Phương Pháp Dạy Học Trực Quan

Dạy học trực quan (hay còn gọi là trình bày trực quan) là PPDH sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật dạy học trước, trong và sau khi nắm tài liệu mới, khi ôn tập, khi củng cố, hệ thống hóa và kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo

PPDH trực quan được thể hiện dưới hình thức là minh họa và trình bày:

Minh họa thường trưng bày những đồ dùng trực quan có tính chất minh họa như bản mẫu, bản đồ, bức tranh, tranh chân dung, hình vẽ trên bảng,…

Trình bày thường gắn liền với việc trình bày thí nghiệm, những thiết bị kĩ thuật, chiếu phim đèn chiếu, phim điện ảnh, băng video. Trình bày thí nghiệm là trình bày mô hình đại diện cho hiện thực khách quan được lựa chọn cẩn thận về mặt sư phạm. Nó là cơ sở, là điểm xuất phát cho quá trình nhận thức – học tập của hs, là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn. Thông qua sự trình bày của giáo viên mà học sinh không chỉ lĩnh hội dễ dàng tri thức mà còn giúp họ học tập được những thao tác mẫu của GV từ đó hình thành kĩ năng, kĩ xảo,…

GV treo những đồ dùng trực quan có tính chất minh họa hoặc giới thiệu về các vật dụng thí nghiệm, các thiết bị kĩ thuật, … và nêu yêu cầu định hướng cho sự quan sát của học sinh

GV trình bày các nội dung trong lược đồ, sơ đồ, bản đồ,… tiến hành làm thí nghiệm, trình chiếu các thiết bị kĩ thuật, phim đèn chiếu, phim điện ảnh,…

GV yêu cầu một số hs trình bày lại, giải thích nội dung sơ đồ, biểu đồ, trình bày những gì thu nhận được qua thí nghiệm hoặc qua những phương tiện kĩ thuật, phim đèn chiếu, phim điện ảnh

Từ những chi tiết, thông tin hs thu được từ phương tiện trực quan, gv nêu câu hỏi yêu cầu hs rút ra kết luận khái quát về vấn đề mà phương tiện trực quan cần chuyển tải.

Trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lí luận dạy học nhằm tạo cho hs những biểu tượng và hình thành các khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật đang học hay đồ dùng trực quan minh họa sự vật. Đồ dùng trực quan là chỗ dựa để hiểu sâu sắc bản chất kiến thức, là phương tiện có hiệu lực để hình thành các khái niệm, giúp học sinh nắm vững các quy luật của sự phát triển xã hội. Ví dụ, khi nghiên cứu bức tranh “hình vẽ trên vách hang”, hs không chỉ có biểu tượng về săn bắn là công việc thường xuyên và hàng đầu của thị tộc mà còn hiểu: nhờ chế tạo cung tên, con người đã chuyển hẳn từ hình thức săn bắt sang săn bắn, co hiệu quả kinh tế cao hơn. Điều đó giúp hs biết sự thay đổi trong đời sống vật chất của con người thời nguyên thủy luôn gắn chặt với tiến bộ trong kĩ thuật chế tác công cụ của họ.

Đồ dùng trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp hs nhớ kĩ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức lịch sử. Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng trực quan. Vì vậy, cùng với việc góp phần tạo biểu tượng và hình thành khái niệm lịch sử, đồ dùng trực quan còn phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của hs

Phương pháp này đòi hỏi nhiều thời gian, gv cần tính toán kĩ để phù hợp với thời lượng đã quy định.

