Vì Sao Quan Vũ Bình Thản Nhận Lấy Cái Chết Cay Đắng?

Tính cách kiêu căng, ngạo mạn cùng với việc bị “cầm tù” trong tư tưởng trung quân, phục Hán chính là nguyên nhân khiến Quan Vũ rước họa sát thân.

Phác họa hình tượng Quan Vũ.

Bên cạnh Gia Cát Lượng, Tào Tháo, tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa của tác giả La Quán Trung cũng đề cập đến những nhân vật kiệt xuất khác thời Tam quốc như Quan Vũ, Tôn Quyền, ngũ hổ tướng Thục Hán… Loạt bài này sẽ làm rõ những tình tiết hư cấu trong tiểu thuyết cũng như khai thác yếu tố mà Tam quốc diễn nghĩa không đề cập đến.

Theo trang mạng Qulishi, trong giai đoạn xây dựng uy danh thời Tam quốc, Quan Vũ hết gây xích mích với Tôn Quyền, lại thể hiện thái độ đối với Lưu Bị, Gia Cát Lượng, còn khước từ lòng tốt của Tào Tháo.

Điều này khiến cho các học giả Trung Quốc sau này nhận định, cả 3 thế lực Thục Hán, Đông Ngô và Tào Ngụy đều hiểu rõ, Quan Vũ không chết thì đại cục không thể yên ổn.

Khước từ Tào Tháo

Tào Tháo ngưỡng mộ và lấy lòng Quan Vũ nhưng không giữ được danh tướng này trở về với Lưu Bị

Bất đắc dĩ quy hàng Tào Tháo, Quan Vũ được đối đãi hết sức nồng hậu. Quan Vũ được phong làm “Hán Thọ đình hầu”. Chức tước này trên danh nghĩa là Hán Hiến Đế sắc phong, nhưng thực chất là do chủ ý của Tào Tháo.

Quan Vũ hết sức coi trọng chức tước này. Vì trong mắt một người trung quân, phục Hán, đây là bằng chứng cho thấy Quan Vũ bắt đầu bước chân vào hàng ngũ quan lại của nhà Hán.

Sau này, Quan Vũ nhất quyết quay về với Lưu Bị, thậm chí còn “qua 5 ải, chém 6 tướng” Tào. Nhưng nếu có ở lại với Tào Tháo, tư tưởng trung quân, phục Hán cùng tính cách kiêu căng, ngạo mạn cũng sẽ sớm hại chết Quan Vũ

Cái chết của Tuân Úc là minh chứng rõ ràng nhất cho điều này, các học giả Trung Quốc phân tích. Tuân Úc là mưu sĩ sớm nhất của Tào Tháo, luận về tài năng chỉ đứng sau Quách Gia.

Tuân Úc tận tâm, trung thành, lập nhiều công trạng, được Tào Tháo rất mực trọng dụng, kính nể. Nhưng càng về sau, Tuân Úc càng lộ rõ mục đích đi theo Tào Tháo để trợ giúp cho nhà Hán. Trong khi đó, Tào Tháo chỉ muốn chấm dứt một triều đình bù nhìn để xưng đế. Kế hoạch này sớm muộn bị Tuân Úc phát hiện.

Từ chỗ là mưu sĩ thân cận, Tuân Úc công khai đứng ra phản đối Tào Tháo. Kết quả là mưu sĩ tài ba này bị Tào ban cho một chén rượu độc mà chết tức tưởi.

Không bằng lòng với Lưu Bị

Ba anh em kết nghĩa Quan Vũ (phải), Lưu Bị (giữa) và Trương Phi kết nghĩa tại vườn đào

Trở về Thục Hán, Quan Vũ lẽ ra không nên nhắc đến chức “Hán Thọ đình hầu” để tránh làm Lưu Bị không vui.

Nhưng bởi tình tính ngạo mạn, kiêu căng, Quan Vũ vẫn nhiều lần tự xưng tước vị mà Tào Tháo ban cho. Quan Vũ coi đây là vinh dự thì Lưu Bị có thể nghĩ huynh đệ mình đã trúng kế thị uy của Tào Tháo.

Theo các nhà học giả Trung Quốc, bất hòa giữa hai huynh đệ từng uống máu ăn thề dần lên đến đỉnh điểm. Nếu Lưu Bị chết, Quan Vũ là ứng cử viên sáng nhất để nắm quyền lực Thục Hán.

Trong khi đó, nếu Lưu Bị giết Tào thành công, Quan Vân Trường sợ rằng kẻ tiếp theo phải rơi đầu sẽ chính là mình.

Đến khi chiếm Tây Xuyên, cả Gia Cát Lượng, Pháp Chính và nhiều người khác đều cật lực khuyên Lưu Bị xưng đế. Nhưng Lưu Bị một mực cự tuyệt, chỉ muốn làm Hán Trung Vương.

Điều này khiến cho Quan Vũ trong lòng vô cùng bất mãn. Quan Vân Trường cho rằng, danh xưng ấy không được Hán Hiến Đế phê chuẩn, không được công nhận, là hành động phản nghịch.

Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung miêu tả chi tiết vụ việc này. Khi Phí Y mang theo chiếu bổ nhiệm của Lưu Bị tới Kinh Châu, Quan Vũ ngang nhiên hỏi: “Hán Trung Vương phong cho ta tước gì?”

Thái độ của Quan Vũ tỏ rõ sự bất mãn, khác hẳn với lúc được Tào Tháo phong làm “Hán Thọ đình hầu”.

Quan Vũ là dũng tướng nhưng cuối cùng phải nhận lấy cái chết thảm.

Khi nghe tới việc mình được phong chức đứng đầu trong “ngũ hổ thượng tướng”, Quan Vũ càng thêm giận dữ, miễn cưỡng tiếp nhận.

