Tin Mừng Đức Giêsu báo cho ta biết Thiên Chúa không ưa thích trừng phạt nhưng Ngài muốn lòng sám hối trở về nên những người Galilê bị sát hại trong đền thờ và mười tám người sống ở Giêrusalem bị tháp Siloe đè chết không phải là do Thiên Chúa trừng phạt, như bài Tin Mừng nhắc nhở, nếu ngươi không sám hối, ngươi sẽ bị hủy diệt.Một Thiên Chúa nhẫn nhục, biết đợi chờ.Thiên Chúa biết rõ lòng sám hối thật sự không phải là dễ dàng, và không thể xảy ra trong một sớm một chiều bởi vì Ngài biết tâm tư con người và biết phải chờ đợi như thế nào. Ngài cũng không vội vàng khi thấy có sự chân thành sẳn sàng trở về. Dụ ngôn cây vả mà Đức Giêsu kể trong Tin Mừng là niềm an ủi lớn lao cho những ai yếu đuối ít chịu nỗ lực trở về. Thiên Chúa không những chỉ biết chờ đợi mà Ngài còn hoạt động nơi lương tâm con người để đưa họ trở về và mang lại hoa trái. Liệu con người còn dám vô ơn với tình yêu vĩ đại như thế của Thiên Chúa? Là những kitô hữu chúng ta hãy nhớ rằng thời gian viên mãn sẽ đến cùng với Đức Kitô, như bài đọc 2 nhắc nhớ rằng sự nhẫn nại của Thiên Chúa cũng sẽ đến với sự viên mãn của thời gian. Liệu chúng ta có khước từ điều thánh Phaolô lưu ý không? Ôi lạy Chúa, xin giải thoát chúng con khỏi sự dữ này, sự dữ lớn nhất trong đời chúng con!GỢI Ý MỤC VỤ.Biết đợi chờ như Thiên Chúa.Sự thiếu kiên nhẫn để chờ giờ của Chúa thực hiện có lẽ là một tội lỗi lớn nơi người tông đồ, nơi người kitô hữu đạo đức cũng như nhà truyền giáo. Chẳng hạn một Cha xứ có thể cảm thấy thiếu kiên nhẫn khi đứng trước một số hoàn cảnh xảy ra trong xứ đạo: cha mẹ không muốn cho con cái rửa tội, nghi lễ rửa tội được xem có tính xã hội hơn là tôn giáo, các đôi nam nữ sống chung với nhau hoặc chỉ cưới nhau theo nghi thức ngoài đời, tình trạng giảm thiểu số sinh đáng kể, thiếu hiểu biết về giáo lý của người tín hữu, sự xuất hiện đầy sinh động và gây thiệt hại của những nhóm Chứng Nhân Giêhôva và các giáo phái tương tự, sự tan rã của các gia đình, chống đối một vài chân lý đức tin và luân lý Làm sao tiếp tục duy trì được với những vấn nạn hàng ngày như thế trong đời sống của một Cha xứ. ? Trên hết, phải thấy rằng trong những vấn đề nêu trên cũng có những sự kiện an ủi cho chính xứ đạo, như sự trưởng thành và trách nhiệm hơn trong lòng tin, việc nảy sinh các nhóm sống đạo canh tân đầy triển vọng, sự hiện diện tích cực của các nhóm và phong trào thuộc Giáo Hội, sự nâng đỡ cả tinh thần lẫn vật chất cho những ai đang có nhu cầu Đó không phải là những tín hiệu rõ nét của niềm hy vọng sao? Chúng ta không được thất đảm vì những vấn nạn dù chúng có thực. Trước hết, chúng ta không được tiêu hao năng lực vào việc than van, thiếu kiên nhẫn, quay lại quá khứChúng ta phải lập tức hành động, vâng, hành động và biết đợi chờ. Chúng ta làm với niềm tin và tình yêu, đó chính là phương cách hiệu quả cao cho việc đổi mới cuộc sống ngừơi khác. Phải biết kiên trì, chờ đợi, không hấp tấp. Chúa Giêsu nói, ai bền đỗ đến cùng, sẽ được cứu rỗi. Trong hy vọng, chúng ta tìm gặp ớn cứu độ cho chính mình và cho anh chị em.ĐỪNG NGƯNG VIỆC RAO GIẢNG THIÊN CHÚA KITÔ GIÁO.Chỉ có một Thiên Chúa duy nhất, và chính đó là lý do tại sao Thiên Chúa của Kitô giáo chia sẻ một số đặc tính của Ngài nơi Đấng mà những người theo Do thái và Hồi giáo tin thờ. Tuy nhiên, cũng có một số điểm khác biệt mà chúng ta nên đề cập đến. Chúng ta phải nói với họ về một Thiên Chúa luôn hiện diện gần gũi con người, một Thiên Chúa nhân ái biết chờ đợi và cũng phải nói về Thiên Chúa duy nhất đồng thời hiện hữu trong ba ngôi vị. Đó là là điểm khác biệt lớn nhất trong Kitô giáo. Hơn nữa, chúng ta còn phải nói về những vấn đề luân lý, những thay đổi trong tâm thức, về ý thức hệ chủ nghĩa tục hoá và tương đối. Nhưng, đó không phải là những điều quan trọng hơn nhiều để nói về Thiên Chúa hay sao? Kitô giáo không phải là một hệ thống luân lý có nơi tôn giáo; nhưng Kitô giáo, trước hết và trên hết, là một tôn giáo, một niềm tin mà từ đó xuất phát nền luân lý, cung cách sống cho mỗi cá nhân, cho thế giới và cho toàn xã hội. Như vậy, có thể khi nói về Thiên Chúa sống động và chân thực, chúng ta biến đổi lối sống và cách suy nghĩ của người thời nay. Chúng ta hãy chấp nhận những thách đố này để nói về Thiên Chúa cho người khác. Lm. Phêrô Phạm Ngọc Lê Chuyển dịch từ Homilies của Fr Antonio Izquierdo.

* VietCatholic (Chúa Nhật 3 Mùa Chay C)

BÀI ĐỌC 1: Xuất hành 3, 1-8; 13-15= Thiên sứ Chúa hiện ra với ông Mô-sê trong đám lửa từ giữa buị cây, thấy bụi cây cháy bừng, nhưng không bị thiêu./ There an Angel of the Lord appeared to Moses in a flaming chúng tôi consumed.

* BÀI ĐỌC 2: 1Cor.10, 1-6; 10-12= Thánh Phaolô muốn bạn nhớ lại cha ông của chúng ta đã vượt qua Biển dưới cột mây để theo ông Mô-sê/ St. Paul want you to remember our father was all passed through the Sea chúng tôi Moses

* TIN MỪNG (Gospel): Luca 13, 1-9=Đây là Lời Chúa nói với bạn và tôi: Thời giờ để Sám hối: Nếu các anh không Sám hối thì các anh cũng sẽ phải chết./ This is God’s Word to you:Time to Reform: If you do not repent, you will die.

* Chúa nhật thứ 3 MC Năm A : Bài đọc 1: Xh 17, 3-7. Bài đọc 2: Rôma 5, 1-2; 5-8. Tin Mừng: Gioan 4, 5-42.

A- Bạn và tôi cùng Cảm -Nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên : ( Reflections, live out and share )

1/ Bài Tin mừng hôm nay Chúa nói với mỗi người hai lần như sau: ” Tôi nói cho các ông biết, không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không sám hối thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy.” Tôi cứ tưởng là người khác có tội hơn tôi, còn tôi thì rửng rưng! Nhưng thần chết đến bất ngờ, tôi đã chuẩn bị gì, hay là cứ bận rộn chuyện đời! Tôi nghĩ mình giầu có đã mua bảo hiểm sức khỏe tốt, nhưng tôi không mướn ai gíup tôi ngặn chặn cái chết được! Kể một việc làm thật cụ thể chứng tỏ tôi đang Sám hối?(Hành đaọ)

By no means! But I tell you, if you do not reprnt, you will all perish as they did! ( Lc. 13,3 & 5)

2/ Đức Giêsu nói thêm một dụ ngôn về cây vả không trái như người không làm việc lành như sau: ” Thưa ông… Tôi sẽ vun xới chung quanh và bón phân cho nó, may ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi.” Thượng Đế luôn yêu thương và chờ đợi bạn đổi mới. Vì cuộc đời mau qua và rất phù du, bạn sẽ bỏ tất cả của cải và thân quyến. Cái chết không đợi ai bao giờ, dù khỏe hay bệnh, nó sẽ lấy mạng ta khi bạn chưa sẵn sàng. Chia sẻ cách bạn làm hoà giữa vợ chồng và con cháu?( Sống đạo)

“Sir,… I hoe around and manure it; then perhaps it will bear fruit. If not, you shall cut it down.” (Lc. 13, 8-9)

3/ Trong bài đọc 2, thánh Phaolô cho tôi biết cần thận trọng như sau: ” Nhưng phần đông họ không đẹp lòng Thiên Chúa, bằng chứng là họ đã ngã quỵ trong sa mạc.” Đây là bài học quá khứ của dân Ít-ra-en trong Sa mạc dạy cho tôi đừng có chiều theo Tham-Sân-Si (bẩy mối tội đầu) như cha ông để phải chết nhục nhã. Lòng ham muốn đó làm tôi mất mạng, nhất là ham mê sắc dục, tiền tài, danh vọng tiếng tăm tôi sẽ bị đày vào địa ngục muôn kiếp. Những gì giúp tôi vượt thóat khỏi những ham muốn?(Học đạo)

“yet we know that God was not pleased with most of them; for they were stuck down in the desert.” (1Cor. 10, 5)

4/ Thánh Phaolô nhấn mạnh thêm: ” Anh em đừng lẩm bẩm kêu trách như một số trong nhóm họ đã lẩm bẩm kêu trách: họ đã chết bởi thần tru diệt.” Trong sách Dân số đoạn 17 có nói tới việc Chúa hủy diệt con cái It-ra-en kêu trách ông Môsê. Những bài học Chúa muốn nói với bạn là đừng chiều theo những dục vọng xấu xa trong xã hội hiện nay. Nếu bạn đang tiến bước thì hãy khiêm tốn, cẩn thận đừng quá tự mãn; nhưng hãy tự tin. Nói quyết tâm lánh dịp tội và cầu nguyện cuả bạn hàng ngày?(Sùng đạo)

“Do not grumble as some of them did, and suffered death by the destroyer.” (1Cor.10,10)

B- Câu Kinh Thánh tôi chọn làm Châm ngôn Sống sám hối tuần này: ( The Best God’s Word )

NẾU CÁC ÔNG KHÔNG SÁM HỐI THÌ CÁC ÔNG CŨNG SẼ CHẾT HẾT NHƯ VẬY!

If you do not repent, you will all perish as they did ! (Luca 13, 3)

Mẹ Maria: Chúa đã ra tay uy quyền đánh tan người kiêu ngạo với những ý nghĩ kiêu căng của chúng. ( Lc 1, 51)

Vatican II: Có nhiều người cung kính lấy Thánh Kinh làm mẫu mực cho lòng tin và đời sống, giữ đạo cách nhiệt thành, thành thực, hết lòng tin kính Chúa Cha toàn năng và Đức Giêsu Kitô… (Giáo hội # 15)

C- Ngay bây giờ tôi phải làm gì để chúng tỏ mình Sám hối: ( So what am I doing / For Action )

Tôi chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm- Nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A để thực hành hoặc bỏ một tật xấu, đam mê nào tôi có.

D- Bạn và tôi cùng cầu nguyện với Lời Chúa và Sống lời tôi cầu xin: ( I pray and practice / Pray in Action )

Lạy Cha, Đức Kitô đã nói:Nếu các ông không sám hối thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy. Xin cho con biết lắng nghe và tỉnh ngộ ngay trước những lời mọi người ca thán, kêu trách, để sửa lỗi lầm trở về với Chúa và tha nhân.

Sứ điệp Lời Chúa của Chúa nhật II Mùa Chay được cô đọng trong tiếng Thiên Chúa Cha phán ra từ đám mây trên núi Tabô: ” Hãy vâng nghe Lời Người“. Nếu chúng ta muốn thể hiện việc ” vâng nghe Lời Người” thì không có cách nào khác là SÁM HỐI hay SINH QUẢ trong cuộc sống, như cây vả trong dụ ngôn của Phúc âm hôm nay. Sinh quả là thể hiện lòng biết ơn đối với Thiên Chúa về muôn vàn hồng ân mà Người đã thương ban cho chúng ta. Sinh quả bằng việc chỉ biết phượng thờ một mình Thiên Chúa mà thôi và nỗ lực nên thánh giữa đời thường. Nếu vì yếu đuối mà sa ngã thì phải biết sám hối sửa mình. Đó chính là sứ điệp của Lời Chúa hôm nay.

II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA

2.1 Bài đọc 1 : Xh 3, 1-8a.13-15: (a) “Sách Xuất Hành kể lại cuộc ra khỏi Ai Cập như một kinh nghiệm về quyền năng giải phóng của Thiên Chúa và Giao Ước Xinai như một kinh nghiệm cộng đồng về sự gặp gỡ Thiên Chúa. Đây là hai thì của một biến cố: sự thành lập cộng đồng Dân Thiên Chúa bằng Giao Ước do Thiên Chúa thiết lập qua trung gian ông Môsê. Với Giao Ước này Thiên Chúa nhận đám dân hỗn tạp từ Ai Cập thoát ra làm Dân của Người và Người tự nhận là Thiên Chúa của họ. Người sẽ bênh vực họ và dẫn họ vào chiếm lãnh miền đất Người đã hứa với tồ tiên họ. Phần họ, họ phải tuân giữ các luật lệ Người ban qua ông Môsê. Cùng với “Mười Lời” (Mười Giới Răn) của Chúa, sách Xuất Hành còn ghi một số luật về phụng tự. Nhưng ngay sau đó Dân đã vi phạm Giao Ước, đúc bò vàng mà thờ theo kiểu dân Canaan. Nhờ ông Môsê cầu khẩn, Chúa đã tha thứ và ban lại Luật Giao Ước cho ông Môsê.” (Kinh Thánh trọn bộ, Dẫn Nhập Cựu Ước, trang 22).

