Tieu Luan Triet Hoc: Triet Hoc Phat Giao

III. Nhân sinh quan Phật giáo.

Từ một vũ trụ quan căn cứ trên những thuyết nhân duyên sinh, thuyết sự vật duyên khởi đi đến nhận thức là vô thủy, vô chung, từ những thuyết vô thường, vô ngã bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu về những quan niệm của Đạo Phật về vấn đề nhân sinh quan. Ở đây chúng ta sẽ lần lượt trả lời các câu hỏi:

– Con người là gì ? Từ đâu mà sinh ra? Chết rồi đi đâu ?

Vị trí của con người trong Đạo Phật.

– Quan niệm của Phật về các vấn đề:bình đẳng, tự do, dân chủ….

– Có phải cuộc sống chỉ toàn là đau khổ ? và vấn đề giải thoát trong Đạo Phật là gì ?

Trước khi trả lời các câu hỏi trên chúng ta sẽ tìm hiểu và phân tích Tứ diệu đế vì đây là giáo lý kinh điển của Phật giáo bao quát toàn bộ các vấn đề trên.

Tứ diệu đế hay còn gọi là tứ chân đế hay tứ thánh đế, là bài thuyết pháp đầu tiên của Phật sau khi thành đạo tại vườn Lộc giã cho năm từ khưu trước kia đi theo Phật.

Tứ đế là đạo lý căn bản của Thanh Văn Thừa, đồng thời cũng là cơ sở của các thuyết khác trong giáo lý Phật. Tứ đế gồm có: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế.

Trong tứ đế, Phật đưa ra đầu tiên vấn đề khổ, rồi giảng cho ta thấy vì sao mà khổ , phương pháp diệt khổ và con đường đi đến diệt khổ.

Nói như thế có người hiểu lầm cho rằng đạo Phật chủ trương cuộc đời chỉ toàn là khổ, và đạo Phật là đạo yếm thế. Thực ra, đạo Phật nhìn cuộc đời một cách khách quan, không ru người ta vào một giấc mơ Niết Bàn hay cực lạc và cũng không làm cho người ta sợ hãi, chán nản bởi những đau khổ trong cuộc sống. Phật chỉ cho chúng ta nhận thức sự vật, cuộc đời theo chân tướng của nó và chỉ dẫn cho chúng ta đi đến giải thoát.

Danh từ Dukkha của tiếng Xantít ta thường dịch là khổ là chưa thật hết nghĩa nên mới dẫn đến những hiểu lầm trên.

Trong phép tướng duy thức có nói đến ba loại thụ: khổ thụ, lạc thụ, xả thụ. Như vậy không phải chỉ có khổ thụ mà còn có lạc thụ. Đối với cảnh nghịch sinh ra khổ thụ nhưng đối với cảnh thuận thì sinh ra lạc thú. Các cảnh có thể làm cho người ta vui hoặc khổ hoặc không vui, không khổ. Đạo phật không phủ nhận những cảm giác vui (lạc thú ) của cuộc đời mà còn phân tích ra nhiều hình thức vui. Nhưng những cái vui ấy, cũng như những cái khổ ấy đều bao gồm trong danh từ Dukkha, vì những cái vui, cũng như những cái khổ ấy đều là vô thường hư giả.

Dù người tu hành chứng được những trạng thái thiền định cao siêu thì những lạc thú siêu thoát ấy vẫn là Dukkha vì những người tu hành ấy chưa thoát khỏi tam giới vô thường, hư giả.

Khổ thụ và lạc thụ đều là Dukkha cả, do đó chúng ta phải diệt là diệt cái Dukkha ấy chứ không phải là tránh khổ, tìm vui như thế gian thường hiểu, thường lầm.

Theo cách phân tích khác Phật chia cái khổ ra làm 8 loại:

1, Sinh khổ: Đã có sinh là có khổ vì đã sinh nhất định có diệt, bị luật vô thường chi phối nên khổ.