Phí Y đã đem toàn bộ sự tình tâu lại với Lưu Bị và Gia Cát Lượng. Đó là lúc mà Quan Vũ trở thành “cái gai” trong mắt Gia Cát Lượng.

Nếu để Quan Vũ vào Tứ Xuyên, khó tránh khỏi xích mích, dẫn đến huynh đệ tương tàn. Ngược lại, trấn thủ Kinh Châu, Quan Vũ có thể dâng thành cho Tào Ngụy bất cứ lúc nào.

Nhục mạ Tôn Quyền

Trong khi đó, Tôn Quyền ở Đông Ngô “đứng ngồi không yên”, bởi Quan Vũ trấn Kinh Châu, bất cứ lúc nào cũng có thể tiến đánh xuống nước Ngô.

Tôn Quyền bèn dùng kế, sai sứ giả tới xin Quan Vân Trường gả con gái cho con trai mình, thể hiện lòng muốn thắt chặt quan hệ Ngô-Thục.

Nhưng Quan Vũ vốn ngạo mạn, tự phụ và không có tầm nhìn xa nên rất coi thường Tôn Quyền. Quan Vũ không hề biết rằng, làm tổn hại quan hệ Thục-Ngô cũng sẽ phá tan chiến lược “Long Trung đối sách” mà Gia Cát Lượng đề ra.

Vì vậy, Quan Vũ mắng chửi sứ giả hết lời, thậm chí còn có ý nhục mạ Tôn Quyền khi nói: “Hổ nữ sao có thể gả cho khuyển tử”.

Có thể nói, Quan Vũ đã phạm sai lầm chết người khi thẳng thừng gây hấn với Tôn Quyền, bởi xét về vai vế, Tôn Quyền đứng ngang hàng với Lưu Bị.

Tôn Quyết biết tin, tỏ ra hết sức tức giận, một mặt nhẫn nhịn chờ thời, mặt khác bắt đầu xây dựng mối quan hệ giao hảo với Tào Ngụy.

Quan Vũ chết là điều tất yếu

Cái chết của Quan Vũ được cho là điều cần thiết trong thời Tam quốc.

Trên thực tế, bản thân Quan Vũ trong giai đoạn này có lẽ cũng hết sức đau đầu. Bởi Lưu Bị dù khởi binh khôi phục Hán triều, nhưng lại tự ý xưng vương khi chưa có sự đồng ý của Hán Hiến Đế. Nếu theo Tào Tháo, Quan Vũ sớm muộn cũng chứng kiến cảnh nhà Hán diệt vong.

Trong bối cảnh đó, Gia Cát Lượng để Lưu Bị phong Quan Vũ làm Tiền Tướng quân, khởi binh đánh Tương Dương.

Quan Vũ dù không giỏi mưu lược nhưng cũng hiểu rằng, đánh Tương Dương chẳng khác nào tấn công Tào Tháo trong khi Tôn Quyền ở phía sau sẵn sàng “đâm sau lưng” bất cứ lúc nào.

Trước có Tào Tháo, sau có Tôn Quyền, Quan Vũ biết mình đang dấn thân vào chỗ chết.

Một số học giả Trung Quốc phân tích, nếu may mắn có thể diệt được Tào Tháo, Quan Vũ sẽ lập công, chấn hưng nhà Hán. Nếu không may thì sẽ bại trận mà chết. Cả hai con đường ấy đều không vi phạm tư tưởng trung quân, phục Hán, nên Quan Vũ chấp nhận dẫn quân lên đường.

Có một điều mà Quan Vũ không ngờ, đó là mối quan hệ của ông với các tướng lĩnh dưới quyền cũng xấu đi nhanh chóng. Đến khi rơi vào bế tắc trong chiến dịch đánh Tương Dương-Phàn Thành, Quan Vũ không nhận được bất kỳ sự hỗ trợ nào, lại bị quân Đông Ngô đánh úp, buộc phải rút chạy về Mạch Thành

Quan Vũ thất thủ Mạch Thành là điều tất yếu, bị quân Ngô bắt sống. Quan Vũ kiên quyết không hàng Ngô và chỉ còn đường nhận lấy cái chết.

Có thể nói, Quan Vũ đã đạt được tâm nguyện khi hi sinh tính mạng để bảo vệ lý tưởng. Cái chết của Quan Vũ thể hiện vận mệnh của nhà Hán đã hết, báo hiệu sự diệt vong.

Năm 219, Lưu Bị sai Quan Vũ đang trấn thủ Kinh Châu đem quân bắc tiến. Lợi dụng thời cơ này, một danh tướng Đông Ngô đã bí mật đưa quân vượt sông chiếm Kinh Châu, uy chấn Trung Hoa. Bài viết xuất bản ngày 28.2.2024 sẽ tập trung khai thác cái chết bí ẩn của danh tướng này.

Vì Sao Quan Vũ Chết, Lưu Bị Chỉ Xử Tội Lưu Phong Mà Lờ Đi Mã Siêu?

Công Nguyên năm 219, trong trận chiến Tương Phàn, Đông Ngô Tôn Quyền phái Lã Mông, Lục Tốn tập kích hậu phương của Quan Vũ, lúc đó Quan Vũ đang thất bại trong trận giao chiến với Từ Hoảng, tiến thoái lưỡng nan, vào năm Công Nguyên 220 thì bại trận bị giết.

Sau cái chết của Quan Vũ, Lưu Bị trách tội hai người Lưu Phong và Mạnh Đạt. Mạnh Đạt sau đó phản Thục, cùng Từ Hoảng của Tào Ngụy cùng tập kích Lưu Phong, khuyên Lưu Phong đầu hàng. Lưu Phong không hàng, nhưng lại bị bộ hạ phản bội, bại trận chạy về Thành Đô.