(b) Xh 3, 1-8a.13-15 là tường thuật việc Thiên Chúa giao cho ông Môsê sứ mạng cứu Dân Ítraen ra khỏi Ai Cập, vì Người ” đã thấy rõ cảnh khổ cực của Dân, đã nghe tiếng Dân kêu than vì bọn cai hành hạ“. Lý do sâu xa hơn là vì Người là Thiên Chúa của Apram, Ixaác và Giacóp là tổ tiên của Dân và vì Người là Đấng Hiện Hữu.

2.2 Bài đọc 2: 1 Cr, 1-6.10-12: Thánh Phaolô muốn tín hữu Côrintô học bài học của lịch sử Ítraen: tuy rằng Dân Ítraen đã được Thiên Chúa che chở dưới cột mây, được cứu thoát vượt qua Biển Đỏ, được nuôi dưỡng bằng bánh và nước linh thiêng, nhưng phần đông họ không đẹp lòng Thiên Chúa, vì họ chiều theo dục vọng xấu xa và lẩm bẩm kêu trách Thiên Chúa. Hậu quả là họ đã quỵ ngã trong sa mạc.

2.3 Bài Tin Mừng: Lc 13,1-9: (a) Là câu chuyện mấy người Do Thái đến kể lại cho Giêsu nghe chuyện những người Galilê bị tổng trấn Philatô giết trong đền thờ. Đức Giêsu đã có phản ứng hơi mạnh, vì hai lý do: (1o) Những người này nghĩ SAI rằng những người bị giết hại kia là những người tội lỗi hơn họ, (2o) Những người này chỉ biết XÉT ĐOÁN người khác mà không biết xét mình xem bản thân đã sống những điều Thiên Chúa dạy chưa mà sám hối sửa mình: ” Không phải những người Galilê đó tội lỗi hơn những người Galilê khác đâu; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy“. Để làm rõ hơn tâm trạng của những người Do Thái, Đức Giêsu nhắc lại sự kiện 18 người bị tháp Silôác đè chết, và cũng rút ra cùng một kết luận: ” Không phải những người bị tháp đè chết là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giêrusalem đâu. Nhưng những ai nghĩ như vậy mà không sám hối, thì cũng sẽ chết hết như vậy.”

(c) Để giúp người ta hiểu được điều quan trọng trong cuộc sống không phải là đứng đó mà xét đoán người khác mà là biết sinh hoa kết quả trong cuộc sống, Đức Giêsu kể dụ ngôn cây vả. Cây vả được trồng là để sinh quả cho chủ vườn. Quả vải rất ngon ngọt và thơm tho, nên ai ăn cũng thích và càng ăn người ta càng thích. Không sinh quả thì cây vả không có lý do tồn tại. Dù chủ vườn có thể nhẫn nại chờ đợi thêm một thời gian, thì vấn đề then chốt vẫn là cây vả phải cho quả. Con người ta cũng thế. Nhất là các Kitô hữu thì càng phải thế!

III. ĐÓN NHẬN & SỐNG SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA

3.1 Thế nào là sinh quả? Chẳng cần phải dài dòng để giải thích thế nào là sinh quả. Đức Giêsu đã khéo lấy dụ ngôn một cây vả không có quả để làm cho mọi người hiểu việc sinh quả quan trọng như thế nào. Cây vả không có quả thì cây vả không có lý do để đứng trong vườn và đáng được chặt và đốt đi (nếu không thì nó chỉ làm hại đất mà thôi). Người Kitô hữu không có đời sống tốt lành, thánh thiện thì cũng chẳng khác gì cây vả không có quả trong dụ ngôn.

3.2 Sinh quả gì? (a) Hiểu trong bối cảnh các bài Thánh Kinh hôm nay thì chúng ta có thể khẳng định quả mà Đức Giêsu muốn chúng ta phải có trong cuộc sống của mình là tấm lòng biết ơn, khiêm tốn và tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa và trung tín với lời hứa (giao ước) với Người. Dân Ítraen dù đã nhận được rất nhiều hồng ân lớn lao của Thiên Chúa: được cứu khỏi cảnh nô lệ khổ nhục ở Ai Cập, vượt qua Biển Đỏ an toàn, được nuôi sống trong suốt 40 năm trời trong sa mạc, được Thiên Chúa ban Mười Lời (10 Giới Răn), được ký kết Giao Ước với Thiên Chúa để được làm Dân riêng của Người. Thế mà họ đã vô ơn, phản bội, thích thờ Bò Vàng hơn là kính thờ Thiên Chúa. Ngày nay có lẽ trong số những người mang danh Kitô hữu cũng không thiếu những người thờ Bò Vàng như dân Ítraen xưa vì nhiều người có biết gì khác ngoài của cải, chức quyền, danh vọng và lạc thú đâu!

(b) Còn ở trong khung cảnh Mùa Chay thì sinh quả là: Ăn chay, cầu nguyện và chia sẻ. An chay là hy sinh, từ bỏ, sống tiết độ và làm chủ mình. Cầu nguyện là có đời sống nội tâm, có mối tương quan thâm sâu với Thiên Chúa. Chia sẻ là giúp đỡ những người nghèo khó, túng thiếu chung quanh mình, đặc biệt là trẻ em và những người nghèo mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nhắc đến trong Thư Mục Vụ Mùa Chay 2004 để chúng ta quan tâm yêu thương, phục vụ và giúp đỡ.

3.3 Làm thế nào để sinh quả? (a) Ở một chỗ khác trong Phúc Am, Đức Giêsu đã nói: ” Hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt” (Mt 7,17-18). Vậy việc làm đầu tiên của chúng ta là phải làm cho con người và cuộc sống chúng ta thành một cây tốt. Cây tốt là cây được nuôi dưỡng bằng nhựa sống là ân sủng của Thiên Chúa. Cây tốt sinh quả tốt là cây được ghép vào với Thân Nho là chính Chúa Giêsu Kitô: ” Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gằn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thày” (Ga 15,4). Ơ lại trong Thày là có đời sống nội tâm cầu nguyện sâu sắc, gắn bó, mật thiết với Chúa Giêsu Kitô. Ơ lại trong Thày là đón nhận và sống các Bí tích một cách trưởng thành và dấn thân. Ơ lại trong Thày là tuân giữ giới răn, nhất là giới răn yêu thương của Thày. Ơ lại trong Thày là mặc lấy những tâm tình của Thày là”tâm tình thảo hiếu đối với Cha và tâm tình chan chứa yêu thương đối với anh em.” Ơ lại trong Thày là có những hành động như Thày, tức đi đến đâu, thì thi ân giáng phúc đến đó, có mặt ở đâu thì làm ơn, làm ích cho tha nhân ở đó.

(c) Trong Lá Thư Mục Tử Mùa Chay 2004 của Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, chúng ta đọc thấy một phương thế khác cũng rất quan trọng để chúng ta sinh quả: Đó là việc học hỏi Giáo Lý, Thánh Kinh, Thần Học: ” Tuy nhiên để làm chứng cho đức tin (có thể hiểu là để sinh quả), chúng ta cần bồi đắp, củng cố đức tin ấy bằng chuyên cần học hỏi. Các lớp giáo lý cho người lớn và giới trẻ, các lớp dạy Thánh Kinh và Thần Học cho giáo dân, các bài giảng cho mỗi Thánh lễ, đều là những phương thế hữu hiệu giúp anh chị em hiểu biết hơn Đấng mình tin hầu có thể “luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn….” (1 Pr 3,15).

3.4 Quyết tâm sinh quả trong Mùa Chay 2004 này : Mỗi người hãy quyết tâm thực hiện một việc gì đó, phù hợp với tinh thần của các bài Thánh Kinh hôm nay. Riêng tôi, tôi quyết tâm dành công sức và thời gian cho Khóa GIÁO DÂN XÂY DỰNG CỘNG ĐOÀN GIÁO HỘI CƠ BẢN tại Nhà Thờ Tân Định, cho Khóa GIÁO DÂN TRƯỞNG THÀNH tại Nhà Thờ Phanxicô Đa Kao và cho các BUỔI SINH HOẠT với các Nhóm hay Cộng đoàn Giáo hội cơ bản.

IV. CẦU NGUYỆN

Lạy Thiên Chúa là Đấng Hiện Hữu, là Chúa của Dân, là Đấng luôn trung tín với Giao ước và mọi Lời hứa, chúng con cảm tạ Chúa vì Chúa đã chọn chúng con làm con dân của Chúa và đã ban muôn vàn ơn xuống cho chúng con để chúng con sống xứng danh là con cái Chúa và sinh nhiều hoa trái!

Chúa muốn chúng con phải biết ơn và trung tín đối với Chúa và chỉ được tôn thờ một mình Chúa mà thôi. Thế mà nhiều khi chúng con lại tôn thờ thần tài, thần sắc và thần danh vọng, chức quyền mà coi thường cả Chúa.

Chúa cũng muốn chúng con phải sinh hoa kết trái trong đời sống đức tin, như cây vả được trồng trong vườn để cho quả. Thế mà nhiều khi chúng con lại chỉ là một cây vả cằn cỗi, vô sinh, không có trái thơm ngọt cho đời và cho tha nhân.

Chúng con nài xin Chúa thứ tha cho những thiếu sót và tội lỗi của chúng con. Chúng con cũng xin dâng lên Chúa quyết tâm của chúng con (đọc quyết tâm ở trên) để chúng con thực hiện sự trở về và thay đổi của chúng con trong Mùa Chay này. Xin Chúa đón nhận, chúc lành và nâng đỡ chúng con. Amen.Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

Nhìn lên trần nhà đầy mạng nhện đeo bám, càng tối càng không thấy, nhưng khi nhìn gần, nhìn có ánh sáng soi chiếu sẽ thấy rõ cả những nhện con, những mạng lưới chằng chịt. Tâm hồn con người cũng như thế, sống trong bóng tối thì không thấy mình tội lỗi, trái lại khi sống trong ánh sáng lại biết mình là tội nhân.

Môisen, có một lần ông lùa đàn cừu tận núi Khoreb, bỗng nhiên ông nhìn thấy một quang cảnh hùng vĩ : bụi gai bốc cháy mà không bị thiêu rụi. Trước Thiên Chúa thánh thiện, Môisen thấy mình nhỏ bé, tội lỗi (Xh. 3,1-5).

Phêrô, trước mẻ cá lạ lùng cũng thấy mình yếu hèn, bất xứng, liền nói với Chúa Giêsu : Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là người tội lỗi (Lc 5,8)

Trước Thiên Chúa là Đấng Thánh, Chí Thánh, Ngàn Trùng Chí Thánh, con người chỉ là tội nhân cần đến lòng thương xót của Người. Vì thế mỗi người luôn cần đến sám hối và hoán cải. Nhân sự kiện hai vụ án Philatô giết người vô tội và tháp Silôa đổ xuống đè chết 18 người,Chúa Giêsu cảnh tỉnh : nếu các ngươi không sám hối thì cũng bị chết như vậy ( Lc 13,3.5)

Người đời thường nghĩ rằng : những kẻ bị tật nguyền, những ai bị tai hoạ là bởi tội của họ hoặc do tiên nhân để lại. Trận dịch cúm gà vừa rồi đã làm nhiều gia đình nông dân điêu đứng. Nhiều người xấu mồm xấu miệng đã đổ tội cho họ ăn ở thất nhơn thất đức nên trời phạt. Họ đã đau khổ lại càng đau khổ hơn bởi quan niệm sai lầm này. Trong thực tế mọi người phải chấp nhận giới hạn của mình và hậu quả do mình gây nên hay vì sự liên đới nào đó do người khác mang lại.Chẳng hạn, hai tai nạn Chúa Giêsu đưa ra trong trong đoạn Tin mừng đều có nguyên nhân của nó. Philatô cần có tiền để xây dựng hệ thống dẫn nườc đem lại lợi ích cho toàn dân. Vì thiếu tiền nên đã vào đền thờ quyên góp. Nhóm cực hữu cho hành động này là xúc phạm sự thánh nên trang bị khí giới để chống đối và bảo vệ đền thờ. Thấy thế Philatô ra lệnh giết chết họ trong đền thờ. Hành động của họ dù với mục đích tốt nhưng lại thiếu khôn ngoan nên họ đã bị thiệt mạng. Vụ án mạng tháp Silôa sập đè chết 18 người vì lý do thiếu kỷ thuật trong việc xây cất.Vụ này cũng như vụ việc cầu Văn Thánh rạn nứt hay các công trình xây cất hiện nay bị xuống cấp mau chóng là do bớt xén vật liệu, làm dối làm ẩu.