2, Lão khổ: người ta mong muốn trẻ mãi nhưng cái già theo thời gian vẫn cứ đến. Cái già vào mắt thì mắt bị mờ đi, cái già vào lỗ tai thì tai bị điếc, vào da, xương tủy thì da nhăn nheo, xương tủy mệt mỏi. Cái già tiến đến đâu thì suy yếu đến ấy làm cho người ta phiền não.

3, Bệnh Khổ: Trong cuộc sống, thân thể thường ốm đau, nhất là khi già yếu, thân thể suy nhược, bệnh tật dễ hoành hành làm cho người ta đau khổ.

4, Tử khổ : Là cái khổ khi người ta chết. Chứng sinh do nghiệp báo chịu cái thân nào thì gắn bó với cái thân ấy coi như cái thân duy nhất của mình thì khi chết thì phiền não vô cùng.

5, Cầu bất đắc khổ: Người ta thường chạy theo những điều mình ưa thích, mong cầu hết cái này đến cái khác. Khi chưa cầu được thì phiền não, khi cầu được rồi thì phải lo giữ nó, nếu nó mất đi thì lại luyến tiếc.

6, Ái biệt ly khổ: nỗi khổ khi phải chia ly.

7, Oán tăng hội khổ: những điều mình chán ghét thì nó cứ tiến đến bên mình.

8, Ngũ ấm xí thịnh khổ: ngũ ấm ấy là sắc ấm, thụ ấm, tưởng ấm, hành ấm, thức ấm. Ngũ ấm ấy che lấp trí tuệ, phải chịu cái khổ luân hồi trong vô lượng kiếp.

Tập đế còn gọi là nhân đế, là những nguyên nhân tạo thành sự khổ. Những nguyên nhân đó không phải tìm đâu xa mà ở ngay trong mỗi chúng ta. Nguyên nhân thì có nhiều nhưng có thể tóm lại như sau:

1. Tham lam. 2. Giận dữ. 3. Si mê. 4. Kiêu mạn. 5. Nghi ngờ. 6. Thân kiến ( tưởng thân thể là thực có là trường tồn). 7. Biên kiến ( sự hiểu biết một mặt như chấp đoạn, chấp thưởng ). 8. Tà kiến ( sự hiểu biết không đúng ). 9. Kiến thử ( chấp trí hiểu biết của riêng mình là đúng). 10. Giới cấm tu ( tu hành không chính đạo ).

Ba nguyên nhân chính ( tham, sân, si) Phật còn gọi là tam độc, là nguồn gốc của mọi sự khổ. Nguyên nhân của tam độc là do ái dục và vô minh được thể hiện trong công thức sau:

Đạo Phật là một đạo không chỉ để người ta học mà chủ yếu cho người ta hành. Thực ra, những cái mà ta học được trong kinh điển mới chỉ là một kiến thức lỏng lẻo có tính chất lý thuyết. Ta mới chỉ nghe thấy nói đến những thuyêt vô thường, vô ngã, sắc không… mà thôi. Còn tu hành là phải gắng sức thực nghiệm những chân lý đó. Hiểu đạo không phải chỉ là nghiệm đạo qua kinh điển mà phải trải qua học đạo, tu đạo, chứng đạo. Thời đại ngày nay là thời đại của phát triển, của khoa học kỹ thuật và công nghệ mới. Để phù hợp với sự phát triển đó, con người cần phải có tham vọng lớn, năng động, lạc quan, tin tưởng, dũng cảm sáng tạo. Nhưng không vì thế mà con người ngày nay xa rời với con người của Phật giáo: từ, bi, hỷ, xả. Con người có tham vọng nhưng không tham nhũng cái do người khác làm ra, không vun vén lợi ích cho riêng mình biết kết hợp những phẩm chất đạo đức của con người Phật giáo với tư cách, trí tuệ của con người hiện đại là chúng ta tự hoàn thiện mình, cùng nhau xây dựng một xã hội văn minh, hạnh phúc.