Lưu Bị nghe theo ý kiến của Khổng Minh xử tử Lưu Phong. Lưu Phong sau đó tự vẫn, Lưu Bị trong thâm tâm cảm thấy rất đau lòng, đáng tiếc. Theo ý kiến của một số người, trước khi bị bắt và xử tử, Quan Vũ có chạy đến vùng đất Lâm Thư của Mã Siêu, nên cái chết của Quan Vũ Mã Siêu cũng phải chịu một phần trách nhiệm.

Lưu Bị truy cứu trách nhiệm những người đã không ứng cứu Quan Vũ

Trong “Tam Quốc chí-Quan Vũ Truyện” của Trần Thọ có ghi lại: “Tôn Quyền cho quân đánh úp Quan Vũ, chém cha con Quan Vũ và Quan Bình tại Lâm Thư”. Cũng trong “Tam Quốc Chí-Mã Siêu” của Trần Thọ có viết: “Tiên chủ (Lưu Bị) lấy Siêu (Mã Siêu) làm Bình Tây tướng quân, đốc xuất Lâm Thư, nhận tước Đô đình hầu”.

Vì thế Lâm Thư chính là vùng phong địa của Mã Siêu, nên nhiều người cho rằng Quan Vũ chết trong vùng đất của Mã Siêu, và Mã Siêu cũng phải chịu một phần trách nhiệm. Nhưng thực tế là lúc Quan Vũ bị xử tử ở Lâm Thư, Mã Siêu không có mặt ở vùng đất đó, thế nên đối với cái chết của Quan Vũ, Mã Siêu không cần phải chịu trách nhiệm.

Lúc Quan Vũ bị giết, Mã Siêu không có mặt ở Lâm Thư nên không thể chi viện

Cụ thể hơn là, Công Nguyên năm 220, sau khi trận chiến Hán Trung kết thúc, Mã Siêu đã cùng với Lưu Bị trở về Thành Đô, vì vậy lúc Quan Vũ bị giết, Mã Siêu không hề có mặt tại Lâm Thư, nên đương nhiên Lưu Bị không thể truy cứu trách nhiệm Mã Siêu.

Nhưng với Lưu Phong thì khác, ông không thể chối cãi được trách nhiệm đối với cái chết của Quan Vũ. Thượng Dung Tam Quận cách chiến trường Tương Phàn rất gần. Trong lúc Quan Vũ vây hãm Tương Phàn, có nhờ Lưu Phong và Mạnh Đạt chi viện. Nhưng vì quan hệ không tốt nên Lưu Phong và Mạnh Đạt không xuất binh tiếp ứng. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến Quan Vũ thất bại tại trận chiến Tương Phàn.

Quan Vũ không được Lưu Phong và Mạnh Đạt chi viện, nên bị quân Đông Ngô bắt và xử tử tại Lâm Thư

Cuối cùng, vào năm Kiến An thứ 25 ( 220 ), Lưu Phong và Mạnh bất hòa, Mạnh Đạt viết một bức thư gửi cho Lưu Bị, sau đó dẫn quân đầu hàng Tào Ngụy. Vì thế, việc Mạnh Đạt phản bội Thục Hán có thể nói do Lưu Phong là một phần nguyên nhân.

Ngoài ra, theo một số nhà sử học ghi lại, thì sự tồn tại của Lưu Phong rất có thể uy hiếp trực tiếp đến sự tồn tại của Lưu Thiện về sau. Vì thế, dựa vào những tội danh không tiếp ứng Quan Vũ, khiến Mạnh Đạt phản Thục quy Tào, Gia Cát Lượng đã khuyên Lưu Bị xử tử Lưu Phong. Lưu Bị sau khi cân nhắc đã đồng ý với ý kiến của Gia Cát Lượng, xử Lưu Phong tội chết. Cuối cùng vào năm Công Nguyên 220, sau thời điểm Quan Vũ bị giết không lâu, Lưu Phong đã tự vẫn.

“Điều Tra Lại” Thủ Phạm Đích Thực Hại Chết Quan Vũ?

Miếu thờ ‘Quan Thánh Đế’

Các nhà nghiên cứu Tam Quốc nghiên cứu phân tích cho rằng, thực ra Lưu Bị hiểu, Gia Cát Lượng cũng hiểu, Quan Vũ cũng hiểu và ngay cả Tào Tháo, Tôn Quyền cũng đều hiểu:

Quan Vũ không chết thì mọi người chưa được yên ổn; Quan Vũ chết thì mọi người mới yên tâm. Vì vậy, hạt nhân của “Tam Quốc diễn nghĩa” chính là cái chết của Quan Vũ; kết luận là: Quan Vũ chết vì bị mưu sát! Vậy ai đã mưu sát Quan Vũ?

Từ cái chết của Tuân Úc

Tuân Úc là mưu sĩ theo Tào Tháo sớm nhất, trong số các quân sư chỉ xếp sau Quách Gia, hết lòng trung thành với Tào Tháo, lập nên nhiều công lớn. Tào Tháo cũng rất tôn trọng Tuân Úc. Gia tộc Tuân Úc “Tứ thế tam công”, vị thế cao sang hơn nhiều nhà Tào Tháo, vì vậy sự cống hiến của ông đối với Tào Tháo còn mang lại rất nhiều lợi ích từ địa vị gia tộc họ Tuân trong giang hồ.

Thế nhưng, mục đích Tuân Úc giúp Tào Tháo là để cùng Tào Tháo phò tá Hán thất. Về sau khi Tào Tháo lĩnh phong Ngụy Vương gia cửu tích thì Tuân Úc phát hiện Tháo có dã tâm thoán nghịch nên đã đứng ra phản kháng. Kết quả là bị Tháo dùng thuốc độc hại chết.