Những tai hoạ đều có nguyên nhân của nó, hoặc là do mình, hoặc là do người khác. Những người Do thái nghĩ là do có tội nên Chúa phạt họ, còn mình vô tội thì được bình yên. Điều này đưa đến sự an toàn giả tạo. Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh rằng mọi người đều là tội nhân nên cần phải sám hối ăn năn. Lúc sống yên lành là lúc cần hoán cải. Cây vả trong dụ ngôn cũng ở trong tình trạng an toàn. Cây vả không cho trái độc, không làm hại cây khác, không phá cảnh quang. Nó chỉ có tội lảm hại đất, sử dụng đất màu mỡ mà không cho trái. Nhiều người cũng cảm thấy an toàn như cây vả. Tự hào vì mình không làm điều xấu, chẳng làm hại ai. Thế nhưng họ lại quên rằng mình đã phạm tội không làm điều tốt, những điều tốt có thể làm được và phải làm. Nhiều người thường tự hỏi: tại sao người tốt cần phải hối cải? Tôi là người thường đọc kinh dự lễ rước lễ, không làm điều xấu hại ai, tại sao tôi phải ăn năn sám hối? Sống đạo không phải chỉ lo tránh tội mà còn là gieo trồng cái tốt, cái thiện.

Có câu chuyện kể của ông chủ tiệm đồ cổ. Vào một đêm đông, trời đã khuya, bão tuyết rơi lạnh lẽo, gió thổi mạnh rít từng cơn. Bỗng dưng có tiếng gõ cửa. Ông chủ cảm thấy khó chịu vì bị quấy rầy giữa đên khuya. Khi cánh cửa vừa mở, một người thanh niên dáng bụi đời đang run rẫy với một bàn tay xoè ra van xin, một bàn tay đỡ cây gậy trên vai treo ít đồ đạc cá nhân. Thấy hoàn cảnh đáng thương, ông chủ đưa tay với lấy ít bánh mì, vài đồng bạc lẽ trao cho hành khách. Nhận được của bố thí, người thanh niên quay gót trở đi không nói lời cám ơn giã từ. Khi đó chợt một ý tưởng đến trong đầu ông chủ nhà là nên mời người đó vào nghĩ đỡ một đêm, nhà vẫn còn phòng khách trống, còn chăn nệm ấm êm. Tuy nhiên ông lại nghĩ nếu để cho người này ở lại thì căn nhà sạch sẽ của mình sẽ bị ẩm ướt, bị dơ bẩn. Thế rồi ông vội vàng đóng kín cửa. Hai ngày sau, có người thợ đem đến một cây gậy làm bằng gỗ quý. Khi đã thương lượng giá cả, người bán gậy cho biết, anh ta là người thợ chuyên đào mộ ở nghĩa trang. Anh vừa chôn một người thanh niên mới chết, người thanh niên này vô gia cư, không tiền bạc, không người thân. Tài sản anh ta chỉ là cây gậy, người thanh niên chết vì bị lạnh cóng, máu đông lại khi ngũ trên tuyết. Nghe đến đây ông chủ tiệm cảm thấy hối hận và xấu hổ. Ông hối hận không phải vì đã làm điều xấu mà vì điều tốt ông có thể làm cho người thanh niên nhưng ông đã không làm khiến cho anh phải chết rét.Ông chủ tiệm kết thúc câu chuyện với nổi thao thức : điều tôi ao ước là những sự dữ chúng ta làm có lẽ Thiên Chúa sẽ tha thứ. Nhưng những gì tốt chúng ta đã không làm sẽ mãi mãi không được tha thứ.

Đó cũng chính là điều Chúa Giêsu muốn nói qua dụ ngôn cây vả. Mục đích cây vả là sinh trái. Người chủ vườn thất vọng không phải là cây vả sinh trái xấu, trái độc, trái chua mà là cây vả không sinh trái tốt. Cứ để thêm một năm chăm bón vun xới may ra cây vả sinh hoa trái. Chúa mời gọi thời gian sám hối hoán cải. Lời mời gọi sám hối không chỉ là lời mời gọi xa tránh sự dữ nhưng còn là lời mời gọi làm việc lành,sinh hoa trái tốt. Bởi đó, việc sám hối liên hệ ràng buộc mọi người. Ai cũng phải làm lành lánh dữ. Lánh dữ, không làm điều xấu chưa đủ, từ bỏ tội lỗi chưa đủ nhưng cỏn phải tích cực thực hành những điều tốt lành nữa.

Khuynh hướng tự nhiên của con người là muốn được yên thân, an phận, không muốn làm phiền ai và cũng không muốn ai gây phiền hà cho mình. Vì thế một người ngoan đạo có thể bị rơi vào tình trạng tự mãn, sống ích kỷ mà không hay biết.

Mùa chay là mùa ân sủng. Người chủ vườn nhẫn nại và quãng đại cho cây vả thêm một năm nữa để hy vọng nó có thể sinh hoa trái. Mỗi Mùa Chay, Thiên Chúa cho chúng ta thêm cơ hội để đổi mới con người, làm nhiều việc lành bác ái phúc đức. Mỗi người không biết mình sẽ ra đi về với Chúa khi nào. Mùa Chay là thời gian thuận tiện để mỗi người kiểm điểm về cây vả đời mình. Thêm một cơ hội, thêm một kỳ hạn nữa. Điều quan trọng là mỗi người đã làm gì với cơ hội và với kỳ hạn đó ?Lm Giuse Nguyễn Hữu An

JIMY, bé trai 8 tuổi rất ương ngạnh, không ai bảo em làm cái gì được, trái lại em làm tất cả những gì bị cấm đoán. Một hôm vì thất vọng, cha em bắt em đi ngủ sớm. Ngay sau đó một người lối xóm tới chơi. Ông rất quí Jimy ông xin phép cha mẹ được nói chuyện với Jimy. Trong phòng cầu nguyện, ông nhắc cho cậu bé biết tính không vâng lời của cậu làm phiền lòng cha mẹ, làm cha mẹ buồn và nhất là làm phiền lòng Chúa. Cậu bé oà khóc “Cháu phải làm sao?”. Ông khách gọi cha mẹ lại và khi nghe Jimy xin lỗi hai ông bà rưng rưng nước mắt. Việc ông khách làm cho Jimy, Đức Giêsu Kitô cũng làm cho mỗi người chúng ta như vậy. Đó là ý nghĩa câu chuyện Chúa nói với chúng ta trong bài Tin Mừng hôm nay. Người trồng vây vả là Thiên Chúa toàn năng. Cây vả là dân Chúa, là bạn và tôi. Người làm vườn là Đức Kitô. Theo phép công bình, Thiên Chúa Cha quyết định đốn những cây không sinh hoa kết trái. Chúa Kitô bào chữa. Người biện hộ và van xin cho chúng ta một thời gian nữa, một kỳ hạn nữa vì con Ngài, Cha trên trời hoãn cho chúng ta một kỳ hạn nữa, đó là câu truyện cuộc đời chúng ta với Chúa Kitô. Chúng ta không sinh trái, chúng ta không làm việc phải làm, chúng ta làm cả điều Chúa cấm chúng ta không tuân giữ các giới răn. Chúng ta không sinh lợi, bạn không thể đổ thừa cho Chúa vì Người thịnh nộ. Người quyết định dẹp bỏ chúng ta. Nhưng Chúa Kitô đã can thiệp, đã bầu chữa. Chúa Kitô đứng giữa Thiên Chúa và chúng ta. Xin cho chúng ta một kỳ hạn nữa. Bầu chữa cho chúng ta là sứ mạng của Chúa Kitô, Người là đấng bầu chữa, là đấng trung gian. Người xin cho chúng ta lòng thương xót, một kỳ hạn. Người không chỉ xin Chúa Cha tha thứ, Chúa Giêsu còn xin mọi ơn lành chúng ta cần thiết. Vì thế lời cầu nguyện của Giáo Hội, nhất là trong Thánh lễ bao giờ cũng kết bằng công thức; “Nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con”. Thánh lễ diễn tả chân lý này. Chúa Giêsu dâng mình cho Chúa Cha qua vị linh mục. Như Môisen trong bài đọc một biện hộ cho dân của ông Chúa Kitô cũng thế. Trong kinh nguyện Thánh thể II. Chúng ta sẽ đọc; “Vì chúng con, Đức Kitô đã giang tay trên thập giá”. Người giang tay bầu chữa trong Thánh lễ này. Vị linh mục thay Chúa Kitô giang tay xin ơn thương xót cho chúng ta, như Chúa Kitô, vị linh mục là trung gian của Dân Chúa. Các thánh cũng là những đấng bàu chữa, các Ngài cố gắng làm nhiều điều Chúa Kitô đã làm, quả thật những ai theo Chúa Kitô phải giống Ngài, một người bào chữa, bạn và tôi phải bào chữa cho những ai không có thời giờ, không có lòng trí để bào chữa cho chính mình; bạn có bà con, bạn hữu hay kẻ thù, họ cần lòng thương xót của Chúa, Hãy xin Chúa thương những cây vả trơ trọi đó, rất ít khi chúng ta cầu nguyện cho kẻ khác theo cách đó, ngay cả cho gia đình riêng của chúng ta. Chúng ta than vãn, phê bình hàng giờ, sao chúng ta không tìm ít phút để can thiệp. Xin Chúa tha thứ, giúp đỡ và nâng dậy những kẻ không tuân phục Chúa Cha. Xin Chúa Kitô giúp chúng ta nên người bào chữa. Xin Chúa Kitô luôn bào chữa chúng ta và thúc đẩy chúng ta bào chữa cho kẻ khác. Xin Chúa chúc lành bạn. Amen.

Một trong những cuốn phim hay nhất của Charlot và có lẽ cũng là một trong những cuốn phim hay nhất trong lịch sử điện ảnh, đó là cuốn phim “Ánh Sáng Đô Thị” mô tả câu chuyện tình của gã lang thang với cô gái mù bán hoa.

Cô gái mù bán hoa bên vệ đường. Ngày ngày một tỷ phú trong vùng đến mua hoa của cô. Ngày nọ, gã lang thang là Charlot cũng đến mua hoa. Cô bán hoa tưởng là ông tỷ phú. Thế là một giấc mộng đã nối kết hai tâm hồn. Nàng tưởng mình gặp được người mình mơ mộng. Chàng thì hy vọng kiếm được nhiều tiền giúp nàng chữa khỏi mù loà.

Chẳng may chàng bị cảnh sát bắt giam vì một sự ngộ nhận. Sau khi được trả tự do, chàng trở lại tìm người mình yêu, nhưng nàng đã đi nơi khác. Vì nhờ số tiền chàng giúp lúc trước, nàng đã chữa hết mù, nên dọn đi nơi khác mở một cửa hàng bán hoa rộng lớn hơn. Chàng qua lại đó nhiều lần, nhưng không nhận ra nàng.

Ngày nọ khi đi ngang qua đó, chàng thấy cánh hoa hồng rơi xuống đất. Chàng nhặt lấy đưa cho nàng. Và chợt nhận ra tiếng cười của nàng, chàng vui mừng hỏi:

-Cô đã thấy được rồi à?!….

Cô gái nhận được tiếng nói quen thuộc ngày nào, nên cầm lấy chiếc hoa gắn lên áo chàng và nói:

-Anh đấy à?!….

Thế là hai người nhận ra nhau và họ sẽ không bao giờ rời nhau nữa.

Đó là dấu chỉ nơi Thiên Chúa cho tình yêu bền vững giữa đôi bạn này. Chúng ta đã biết, Thiên Chúa là Cha yêu thương nhân từ, Ngài tạo dựng trời đất muôn vật cùng con người. Ngài đã có công sinh thành, Ngài lại tiếp công dưỡng dục. Ngài dạy cho nhân loại biết đường đi theo chân lý qua các ngôn sứ trong thời kỳ cựu ước. Và rồi Ngài còn đích thân giáo huấn khi xuống thế làm Người. Khi về trời Ngài còn tiếp tục dậy dỗ qua mặc khải tư, qua Giáo hội, Ngài dậy dỗ từng người trong ơn Chúa Thánh Thần. Ngài dùng những biến cố ở cuộc sống thường ngày, những dấu chỉ thời đại, những cơ hội cho mọi người hồi tỉnh, sám hối và thăng tiến trên con đường thánh thiện.

Những dấu chỉ trong cuộc đời đem lại cơ hội cho chúng ta thăng tiến gồm hai lãnh vực, tích cực và tiêu cực: Cơ hội tích cực là bạn tốt, tài sản, môi trường …..Cơ hội tiêu cực là những rủi ro giúp ta có kinh nghiệm, nhữg hình phạt cảnh báo con người ăn năn sám hối….

Thực tế đã có nhiều người đi tu vì gương sáng của các dì phước hiền từ, nhân hậu. Có những người ngoại giáo thấy cách ăn ở đạo đức của các Kitô hữu ngoan đạo mà trở về với ánh sáng Phúc Âm, gia nhập đoàn thể Giáo hội. Có những người lại rủi ro, tai nạn xảy ra cho mình hay nơi người khác, nhất là trường hợp thoát chết, họ đã hồi tỉnh trở về lo cho phần rỗi của mình.

Trên chuyến tàu vượt biên giới Việt Nam sang một nước láng giềng để rồi định cư tại Mỹ. Họ đã gặp tai nạn sinh tử. Trong số đó có các người ngoại đạo đã hứa với Trời rằng nếu Trời giúp cho qua khỏi tai nạn, họ sẽ trở về với Chúa. Trong họ lại có người xuất tu cũng hứa với Chúa là nếu được bình an thì xin trở về nếp sống tu trì. Điều xảy đến như phép lạ, tất cả đã thoát nạn và họ giữ đúng điều đã hứa.