Qua những vấn đề cơ bản trong Phật học, ta thấy Đạo Phật là một hệ thống tư tưởng thống nhất quy tụ về Nhất Thừa Phật pháp. Tất cả giáo lý Phật là nền tảng cho việc xây dựng con người vị tha và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình, tiến tới con người vị tha và coi cuộc sống vị tha là lý tưởng cao quý nhất của đời mình, tiến tới con người từ, bi, hỷ, xả, con người Phật. Vì thế vấn đề nhân vị trong đạo Phật là một vấn đề quan trọng vì đạo Phật cho rằng con người là tất cả, con người quyết định số phận của mình, quyết định hình thái xã hội. Con người ác chỉ biết lợi mình hại người tạo ra một xã hội với áp bức bất công. Con người thiện, sống vị tha xây dựng một xã hội tiến bộ, lành mạnh.

Người học Phật, tu Phật hàng ngày phải sống với đạo, thực nghiệm đạo, không một phút nào xa lìa đạo. Trong mọi hoạt động của thân, khẩu, ý đều phải gắn liền với Đạo, thể hiện Đạo. Với cách sống như thế, người tu hành luôn là người dũng cảm có đủ nghị lực chiến thắng ngũ dục, chiến thắng những bất công áp bức.

Và một đặc điểm lớn nhất của đạo Phật là suốt đời, Phật không bao giờ tự nhận là người duy nhất đem lại sự giải thoát cho loài người. Phật nói: Con người ai ai cũng có Phật tính. Trước người đã có hằng hà sa số Phật.

Sự giải thoát không chỉ nhằm đấu tranh chống những áp bức về xã hội về kinh tế như lịch sử Phật giáo đã chứng minh mà sự giải thoát nhằm tiêu diệt tận gốc mọi đau khổ là tham lam và dục vọng. Việc giải phóng này là con người phải tự lực đảm nhiệm, không ai có thể làm thay được và mỗi người đều coi sự giải thoát là cứu cánh cuối cùng của cuộc đời.

Như vậy, đạo Phật đã đặt con người lên một vị trí hết sức quan trọng và cao quý. Hạnh phúc của con người là do con người xây đắp nên. Con người thấm nhuần giáo lý Phật, con người vị tha, từ, bi, hỉ, xả sẽ kiến lập một xã hội hoà bình, an lạc, công bằng, mọi người sống vì lợi ích của nhau, còn tập thể.

Trái lại. con người ích kỷ chỉ biết mình, hại người, con người sống tàn bạo, độc ác thì cái gì trong tay con người cũng sẽ trở thành khí cụ sát hại và xã hội của những con người ấy sẽ là xã hội địa ngục, xã hội áp bức bóc lột.

(Sưu tầm)

Cách Phân Biệt Dao Seki Thật Giả, Làm Sao Mua Được Dao Nhật Made In Japan

Nhắc tới Nhật Bản chắc hẳn các bạn đều ấn tượng với những thanh kiếm Katana huyền thoại vô cùng nổi tiếng chế tạo bởi những sản phẩm thép chất lượng cao từ nền công nghiệp luyện kim hàng đầu thế giới của Nhật Bản. Dao Nhật Made in JapanSeki cũng như vậy, được làm từ nguyên liệu thép không gỉ chất lượng cao nên có độ bền, sắc bóng đẹp và rất an toàn với các loại thực phẩm khi chế biến.

Dao Seki thật Vật liệu lõi được làm bằng thép lưỡi thép không gỉ có độ cứng cao và kim loại bên được làm bằng thép không gỉ dễ mài, đạt được độ sắc nét và sắc nét. B00KKEBT9C

Không giống với các loại dao thông thường khác, chất liệu chủ yếu là sắt hoặc inox kém chất lượng, không được bền và bị mài mòn theo thời gian, lưỡi dao hay bị cùn, bị mẻ.

Dao Seki Nhật Bản làm từ thép cao cấp nên cầm rất đầm tay, thái cũng dễ dàng, dứt khoát hơn rất nhiều.

Dao Seki thật với tay cầm Nylon (Nhiệt độ chịu nhiệt 170 độ), tán đinh inox giúp cầm chắc tay và hiệu quả cao khi chặt, thái, tạo sự thoải mái cho người sử dụng.