Nếu sử dụng đồ dùng trực quan không khéo sẽ làm phân tán chú ý của hs, dẫn đến hs không lĩnh hội được những nội dung chính của bài học

Khi sử dụng đồ dùng trực quan, đặc biệt là khi quan sát tranh ảnh, các phim điện ảnh, phim video, nếu gv không định hướng cho hs quan sát sẽ dễ dẫn đến tình trạng hs sa đà vào những chi tiết nhỏ lẻ, không quan trọng

Khi sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học cần chú ý các nguyên tắc sau:

Phải căn cứ vào nội dung, yêu cầu giáo dục của bài học để lựa chọn đồ dùng trực quan tương ứng thích hợp. Vì vậy, cần xây dựng một hệ thống đồ dùng trực quan phong phú, phù hợp với từng bài học

Có phương pháp thích hợp đối với việc sử dụng mỗi loại đồ dùng trực quan

Phải đảm bảo được sự quan sát đầy đủ đồ dùng trực quan của hs

Phát huy tính tích cực của hs khi sử dụng đồ dùng trực quan

Đảm bảo kết hợp lời nói với việc trình bày các đồ dùng trực quan, đồng thời rèn luyện khả năng thực hành của hs khi xây dựng và sử dụng đồ dùng trực quan (đắp sa bàn, vẽ bản đồ, tường thuật trên bản đồ, miêu tả hiện vật,…)

Tùy theo yêu cầu của bài học và loại hình đồ dùng trực quan mà có các cách sử dụng khác nhau. Loại đồ dùng trực quan treo tường được sử dụng nhiều nhất trong dạy học hiện nay là vật mẫu, bản đồ, sơ đồ, đồ thị, bảng niên biểu,… Trước khi sử dụng chúng cần chuẩn bị thật kĩ (nắm chắc nội dung, ý nghĩa của từng loại phục vụ cho nội dung nào của giờ học,…). Trong khi giảng cần xác định đúng thời điểm sử dụng đồ dùng trực quan

Loại đồ dùng trực quan cỡ nhỏ được sử dụng riêng cho từng hs trong giờ học, trong việc tự học ở nhà, gv phải hướng dẫn hs sử dụng tốt loại đồ dùng trực quan này: quan sát kĩ, tìm hiểu sâu sắc nội dung, hoàn thành các bài tập, tập vẽ bản đồ, chứ không phải “can” theo sách.

Trong dạy học một số môn như Lịch sử, Địa lí, Sinh học, Công nghệ, … ở trường phổ thông, việc kết hợp chặt chẽ giữa lời nói sinh động với sử dụng đồ dùng trực quan là một trong những điều quan trọng nhất để thực hiện nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển.

Sử dụng các đồ dùng trực quan cần theo một quy trình hợp lý để có thể khai thác tối đa kiến thức từ các đồ dùng trực quan. Cần chuẩn bị câu hỏi hoặc hệ thống câu hỏi dẫn dắt hs quan sát và tự khai thác kiến thức

Sử dụng các bộ mô hình: khối đa diện, khối đa diện đều, khối tròn xoay (Toán 12), cho học sinh được thao tác trực tiếp trên các mô hình này, đặc biệt là với hs trung bình, yếu kém, trí tưởng tượng không gian còn hạn chế thì ban đầu nên cho các em được tiếp cận các khái niệm này thông quan việc quan sát các mô hình.

Sử dụng bộ dụng cụ tạo mặt tròn xoay hoặc thiết kế trên phần mềm Sketchpad, cho hs được thao tác trực tiếp nhiều lần để học sinh có thể hình dung được sự tạo thành mặt tròn xoay. Đặt câu hỏi cho hs liên hệ thực tiễn, tìm những đồ vật có hình dạng là những mặt tròn xoay và người ta có thể tạo nên những vật đó như thế nào.

Hs nhấn chuột vào hộp “quay mặt phẳng” trên trang hình của phần mềm, hs sẽ quan sát một cách rất trực quan “vết” tạo thành chính là mặt nón tròn xoay.