Hôm nay Phúc Âm giúp chúng ta nhìn nhận những biến cố thực tại để sám hối mà thăng tiến, chứ đừng để nó qua đi vô ích, đừng có xét đoán tha nhân, như Chúa Giêsu đã dậy dỗ cho dân chúng biết để tránh quan niệm sai lầm của người Do Thái. Họ tin rằng bao nhiêu kẻ bị tai nạn đều là tại bởi hình phạt tội lỗi giáng xuống trên họ. Đây cũng là quan niệm của mấy bạn bè ông Gióp (G.4,7). Nhưng Chúa Giêsu bảo: ” không phải thế“. Đồng thời Chúa dậy bảo họ biết nhìn vào tội lỗi của chính mình để tỏ lòng thống hối. Chúa còn nhắc lại chuyện cũ, chuyện tháp Silôe đổ xuống đè chết 18 người, đừng tưởng rằng họ tội lỗi hơn những người khác. Thật là ngớ ngẩn một cách vô ích khi xét đoán người khác mà chẳng chịu để tâm rút ra bài học răn mình.

Chúa Giêsu dậy ta biết suy về tội lỗi chính mình để sám hối cải thiện, Chúa lại còn nhắc nhở chúng ta phải tích cực lập công, thăng tiến trong đời sống đạo cho hoàn hảo mỗi ngày một hơn. Đừng phí phạm ơn thánh cứu chuộc dồi dào của Ngài. Ví dụ nén bạc mà ông chủ giao cho các đầy tớ để sinh lời lãi: Người lãnh 5 nén, người khác lãnh 2 nén, người còn lại lãnh 1 nén. Và ví dụ trong Phúc Âm hôm nay nói về cây vả đã được vun trồng chăm bón được ba năm mà không sinh hoa kết trái, Chúa liền ra lệnh chặt đi. Những sự kiện ấy nói lên chúng ta phải quản lý lấy chính mình để trả lời kết quả cho ngày ra trước toà Chúa.

Bài Tin Mừng hôm nay còn cho mọi người bài học quí giá là thấy được tình cha luôn quan tâm đến con cái, luôn tìm mọi cách hướng dẫn con cái mình. Đáp lại mối tình nồng nàn ấy, chúng ta phải lấy tình con thảo để sống theo chân lý Phúc Âm, sống theo lời giáo huấn của Hội Thánh, nương theo thánh ý Chúa ở mọi nơi như là bài học hữu ích cho linh hồn, biết nhận ra sự kiện tự nhiên để nhận ra bài học siêu nhiên cho đời sống thiêng liêng.

Một cơ may cho chúng ta khi có người Cha đầy quyền uy và rất nhân từ. Sự khoan giãn một năm nữa trong ví dụ cây vả chưa có trái biểu lộ sự nhẫn nại, chờ đợi, trông mong thiện chí của người con tiến bước. Hãy biết tận dụng tình thương của Thiên Chúa để mà sám hối cải thiện. Biết nhìn khốn khó qua biến cố thời đại mà qui trách mình hơn là để kết án tha nhân. Thiên Chúa có hàng trăm ngàn vạn cách thế khác nhau để giáo huấn con người. Vậy chúng ta hãy cố gắng tinh tế nhận ra đường lối của Ngài mà nhẹ bước tiến về quê hương vĩnh cửu, nhờ công nghiệp bao la của Chúa Giêsu Kitô, nhất là trong mùa chay thánh thiện này.

Dongcong.net B.M. Thiện Mỹ, CMC

Hồi mới qua Mỹ, một anh bạn khuyên tôi nên chọn ít là một bộ môn thể thao để chơi vì con trai ở Mỹ mà không biết chơi thể thao thì các cô sẽ cười là công tử giấy (paper boy). Suy đi tính lại, tôi thấy soccer thì không ai đá, football thì không đủ sức, tennis thì không có tiền mua vợt và banh, baseball thì không thể bắt banh bằng tay trái mà nếu bắt bằng tay phải thì tay trái không ném nổi banh, v.v… Sau cùng tôi thấy chỉ còn bóng rổ (basketball) là thích hợp nhất và thế là tôi mê bóng rổ từ đó. Cũng vì mê bóng rổ mà Chúa nhật nào tôi cũng phải đi hai nhà thờ: đi lễ vì bổn phận người Công giáo, đi cầu nguyện với Tin lành vì họ có sân bóng rổ trong nhà gym. Một trong những điều hay tôi học được từ nhà thờ Tin lành là bao giờ họ cũng kết thúc giờ cầu nguyện bằng bài hát Do All The Good You Can mà mãi đến bây giờ tôi vẫn còn thuộc nằm lòng: “Do all the good you can, by all the means you can, in all the ways you can, in every place you can, at all the times you can, to everyone you can, as long as you ever can.” (Tạm dịch: “Hãy làm việc lành nhiều bao nhiêu có thể, bằng mọi cách thức, với mọi phương thế, trong mọi nơi, mọi lúc, cho hết mọi người, bao lâu bạn còn có thể làm được”).

Thông thường chúng ta hiểu Mùa Chay là quãng thời gian để gia tăng các việc đạo đức cá nhân mà không nghĩ đến ý nghĩa chính yếu của Mùa Chay là lời mời gọi thống hối và trở về với Thiên Chúa. Những người Do thái trong bài Phúc âm hôm nay nghĩ rằng họ là người tốt đang ở trong tình trạng sạch tội vì họ không bị quan Philatô xử tử tập thể hoặc không bị tháp Siloam đè chết như những người khác. Chúng ta cũng vậy, rất có thể tự lừa dối chính mình về tình trạng linh hồn khi thấy cuộc đời cứ êm ả trôi không gặp hoạn nạn, rủi ro. Do đó, chúng ta rất dễ lạc quan tưởng rằng mình không cần phải thống hối trở về. Nếu một cuộc đời đầy may mắn và thành công chưa hẳn là một cuộc đời thành tựu thì một cuộc sống thiếu vắng rủi ro chưa hẳn là một cuộc đời đạo hạnh. Như cây vả trong bài Phúc âm hôm nay, cuộc sống của mỗi người chúng ta không chỉ có lo sao cho to cành xanh lá nhưng còn phải sinh hoa bác ái và kết trái yêu thương nữa.

Không phải những điều sai, điều lỗi ngăn cản việc chúng ta kết hợp với Chúa nhưng là những điều chúng ta bỏ qua không chịu làm. Đó là tội không quan tâm hoặc quan tâm chưa đủ đối với những người sống chung quanh chúng ta. Đây là điều ngãng trở khiến chúng ta không thể sống đời Kitô hữu một cách trọn vẹn được. Lời mời gọi thống hối trở về của Mùa Chay không phải chỉ có việc kêu gọi chúng ta xa lánh tội lỗi mà chính yếu là lời khẩn khoản kêu mời chúng ta hãy chú tâm đến việc giúp đỡ tha nhân. Vì chưng, lòng mến Chúa được đo lường bằng cán cân bác ái với tha nhân.

Tha nhân bao gồm tất cả mọi người, ở mọi nơi và mọi lúc. Vì bác ái thì đi từ trong ra ngoài, nên chúng ta phải quan tâm trước hết tới những người sống gần chúng ta nhất, tức là những người sống chung dưới một mái nhà. Chúng ta có thể bắt đầu bằng việc để ý đến những nhu cầu của vợ hoặc chồng hơn, nhẹ nhàng với con cái hơn trong lời ăn tiếng nói, nhất là khi cần phải nhắc bảo điều gì. Ngoài phạm vi gia đình, chúng ta có thể bày tỏ lòng bác ái trong cộng đoàn, giáo xứ qua nhiều cách thức khác nhau. Một chuyến viếng thăm những người già cô đơn trong viện dưỡng lão, một chén cơm đạm bạc cho người nghèo đói, một nụ cười thông cảm cho kẻ khát tình thân, một cuộc thăm viếng kẻ yếu đau, tù đày v.v… Tất cả đều thắt chặt và đưa chúng ta đến gần Chúa hơn.

Khi nào chúng ta thực hiện những điều trên? Vẫn biết rằng Chúa rất nhân hậu, từ bi và kiên nhẫn, nhưng lòng nhẫn nại của Ngài cũng có giới hạn như trong dụ ngôn cây vả. Cho nên nếu không kịp thời thống hối ngay từ bây giờ thì không chừng chúng ta cũng sẽ rơi vào tình trạng như những người Do thái bị tháp Siloam đè chết. Thử hỏi trong những người bị tháp đè hôm đó có ai ngờ rằng buổi sáng đó là lần sau cùng trong đời họ được nhìn thấy vẻ đẹp của bình minh? Và đối với chúng ta, biết đâu Mùa Chay 2004 này chẳng là Mùa Chay sau cùng của cuộc đời?

Xin Mẹ Maria, Đấng biết lợi dụng tất cả mọi giây phút cuộc đời để chiếm đoạt Chúa, ban ơn giúp sức để chúng con dám can đảm thực thi việc thống hối trở về từ chính giây phút này. Ước gì bài hát kết thúc buổi cầu nguyện của người Tin lành cũng luôn vang vọng trong mỗi giây phút của cuộc đời chúng ta: “Hãy làm việc lành nhiều bao nhiêu có thể, bằng mọi cách thức, với mọi phương thế, trong mọi nơi, mọi lúc, cho hết mọi người, bao lâu bạn còn có thể làm được”.

Dongcong.net Pt. Tuấn Bình, CMC

Một trong những cuốn phim do diễn viên tài ba về kịch câm, Marxel Marxor thủ diễn có kể câu chuyện như sau: VietCatholic News (14/03/2004 )

Một thanh niên đang lim dim đôi mắt tận hưởng những giây phút tắm nắng tuyệt vời trong một ngày đẹp trời. Nhưng rồi bỗng nhiên niềm vui của anh bị gián đoạn do tiếng ồn ào của đám trẻ, tiếng chó, tiếng người qua lại và cả tiếng chim hót. Mọi tiếng động đều có nguyên do và niềm vui riêng của nó. Tuy nhiên, đối với chàng thanh niên, tất cả đã trở thành cực hình.

Ðể chống lại sự phiền muộn ấy, anh ta xây quanh mình một bức tường ngăn cách âm thanh. Mỗi tiếng động vụt tới là mỗi lần anh gắng sức xây, cứ thế mà bức tường lớn dần, cao dần cho đến khi ngưng tất cả mọi tiếng động thì bức tường ấy che mất ánh nắng mặt trời tuyệt vời kia. Bức tường thành một chiếc mồ giam chặt, nhốt kín anh vào trong đó.

Anh chị em thân mến!

Dân tộc Do thái cũng đã được tắm gội ánh sáng. Ðó là niềm tin được trao từ tổ phụ Abraham. Tuy nhiên, vì tự mãn và ích kỷ, họ đã hành động chẳng khác gì chàng thanh niên trên. Không chịu mở lòng đón nhận, khiến niềm tin của họ trở thành khô cằn mất sức sống, xây lên bức tường để bảo vệ mình, hóa ra tự hại lấy mình. Chúa Giêsu đã chỉ trích thái độ này qua bài Tin Mừng của thánh Luca (Lc 4,24-30).

Anh chị em thân mến!

Người Do thái trong hội đường Nazareth đã tìm cách hãm hại Chúa Giêsu khi Ngài lên tiếng chê trách niềm tin của họ. Có lẽ ai trong chúng ta cũng bất bình về việc làm của những người này. Nhưng kỳ thực trong cuộc sống, lắm lúc chúng ta đã sao chép lại nguyên bản việc làm ấy: tự hào là người Kitô hữu, là người nắm giữ niềm tin, nhưng rồi với một mớ lễ nghi hình thức, niềm tin trong chúng ta chỉ là ngọn đèn leo lét chực tắt trước gió. Chỉ là thân cây mất hết nhựa sống chờ ngày gẫy đổ. Ðây là một thứ niềm tin mà Ðức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, tác giả tập sách “Ðường Hy Vọng” đã nhắc nhở:

“Nhiều người nói: “Tôi có đức tin, tôi còn đức tin”. Có lẽ đức tin là đức tin của giấy khai sinh, không phải là đức tin của đời sống. Con đừng bao giờ mãn nguyện với một đức tin hình thức và lý thuyết. Nhưng con phải sống một đức tin chân thật và trung thành. Tự mãn với chính mình mà không chịu mở lòng đón nhận, khiến người Do thái đã mất Chúa Giêsu, nền tảng của niềm tin, Ðấng mà họ đang ngóng chờ”.

Cũng thế, Kitô hữu nếu chỉ đóng khung trong những nghi thức, tuân giữ luật lệ, thì sớm muộn gì họ cũng xa rời đức tin là nguồn mạch sự sống. Vì sống là gì, nếu không là một sự thay đổi luôn luôn. Con người sẽ chết khi một hệ tuần hoàn không lưu chuyển, hay hệ thần kinh không vận động. Ðối với đức tin cũng vậy, luôn luôn đòi hỏi một sự trao đổi với Thiên Chúa và với anh em.

Nếu đối với người Kitô hữu, tin trước hết là được cứu rỗi, được tha thứ, được yêu thương vô cùng. Chúa không phải là Ðấng bắt con phải kính mến, nhưng Chúa là Ðấng mà con phải để cho Ngài yêu thương con vô cùng. Nắm được đức tin, con phân biệt đâu là đường hy vọng của tâm hồn tông đồ, đâu là lối chết của thế gian. Tin là chấp nhận Chúa Giêsu vô điều kiện và quyết tâm sống chết với Ngài.

Quyết tâm sống chết với Ðức Kitô cần có một thao thức tìm kiếm. Quyết tâm sống chết với Ðức Kitô đòi buộc phải trao đổi, cảm thông với anh em, vì Ngài đang hiện diện trong những người anh em ấy.