Quan Vũ cũng là người giống Tuân Úc. Quan Vũ là người “khi rảnh rỗi đọc Xuân Thu”, trọng đại nghĩa. Ông theo Lưu Bị cũng có phần do nghĩa khí huynh đệ, nhưng căn bản nhất là mong phò tá Hán thất, lưu danh thiên cổ.

Có một chuyện cho thấy rõ điều này: Khi Quan Vũ bị Tào Tháo bắt, Tháo phong ông là “Hán Thọ Đình hầu”. Về danh nghĩa là Hán Hiến đế phong, nhưng thực tế là Tào Tháo phong. Quan Vũ rất coi trọng tước phong này bởi về danh nghĩa đó là tước hầu của nhà Hán, ông đã là quan to của triều Hán.

Sau này Quan Vũ rời bỏ Tào Tháo, về lý thì ông nên tránh nhắc đến tước hiệu “Hán Thọ Đình hầu” để tránh kích nộ đại ca Lưu Bị, vì trong mắt Lưu Bị, tước hiệu đó là do Tào Tháo phong; thế nhưng Quan Vũ vẫn cứ xưng danh, thậm chí cho thêu hiệu kỳ “Hán Thọ Đình hầu Quan”.

Đối với ông, đó là niềm vinh dự, nhưng với Lưu Bị đó là “đạn bọc đường”, là mồi nhử. Sau khi Quan Vũ tha Tào Tháo ở đường Hoa Dung, trong lòng Lưu Bị đã nghi ngại, thấy người em này không còn đáng tin nữa.

Vì sao Quan Vũ tha Tào Tháo? Có phần về nghĩa khí, nhưng có người phân tích: Nếu Lưu Bị giết Tào Tháo thì chính Lưu Bị sẽ là người thế chỗ Tào Tháo. Gia Cát Lượng biết Quan Vũ nhất định tha Tào Tháo, ông biết mục tiêu của Quan Vũ là phò tá Hán thất.

Vì sao biết trước mà vẫn giao Quan Vũ giữ cửa ải cuối cùng này? Vì ông biết thế “ba chân vạc” là kết quả tốt nhất. Khi Lưu Bị lấy được Tây Xuyên, cánh Gia Cát Lượng, Pháp Chính ra sức khuyên Lưu Bị xưng đế, nhưng Lưu Bị từ chối, chỉ tự phong Hán Trung vương. Vì sao? Vì Quan Vũ đang ở Kinh Châu, nếu xưng đế, khác nào bức Quan Vũ đầu hàng Tào Tháo.

Nhưng việc Lưu Bị tự phong Hán Trung vương cũng khiến Quan Vũ bất bình: không được Hán Hiến đế tấn phong thì có khác nào tiếm quyền. Do đó, khi Lưu Bị phong Quan Vũ đứng đầu Ngũ Hổ Thượng tướng, ông đã từ chối, không nhận.

Quan Vũ trong phim truyền hình Tam Quốc

“Tam Quốc diễn nghĩa” viết, khi Phí Thi mang văn bản của Lưu Bị đến Kinh Châu, Quan Vũ hỏi ngay: “Hán Trung Vương phong ta tước gì?”. Ngữ khí thể hiện sự bất mãn và không phục. Vì ông biết rõ, là vương thì Lưu Bị không có tư cách phong tước. Sau đó nghe nói Lưu Bị phong mình đứng đầu Ngũ Hổ tướng, Quan Vũ nổi giận.

Phản ứng của Quan Vũ rất không bình thường. Tuy sau đó ông vẫn miễn cưỡng nhận phong hiệu, nhưng sự bất mãn vẫn còn đó. Phí Thi nhất định sẽ về bẩm báo lại với Lưu Bị và Gia Cát Lượng phản ứng của Quan Vũ. Tình thế lúc đó, Lưu Bị rất khó xử.

Để Quan Vũ vào Tứ Xuyên, sau này tất có chính biến, Quan Vũ e sẽ giống như Tuân Úc, còn mình sẽ bị tiếng qua cầu rút ván; cứ để Quan Vũ ở lại trấn thủ Kinh Châu, chưa biết chừng sau sẽ hàng Tào Tháo. Làm sao đây?

Cái gai trong mắt Lưu Bị, Tào Tháo và Tôn Quyền

Tôn Quyền lúc đó cũng rất đau đầu. Quan Vũ chiếm cứ Kinh Châu, lúc nào cũng có thể đánh thốc xuống Đông Ngô. Tào Tháo cũng đau đầu bới Kinh Châu là yếu địa chiến lược, lúc nào cũng có thể đánh vào Hứa Xương.

Đến thời điểm này, Quan Vũ đã trở thành nhân vật làm đau đầu cả 3 nước Ngụy, Thục, Ngô. Bản thân Quan Vũ cũng đau đầu: cứ theo Lưu Bị sẽ trở thành Hán tặc; đầu hàng Tào Tháo hay Đông Ngô, vẫn là Hán tặc; tự xưng vương thì cũng là Hán tặc. Điều Quan Vũ không muốn nhất là sợ bị coi là Hán tặc, nhưng mọi con đường đều dẫn tới Hán tặc.

Tào Tháo nghĩ ra một cách, cử người sang xúi Tôn Quyền đánh lấy Kinh Châu. Tôn Quyền không phải kẻ ngốc, biết rõ Quan Vũ không phải là dễ xơi, nên viết thư trả lời, đề nghị Tào Tháo đánh Kinh Châu. Kết quả, Tào Tháo và Tôn Quyền đều không đánh, mà đều bí mật chuẩn bị.