Từ đó dẫn dắt đến kiến thức của bài

Modul số 18: Phương pháp dạy học tích cực; Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GV khối THPT; Vụ Giáo dục Trung học; 2013

Ví Dụ Về Phương Pháp So Sánh Trực Tiếp

(Nguồn: Thông tư sô 14512007ITT-BTC ngày 06!Ì2I2007Áp dụng phương pháp so sánh trực tiếp để xác định giá đất (để đơn giản và dễ hiểu, ví dụ này chỉ giới thiệu phương pháp so sánh trực tiếp để xác định giá đất của thửa đất, khu đất cần định giá với một thửa đất, khu đất so sánh).Giả định trong quá trình định giá khu đất ở có diện tích 20.000m2 thuộc một đô thị loại V (kí hiệu là khu đất B), cơ quan định giá đã thu thập được thông tin về một khu đất liền kề có diện tích 25.000m2 có thể so sánh được với khu đất cần định giá đã được tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất thành công để đầu tư xây dựng nhà ở (kí hiệu là khu đất A) diễn ra trong khoảng thời gian gần nhất với thời điểm xác định giá khu đất B. Tổng số tiền thu được từ đấu giá khu đất A là 125 tỷ đồng, tính ra đơn giá một mét vuông là 5,0 triệu đồng (5 triệu đ/m2).Với tất cả thông tin thu thập được cơ quan định giá tiến hành so sánh giữa khu đất A và khu đất B như sau:

Trên cơ sở mức giá đấu giá thành công của khu đất A là 125 tỷ đồng so sánh để định giá cho khu đất B, mức giá của khu đất B sẽ bị giảm:– Chiều rộng mặt tiền: B kém A: 2 điểm, giảm 10% = 12,5 tỷ đồng– Chiều sâu của khu đất: B kém A: 1 điểm, giảm 5% = 6,25 tỷ đồng– Giao thông: B kém A: 1,5 điểm, giảm 7,5% = 9,375 tỷ đồngTổng sô’ giảm giá do khác biệt B kém A: 28,125 tỷ đồngB sẽ được cộng thêm:– Độ bụi: B hơn A: 1 điểm, tăng 5% = 6,25 tỷ đồngTống số tăng giá do khác biệt B hơn A: 6,25 tỷ đồngGiá khu đất A dược điều chỉnh lại (kí hiệu là A’) theo những yếu tố khác biệt của khu đất B được tính toán như sau: A’ = 125 – 28,125 + 6,25 = 103,125 (tỷ đồng)Tính ru đơn giá một mét vuông lù: 103.125 triệu đồng : 25.000 m2 = 4,125 triệu đ/m2.Tương tự, giả sử cơ quan định giá lựa chọn được thêm 2 khu đất c và D nữa để so sánh với khu đất B. Kết quả phân tích, so sánh đã xác định được đơn giá của khu đất c đã điều chính theo các yếu tố của khu đất B là 4,5 triệu đ/m2 và của khu đất D đã điểu chính là 4,05 triệu đ/m2.Đơn giá khu đất B được xác định bằng cách lấy mức giá trung bình của 3 mức giá đã điểu chỉnh ở trên: (4,125 + 4,5 + 4,05): 3 = 4,225 (triệu đ/m2).

Ví Dụ Về Phương Pháp Định Giá Đất So Sánh Trực Tiếp

Một ví dụ về phương pháp so sánh trực tiếp được trích từ Phụ lục 1 của Thông tư 36/2014/TT-BTNMT

Nội dung ví dụ:

Thửa đất cần định giá là thửa đất ở tại đô thị loại IV, giáp mặt đường Nguyễn Văn A, gần chợ, trường học, bệnh viện, tập trung đông dân cư, có diện tích 100m2 (kí hiệu là thửa đất A), đường nhựa, mặt cắt (bao gồm cả vỉa hè) 15m. Việc xác định giá của thửa đất A theo phương pháp so sánh trực tiếp thực hiện như sau:

Thời điểm xác định giá đất: tháng 6 năm 2014.

Khảo sát thị trường, thu thập được thông tin về giá đất của 03 thửa đất ở (kí hiệu là thửa đất B, C và D) tại cùng đô thị trên đã chuyển nhượng thành công trong khoảng thời gian 2 năm đến thời điểm xác định giá, có đặc điểm tương tự với thửa đất A. Giả sử trong thời gian từ tháng 3 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014, giá đất ở phổ biến trên thị trường tại đô thị loại IV không có biến động.