Lạy Chúa, trong Mùa Chay thánh này, xin cho con được biết trở về. Trở về, trước hết chính ngay căn bản niềm tin của con. Một đức tin không có cùng trong những hiểu biết lý thuyết hoặc những nguyên tắc nghi lễ, nhưng biết mở rộng tâm hồn để đón nhận, để rồi con sẽ hiểu đâu là ý nghĩa đích thực của đời sống đức tin. Amen.Ðức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

Lời của đức Giêsu nhắc nhở và cảnh báo cho toàn dân Do-thái biết rằng Thiên Chúa không vui lòng trong sự an nhiên tự tại của họ trong mức độ thờ phượng Chúa một cách trống rỗng như thế: nghĩa là chẳng sinh hoa trái nào cả, dù đã nhận được vô vàn ơn thánh của Chúa.

Khi thấy những người khác chung quanh mình bị những thiên tai, hoạn nạn, người Do-thái thường cho rằng đó là vì tội lỗi của chính các người ấy, từ đó họ suy thêm ra rằng họ đang được bình an bởi vì họ đang sống rất đẹp lòng Thiên Chúa. Đấy là cái lầm lẫn tai hại của họ mà Chúa Giêsu đã muốn lớn tiếng cảnh báo, cho họ kịp thời thức tỉnh và ăn năn sám hối, trước khi sự thể đến lúc quá muộn màng!

Dân Do-thái ngày xưa đã vậy, phần chúng ta những người mang danh là Kitô hữu, là dân Chúa chọn của thời nay vẫn thường suy nghĩ có khác chi họ là bao?! Lời cảnh báo của Chúa Giêsu vẫn luôn vang vọng cho con người của mọi thời đại. Tuy Con Một Thiên Chúa đã đến trần gian để giải bày tình yêu của Ngài cách rõ ràng, xong con người hư hoại vì tội tổ tông vẫn còn nguyên vẹn chứng nào tật ấy. Vẫn luôn nghiêng chiều về đàng trái của tội lỗi, vẫn không nhận ra tình thương và ân sủng cao quí của Thiên Chúa nhân từ.

Lạy Chúa, xin thương giúp chúng con biết suy nghĩ nhiều hơn về muôn ân huệ to lớn của Chúa vẫn thương ban cho trong đời, để chúng con cố gắng sinh hoa kết quả trong cuộc sống thiêng liêng, mang lại ích lợi cho nhiều người Chúa muốn chúng con tiếp xúc, hầu danh Chúa được hiển sáng hơn trong gia đình nhân loại.Lm. Phêrô Trần Văn Trợ SJ

Bài đọc hôm nay trích từ Tin mừng thánh Luca về cuộc hành trình của Đức Giêsu lên Giêrusalem (9,51). Câu chuyện xảy ra vào khoảng giữa cuộc hành trình ấy. Phần mở đầu mô tả Đức Giêsu quay mặt về hướng Giêrusalem. Phần tiếp theo là biến cố xảy ra trên đường vào thành thánh. Trước đó Đức Giêsu loan báo một khủng hoảng lớn sắp xảy ra và Ngài kêu gọi lòng ăn năn sám hối trở về với Thiên Chúa.

Câu chuyện bắt đầu bằng hai sự kiện lạnh xương sống. Sự kiện thứ nhất là việc Philatô sát hại dã man mấy người Galilêa khi họ đang dâng lễ tòan thiêu ở Giêrusalem. Xin hãy mường tượng tới giọng nói đầy khiêu khích của người kể chuyện lại cho Đức Giêsu ( Đây có lẽ là một cái bẫy giống như câu hỏi nộp thuế cho Caesar. Họ muốn Đức Giêsu nói điều chi chống lại Philatô và những quân lính người La- mã). Sự kiện thứ hai là tại nạn gây chết chóc. Tháp Silôê vừa tự dưng đổ xuống giết chết 18 người. Những biến cố này gợi lên trong đầu óc người ta những câu hỏi mà hầu hết chúng ta cũng muốn hỏi khi nghe tin ai đó vô tội mà lại phải gánh chịu những tai họa khôn lường : “Tại sao họ phải chịu đau khổ đến thế ? Cái gì đã làm cho họ gặp những tai ương này ?”. Những tai họa của ngày hôm nay cũng đầy dẫy và chúng cũng gợi lên trong thâm tâm nhậy cảm những câu hỏi tương tự. Động đất ở An Độ giết chết hàng ngàn người, hàng trăm ngàn người khác không còn nhà cửa. Ở Salvador mới đây hàng loạt những đợt động đất mạnh san bằng nhiều thành phố, làng mạc, giết chết cả chục ngàn sinh mạng. Còn lại ngôi trường các trẻ em đang học cũng bị sụp đổ xóa sổ các em khỏi mặt đất. Một tài xế xe vận tải đâm vào chiếc xe Đaihatsu đang chở học sinh đi học về giết chết tại chỗ 6 em và sau đó nhiều em khác khi được chở đến bệnh viện. Quân lính Israel hạ sát một viên chức Palestin ngay trên đường phố. Khi tôi ngồi viết bài suy gẫm này thì những tai họa vẫn không ngừng xẩy ra trên khắp hành tinh chúng ta.

Cứ theo như quan niệm phổ thông, thì từ xưa đến nay thiên hạ vẫn coi các tai họa loại này là hình phạt Thiên Chúa gởi tới. Nhưng Đức Giêsu không nghĩ thế. Ngài cảnh cáo: “Nếu các ông không sám hối thì tất cả các ông đều chết y như vậy”. Ngài có ý muốn nói gì ?

Thứ nhất: Ngài chống lại thành kiến coi bệnh tật, nghèo đói, qủi ám, câm điếc là kết qủa của tội lỗi người ta đã phạm. Ngay cả ngày nay, tư tưởng như thế vẫn còn. Người nghèo đói, bất hạnh, ăn xin vẫn phải chịu đựng nỗi nhục bị khinh rẻ, sống ngoài lề xã hội, làng mạc, thị thành. Họ vẫn bị gán cho tiếng xấu, lười biếng, ít tham vọng,không cố gắng vươn lên, vượt khó, an phận thủ thường hay hạ đẳng về tri tuệ, màu da…Liên kết với não trạng này là khuynh hướng coi thường kẻ ăn người ở trong nhà. Ngay cả chính vợ con hay những người sống phụ thuộc mình như ông bà, cháu chắt. Nếu tiếp tục suy nghĩ như vậy, thì người nghèo đói, bất hạnh không những phải kéo lê mãi mãi cuộc sống khó khăn mà còn vĩnh viễn chịu cái ô nhục là nạn nhân của số phận “đáng kiếp”.

Thứ hai: sau khi đã phủ nhận sự liện hệ giữa các tai họa và tội lỗi, Ngài đưa ra tính đích thực của tội là không sinh hoa kết qủa như Thiên Chúa hằng trông đợi. Chúa “trồng”chúng ta trên trái đất này, ở trong Hội Thánh này, là chúng ta có trách nhiệm phải mang lại hoa trái. Nếu không là tội của chúng ta. Cây vả là biểu tượng của mỗi người tín hữu hôm nay. Chúa kêu gọi chúng ta làm môn đệ là chúng ta có bổn phận làm việc cho Chúa trong hoàn cảnh gia đình, xã hội mà mình đang sống. Dĩ nhiên, chúng ta không luôn luôn mang lại hoa trái như Chúa muốn. Nhưng nhiều môn đệ chẳng bao giờ sinh hoa kết trái, bởi vì họ hoàn toàn ích kỷ, theo đuổi những mục tiêu riêng của mình. Thế thì đối với tất cả chúng ta mùa chay này được Chúa ban thêm thời gian và cơ hội để làm lại cuộc đời, đổi thay lối sống. Không phải vô tình bài đọc tin mừng Chúa nhật này được nối kết với ơn Chúa kêu gọi Môsê thực thi chương trình Chúa giải phóng dân Israel khỏi kiếp nô lệ Ai cập.

Hội thánh chọn ba bài đọc hôm nay để cho chúng ta hay Chúa luôn luôn có ý định giải phóng loài người khỏi vòng nô lệ tội lỗi và Ngài luôn luôn đi bước trước trong tiến trình đó. Ngài không bao giờ rút tay lại, nhưng luôn giơ tay giúp đỡ chúng ta ở bất cứ thời điểm nào, thế hệ nào. Ngõ hầu chúng ta luôn được tự do mà mang lại hoa trái.

Tiếng của người thợ làm vườn là tiếng của lòng thương xót. Cây vả cần thêm thời gian để có thể sản xuất. Nhưng cây vả không thể tự thân sản xuất. Người làm vườn phải bón thêm phân,tưới thêm nước để cây vả sản xuất hoa màu. Ở điểm này tư tưởng chủ yếu của bài Tin mừng được lộ rõ. Dụ ngôn không phải hướng về quá khứ, nhưng hướng về tương lai. Nếu như mùa chay này chúng ta muốn thay đổi nếp sống cũ, hay muốn phó thác mạnh mẽ hơn, toàn diện hơn vào bàn tay Chúa dẫn dắt, thì nhất định chúng ta cần đến ơn Chúa trợ giúp. Chúng ta không thể tự làm một mình. Cũng như cây vả không thể tự thân sản xuất. Tính kiêu ngạo của loài người đã từng lập bàn thờ, thờ thần tự do, thần độc lập, không thèm cậy dựa vào ai hết, kể cả Thiên Chúa. Chúng ta tưởng dồn hết mọi nỗ lực nghiến răng, mím lợi trong mùa chay này để đổi thay cuộc đời. Chúng ta bỏ thuốc lá, bỏ TV, bỏ rượu chè, bài bạc là chúng ta sẽ thành công. Không đâu. Chúng ta lầm to. Công việc đầu tiên là của người làm vườn, bước đầu tiên để thay đổi tình thế cũng là của người làm vườn. Chúng ta cần Chúa giúp đỡ mới có thể sinh hoa kết trái. Vây chúng ta đang ở giữa mùa chay, dụ ngôn của Tin mừng nhắc nhớ chúng ta Chúa rất nhân từ, Ngài luôn ở bên cạnh để chúng ta có thể đổi thay thành công.

Mùa chay là ân huệ của thời gian, của ý thức cao độ về thân phận loài người. Mùa Hội Thánh kêu mời chúng ta chăm lo đời sống thiêng liêng. Thảm họa của những người Galilêa bất hạnh và những nạn nhân của tháp Silôê nhắc nhớ chúng ta lưu ý đến tính đột xuất của cái chết mỗi người. Chúng ta tỏ lòng thương xót mỗi khi nghe bạn bè, thân thích rơi vào những thảm họa tương tự hay vào bệnh tật, tai nạn bất thường. Chúng ta phải luôn cảnh giác cho chính cuộc đời mình và bày tỏ lòng cảm tạ Thiên Chúa về sự bình an Ngài ban. Hoặc nếu chúng ta lại là người gánh chịu những tai họa đó, chúng ta sẽ đưa ra muôn vàn chữ “nếu”…Vì vậy câu chuyện tin mừng hôm nay thức tỉnh lương tâm mỗi người phải biết làm điều gì đó hữu dụng khi chúng ta còn thời gian.

Xin đừng áp dụng dụ ngôn này một cách bừa bãi, kẻo làm hại thanh danh ai đó. Nhưng nên lưu ý, cây vả chẳng thể tự mình sinh hoa trái. Nó cần đến người làm vườn. Trong thánh lễ hôm nay, có rất nhiều anh chị em chúng ta cùng dâng lễ, chúng ta không cô độc. Chúng ta làm thành một cộng đoàn đức tin, nâng đỡ khích lệ nhau trong phụng vụ và trong lời cầu nguyện. Bác thợ làm vườn biến hóa trong nhiều hình dạng. Lời của bác hướng dẫn và ban sức mạnh cho chúng ta. Thiên Chúa luôn luôn về phe với chúng ta. Ngài luôn luôn ban ơn trợ giúp và khuyến khích mọi người đổi mới cuộc đời. Ngõ hầu trong mùa chay này đời sống thiêng liêng mỗi người thêm phong phú và sinh hoa kết trái thực sự trước mặt Giáo hội và thế gian. Amen.