Gia Cát Lượng nham hiểm nhất. Ông xui Lưu Bị cho Quan Vũ làm Tiền tướng quân khởi binh đánh lấy Tương Dương. Quan Vũ không phải kẻ ngốc, biết rõ mình đem quân lấy Tương Dương khác nào mang quân đánh Tào Tháo, đằng sau thì Tôn Quyền đang như hổ ngồi rình mồi.

Vấn đề là trong tình thế Tào Tháo phía trước, Tôn Quyền đằng sau, đại ca Lưu Bị không cử thêm các tướng đến giúp người em, mà bắt Quan Vũ một mình một mình đối phó với cả Tào Tháo lẫn Tôn Quyền. Như thế liệu có ổn?

Trước khi đem quân Bắc phạt, Quan Vũ đã chuẩn bị cả hai tình huống: tốt, là một tay ông có thể tiêu diệt được Tào Tháo, sau đó phò tá Hán thất thống nhất thiên hạ; còn xấu là chết vì bại trận. Kết quả cả 2 tình huống đều không phải là Hán tặc, cho nên Quan Vũ quyết mang quân Bắc tiến.

Lưu Bị, Tôn Quyền, Tào Tháo thực ra đều có tâm trạng giống nhau: mong Quan Vũ không thắng. Quan Vũ đánh lấy Phàn Thành, sau đó dùng nước dìm ba quân, bắt Vu Cấm, chém Bàng Đức, uy chấn thiên hạ. Tào Tháo lo sợ đến mức chuẩn bị dời đô, nhưng Tư Mã Ý nhìn thấu mọi chuyện.

Ý biết rằng, trong tình thế cả Thục, Ngô, Ngụy đều không muốn Quan Vũ đi quá xa, ông nhất định sẽ không đi. Tôn Quyền hành động, Lã Mông áo trắng lẻn vào chiếm lấy Kinh Châu. Thử hỏi, nếu trước đó Gia Cát Lượng cho Triệu Vân đến giữ Kinh Châu thì 10 Lã Mông cũng không làm nên trò trống gì.

Ở phía trước, Quan Vũ thế như cung đang giương tên, cuối cùng bị Từ Hoảng đánh bại, phải chạy về giữ Mạch Thành. Liêu Hóa đến Thượng Dung cầu viện, tướng giữ thành là Lưu Phong, con nuôi Lưu Bị lại cự tuyệt không cứu.

Điều này khiến người ta thấy khó hiểu: nếu không có chỉ thị ngầm của Lưu Bị hay Gia Cát Lượng thì Lưu Phong liệu có dám không cứu Quan Vũ? Như thế là: phía trước là Tào Tháo, phía sau là Tôn Quyền, lại thêm Lưu Bị không cứu, Quan Vũ dù có ba đầu sáu tay cũng không thể không thua. Cuối cùng, Quan Vũ bị quân Ngô bắt sống. Đến lúc này, Quan Vũ tất phải chết. Cái chết của Quan Vũ thành niềm vui cho tất cả.

Quan Vũ dùng cái chết của mình để toàn vẹn lý tưởng của ông; còn Lưu Bị, Tào Tháo, Tôn Quyền cũng đạt được điều họ muốn. Do đó, cái chết của Quan Vũ làm hài lòng tất cả. Ít lâu sau khi Quan Vũ chết, Tào Tháo cũng qua đời. Thế là Tào Phi, Lưu Bị, Tôn Quyền đua nhau xưng đế.

Quan Vũ, Chu Sương và Quan Bình (tranh thờ)

Gia Cát Lượng – chủ phạm mưu sát Quan Vũ?

Sau khi Quan Vũ chết, Lưu Bị chém Lưu Phong, chỉ là diễn kịch, Lưu Phong rõ ràng là con dê tế thần. Dù sao Lưu Bị cũng lương tâm cắn rứt, thấy không phải với Quan Vũ nên đem quân đánh Ngô để trả thù.

Trong sự kiện này, có lẽ Lưu Bị bất bình với Gia Cát Lượng nên khi Lượng dâng biểu can không nên phạt Ngô, Bị đã “ném biểu xuống đất”, không nghe theo – điều trước nay chưa từng có. Cũng vì bất bình với Gia Cát Lượng nên Lưu Bị không mang ông theo, thể hiện sự không tin tưởng.

Đương nhiên, những điều trên đều không được ghi trong chính sử, chỉ có quan hệ lợi hạ là rõ. La Quán Trung đã nhìn thấu mọi việc nên đã ngầm bày tỏ, có điều người đọc có nhận ra hay không mà thôi.

Có thể kết luận: Gia Cát Lượng đã mưu sát Quan Vũ, còn Lưu Bị, Tào Tháo, Tôn Quyền đều là đồng lõa. Trong suốt thời kỳ Tam Quốc, họ chỉ có một việc cùng mưu tính chính là mưu sát Quan Vũ. Cũng chính vì vậy, Quan Vũ cao thượng vượt hẳn trên họ. Vì thế, Quan Vũ trở thành “Quan Thánh”, còn họ thì không…/.

Vì Sao Chúa Chết Đau Thương?

Bài 26

Ê sai 53:6. Luca 23:33-46.

Hôm nay là Good Friday. Chúng ta họp nhau đây để thờ phượng Đức Chúa Giê su và kỷ niệm ngày Lễ Thương khó của Ngài. Cách đây hơn 2000 năm, Ngài đã chịu chết khổ hình trên thập tự giá. Vào thời đó, Đế quốc La mã cai trị dân Y sơ ra ên. Cho nên các người Pha ri si và các thầy thông giáo muốn giết Đức Chúa Giê su, họ phải xin lịnh của quan Tổng Đốc Phi lát. Sau khi xét xử Chúa Giê su, Phi lát tuyên bố rằng: “Ta không tìm thấy người có tội lỗi chi.” (Giăng 19:4). Nhưng bọn họ la lên rằng: “Hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự, hãy đóng đinh hắn trên cây thập tự!” (Giăng 19:6).