Tiến hành thu thập các thông tin của 03 thửa đất so sánh B, C, D:

Khảo sát thị trường, thu thập được các thông tin:

– Thửa đất tiếp giáp mặt đường Nguyễn Văn A hơn thửa đất tiếp giáp mặt đường Nguyễn Văn B là 4%; hơn thửa đất tiếp giáp mặt đường Nguyễn Văn C là 2%.

– Thửa đất tiếp giáp với đường có mặt cắt rộng 15m hơn thửa đất tiếp giáp với đường có mặt cắt rộng 10m là 5%; kém hơn thửa đất tiếp giáp với 2 đường có mặt cắt rộng 15m và 6m là 10%.

– Thửa đất có kích thước mặt tiền 10m hơn thửa đất có mặt tiền 7m là 5%, hơn thửa đất có mặt tiền 6m là 6%.

– Thửa đất có chiều sâu 10m hơn thửa đất có chiều sâu 15m là 2%.

– Thửa đất thuộc khu vực cấp nước sạch tốt hơn thửa đất thuộc khu vực cấp nước sạch kém ổn định là 2%.

Phân tích, so sánh, điều chỉnh mức giá do các yếu tố khác biệt của các thửa đất so sánh với thửa đất cần định giá

a) Phân tích, so sánh để lựa chọn các yếu tố giống nhau và khác biệt giữa các thửa đất so sánh với thửa đất cần định giá.

Kết quả phân tích cho thấy thửa đất cần định giá và 03 thửa đất so sánh có 03 yếu tố giống nhau (mục đích sử dụng, không có tài sản gắn liền với đất, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), 05 yếu tố khác biệt (vị trí; giao thông; diện tích, kích thước; các yếu tố hạ tầng khác).

b) Điều chỉnh mức giá do các yếu tố khác biệt của các thửa đất so sánh với thửa đất cần định giá.

– Điều chỉnh mức giá do yếu tố khác biệt về vị trí: thửa đất A bằng thửa đất D (tiếp giáp mặt đường Nguyễn Văn A), hơn thửa đất B (tiếp giáp mặt đường Nguyễn Văn B) là 4%, hơn thửa đất C (tiếp giáp mặt đường Nguyễn Văn C) là 2%.

Giá đất của thửa đất cần định giá A và thửa đất D là 100% thì giá đất của thửa đất B là 96%, giá đất của thửa đất C là 98%.

Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất B là:

Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất C là:

– Điều chỉnh mức giá do yếu tố khác biệt về giao thông: thửa đất A bằng thửa đất C (cùng tiếp giáp với đường có mặt cắt rộng 15m), hơn thửa đất B (tiếp giáp với đường có mặt cắt rộng 10m) là 5%, kém hơn thửa đất D (tiếp giáp với 2 đường có mặt cắt rộng 15m và 6m) là 10%.

Giá đất của thửa đất cần định giá A và thửa đất C là 100% thì giá đất của thửa đất B là 95%, giá đất của thửa đất D là 110%.

Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất B là:

Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất D là:

– Điều chỉnh mức giá do yếu tố khác biệt về diện tích, kích thước: thửa đất A bằng thửa đất B (cùng có kích thước mặt tiền 10m), hơn thửa đất C (có kích thước mặt tiền 7m) là 5%, hơn thửa đất D (có kích thước mặt tiền 6m) là 6%.

Thửa đất A và thửa đất C (có chiều sâu 10m) hơn thửa đất B và thửa đất D (có chiều sâu 15m) là 2%.

Giá đất của thửa đất cần định giá A là 100% thì giá đất của thửa đất B là 98%, giá đất của thửa đất C là 95%, giá đất của thửa đất D là 92%.

Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất B là:

Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất C là:

Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất D là:

– Điều chỉnh mức giá do yếu tố khác biệt về hạ tầng khác:

Cấp nước sạch: thửa đất A bằng thửa đất D (thuộc khu vực cấp nước tốt) hơn thửa đất B và thửa đất C (thuộc khu vực cấp nước kém ổn định) là 2%.

Giá đất của thửa đất cần định giá A và thửa đất D là 100% thì giá đất của thửa đất B và thửa đất C là 98%.

Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất B và thửa đất C là:

Tỷ lệ chênh lệch giữa giá đất của thửa đất cần định giá A với giá đất ước tính theo thửa đất so sánh B là:

Tương tự có tỷ lệ chênh lệch giữa giá đất của thửa đất cần định giá A với giá đất ước tính theo thửa đất C và thửa đất D lần lượt là -1,97% và 1,27%.

Do đó, giá đất của thửa đất cần định giá A bảo đảm chênh lệch với các giá đất ước tính không quá 10%.

Kết luận: Giá đất của thửa đất cần định giá A là 34,30 triệu đồng/m 2

Sử Dụng Phương Pháp Trực Quan Khi Dạy Học Tiểu Học

Published on

2. Câu 1: Việc sử dụng phương pháp dạy học trực quan khi dạy thể loại văn miêu tả của môn Tập làm vănlớp 4. Anh (chị) nêu phương án cùng ví dụ cụ thể cho biết lí do chọn phương án ấy? – Phương pháp dạy học trực quan bao gồm phương pháp quan sát và phương pháp trình bày trực quan. Hai phương pháp này có mối liên hệ với nhau, cụ thể là khi trình bày trực quan, học sinh tiến hành quan sát chúng một cách có khoa học dưới vai trò chủ đạo của giáo viên. – Phương pháp này giúp nâng cao hiệu quả dạy học nhờ có những biểu tượng rõ ràng. Rất phù hợp với đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học. Phát triển tư duy trực quan, hình tượng trí nhớ. – Người giáo viên phải nắm chắc đặc điểm tâm lý của học sinh để từ đó tìm ra hướng đi đúng, tìm ra những phương pháp phù hợp khi lên lớp:  Chúng ta đã biết, tâm lý chung của học sinh Tiểu học là luôn muốn khám phá, tìm hiểu những điều mới mẻ. Từ đó hình thành và rèn luyện cho các em quan sát, cách tư duy về đối tượng miêu tả một cách bao quát, toàn diện và cụ thể tức là quan sát sự vật hiện tượng về nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau, từ đó các em có cách cảm, cách nghĩa sâu sắc khi miêu tả.  Ở tuổi Tiểu học từ hình thức đến tâm hồn, mọi cái mới chỉ là sự bắt đầu của một quá trình. Do đó những tri thức để các em tiếp thu được phải được sắp xếp theo một trình tự nhất định. Trí tưởng tượng càng phong phú bao nhiêu thì việc làm văn miêu tả sẽ càng thuận lợi bấy nhiêu. – Văn miêu tả là loại văn thuộc phong cách nghệ thuật đòi hỏi viết bài phải giàu cảm xúc, tạo nên cái “hồn” chất văn của bài làm. Muốn vậy giáo viên phải luôn luôn nuôi dưỡng ở các em tâm hồn trong sáng, cái nhìn hồn nhiên, một tấm lòng dễ xúc động và luôn hướng tới cái thiện.

4. từ hay, một câu văn hay các em ghi vào sổ tay theo từng chủ điểm và khi làm văn có thể sử dụng một cáchdễ dàng. – Giáo viên cần tiến hành theo mức độ yêu cầu tăng dần, bước đầu chỉ yêu cầu học sinh đặt câu đúng, song yêu cầu cao hơn là phải đặt câu có sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa, có dùng những từ láy, từ ngữ gợi tả hình ảnh, âm thanh hay những từ biểu lộ tình cảm.  Việc sử dụng phương pháp dạy học trực quan khi dạy thể loại văn miêu tả của môn Tập làm văn lớp 4 có rất nhiều hiệu quả. Ví dụ: Đề bài: Hãy tả chiếc cặp sách của em.  Thể loại: Văn mô tả lớp 4.  Phương án dạy học: Cho học sinh quan sát một cách từ gần đến xa, quan sát các dấu hiệu đặc trưng bản chất, các dấu hiệu chính xen kẽ các dấu hiệu phụ dưới sự định hướng của giáo viên. Sau đó căn cứ vào dàn bài chung của thể loại văn miêu tả, các em tái hiện lại những điều đã quan sát để tiến hành làm bài.  Dàn ý chung: 1. Mở bài: Giới thiệu đồ vật (Đồ vật em định tả là gì? Tại sao em có nó? Nó có vào thời gian nào? …) 2. Thân bài: a. Tả bao quát: Hình dáng, kích thước, màu sắc… b. Tả chi tiết: Tả các bộ phận của đồ vật… c. Tả công dụng của đồ vật. d. Hoạt động hoặc kỷ niệm của em với đồ vật đó. 3. Kết bài: Nêu cảm nghĩ của em với đồ vật.