Gợi ý thêm:

Chúng ta có khuynh hướng nghĩ về mùa chay như thời gian tăng cường lòng sùng mộ cá nhân và đạo đức cá nhân. Bài đọc thứ hai và bài đọc tin mừng gợi ý rằng Giáo hội xét như một cơ chế cũng cần có ăn năn hối cải. Mọi cơ chế đều có cái tâm lý an toàn gỉa tạo. Thí dụ như dân tộc Isrsel, cũng có tâm lý an toàn giả tạo đó. Bởi vì trong sa mạc họ được Chúa làm trọn lời hứa với Môsê trong bụi gai cháy bừng bừng là đưa họ ra khỏi Ai cập qua cột mây, cột lửa và biển cả, nuôi họ bằng manna, cho nước chảy ra từ tảng đá để họ khỏi khát. Dân Chúa mới cũng đã từng có an toàn gỉa tạo. Thí dụ giáo đoàn Côrintô. Họ kiêu hãnh vì có hai bảo đảm của Tin Mừng. Qúi vị giảng viên có thể khai triển và áp dụng tâm lý an toàn gỉa tạo này cho Giáo hội ngày nay xét như một cơ chế. ( Trích chương: Lời Chúa cho giáo hội hôm nay).Lm.Jude chúng tôi

Trước mọi biến cố, Đức Giê-su muốn ta có một Đối với người khác, ta dễ có cái nhìn kết án. Khi gặp một người mù từ thuở mới sinh, người ta hỏi Đức Giê-su : “Hôm nay, chứng kiến những nạn nhân bị thiệt mạng, những người tường thuật đều nghĩ rằng những nạn nhân ấy chết vì họ tội lỗi, còn tôi vô sự, điều đó chứng tỏ tôi vô tội. Đức Giê-su lên tiếng cảnh báo họ : Các ông cũng là kẻ tội lỗi. Nếu các ông không ăn năn hối cải, các ông sẽ chết thảm khốc hơn những nạn nhân kia nữa. Đức Giê-su dạy ta có Mùa Chay là mùa sám hối. Sám hối là đổi mới tâm hồn. Muốn đổi mới tâm hồn, phải đổi mới cách nhìn về con người và cuộc đời, về bản thân và tha nhân. Hôm nay, Đức Giê-su dạy ta những cách nhìn thời cuộc và biến cố theo tinh thần của Người. Thông thường, trước một biến cố, ta dễ có cái nhìn chính trị. Hôm nay, người ta thuật lại việc Phi-la-tô giết những người Do thái trong Đền thờ. Thời ấy, đế quốc Rô-ma đang thống trị nước Do thái. Phi-la-tô là viên tổng trấn của Rô-ma. Tường thuật biến cố đau thương này, người ta mong Đức Giê-su có cái nhìn chính trị, dấn thân vào chính trị. Người ta mong Đức Giê-su kết án Phi-la-tô. Không bàn chính trị, không làm chính trị, cho dù sau này Đức Giê-su vẫn bị kết án vì một tội chính trị. Không kết án Phi-la-tô, dù sau này chính Người bị viên tổng trấn này kết án.

cái nhìn tôn giáo, vượt lên trên lĩnh vực chính trị. Từ một câu hỏi thuộc bình diện chính trị, Đức Giê-su đã đưa ra một giải đáp thuộc bình diện tôn giáo. Từ một biến cố gây xôn xao dư luận, Đức Giê-su mời gọi ta hãy ăn năn sám hối. Từ cái chết của thể xác, Đức Giê-su hướng suy nghĩ ta tới cái chết của linh hồn : ” Các ông tưởng mấy người Ga-li-lê đó bị như vậy là vì họ tội lỗi hơn những người Ga-li-lê khác sao ? Tôi nói cho các ông biết, không phải thế đâu ; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy”. Đây là do tội nó hay tội của cha mẹ nó” ? Gặp người phụ nữ phạm tội ngoại tình, người ta muốn kết án chị. Người ta có thói quen cho rằng thành công là ân huệ Chúa thưởng cho người đạo đức, còn tai hoạ là hình phạt Chúa dành cho kẻ tội lỗi. cái nhìn bao dung. Nếu có phải xét đoán, hãy xét mình trước khi xét người. Nếu có phải lên án, hãy lên án chính bản thân mình trước khi lên án người khác : “Hãy lấy cái đà ra khỏi mắt ngươi trước, rồi ngươi sẽ thấy rõ để lấy cái rác ra khỏi mắt anh em”. “Ai trong các ông vô tội hãy ném đá chị này trước đi”.

Với những bài học ấy, Đức Giê-su hướng ánh mắt ta lên cao, vượt thoát lĩnh vực tự nhiên để vươn tới lĩnh vực siêu nhiên. Với những bài học ấy, Đức Giê-su hướng cái nhìn của ta xuyên qua những lớp bì phu bên ngoài để soi chiếu vào chiều sâu nội tâm. Với những bài học ấy, Đức Giê-su hướng cái nhìn của ta ra khỏi những ảo tưởng, đối diện với thực tế bản thân để trước mỗi biến cố ta tự xét và đổi mới chính mình. 1- Trong các biến cố, bạn có tìm thấy ý Chúa không ? Lạy Chúa, xin đổi mới trái tim con. Amen

2- Bạn có nghĩ rằng hễ ai gặp may thì đó là người đạo đức, ai gặp tai nạn thì đó là người tội lỗi không ? 3- Muốn đổi mới gia đình, xã hội, phải đổi mới bản thân trước. Bạn nghĩ sao về điều này ?

VIỆC THỜ PHƯỢNG THIÊN CHÚA TRONG CỰU ƯỚC VÀ TÂN ƯỚC

Vào thời Cựu Ước, trình độ tâm linh của con người còn non kém, đầu óc con người thường chỉ hướng về những gì cụ thể, hữu hình, dễ thấy, nghĩa là họ hướng ra ngoài hơn là vào nội tâm. Vì thế, việc thờ phượng Thiên Chúa chủ yếu gồm những việc cụ thể, thấy được, được thực hiện trong thời gian và không gian rõ rệt. Từ bản chất, thờ phượng Thiên Chúa chính là nhìn nhận Thiên Chúa là chủ tể vũ trụ, có toàn quyền trên tất cả mọi sự, trong đó, con người coi mạng sống và của cải của mình là quí giá nhất. Để biểu lộ sự nhìn nhận quyền chủ tể đó của Thiên Chúa, đúng ra con người phải sát tế chính mạng sống mình; nhưng làm như thế, con người sẽ dần dần chết hết, là điều mà Thiên Chúa không muốn. Vì thế, con người bèn sát tế những con vật như chiên bò làm của lễ hy sinh dâng lên Thiên Chúa thay cho mạng sống của mình ( x. St 4, 3; 8, 20; Xh 20, 24; 29, 18; Lv 1, 14; v.v… ). Có lần, để thử thách niềm tin và tinh thần hy sinh hiến dâng ấy, Thiên Chúa yêu cầu Áp-ra-ham sát tế đứa con trai duy nhất của mình là I-sa-ác làm lễ vật toàn thiêu: khi thấy Áp-ra-ham không tiếc với mình đứa con duy nhất, Thiên Chúa đã ra tay cứu I-sa-ác ( x. St 22, 1 – 14 ). Đó là cách thờ phượng Thiên Chúa thời Cựu Ước. Đến thời Đức Giê-su, Ngài đã khai mở một kỷ nguyên mới, thích hợp với trình độ tâm linh con người vốn đã lên cao hơn. Vì càng về sau, con người càng có khả năng tư duy trừu tượng hơn, biết hướng vào nội tâm hơn. Vì thế, việc thờ phượng Thiên Chúa phải mặc lấy một hình thức mới hợp với trình độ mới: tức cao hơn, mang tính nội tâm hơn. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giê-su chủ trương một cách thờ phượng Thiên Chúa mới mẻ hơn, cao cấp hơn. Ngài nói: “Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giê-ru-sa-lem ( … ) Giờ đã đến – và chính là lúc này đây – những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật. ( … ) Thiên Chúa là thần khí, nên những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật”.

THỜI TÂN ƯỚC: THỜ PHƯỢNG TRONG THẦN KHÍ VÀ SỰ THẬT

Đức Giê-su nói khi Ngài còn sống: “Đã đến giờ”, “Giờ đã đến – và chính là lúc này đây”. Như vậy, Đức Giê-su yêu cầu con người thay đổi cách thờ phượng Thiên Chúa cho xứng hợp với trình độ mới của con người đã được 2000 năm, một thời gian rất dài ! Nhưng ta thử xét lại xem, cách thờ phượng của chúng ta trong thế kỷ 21 này đã thay đổi và tiến bộ đúng như yêu cầu của Đức Giê-su cách đây 2000 năm chưa ? Sau 20 thế kỷ tiến bộ về vật chất đến mức chóng mặt, con người đã tiến bộ về tâm linh thế nào, đặc biệt trong cách thờ phượng Thiên Chúa ? Chúng ta đã nội tâm hóa việc thờ phượng ấy chưa, hay vẫn còn mang nặng tính bề ngoài, tính vật chất, tính câu nệ hình thức, và vẫn còn lệ thuộc nặng nề về thời gian lẫn không gian ? Việc thờ phượng Thiên Chúa của chúng ta hiện nay đã đúng với tinh thần Tân Ước của Đức Giê-su chưa, hay vẫn theo tinh thần Cựu Ước của đám kinh sĩ và Pha-ri-sêu Do-thái xưa, vốn đã bị Đức Giê-su coi là lỗi thời từ 2000 năm nay ? Thiết tưởng chúng ta nên đặt lại vấn đề này một cách nghiêm chỉnh, và sửa đổi lại những gì chưa đúng. Điều quan trọng chúng ta cần tìm hiểu là: Thế nào là “thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật” ?

Đức Giê-su nói: “Thiên Chúa là thần khí, nên những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí”. Thần khí ( pneuma – esprit – spirit ) là tinh thần, tâm linh, thuộc thế giới nội tâm, không thấy được. Thần khí thì ngược với vật chất, thể lý, thuộc thế giới bên ngoài, cụ thể, thấy được. Thiên Chúa của chúng ta không phải là một Thiên Chúa hữu hình, nên việc thờ phượng Thiên Chúa không nhất thiết phải xảy ra ở bên ngoài, trong không gian và thời gian. Theo Đức Giê-su, Ngài là thần khí, là tinh thần, là thiêng liêng, nên việc thờ phượng Ngài cũng phải thực hiện trong thần khí, trên bình diện tinh thần, nghĩa là một cách thiêng liêng, trong nội tâm con người. Hành vi thờ phượng phải là hành vi của tâm hồn, là thái độ của nội tâm, hơn là hành vi của thể xác. Thiên Chúa của chúng ta không phải là một Thiên Chúa cứ phải nghe ta nói, nhìn ta biểu lộ ra ngoài mới hiểu được ta; trái lại, Ngài biết hết, thấu hiểu hết những gì ta nghĩ, ta cần, ta muốn nói: “Cha trên Trời thừa biết anh em cần những gì rồi” ( Mt 6, 32; Lc 12, 30 ). Vì thế, xét về phía Thiên Chúa, việc thờ phượng Ngài không cần thiết phải biểu lộ ra bên ngoài bằng lời nói, bằng lễ nghi, bằng những biểu hiện bên ngoài: “Khi cầu nguyện, anh em đừng nhiều lời như dân ngoại; họ tưởng cứ nói cho nhiều là được nhận lời” ( Mt 6, 7 ). Điều Ngài mong muốn nằm trong thái độ nội tâm của chúng ta: tinh thần từ bỏ, tự hủy, lòng quảng đại, biết ơn, khâm phục, nhất là tình yêu dành cho Ngài. Nếu Giáo Hội chủ trương phải biểu lộ việc thờ phượng ra bên ngoài thì không phải là vì Thiên Chúa mà vì con người: để việc thờ phượng mang tính cộng đoàn, tính Giáo Hội, hay để biểu lộ vinh quang Thiên Chúa cho con người, v.v… Ngày nay, cần phải thay thế việc thờ phượng Thiên Chúa qua những hình thức bên ngoài bằng việc thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí. Lễ vật dùng để sát tế, để toàn thiêu không còn là chiên, bò, hay bất kỳ một vật nào khác, mà phải là “cái tôi” ích kỷ và kiêu căng của ta, là ý riêng của chúng ta, là những dự định dù tốt hay xấu nhưng không phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Bàn thờ hay đền thờ – nơi sát tế – là chính tâm hồn ta. Thời điểm sát tế không còn là một thời điểm cố định nào do con người qui định, mà phải là thời gian liên tục. Vì sát tế không còn là một hành động xảy ra vào những thời điểm nhất định nào đó, cho bằng một thái độ nội tâm thường hằng trong đời sống ta, thậm chí trở thành một yếu tố cố định trong bản tính của ta. Cầu nguyện cũng không còn là một hành động cho bằng một trạng thái thường hằng của nội tâm. Một biểu hiện lý tưởng của việc thờ phượng trong thần khí đã được Đức Giê-su nói đến trong bài Tin Mừng hôm nay: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người”. Việc quan tâm thi hành Thánh Ý Thiên Chúa phải thay thế cho việc quan tâm thực hiện ý riêng mình, phải trở thành lương thực nuôi sống đời sống tâm linh của ta.