Phi lát “khiến đánh đòn Đức Chúa Giê su, và giao Ngài ra để đóng đinh trên cây thập tự.” (Mathiơ 27:26). Khi bọn lính La mã dùng dây da có những móc sắt nhỏ làm roi đánh Chúa Giê su, cho nên những móc sắt nhỏ đó xé thịt xé da làm cho máu tươm ra nơi những lằn roi trên thân thể của Ngài.

Đánh nhiều rồi, họ đan cái mão gai nhọn, đội cho Ngài. “Họ bèn nhổ trên mặt Ngài, đấm Ngài, lại có kẻ vả Ngài.” (Mathio 26:67), và nhạo báng Ngài rằng: “Lạy Vua dân Giu đa.” Rôi họ bắt Ngài đi đến đồi Gô gô tha để đóng đinh Ngài.

Đi đến một nơi gọi chỗ cái Sọ, bọn lính đóng đinh hai tay và đóng đinh hai chân của Đức Chúa Giê su vào cây thập tự giá, rồi chúng dựng cây thập giá đứng lên, cây thập tự ngã nghiêng trước khi đứng thẳng, chúng ta thử tưởng tượng xem Chúa Giê su lúc đó bị đau đớn đến mức độ nào? Khi cậy thập tự được dựng lên xong, thân hình Đức Chúa Giê su bị treo chơ vơ trên đỉnh đồi Gô gô tha.

Thời đó, bị đóng đinh trên thập giá là một hình phạt chỉ để dành cho hạng người làm loạn, lừa thầy phản bạn, cướp của giết người, cho nên mọi người đi qua lại khinh bỉ nói những lời gièm chê nguyền rủa. Hình phạt nầy là khổ hình vì người bị đóng đinh muốn chết cũng không chết được, xoay qua đau đớn, xoay lại đớn đau, nhưng không chết, hơi thở mệt nhọc, đứt khoảng nặng nề, phải đợi cho những vết thương máu chảy ra thật nhiều rồi mới chết.

Khi đã bị quân lính đóng đinh vào thập giá, dù đau đớn tột cùng, Chúa Giê-su cầu nguyện rằng: “Lạy Cha, xin tha cho họ.”

Tiếng “Cha” nói lên tình Cha-Con thắm thiết. Đức Chúa Giê-su là Đấng hoàn toàn thánh thiện, cho đến nỗi Đức Chúa Cha đã nói về Ngài rằng: “Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng.” (Ma thi ơ 3:17). Thế mà bây giờ kẻ thì đánh đập, kẻ thì mắng nhiếc, kẻ thì nhục mạ, kẻ thì nhổ vào mặt Ngài, và rồi mấy tên lính đóng những cây đinh to lớn treo Ngài lên thập tự giá khổ hình, đau thương.

Nhìn cảnh đau thương nầy, chúng ta nhớ lại bà Gióp đã nói với Ông trong cảnh khổ rằng: “Ủa? Ông hãy còn bền đỗ trong sự hoàn toàn mình sao? Hãy phỉ báng Đức Chúa Trời, và chết đi!” (Gióp 2:9). Ý bà Gióp nói rằng chịu cảnh nầy mà Ông còn thờ phượng Đức Chúa Trời sao? Hãy nói xấu Ngài, rồi đừng theo Ngài nữa! Và “chết đi!”

Thưa Quý vị, làm con dân của Chúa, khi gặp phải hoàn cảnh khó khăn, Quý vị vẫn bền đổ theo Chúa, hay Quý trách móc Chúa, rồi không thờ phượng Ngài nữa? Xin nhớ Bà Gióp nói: “phỉ báng Ngài, từ bỏ Ngài sau đó được gì? Chỉ là chết đi mà thôi!”

Đức Chúa Giê su cho chúng ta tấm gương là dù cảnh đời quá đau thương đi nữa Ngài vẫn yêu mến Đức Chúa Trời. Vì Ngài biết là dù hoàn cảnh có đổi thay, nhưng Đức Chúa Trời không hề thay đổi. Đức Chúa Trời vẫn nắm quyền tể trị và Ngài vẫn giữ lời hứa rằng: “Ta đã lấy sự yêu thương đời đời mà yêu ngươi.” (Gieremi 31:3). Xin nhớ dù trong hoàn cảnh nào, Chúa vẫn yêu quý vị!

“Lạy Cha, xin tha cho họ.” “Họ” là ai đây? “Họ” là những người Pha ri si, những thầy tế lễ, là Phi Lát, là những kẻ hô to: “đóng đinh hắn trên thập tự giá,” những kẻ đánh đập, nhục mạ Ngài, chưỡi bới Ngài và những kẻ cầm búa, cầm đinh đóng vào hai tay, hai chân Ngài. Nghĩa là những kẻ ghét Ngài, giết Ngài cách đau thương.

Chúng ta nên theo gương Chúa tha thứ cho những người không tốt với chúng ta và cầu nguyện cho họ. Như vậy mới đẹp lòng Chúa.

Khi đóng đinh Đức Chúa Giê su trên thập giá, người ta cũng đóng đinh hai tên trộm cướp bên phải và bên trái của Ngài.

Một tên bị đóng đinh đau đớn quá không biết trách móc ai, nó quay lại mắc mỏ với Chúa Jêsus rằng: Ngươi là Đấng Christ thì “hãy tự cứu lấy mình đi rồi cứu chúng ta với.” (Luca 23:39). Nhưng tên kia nói với nó rằng: Tội chúng ta làm, xứng với hình chúng ta chịu. Ngươi chẳng sợ Đức Chúa Trời sao? (Luca 23:39). Còn người nầy không làm điều ác gì.” Và nó thưa cùng Đức Chúa Giê-su rằng: “Hỡi Jêsus, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi!” (Lu ca 23:42). Đức Chúa Giê su phán cùng người rằng: “Hôm nay ngươi sẽ được ở với Ta trong nơi Paradi.” (Lu ca 23:43).