Lưỡi dao làm từ Vật liệu composite vỏ thép không gỉ, bền đẹp theo thời gian. Việc mài các cạnh (góc) được tạo ra sau lưỡi cắt giúp thái thực phẩm tốt hơn và đạt được độ sắc nét hơn.

Với công nghệ mới Nhật Bản, Hoàn thiện thân lưỡi mỏng hơn trước (xử lý SE mới) và cắt lại (xử lý UL) để đạt được hình dạng ngao lý tưởng. Sức đề kháng giảm và độ sắc nét được cải thiện.

Việc mài các cạnh (góc) được tạo ra sau lưỡi cắt giúp cắt vào thực phẩm tốt hơn và đạt được độ sắc nét hơn.

Thông tin chi tiết sản phẩm:

Quý khách có nhu cầu mua Dao Seki thật, Dao Nhật Made in Japan xin vui lòng liên hệ shop Nhật Việt qua hotline: 0983131528 để được tư vấn cụ thế nhất.

Chúng tôi đáp ứng mọi nhu cầu mua hộ hàng Nhật về Việt Nam 24/7 giúp các bạn tìm được sản phẩm ưng ý, gửi yêu cầu Shop Nhật Việt theo 4 cách để shop báo giá và order :

Gửi link vào mail: [email protected]

Chat facebook với Shop theo link sau: fb.com/orderhangnhatban

Đặt Hàng online tại shopnhatviet.com/dathang

Gọi điện cho Shop qua Hotline 0983.1315.28 hoặc Chat Viber,Zalo

Kể từ năm 2010 đến nay Shop Nhật Việt Chuyên nhận Order Vận Chuyển hàng xách tay từ Nhật về Việt Nam và ngược lại. Nếu bạn có nhu cầu hãy liên hệ 0983.1315.28 để được tư vấn trực tiếp!

Mua Hàng Nhật Xách Tay : ✓ Hàng Nhật Nội Địa ✓ Giá rẻ ✓ Giao hàng miễn phí.

Tìm Kiếm Với Google:

So Sánh Dao Nhật Và Dao Đức

Ngày: 10/08/2024 lúc 15:58PM

Khi bạn tìm mua một con dao chất lượng cao, có khả năng bạn sẽ bắt gặp 2 loại dao chính: dao Đức và dao Nhật . 2 trường phái dao trên đã khẳng định được vị thế của mình trên bản đồ thế giới. Vậy làm sao để đưa ra quyết định chọn lựa giữa 2 loại dao này?

Đã đến lúc bạn cần một con dao thực thụ mà đảm bảo được tiêu chí về độ sắc bén và sáng bóng. Hơn nữa, bộ dao bếp được thiết kế mang màu sắc riêng sẽ trở thành điểm nhấn trong gian bếp của bạn. Khi bạn tìm mua một con dao chất lượng cao như vậy, có khả năng bạn sẽ bắt gặp 2 loại dao chính: dao Đức và dao Nhật. Tất nhiên còn rất nhiều loại dao khác, nhưng 2 trường phái thiết kế dao trên đã khẳng định được vị thế của mình trên bản đồ thế giới về dao. Vậy làm sao để đưa ra quyết định chọn lựa giữa 2 loại dao này? Loại nào tốt nhất cho phong cách nấu ăn của bạn?

Sự khác biệt giữa 2 loại dao này chủ yếu nằm ở độ cứng của thép và góc cạnh, từ đó có sự phân biệt với nhau về độ bền và chức năng. Tuy nhiên, để làm sáng rõ câu hỏi ngày hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhìn nhận 2 dòng dao Đức và dao Nhật từ 5 góc cạnh: loại thép, góc cạnh,cấu tạo, tính đối xứng và công dụng.

Loại thép

Thép là hợp kim bao gồm Sắt và Các-bon. Cả dao của Đức và Nhật đều được làm từ thép, nhưng là 2 loại thép có tỷ trọng thành phần cấu tạo khác nhau. Thang điểm Rockwell (HRC) được sử dụng để xác định độ cứng của một miếng thép: con số này càng cao tức là lượng Các-bon trong miếng thép đó càng lớn, thép càng cứng.