Thờ phượng Thiên Chúa trong sự thật khác với thờ phượng Thiên Chúa trong giả dối. Thờ phượng Thiên Chúa trong sự thật đòi hỏi những gì mình nói với Thiên Chúa phải phản ảnh đúng những tâm tình, ý nghĩ trong đầu óc mình, và đúng với thực tế của đời sống mình. Còn thờ phượng Thiên Chúa trong giả dối là có sự khác biệt giữa điều mình cầu nguyện với tâm tư, tình cảm và đời sống thực tế của mình. Cầu nguyện như thế chẳng những hoàn toàn vô ích mà còn xúc phạm và tỏ ra coi thường Thiên Chúa nữa. Nếu không thể thờ phượng Thiên Chúa trong sự thật, thì thà rằng đừng thờ phượng còn hơn là thờ phượng Ngài trong giả dối. Ngày xưa, người ta có thể giết chết một con vật làm lễ toàn thiêu, để tượng trưng cho việc họ nhìn nhận quyền Chủ Tể trên mọi sự của Thiên Chúa. Hành động tế tự đó hoàn toàn xảy ra ở bên ngoài. Nhưng bên trong, người ta vẫn có thể tiếc với Thiên Chúa những chuyện rất nhỏ: chẳng hạn họ không thể từ bỏ một ý riêng, một sở thích, một vật đang muốn chiếm hữu, hoặc hoãn thi hành một dự định, hy sinh một cơ hội, v.v… để làm đẹp lòng Thiên Chúa. Như vậy, hành động thờ phượng bên ngoài chẳng phù hợp chút nào với tâm trạng bên trong. Chính vì thế, có lần Đức Giê-su nói về việc thờ phượng của họ:”Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng trí chúng thì lại xa Ta. Việc chúng thờ phượng Ta thật là vô ích” ( Mt 15, 8 – 9; Mc 7, 6 – 7; x, Is 29, 13 ). Ngày nay, có biết bao người khi cầu nguyện thì nói rằng mình yêu mến Chúa, sẵn sàng hy sinh mọi sự vì Chúa; nhưng trong đời sống thì chẳng thấy họ yêu mến Ngài ở chỗ nào. Họ thường nói với Chúa: “Xin tha cho con như con vẫn tha kẻ có nợ với con”, nhưng trong thực tế, họ chấp nhất và bắt bẻ lỗi người khác từng chút một ! Điều tệ hại là người ta vẫn cảm thấy an tâm, họ tưởng rằng làm như thế là đã chu toàn bổn phận thờ phượng đối với Thiên Chúa ! Thiên Chúa rõ ràng không ưa lối thờ phượng đó. Ngôn sứ I-sa-i-a diễn tả sự ngao ngán và dị ứng của Thiên Chúa đối với kiểu thờ phượng bên ngoài ấy: “Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta đã ngấy. Máu bò, máu chiên dê, Ta chẳng thèm ! Thôi, đừng đem những lễ vật vô ích đến nữa. Ta ghê tởm khói hương; Ta không chịu nổi ngày đầu tháng, ngày sa-bát, ngày đại hội, không chịu nổi những người cứ phạm tội ác rồi lại cứ lễ lạc linh đình. Ta chán ghét những ngày đầu tháng, những đại lễ của các ngươi. Những thứ đó đã trở thành gánh nặng cho Ta, Ta không chịu nổi nữa. Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn; các ngươi có đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe. Vì tay các ngươi đầy những máu” ( Is 1, 11b . 13b – 15 ). Thử đặt mình vào địa vị của Ngài xem ta có thể chấp nhận một cung cách thờ phượng như thế không ? Tại sao ta lại có thể đang tâm tiếp tục thờ phượng Ngài theo kiểu ấy ? Tôi nghe Chúa nói với tôi: “Ta đã chán những lễ nghi rỗng tuếch, ghét những những nghi thức trang trọng mà người cử hành chẳng tỏ ra có chút tình thương nào trong lòng. Ta cần tình thương của con người, nhưng họ lại chỉ dâng lên Ta toàn những nghi thức, lời kinh trống rỗng !”

Qua cuộc đối thoại với người phụ nữ xứ Samaria, Chúa Giêsu dần dần đưa chị đến đón nhận một mặc khải quan trọng : Ngài chính là Nước hằng sống. Ta hãy lượt qua những giai đoạn chính của cuộc mặc khải này : – Ban đầu Chúa Giêsu mở miệng xin chị cho mình uống nước. – Tiếp đến, Ngài cho chị biết có một thứ nước quý giá mà hễ uống vào thì không bao giờ khát nữa. – Chị tưởng đó cũng là một thứ nước “phép” nên mở miệng xin Ngài, “để tôi hết khát và khỏi đến đây lấy nước nữa”. – Cuối cùng Ngài mới nói rõ Ngài chính là thứ nước ấy. – Người phụ nữ Samaria đã tin Ngài là Đấng Messia và còn giới thiệu Ngài cho dân làng của chị nữa.

1. Người phụ nữ Samaria chỉ biết khát thứ nước vật chất và chỉ lo đi tìm thứ nước vật chất. Con người thời đại hưởng thụ ngày nay cũng thế. Và tôi, vì sống trong ảnh hưởng của thời đại, nên phần nào cũng thế. Xin Chúa khơi lên trong lòng con và những người thời nay sự khát khao chính Chúa. 2. “Ai uống nước này sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho sẽ không bao giờ khát nữa”. Chúa Giêsu nói rất đúng : tất cả những tiện nghi vật chất không bao giờ làm cho lòng người được no thoả, trái lại chúng còn khiến người ta khao khát thêm. 3. “Như nai rừng mong mỏi Tìm về suối nước trong Hồn con cũng trông mong Tìm đến Ngài, lạy Chúa” (Thánh vịnh) 4. Tâm hồn chúng ta được tạo dựng cho Chúa, vì thế nó sẽ không bao giờ no thoả khi chưa được nghỉ ngơi trong Chúa (chuyển ý của Thánh Au-gus-ti-nô). 5. Vài gợi ý để tự kiểm trong Mùa Chay : tôi thường khao khát những gì ? Tôi đã tìm được chúng chưa ? Chúng có làm tôi thỏa mãn không ? Tôi có ý thức cơn khát thiêng liêng mà chỉ có Chúa mới xoa dịu được không ?

Anh chị em thân mến Chúa Nhật trước qua việc Chúa biến hình trên núi, Chúa đã hé mở ra cho chúng ta thấy vinh quang Nước trời mà Chúa mời gọi chúng ta đi vào Chúa Nhật hôm nay và hai Chúa nhật kế tiếp, chúng ta sẽ nói với nhau về con đường dẫn chúng ta đến hưởng vinh quang đó. Con đường này có thể phân ra làm ba chặng. Tuy là ba nhưng được liên kết một cách hết sức chặt chẽ với nhau như ba trong một.

Hôm nay chúng ta nói với nhau về sử sám hối Tuần sau chúng ta nói về sự trở về Và tuần cuối cùng của Mùa Chay chúng ta nói với nhau về ơn tha thứ Như vậy là chúng ta đã đi hết các chặng đuờng của Mùa Chay để có thể thanh thản buớc vào niềm vui Phuc Sinh với Chúa. Bây gờ chúng ta bước vào vấn đề hôm nay. Vấn đề sám hối.

Một cách thật đơn sơ chúng ta có thể trả lời như sau: Sám hối là hối hận về tội lỗi của mình và quyết tâm làm lại cuộc sống cho tốt hơn. Như vậy muốn có được lòng sám hối thì điều kiện đầu tiên không thể thiếu đó là phải thấy được tội lỗi, lỗi lầm của mình. Nói một cách đơn giản hơn là thấy được mình là người tội lỗi.

* Ngày trước người Do thái thì căn cứ vào những tai họa bên ngoài để nhận diện lành dữ, tốt xấu …chẳng hạn như trong baì Tin Mừng hôm nay một số những người Galilê bị Philatô giết. Họ là những người đến Giêrusalem dâng lễ tế, chắc họ đã gây ra một vài hỗn loạn trong khuôn viên đền thờ, do đó đội binh La mã ở trong đồn Antonia đã ra tay can tiệp và tàn sát tại chỗ không nuơng tay và sự kiện thứ hai là việc tháp Siloe đổ xuống làm chết 18 người trước đó. Dưới con mắt của những người Do Thái thì những người này quả là những người bị Chúa phạt. Nhưng thủ hỏi đối với Chúa thì Chúa nghĩ làm sao? Chúa không khẳng định cũng như không phủ định nhưng Chúa muốn coi đó như một cơ hội dể cho người ta cảnh tỉnh mà rà lại cuộc sống của mình. Đây ta hãy nghe lời của Chúa: ” Không phải đâu nhưng nếu các ngươi không sám hối thì các ngươi cũng phải chết như vậy” (Lc 13,5) Thực ra tiêu chuẩn để nhận diện xấu tốt, lành dữ rất là đa diện, khó mà có thể nhận diện được một cách dễ dàng. Chúng ta đã có 10 giới răn của Chúa, 6 điều răn của Hội thánh, rồi luật nọ, luật kia thế nhưng cứ vào những dịp Mùa Chay là rất nhiều linh nhiều khi phải bực bội vì những cách xưng tội của nhiều người Trong cuốn sách “Truyện cổ dân gian An Độ” do nhà Xuất bản Khoa Học Xã Hội Hà nội ấn hành năm 1982 có thuật lại câu chuyện này: Ngày xửa ngày xưa có một ông vua rất hùnh mạnh…từng kéo đại quân đi xâm chiếm nhiều nước láng giềng. Danh tiếng của nhà vua vang lừng khắp nơi. Vua chúa các nước chư hầu hết thảy đều sợ ông ta và thường mang đồ đến cống để lấy lòng. Nhưng trong nước nhà vua này lại xuất hiện một tẹn cướp gan dạ….ngày đêm hắn chuyên di cướp bóc khiến mọi người vô cùng sợ hãi. Nhà vua đã nhiều lần sai quân lính đi lùng bắt tên cướp đó nhưng hắn ẩn hiện bất ngờ nên quân lính không thể nào mà bắt được hắn. Nhưng rồi một hôm kia tên cướp tìn về nhà để thăm người chị ruột của hắn. Một người hàng xóm biết được …vội đi trình vua. Lập tức quân lính của nah vua bao vây làng đó và sau một phen chống cự kịch liệt, tên cuớp bị bắt. Quân lính trói lại và giải đến cùng vua. Vua hỏi:

Tên cướp hiên ngang đứng thẳng người đáp: – Tên tôo là Randin – Mi làm nghề gì? – Tôi làm nghề như Ngài. – Quân khốn kiếp – Vua tức giận hét lên. Mày nói gí mày có hiểu không? Mi là một tên cướp là đồ ăn trộm, đêm ngày đi cướp bóc của cải của thần dân ta Còn ta, ta là vua, đem ngày không ngủ để lo chuyện ích quốc lợi dân. Đấy ta là ai và mi là ai…thì nhà ngươi đủ r. – Tâu bệ hạ, tên cướp đáp, xin Ngài chớ nổi nóng. Hãy bình tĩnh để nghe tôi nói: Ngài xâm chiếm ba nhiêu nước cướp phá bao nhiêu thành trì kiên cố và to lớn và giết hàng ngàn, hàng vạn người trên bãi chiến trường. Còn tôi đây chỉ là một kẻ lưu manh, một tên cướp nhỏ. Tôi không có binh lính, chỉ có một mình ăn cướp chút đỉnh. Tôi chỉ giết người khi cần bảo vệ tính mạng mình. Như vậy là tôi với Ngài cùng làm một nghề như nhau. Sự phân biệt giữa tôi với Ngài là ở mức độ tầm cỡ: Ngài là một tên cướp lớn, là tên xâm lược – Còn tôi là một kẻ lưu manh, một tên cướp nhỏ. Nhà vua nghe nói như thế lấ làm thú vị phá lên cười và truyền tha cho tên cướp.

Đavit phạm tội cướp vợ của Uria….Rồi lại phạm tội baỳ mưu giết Uria một trong những vị tướng hết lòng hết dạ với ông….Vậ mà sau khi phạm tội ông cứ bình thản như không có gì xảy ra ĐỨC CHÚA sai ông Na-than đến với vua Đa-vít. Ông vào gặp vua và nói với vua: “Có hai người ở trong cùng một thành, một người giàu, một người nghèo. Người giàu thì có chiên dê và bò, nhiều lắm. Còn người nghèo chẳng có gì cả, ngoài con chiên cái nhỏ độc nhất ông đã mua. Ông nuôi nó, nó lớn lên ở bên ông, cùng với con cái ông, nó ăn chung bánh với ông, uống chung chén với ông, ngủ trong lòng ông: ông coi nó như một đứa con gái. Có khách đến thăm người giàu, ông này tiếc của, không bắt chiên dê hay bò của mình mà làm thịt đãi người lữ khách đến thăm ông. Ông bắt con chiên cái của người nghèo mà làm thịt đãi người đến thăm ông.” Vua Đa-vít bừng bừng nổi giận với người ấy và nói với ông Na-than: “Có ĐỨC CHÚA hằng sống! Kẻ nào làm điều ấy, thật đáng chết! Nó phải đền gấp bốn con chiên cái, bởi vì nó đã làm chuyện ấy và đã không có lòng thương xót.” Ông Na-than nói với vua Đa-vít: “Kẻ đó chính là ngài! ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Ít-ra-en, phán thế này: Chính Ta đã xức dầu phong ngươi làm vua cai trị Ít-ra-en, chính Ta đã giải thoát ngươi khỏi tay vua Sa-un. Ta đã ban cho ngươi nhà của chúa thượng ngươi, và đã đặt các người vợ của chúa thượng ngươi vào vòng tay ngươi. Ta đã cho ngươi nhà Ít-ra-en và Giu-đa. Nếu bấy nhiêu mà còn quá ít, thì Ta sẽ ban thêm cho ngươi gấp mấy lần như thế nữa. Vậy tại sao ngươi lại khinh dể lời ĐỨC CHÚA mà làm điều dữ trái mắt Người? Ngươi đã dùng gươm đâm U-ri-gia, người Khết; vợ y, ngươi đã cướp làm vợ ngươi; còn chính y, ngươi đã dùng gươm của con cái Am-mon mà giết. Thật vậy, ngươi đã hành động lén lút, nhưng Ta, Ta sẽ làm điều ấy trước mặt toàn thể Ít-ra-en và giữa thanh thiên bạch nhật.” Bấy giờ vua Đa-vít nói với ông Na-than: “Tôi đắc tội với ĐỨC CHÚA.”