Đây là lời phán của Đấng Cứu Thế. Ngài sẵn sàng tha tội và ban sự cứu rỗi cho bất cứ ai tin nhận Ngài. Thưa quý vị, ngoài Ngài ra, quý vị không thể tìm một Giáo Chủ nào có quyền nói với quý vị là sau khi qua đời linh hồn quý vị sẽ về đâu, vì chính các vị Giáo chủ cũng không biết linh hồn mình về đâu? Chỉ có Đức Chúa Giê su mới có thẩm quyền cứu qúy vị. Vì vậy mà Kinh Thánh nói về Ngài rằng: “Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu.” (Công vụ 4:12). Hãy cầu xin với Đức Chúa Giê su, khi Quý vị qua đời Ngài sẽ dẫn đưa linh hồn Quý vị bình an vào nước Đức Chúa Trời.

Bọn lính đóng đinh Chúa Giê su vào khoảng 9 giờ sáng. Tại đó ánh nắng chói chang của vùng Trung Đông càng về trưa sức nóng trên đồi Gô gô tha càng thêm gay gắt. Những vết thương của Chúa Jêsus càng lúc máu ra càng nhiều. Ngài khát nước quá chừng, nhưng không có một chút thấm ướt môi. Ước chừng lúc 3 giờ chiều, biết mình sắp chết, Đức Chúa Giê su cầu nguyện rằng: “Hỡi Cha, con giao linh hồn lại trong tay Cha! Vừa nói xong thì Ngài tắt hơi.” (Luca 23:46).

Khi sống, Đức Chúa Giê-su đã dạy chúng ta nguyên tắc quý báu để sống. Đó là: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài.” Trước khi chết, Ngài dạy chúng ta nguyên tắc quý báu để chết. Nguyên tắc đó là “con giao linh hồn lại trong tay Cha!” Cha là Đấng Toàn năng gìn giữ linh hồn của chúng ta được an toàn trong vòng tay yêu thương phước hạnh của Ngài.

Bây giờ xin mời Quý vị nhìn lại cái chết của Đức Chúa Giê su. Đây không phải cái chết bình thường. Vì Ngài chịu chết để gánh thay hình phạt cho nhân loại tội lỗi. Mão gai làm cho máu quanh đầu Ngài tuông chảy, vì đầu óc chúng ta có toan tính những điều tội lỗi. Hai tay, hai chân Ngài bị đóng đinh, máu ra không ngớt vì hai bàn tay, chúng ta làm những công việc tội ác và hai bàn chân chúng ta đi con đuờng lầm lạc. Những lằn roi trên thân thể Ngài hằn sâu oằn oại vì thân thể chúng ta dự vào những nơi truy hoan bất khiết. Đức Chúa Giê su thật sự đã lãnh cái chết nhục nhã và đau thương. Tại sao vậy? Vì Đức Chúa Trời là Đấng Thánh khiết. Ngài không chịu được tội lỗi. Tội lỗi phải bị hình phạt dưới cơn thạnh nộ của Ngài. Vì vậy khi Đức Chúa Giê su gánh hình phạt cho tội nhơn, là Đức Chúa Giê su phải gánh cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Nghĩa là tại thập tự giá, “Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người.” (Ê sai 53:6).

Xin quý vị suy nghĩ xem tội lỗi của hết thảy chúng ta gồm có những tội lỗi nào? Nhiều hay ít? Nặng hay nhẹ? Thế mà “Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta.” (2 Corinhto 5:21). Cho nên, để chuộc tội cho chúng ta, Chúa Giêsu phải chịu trả giá bằng cái chết vô cùng nhục nhã và tột cùng đớn đau!

Tại sao Đức Chúa Giê su bằng lòng chịu hình phạt nhục nhã như vậy? Tại vì Ngài yêu thương tội nhơn. Vì yêu chúng ta, chẳng những Chúa Giê su bằng lòng, mà Ngài còn thỏa lòng. Như Kinh Thánh chép: “Người sẽ thấy kết quả của sự khốn khổ linh hồn mình, và lấy làm thỏa mãn.” (Esai 53:11). Và Đức Chúa Giê su “vì sự vui mừng đã đặt trước mặt mình, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục.” (Hê bơ rơ 12:12).

Đức Chúa Giê su thỏa mãn, vui mừng vì nhìn thấy kết quả của sự khốn khổ linh hồn mình đem đến hằng tỉ người được cứu trong đó có quý vị và tôi. Ngài vui mừng. Quý vị có thấy chính mình ở trong sự vui mừng của Ngài không?

Vì Đức Chúa Giê su vốn là Đấng vô tội. Ngài đã bằng lòng hy sinh chịu chết để cứu nhân loại tội lỗi cách trọn vẹn xong rồi, cho nên ba ngày sau, Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ cõi chết sống lại. Ngài không phải là một Giáo Chủ chết luôn. Nhưng Ngài là Chúa Cứu Thế Hằng Sống của nhân loại. Trong Ngài con dân Chúa dù có qua đời thì sẽ được phước lớn lao là Ngài sẽ ban cho sự “sống lại nơi ngày sau rốt.” (Giăng 6:40).