Lưỡi dao của Đức được rèn bằng loại thép khoảng 57 HRC, trong khi lưỡi dao của Nhật từ loại thép trong khoảng 60 đến 63HRC.

Lưỡi dao Nhật cứng hơn sẽ giữ cạnh tốt hơn, tuy nhiên kém bền hơn và dễ bị sứt mẻ, thậm chí có khả năng bị gãy. Các loại dao bằng thép mềm hơn của Đức bền hơn rất nhiều nhưng đánh đổi vấn đề không duy trì được góc cạnh lâu như dao Nhật. Đó là lý do khiến độ sắc của dao Đức không duy trì được lâu như dao Nhật.

Để khắc phục tình trạng lưỡi dao cứng dễ mẻ, dao Nhật áp dụng phương pháp rèn kiếm samurai – phương pháp ép lớp. Tức là bên ngoài lớp thép cứng, dao Nhật sẽ thường có thêm nhiều lớp thép mềm bên ngoài để cân bằng với độ cứng của dao, khiến dao vừa sắc – vừa giữ cạnh sắc tốt – lại bền, không dễ mẻ. Đây là lý do các dòng dao Nhật 3 lớp, damascus, 37 lớp, 63 lớp thép lại phổ biến hơn với người sử dụng. Vì thiết kế của nó cực kỳ tối ưu.

Góc mài dao 

Lưỡi dao Nhật Bản mỏng hơn các loại dao khác của Đức, thường trong khoảng 15–16 độ, so với 20 độ của dao kiểu phương Tây. Góc cạnh là điểm then chốt đối với độ sắc bén của một con dao; góc càng hẹp, đường cắt càng nhỏ, dao càng ít ảnh hưởng đến chất lượng, hương vị của thực phẩm.

Trong kĩ thuật rèn dao của người Đức, lưỡi dao thường được hoàn thiện bằng máy, thì các loại lưỡi của Nhật Bản hầu như luôn được mài giũa và tinh chỉnh thủ công. Cạnh của hầu hết các loại lưỡi dao Đức đều được làm cong phù hợp với phong cách rocking cut của châu Âu, trong khi lưỡi dao Nhật thì thẳng hơn để tạo các lát cắt sắc ngọt và chính xác.

Cấu tạo

Thường thì các thương hiệu dao đến từ Đức đều thiết kế sản phẩm của mình với cấu tạo nguyên khối dọc từ lưỡi dao đến cán dao. Thậm chí các dòng dao Nhật được ưa chuộng tại thị trường châu Âu như Global cũng có thiết kế nguyên khối. Họ thích thiết kế dao nguyên khối.

Còn dao Nhật thì bộ phận cán dao được điều chỉnh sao cho thon gọn hơn, khiến cho trọng lượng cả con dao Nhật nhẹ hơn dao Đức. Do đó dao Nhật tạo cho người sử dụng một độ linh hoạt cao hơn.

Tính đối xứng

Trừ khi được sản xuất dành riêng cho thị trường Châu Âu, cạnh dao của những con dao Nhật được rèn không đối xứng – cạnh cắt nghiêng về tay thuận (thường là bên phải) của người dùng theo tỉ lệ 70/30. Có nghĩa là, người tiêu dùng thuận tay trái không thể sử dụng con dao đúng cách mà sẽ phải mua một con dao Nhật được thiết kế dành riêng cho người thuận tay trái. Đó gọi là các dòng dao vát một mặt.

Ngược lại, dao Đức luôn luôn cân bằng và đối xứng, người thuận tay phải và người thuận tay trái sử dụng không cảm nhận được sự khác biệt.

Công dụng

Một con dao Nhật Bản luôn được mài giũa sắc bén, rèn từ những nguyên liệu phù hợp cho những công việc yêu cầu độ chính xác cao và sự tinh tế như thái lát mỏng.

Trong khi đó, dao Đức có xu hướng dày hơn và nặng hơn vì vậy nó trở nên đa dụng hơn phần nào đó.

Vậy kiểu dao Đức hay dao Nhật phù hợp với phong cách nấu ăn của bạn?