5.  Lí do chọn: Đây là phương pháp dạy học trực quan phù hợp nhất với học sinh Tiểu học. Vì nó mang tính khoa học, giúp học sinh thể hiện khả năng sáng tạo của các em, giúp các em biết quan sát và làm bài một cách có logic, trình tự.  Người giáo viên không nên hướng dẫn cho học sinh một đề cương chi tiết thuộc nội dung bài làm, sau đó trực tiếp đưa cho học sinh cái cặp để cho học sinh tiến hành quan sát theo đề cương chi tiết đã được học; cuối cùng sau khi quan sát xong các em tiến hành bài tập làm văn. Vì theo phương án này, người giáo viên vô tình đã áp đặt một đề cương để theo đó học sinh tiến hành quan sát. Như vậy, việc quan sát của học sinh không còn mang tính khoa học nữa và mất đi khả năng sáng tạo nơi các em. Dự đoán bài làm của các em hầu như sẽ giống nhau, không còn thể hiện những dấu hiệu đặc trưng của mỗi em.  Người giáo viên cũng không được: không hướng dẫn đề cương chi tiết trước cho học sinh mà đưa thẳng cái cặp cho học sinh quan sát. Giáo viên để hoc sinh tự tiến hành quan sát rồi sau đó tự làm bài Tập làm văn với đề bài trên.Vì theo phương án này, các em sẽ không biết cách thức tiến hành quan sát như thế nào, vì không có sự chỉ đạo của giáo viên. Điều này cũng vi phạm cách thức tiến hành dạy học trực quan. Dự đoán các em sẽ không theo một trình tự logic nào và bài làm thậm chí còn lạc đề hoặc không nêu đủ nội dung yêu cầu.  Để làm 1 bài văn hay, đạt chất lượng, giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh biết cách nhìn nhận sự vật, sự việc xung quanh. Để nhìn được sự vật thông qua đôimắt của học sinh cần có sự hướng dẫn từ người thầy. Ví dụ: Muốn miêu tả 1 cái cây, giáo viên hướng dẫn quan sát cây từ xa, toàn bộ cái cây tiếp đến quan sát từng bộ phận của cậy và rút ra nhận xét ban đầu về cái cây.  Nội dung dạy học phải mới, phải thường xuyên thay đổi phương pháp dạy để học sinh không cảm thấy nhàm chán.

7. Toán 4 5 5 5 5 Đạo đức 1 1 1 1 1 Tự nhiên và Xã hội 1 1 2 Khoa học 2 2 Lịch sử và Địa lí 2 2 Âm nhạc 1 1 1 1 1 Mĩ thuật 1 1 1 1 1 Thủ công 1 1 1 1 1 Kĩ thuật 1 1 Thể dục 1 2 2 2 2 Giáo dục tập thể 2 2 2 2 2 Giáo dục ngoài giờ lên lớp 4 tiết/tháng Tự chọn ( không bắt buộc) * * * * * Tổng số tiết/tuần 22 23 23 25 25 c. Hướng dẫn thực hiện – Ở mỗi lớp, mỗi tuần có ít nhất hai tiết hoạt động tập thể dành cho Sinh hoạt lớp, Sao Nhi đồng, Đội thiếu niên và sinh hoạt trường. – Dấu (*) chỉ thời lượng của các nội dung tự chọn và môn học tự chọn (chủ yếu là môn Anh văn và Tin học) bắt đầu từ lớp 3. – Sẽ có hướng dẫn cụ thể quy định riêng cho các trường Tiểu học dạy bằng tiếng dân tộc và tiếng Việt hoặc bằng tiếng nước ngoài và tiếng Việt, và cho các trường, các lớp tiểu học có khó khăn đặc biệt khác, cho các trường Tiểu học dạy học cả ngày (hoặc 2 buổi/ngày). – Căn cứ vào kế hoạch dạy học nêu trên và chương trình cụ thể của các môn học, mỗi trường Tiểu học tự lập kế hoạch dạy học hàng tuần theo đặc điểm của nhà trường và của địa phương sao cho:  Đảm bảo dạy đủ số môn học và hoạt động bắt buộc và đủ thời gian tối thiểu nêu trong kế hoạch dạy học.  Các hoạt động dạy học ở các lớp 1, 2, 3 chủ yếu thực hiện ở nhà trường, hạn chế học và làm bài tập ở nhà.