Thưa Quý vị, nhân vô thập toàn, cuộc đời ai cũng có ít nhiều tội lỗi. Vì yêu chúng ta, Đức Chúa Giê su đã bằng lòng chết khổ hình gánh thay hình phạt cho chúng ta. Đức Chúa Trời bằng lòng làm cho tội tỗi của tất cả chúng ta chất trên Ngài. Bây giờ chúng tôi xin mời quý vị chấp nhận tình yêu của Chúa Giê su để tội lỗi được tha và linh hồn được cứu.

Đức Chúa Trời không đòi công đức gì của quý vị. Quý vị hãy thưa với Ngài rằng: “Lạy Đức Chúa Trời con có tội với Ngài. Nay con xin nhận Đức Chúa Giê su đã chết thay cho con, chịu hình phạt vì tội lỗi của con, Ngài là Cứu Chúa của con. Xin Chúa tha thứ tội cho con. Con cầu xin trong Danh Đức Chúa Giê su. A-men.

Cầu xin Đức Chúa Trời Tứ Ái ban phước và ban bình an cho quý vị.

Mục sư Trần Hữu Thành.

Vì Sao Ung Thư Gây Chết Người?

Ung thư hình thành như thế nào

Ung thư (cancer) là tên dùng chung để mô tả một nhóm các bệnh phản ánh sự đột biến của tế bào. Thông thường, các tế bào sẽ tuân theo một quy trình: phát triển, phân chia thành tế bào mới rồi chết đi.

Nhưng tế bào ung thư thì khác – chúng là những tế bào… bất tử. Thay vì chết đi, tế bào ung thư sẽ tiếp tục sinh sôi nảy nở, xâm lấn các mô ở gần (xâm lấn cục bộ) hay ở xa (di căn) qua hệ thống bạch huyết hay mạch máu.

Ung thư không chỉ là một bệnh mà là nhiều bệnh. Ước tính hiện nay có hơn 100 loại ung thư khác nhau.

Tại sao ung thư lại gây chết người?

Di căn là nguyên nhân gây tử vong chính của ung thư. Nhưng tại sao lại thế?

Đó là vì tế bào ung thư khi di căn tạo thành các khối u mới, xâm lấn các tế bào bình thường. Điều này đã làm tê liệt và ngăn cản các cơ quan trong cơ thể vận hành, dẫn đến việc cơ thể suy kiệt, đau đớn và bất lực trước các bệnh tật khác, cuối cùng dẫn đến hệ quả tất yếu là tử vong.

Vì sao chúng ta bị ung thư?

Với sự phát triển của y học ngày nay, chúng ta đã xác định được khá nhiều nguyên nhân có thể gây ra ung thư, được chia thành tác nhân bên trong và bên ngoài.

Yếu tố bên trong

Chính là yếu tố di truyền. Một số loại ung thư như ung thư đại trực tràng, ung thư nguyên bào võng mạc mắt… hình thành từ các gene bị lỗi và các gene này sẽ được di truyền qua từng thế hệ.

Ngoài ra, nội tiết tố quá dồi dào đôi khi cũng kích hoạt các loại ung thư, đặc biệt là ở nữ giới như ung thư vú, ung thư cổ tử cung…

5 – 10% số ca mắc ung thư là do di truyền

Tuy nhiên, chỉ có khoảng 5 – 10% ung thư là do các nguyên nhân này.

Yếu tố bên ngoài

90% các trường hợp ung thư ngày nay đều do tác động từ yếu tố bên ngoài.

Đầu tiên phải kể đến thuốc lá – nguyên nhân chủ yếu gây ung thư phổi, với tỉ lệ lên tới 90%. Hút thuốc cũng là thủ phạm cho khoảng 30% tổng số các trường hợp ung thư, như thanh quản, cổ, dạ dày, thận, bàng quang, tụy…

Khói thuốc là một trong những nguyên nhân chính gây ung thư

Chế độ ăn uống không hợp lý cũng có thể gây ung thư. Theo tổ chức y tế thế giới WHO, việc tiêu thụ quá nhiều thịt đỏ và thịt hun khói sẽ làm tăng nguy cơ ung thư đại trực tràng, ruột và dạ dày.

Việc tiếp xúc trực tiếp với các loại bức xạ như UV (có trong ánh sáng Mặt trời), tia X, tia gamma… sẽ tăng nguy cơ gây ung thư da, tuyến giáp và tủy xương

Tiếp xúc trực tiếp với ánh Mặt trời làm tăng nguy cơ ung thư da

Cuối cùng là các tác nhân đến từ virus và vi khuẩn. Ví dụ như virus HPV có thể gây ung thư cổ tử cung, Virus viêm gan B gây ung thư gan, hay Epstein-Barr, virus gây bệnh bạch cầu ở người.

Bên cạnh đó cũng phải nhắc đến lối sống không lành mạnh. Sử dụng nhiều rượu bia hay đồ uống có cồn có thể gây ung thư gan và đường tiêu hóa.

Ngoài ra, việc ăn uống không lành mạnh, thiếu thể dục thể thao có thể gây thừa cân, khiến phụ nữ sản sinh thừa hormone, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh như ung thư vú, ung thư cổ tử cung…

Kết

Bài viết này nhằm giúp các bạn có một cái nhìn rõ hơn về ung thư – nguyên nhân gây tử vong hàng đầu thế giới (theo thống kê từ WHO). Theo các chuyên gia, 40% các loại ung thư có thể phòng tránh được và 30% ung thư có thể chữa khỏi nếu được chữa trị kịp thời.

Ung thư là một trong những tác nhân gây chết người hàng đầu trên thế giới.

Theo thống kê từ Cancer Research của Anh, năm 2012 thế giới có thêm 14 triệu ca ung thư. Trong đó, 4 loại ung thư phổ biến nhất gồm có:

– Ung thư phổi

– Ung thư tiền liệt tuyến

– Ung thư ruột và đại trực tràng

– Ung thư vú