Lưỡi dao Nhật Bản mỏng, sắc và nhẹ, đặc biệt lý tưởng cho những công việc chính xác phù hợp với phong cách nấu ăn của các đầu bếp theo phong cách Nhật Bản. Thép cấu thành lưỡi dao Nhật cứng hơn có nghĩa cạnh rất sắc nhưng lại đánh đổi bằng vấn đề lưỡi dao dễ bị mẻ và nứt hơn.

Loại dao Đức nặng hơn, dày hơn và toàn diện hơn, trọng lượng và thép mềm hơn làm cho con dao chắc hơn và bền hơn, và tốt cho cả việc chặt xương. Lưỡi dao của Đức đa năng hơn, dùng để băm, thái và thái sợi, bản chất đa mục đích và độ bền cao đi đôi với nhau.

Bạn vẫn không chắc chắn đâu là con dao phù hợp với mình?

Tóm lại, dao Đức và dao Nhật không quá quan trọng, đặc biệt là hiện nay, khi khoảng cách về sự khác biệt giữa 2 loại dao này ngày càng giảm. Một số loại dao của Đức hiện nay đã được mài sắc bén hơn, và trong khi đó các hợp kim mới đã cải thiện độ bền của dao Nhật Bản.

 

Cùng tham khảo ngay các dòng dao Nhật & Đức chính hãng tại KATANA: 

XEM NGAY

KATANA tự hào là đơn vị hàng đầu trong nhập khẩu, phân phối và bán lẻ sản phẩm dao Đức và Nhật chính hãng. Các thương dao bếp như KATANA, KAI, GLOBAL đến từ Nhật Bản hay ZWILLING đến từ Đức đều đã và đang mang những dấu ấn riêng và chiếm được sự tin cậy của người tiêu dùng quốc tế.

Khi mua hàng tại KATANA bạn được hưởng rất nhiều ưu đãi hấp dẫn và được bảo hành theo chế độ sau:

– Cam kết hàng chính hãng.

– Cam kết chất lượng cao, giá tốt trên thị trường.

BẢO HÀNH 1 ĐỔI 1 TRONG 7 NGÀY – BẢO HÀNH 24 THÁNG VỚI SẢN PHẨM DAO VÀ 12 THÁNG VỚI SẢN PHẨM KHÁC

Gọi ngay hotline: 083.777.8386 để được tư vấn!

Vien Chien Luoc Phat Trien

Tại buổi sinh hoạt, Ths. Nguyễn Quỳnh Trang đã giới thiệu đến các nghiên cứu viên trong Viện về phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng; đặc điểm, nguyên tắc, công cụ và lợi ích sử dụng phương pháp PRA; áp dụng phương pháp PRA ở Việt Nam. PRA là viết tắt của Participatory Rural Appraisal. Phương pháp PRA là cách tiếp cận từ dưới lên, khai thác các nguồn thông tin từ người dân, giúp họ tự tìm ra vấn đề và biện pháp khắc phục. Phương pháp này xuất hiện từ năm 1980 tại Ấn Độ và Châu Phi, do các nhà hoạt động trong công tác xóa đói giảm nghèo của Anh (Robert Chamber) nghiên cứu. Phương pháp PRA được phát triển từ phương pháp RRA (Rapid Rural Appraisal).

Nguyên tắc của phương pháp PRA là chủ yếu sử dụng kết quả định tính, kết quả định lượng chỉ mang tính hỗ trợ; kiểm tra chéo các nguồn thông tin từ các nhóm đối tượng khác nhau; vận dụng linh hoạt, sử dụng các phương tiện đơn giản, dễ hiểu; bình đẳng trong sự tham gia, tránh phân biệt giới và đối xử thiếu công bằng.

Phương pháp PRA cũng mang lại một số lợi ích như: nâng cao được tính xác thực, tính hiệu quả, bền vững cho quá trình xóa đói giảm nghèo và phát triển; tạo ra công bằng xã hội trong xóa đói giảm nghèo và phát triển; làm giảm bớt đi được sự phụ thuộc vào nguồn lực của nhà nước vì thông qua quá trình PRA sẽ phát huy được trách nhiệm của người dân trong phát triển cộng đồng.