12. – Con người và sức khoẻ: Sự trao đổi chất, nhu cầu các chất dinh dưỡng của cơ thể; sự sinh sản và lớn lên và phát triển của cơ thể con người; cách phòng chống các bệnh thông thường và bệnh truyền nhiễm; cách sử dụng thuốc an toàn. – Vật chất và năng lượng: Tính chất và ứng dụng của một số chất, vật liệu và dạng năng lượng thường gặp trong đời sống và sản xuất. – Thực vật và động vật: Sự trao đổi chất và sinh sản của cây xanh và một số loài đông vật. – Môi trường và tài nguyên thiên nhiên: Ảnh hưởng qua lại của con người và môi trường; một số biện pháp bảo vệ môi trường tự nhiên.  NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VÀ KIẾN NGHỊ: I. Ưu điểm: – Việc đổi mới chương trình sách giáo khoa là một việc làm có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. – Chương trình mới của cấp tiểu học đều hợp lý về mặt nội dung khoa học và cũng phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi cũng như kinh nghiệm sống của học sinh. – Việc tiếp nhận và đưa vào ứng dụng chương trình và sách giáo khoa tiểu học phù hợp với tính hiện đại cập nhật, sát thực tiễn, bước đầu đã tạo được hứng thú, tích cực và chủ động hơn trong học tập, học sinh có ý thức hợp tác với thầy cô và bạn bè để cùng học, cùng tìm hiểu, phát hiện kiến thức, biết thao tác sử đụng đồ dùng học tập, thực hành kĩ năng, mạnh dạn hơn trong việc trình bày ý kiến cá nhân hơn. – Chương trình sách giáo khoa các môn Toán, Tiếng Việt ở lớp 1 và lớp 3 nhìn chung phù hợp với khả năng học tập của học sinh: Cụ thể bài “Làm quen với chữ số La Mã” (Toán lớp 3). Sau khi học xong bài này, tiếp đến bài “Thực hành xem đồng hồ”, rồi đến xem lịch năm, tháng, ngày, tuần, thứ… – Về sách giáo khoa, thì sách giáo khoa là phương tiện chính thức để định hướng cho giáo viên tổ chức các hoạt động học tập, nhằm giúp học sinh tự phát hiện, tự chiếm lĩnh các kiến thức mới và biết vận dụng chúng vào cuộc sống, theo năng lực của từng cá nhân. – Sách giáo khoa có hình ảnh đẹp, hấp dẫn hơn, sách giáo khoa phù hợp với chương trình, cung cấp những kiến thức cơ bản, cập nhật có hệ thống. Kênh

14. DANH SÁCH THÀNH VIÊN 1. Hoàng Thanh Bình 2. Đỗ Thị Thanh Huyền 3. Trần Thị Hương 4. Nguyễn Cẩm Tú 5. Bùi Thị Tuyết Lan 6. Nguyễn Thị Thùy Dung 7. Lê Thị Kim Ngân 8. Trần Thị Thủy Tiên 9. Nguyễn Thị Hoài 10. Nguyễn Tố Vân 11. Trần Nguyễn Thị Minh Châu 12. Phan Thị Huyền Trang 13. Ngô Thị Thùy Linh