Sau cuộc hiển dung trên núi, Đức Giêsu quả quyết lên đường đi Giêrusalem, nơi sẽ diễn ra cuộc “Một sự kiện được các thính giả trình lên: Philatô tàn sát mấy người xứ Galilê tại Đền thờ – các sử gia xác nhận ông đã dùng những cực hình tàn bạo – và lấy máu của họ hoà vào máu các lễ vật của họ. Phải chăng họ là “Thay vì trả lời trực tiếp vào câu hỏi, Đừc Giêsu dẫn sang một sự kiện khác đã diễn ra tại Giêrusalem: tháp Siloê đổ đè chết 18 người. Người kết luận bằng cách nhắc lại lời cảnh báo nghiêm trọng: H. Cousin chú giải: 2. ..Tiếp liền theo sau là dụ ngôn cây vả không trái. Dụ ngôn này làm dịu lại những lời lẽ nghiêm khắc của Đức Giêsu. Người thợ làm vườn mà dụ ngôn trình bày cho ta luôn hy vọng rằng cây vả của ông, dù vẫn chưa ra trái, có ngày sinh hoa kết quả. Ông thuyết phục người chủ vườn hãy hoãn lại quyết định đốn cái cây ăn hại đất một cách vô íchấy; và ông đã nhận được một án treo “H. Cousin kết luận: Đức Giêsu đã trả lời cho những kẻ đến hỏi Người: Còn anh em, anh em nghĩ rằng anh em là thánh, là những người được Chúa Quan phòng sủng ái vì anh em không bị nạn ư? Tất cả anh em đều đáng bị kết án vì có tội. Đừng lừa dối mình về ý nghĩa của các biến cố và nội dung của các dấu chỉ? Thiên Chúa không phải là một Nhưng làm sao thoát khỏi lời loan báo về cuộc Chọn được sống tức là trở nên hình ảnh của Thiên Chúa trong cuộc Xuất hành, Đấng tự xưng: Đoạn văn ta đang đọc khai mở cho các môn đệ và cho đám đông vây quanh Đức Giêsu ý nghĩa của thời gian hiện tại: Đây là thời khẩn cấp phải hoán cải. Luca luôn nhấn mạnh đến tính chất cấp thiết này: một thời gian trì hoãn đã ban cho ta, đừng để nó trôi qua mất. Đây là lúc ta phải phân định những dấu hiệu tiên báo về một tương lại gần đến, vì ta có thể đoán được ngày mai thời tiết ra sao: I. VÀI DIỂM CHÚ GIẢI 1. Hoán cải là khẩn cấp.

xuất hành“, cuộc “ra đi” của Người. Người khuyên đám đông hãy biết phân định những dấu chỉ của Nước Trời và hãy đón nhận Tin Mừng đừng chậm trễ những người tội lỗi hơn những người “Ta bảo cho các ngươi biết: nếu các ngươi không hoán cải, các ngươi cũng sẽ chết như’ họ” Galilê khác ? ” . “Hai kiểu chết khốc liệt nói trên phải là lời cảnh báo cho những ai không mau mắn thay đổi đời sống, không xét lại ý kiến và những hoài vọng lầm lạc của họ. Cũng như từ đầu đã nói, hai thảm kịch kia diễn ra không có nghĩa là các nạn nhân đã phạm phải một tội nặng nề nào, thì việc không gặp hoạn nạn cũng không phải là dấu chỉ về sự vô tội của những “người sống . và sinh hoa kết quả như Chúa mong muốn sót “. Xin hãy để nó sống thêm năm nay nữa. Biết đâu nó sẽ ra trái , “Nếu giờ phán xét chưa đến ngay, đó là vì Thiên Chúa ban chọ ta một ân huệ sau cùng để ta hoán cải chứ không phải là Người đã chấp thuận các hành vi của ta… Cây vả không trái chưa bị nhổ ngay là do lòng nhân hậu khôn tả, tuy nhiên nó vẫn còn bị de dọa phải chết nếu năm sau vẫn không ra trái… Lời khiển trách cây vả – vì không ra trái – là lời chỉnh báo cho thính giả của Đức Giêsu: họ không được trì hoãn việc chính yếu đến ngày mai và phải quyết định sinh hoa kết quả cho Chúa ngay ” ( Sđd. trg 1 92 ) “ông chủ ” khắc nghiệt và nóng vội trừng phạt tức khắc và từ chối khoan giãn. Hình phạt và phần thường, sẽ có, nhưng không phải theo cái lối mau chóng tức thời ấy. Nếu không, lúc ấy ông hãy đôn nó đi ?’ Thiên Chúa là như thế. Tha thiết mong người ta hoán cải đừng chậm trễ và hãy đem tình yêu đáp lại tình yêu đi bước trước của Người. Thiên Chúa của Đức Giêsu nhẫn nại vô biên đối với người tội lỗi. Người chấp thuận cho họ một sự trì hoãn ân huệ. Người không tuyệt vọng với bất kỳ ai. Ta vẫn thường hát rằng: “Với Chúa chẳng có ai là quá xa,… Với Chúa chẳng có gì hư mất… Với Chúa chẳng có gì chấm dứt.” (phiếu L.82, chẳng có đứa con hoang đàng nào mà không được tha thứ”). Mọi người đều là tội nhân và cần hoán cải trước khi bị Thiên Chúa phán xét. Trước khi gặp tai nạn, khi cuộc đời xem ra tươi sáng, đã cần phải sám hối và đón nhận Lời cứu độ của “Thiên Chúa do Đức Giêsu loan báo. Để sau, e rằng quá muộn!. ” (“Tin Mừng theo thánh Luca Centurion, trg 91) Đừng trước những bất hạnh của người khác, ta tự nhiên tìm xem đâu là lỗi lầm của nạn nhân. Họ đã chết như thế, có lẽ đó là hình phạt do tội lỗi của họ. Và ta tự cho mình là công chính vì ta đã không bị nạn. Đức Giêsu khuyên họ: đừng nên tìm giải thích những cái chết tức tưởi, tốt hơn hãy năng nhận biết mình tội lối và mau mắn hối cải.

“Nếu các ngươi không hoán cải, tất cả các ngươi sẽ phải chết“. Ta những muốn xoá đi những câu Tin Mừng như thế. “phán xét’ : những chọn lựa của ta tự nó mang một yếu tố quyết định, đó là vấn đề sinh tử (“Sa ngã… bị loại trù… chết”). ‘ 11 BÀI DỌC THÊM: 1. Một tình yêu vừa nhẫn nại vừa đòi hỏi“Ta là “. Chọn sự sống hơn là những lối sống dẫn đến sự chết, là bước theo Đức Giêsu trên con đường Phục sinh. Hoán cải là chọn sự sống. Nhưng chẳng phải một lần mà xong. Đó là một hành trình kiên trì với Đức Kitô. có Thánh Thể nuôi dưỡng, (F. Deleclos trong “Hãy cầm lấy Lời Chúa mà ăn Centurion- Duculot. trg 196)Không báo, không đài, chẳng có ti vi, mà biến cố vẫn nhanh chóng loan truyền khắp xứ sở. Lợi dụng lúc dân tụ tập trong đền thờ, bộ hạ của Philatô đã vét được một mẻ lưới vừa gọn ghẽ vừa dễ dàng, rồi họ mau chóng biến thành một cuộc thảm sát. Nạn nhân là những ai? Những người Galilê vốn có tiếng là có tinh thần dân tộc mạnh mẽ và bị chính quyền thống trị Rôma coi như những hạt nhân cách mạng. Nhưng họ đã làm gì xúc phạm đến Thiên Chúa đến nỗi phải chịu một tai hoạ như thế? Câu hỏi gây lúng túng, nhưng đó là câu hỏi cần đặt ra cho vị tiên tri mới mà giáo lý mới lạ của Người đã lôi cuốn biết bao đám đông. Mọi người đều có câu trả lời sẵn phù hợp với truyền thống xưa cũ. Thiên Chúa chúc lành và thưởng công những người công chính. Người trừng phạt kẻ tội lỗi. Thành công và giàu sang là những dấu chỉ rõ ràng của sự ưu ái của Thiên Chúa. Thất bại và nghèo khổ đúng là phần thưởng cho những kẻ tội lỗi.

Đừng gán ghép bất hạnh với tội lỗi, thành công với Chúa quan phòng. Những kẻ thoát nạn không phải là những người được khen thưởng, cũng không phải là những người khốn khổ vì có tội. Không có ai vô tội. Tất cả mọi người đều được mời gọi hoán cải và sinh hoa kết quả. Đó mới là chính vấn đề. Thiên Chúa là người thợ làm vườn nho đã bài bác lý lẽ của người chủ vườn và đã đề nghị một khoan giãn ân huệ mới cho cây vả. Thật là một Thiên Chúa nhẫn nại. Nhẫn nại nhưng lại rất đòi hỏi, phối kết hài hoà sức mạnh và sự dịu dàng, công lý và xót thương, tình yêu con ngươi và cương quyết chống lại điều ác.“Thời gian hiện tại, làm sao ngươi không nhận biết? “. Đó là sắp xếp trước khi ra hầu toà, lúc ta còn có thể thay đổi đời sống trước khi chịu số phận như những người Galilê mà Philatô đã tàn sát. 2. Tính chất nghiêm trọng của những chọn lựa của ta. (“Cử hành”. Tạp chí của Trung tâm Quốc gia về Mục vụ Phụng vụ số 217. lrg l8).

Tin Mừng giúp ta ý thức về tính chất nghiêm trọng của những lựa chọn và do đó của tự do của ta.

3. Ngày mai sẽ là quá trễ. (Mgr. Dalo2., trong Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người”, DDB. trg l09).

Đây là năm trì hoãn mà người làm vườn ban cho cây vả, để nó mang lại những hoa trái mà ông chủ đang mong chờ… Đừng trì hoãn việc hoán cải đến ngày mai. Thời giờ ngắn ngủi lắm, đây là lần gia hạn cuối cùng. Ngày mai sẽ là quá trễ. Ta có cơ may được nghe những lời cảnh báo này. Ngày hôm nay là một ngày hồng ân của Thiên Chúa, ta không được bỏ lỡ. Đức Giêsu mời gọi ta hãy phân định: ta qui hướng về một tương lai mà ta có thể linh cảm thấy. Tin là bước đi trong đêm tối nhưng đức tin hướng ánh mắt ta về một thế giới tương lai và hé lộ cho ta thấy tính cách khẩn cấp của việc hoán cải.

Ở xứ Pa-lét-tin, người ta thường thấy cây vả, cây gai và cây táo trong những vườn nho. Đất mỏng và cằn cỗi đến nỗi bất kỳ ở đâu có đất, người ta cũng trồng cây. Nhưng thực tế là cây vả này được đặc ân hơn, nhưng nó lại tỏ ra không xứng đáng với đặc ân đó. Chúa Giê-su đã nhiều lần trực tiếp hoặc gián tiếp nhắc nhở dân chúng rằng họ sẽ bị đoán xét tùy theo những cơ hội may mắn mà họ đã có. Có người đã nói về thế hệ chúng ta rằng: “Chúng ta được ban cho nhiều sức lực, nhưng chúng ta đã sử dụng như những học trò vô trách nhiệm.” Không hề có một thế hệ nào được hưởng dùng quá nhiều như thế hệ chúng ta, và vì thế chưa hề có một thế hệ nào mang nặng trách nhiệm trước mặt Thiên Chúa như vậy.

Thế giới này phải đi trên con đường tiến hóa, tất cả cuộc tiến hóa nhằm sản sinh những gì có ích lợi, điều gì có ích sẽ cứ mạnh mẽ phát triển trên đường tiến hóa, trong khi những gì vô ích sẽ bị tiêu diệt. Câu hỏi khúc mắc nhất dành cho mỗi người chúng ta là : “Chúng ta sống trên thế gian này để làm gì.”

Cây vả kia cứ rút lấy sức lực của đất mà không sản sinh gì cả. Đó chính là tội của nó, xét cho cùng có hai hạng người trên thế giới : những người “cầu” nhiều hơn “cung” và những người “cung” nhiều hơn “cầu” . Theo một phương diện, chúng ta đều mắc nợ cuộc sống. Chúng ta vào đời trong sự nguy hiểm tính mạng của người khác, chúng ta hẳn đã không còn sống đến nay nếu không có sự săn sóc của những người thương yêu chúng ta. Chúng ta đã thừa hưởng một nền văn minh mà không bởi công sức của chúng ta tạo ra. Chúng ta có trách nhiệm phải làm cho mọi sự trở nên tốt hơn lúc chúng mới tiếp cận chúng ta. Abraham Lincoln đã nói : “Tôi chết lúc nào cũng được, nhưng tôi muốn người ta nói về tôi rằng : tôi đã nhổ một cây cỏ và trồng một cây hoa ở nơi nào tôi nghĩ rằng cây hoa có thể mọc.” Có một học trò được quan sát vi trùng dưới kính hiển vi. Cậu được thấy rõ một thế hệ những con vật li ti đó sinh ra, chết đi, thế hệ khác sinh ra thế nào … Trước đó, cậu chưa hề được thấy thế hệ này tiếp nối thế hệ khác như thế nào. Cậu nói: “Theo như điều tôi đã xem thấy, tôi tự hứa mình sẽ không bao giờ làm một vòng nối yếu đuối.” Nếu chúng ta cũng biết tự hứa như vậy thì ta sẽ làm tròn trách nhiệm, là đem vào đời sống ít ra cũng bằng phần chúng ta lấy đi.

Nếu chúng ta từ chối hết cơ may này tới cơ may khác, nếu tiếng kêu mời của Thiên Chúa cứ trở đi trở lại với chúng ta cách vô ích thì đến một ngày, không phải Thiên Chúa đóng cửa lại, nhưng chính chúng ta tự ý đóng cửa lòng mình với Thiên Chúa. Nguyện Chúa cứu chúng ta khỏi điều đó. “Hôm nay là ngày thuận tiện, hôm nay là ngày cứu độ.”