Chủ đề sinh hoạt cũng đã nhận được nhiều ý kiến trao đổi xoay quanh vấn đề làm thế nào để có thể áp dụng phương pháp này vào Việt Nam một cách hiệu quả cũng như lồng ghép phương pháp vào các quy hoạch, chiến lược mà Viện thực hiện trong thời gian tới.

Kết thúc buổi sinh hoạt, Ths. Nguyễn Thu Lan, Phó trưởng ban Ban Phát triển nhân lực và xã hội cảm ơn bài chia sẻ của Ths. Nguyễn Quỳnh Trang và mong muốn sẽ có nhiều buổi sinh hoạt khoa học như thế này để các nghiên cứu viên trong Viện cùng tìm hiểu, nghiên cứu và chia sẻ những thông tin bổ ích./.

Nguồn: Viện Chiến lược phát triển.

Cách Ngồi Thiền Theo Vô Vi

Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp

Tên chính thức và đầy đủ của pháp tu này là: Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp, thường được gọi tắt là Pháp Lý Vô Vi, hay chỉ đơn giản là Vô Vi.

Vô Vi không phải là một tôn giáo. Vô Vi là một phương pháp thực tiễn giúp hành giả trau dồi tâm linh, thích hợp với mọi người và mọi tín ngưỡng. Hành giả Vô Vi thực hành pháp môn này trong tự do hoàn toàn, không bị ràng buộc bởi thủ tục nhập môn hay lễ nghi. Pháp tu này không có sư phụ và đệ tử, chỉ có người đi trước hướng dẫn hay chia xẻ với người đi sau. Khi quý vị nhận pháp Vô Vi để thực hành, pháp trở thành của chính quý vị.

Điều kiện duy nhất khi nhận pháp là hành giả cần thực hành đúng pháp, đều đặn, và nghiêm túc thì mới mong có kết quả.

Những kết quả hữu ích mà quý vị có thể mang lại cho chính mình là:

Về thể chất: Thanh lọc bản thể, sức khỏe gia tăng, giúp trị các bệnh liên hệ gần gủi đến tâm bệnh, chẳng hạn như nhức đầu, đau lưng, mất ngủ, ăn không ngon, kém trí nhớ. Giúp phục hồi thần sắc, trẻ trung, lâu già.

Về tinh thần: Sáng suốt hơn, xua đuổi phiền não, giải tỏa lo âu, giúp nội tâm trở lại thanh bình và an lạc.

Về tâm linh: Gia tăng linh cảm (tùy theo căn cơ của hành giả), giải trừ nghiệp lực trong tâm thức, tự thanh lọc tư duy của chính mình để đạt đến trình độ huệ giác, tự giải thoát phần hồn của mình khỏi vòng luân hồi lục đạo.

          

Phương pháp thực hành của Vô Vi rất giản dị.

Trước hết, hành giả cần biết Cách ngồi và Các tư thế của răng và lưỡi.

Trong sáu tháng đầu tu tập, hành giả nên thực hành các pháp Nguyện và hai pháp chính là: Soi Hồn và Pháp Luân Chiếu Minh (theo thứ tự đó) trong giờ công phu.

Sau 6 tháng, hành giả mới bước vào thực hành đầy đủ pháp Nguyện và ba pháp chính của Vô Vi là: Soi Hồn, Pháp Luân Thường Chuyển, và Thiền Định, cộng với Xả Thiền.

Ngoài ra, hành giả nên thực hành thêm pháp rất quan trọng là Niệm Phật, và những pháp phụ nhưng rất quan trọng và hữu ích trong việc sửa tánh và hổ trợ cho tâm thân, đó là: Thể Dục Trợ Luân, Lạy Kiếng Vô Vi, Niệm Bát Nhã, Mật Niệm Bát Chánh, Kiểm Điểm Đời Đạo, và Người xưa có nói:

Thân người khó được Phật Pháp khó nghe Duyên lành khó gặp Xứ Phật khó về.

Người xưa có nói:

Kính chúc quý vị thành công.