Phương Pháp Giảng Dạy Trực Quan

Về phương pháp sư phạm, nhiều phương pháp giảng dạy được biết đến, đặc biệt trong vai trò của sinh viên trong quá trình thu thập kiến thức mới. Tùy thuộc vào vai trò đó, các phương pháp có thể thụ động, tích cực và tương tác. Trong mỗi nhóm này, có thể xác định các phân nhóm. Một trong những phân nhóm của các phương pháp có thể tham gia vào bất kỳ nhóm lớn các phương pháp trên là các phương pháp đào tạo trực quan , bao gồm nhiều cách trình bày thông tin.

Do các thiết bị kỹ thuật của nhiều cơ sở giáo dục đã tăng lên nên có thể sử dụng máy chiếu, máy ghi băng video, ti vi, máy vi tính và các thiết bị video khác trong bài học, phương pháp video được tách ra thành một phương pháp độc lập từ một nhóm lớn “phương pháp giảng dạy trực quan”. Điều này cũng áp dụng cho việc làm việc với sách và các nguồn in khác. Phương pháp bao gồm các kỹ thuật như tóm tắt, viết, trích dẫn, lập kế hoạch, chú thích, rà soát, lập sổ chứng nhận …

Bất kỳ giáo viên nào cũng biết được tình huống khi trong các bài học của trẻ em không hấp dẫn và nhàm chán. Tại sao đời sống trường học thường không giống như thế giới tươi sáng và đầy màu sắc của thời thơ ấu đi kèm với đứa trẻ trong cuộc sống hàng ngày? Dường như đó là trường học nên làm say đắm cho đứa trẻ, dẫn cậu đi theo con đường đẹp của kiến thức đến một thế giới tươi đẹp mới, nhưng điều này không phải lúc nào cũng xảy ra.

Chỉ cần đừng kết luận vội vã và nói rằng trường học không thể phục vụ như là một nguồn tri thức, mà đôi khi có thể tìm thấy trên các phương tiện truyền thông. Mặc dù đôi khi các tuyên bố như vậy có thể được khá hợp lý. Thực tế là trường luôn có một số lượng bảo thủ nhất định mà không cho phép quá trình chuyển giao kiến thức cho thế hệ trẻ để theo kịp với thời đại.

Như vậy đã nảy sinh một mâu thuẫn giữa thời đại bốc đồng mới, đặc điểm đặc trưng của nó là sự thâm nhập đầy đủ các công nghệ hiện đại vào cuộc sống hàng ngày và thói quen giáo dục truyền thống của trường học, điều này không chấp nhận bất kỳ sự đổi mới nào.

Tuy nhiên, hoàn toàn có thể vượt qua mâu thuẫn này. Các giáo viên xuất sắc trong thời đại chúng ta đã suy nghĩ lâu về điều này và đã cố gắng hết sức để vượt qua tình trạng này.

Các phương pháp đào tạo trực quan được coi là liên kết đầu tiên trong chuỗi các phương pháp hàng đầu khác có thể làm cho kiến thức mới có thể tiếp cận và thú vị cho trẻ em, và do đó sự nhàm chán là không cần thiết. Nói chung, thành công trong đào tạo có thể phụ thuộc không chỉ vào các phương pháp được sử dụng – người ta nên nhớ rằng chỉ đơn giản không có phương pháp phổ quát phổ quát phù hợp với mọi trường hợp của cuộc sống. Thành công có thể trực tiếp phụ thuộc vào tính cách của giáo viên.

Áp dụng các phương pháp giảng dạy trò chơi, bạn có thể đa dạng hóa quá trình học tập và làm cho nó hấp dẫn. Ở các cơ sở giáo dục đặc biệt bậc cao và trung học, các phương pháp đào tạo nghề cũng thường hoạt động và tương tác, điều này làm cho việc thu thập tài liệu học tập một cách tốt nhất có thể.

Câu hỏi về phương pháp vẫn còn rất quan trọng, nhưng chỉ đơn giản không có ai trả lời cho câu hỏi “tốt hơn thế nào”.