Tại Sao Jungkook Lại Viết Thư Siêu Ngắn Cho Taehyung Trong Winter Package 2019 / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top View | Channuoithuy.edu.vn

Soạn Phương Pháp Thuyết Minh Siêu Ngắn

Phương Pháp Thuyết Minh Trang 48 Sgk Ngữ Văn 10

Bài 12. Phương Pháp Thuyết Minh

Soạn Bài Phương Pháp Thuyết Minh Sbt Ngữ Văn 8 Tập 1

Phương Pháp Nghiên Cứu Thực Nghiệm Trong Tâm Lý Học: Phân Loại, Lựa Chọn Phương Pháp Và Xử Lý Kết Quả

Nghiên Cứu Lý Luận Bằng Phương Pháp Thực Nghiệm Sư Phạm

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THUYẾT MINH Câu 1: (trang 50 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

– Đoạn trích về Trần Quốc Tuấn: phương pháp liệt kê, nêu ví dụ → tăng tính chính xác và thuyết phục.

– Đoạn trích về Ba-sô: phương pháp giải thích, phân tích → cung cấp hiểu biết bất ngờ, thú vị.

– Đoạn trích trong văn bản “Con người và con số”: phương pháp dùng số liệu và so sánh → tạo ấn tượng và sự hấp dẫn.

– Đoạn trích về nhạc cụ: phương pháp giải thích, phân tích → cung cấp hiểu biết mới mẻ, thú vị.

Câu 2: (trang 50 SGK Ngữ văn 10 tập 2)

a. Thuyết minh bằng cách chú thích

– Câu văn Ba-sô là bút danh không dùng phương pháp định nghĩa (vì không nêu bản chất giúp phân biệt Ba-sô với những nhà thơ khác) mà dùng cách chú thích (cung cấp thêm một thông tin để làm rõ hơn về đối tượng)

– So sánh phương pháp nêu định nghĩa và phương pháp chú thích:

+ Nêu thuộc tính, tính chất cốt lõi nhất của đối tượng, nhằm phân biệt đối tượng này với đối tượng khác.

+ Đòi hỏi độ chính xác và tính toàn diện cao.

+ Nêu tên gọi khác hoặc đặc điểm khác của đối tượng nhưng không có tác dụng phân biệt đối tượng với đối tượng khác vì không phản ánh bản chất, thuộc tính toàn diện của đối tượng.

+ Mềm dẻo, linh hoạt, dễ sử dụng.

b. Thuyết minh bằng phương pháp giảng giải nguyên nhân – kết quả

– Đoạn văn có hai mục đích: nói về niềm say mê cây chuối của Ba-sô và lai lịch bút danh Ba-sô, trong đó mục đích thứ 2 là chủ yếu.

– Các ý của đoạn văn có mối quan hệ nguyên nhân – kết quả: vì quá yêu cây chuối (nguyên nhân) mà lấy bút danh là Ba-sô (kết quả).

LUYỆN TẬP Câu 1: (trang 51 SGK Ngữ văn 11 tập 2) Các phương pháp thuyết minh đã được sử dụng:

– Chú thích: Hoa lan đã được người phương Đông…”nữ hoàng của các loài hoa”.

– Phân tích, giải thích: Họ lan thường chia thành…lớp thảm mục.

– Nêu ví dụ, số liệu: Chỉ riêng 10 loài của chi lan Hài Vệ nữ…sắc màu.

– Các phương pháp đều phù hợp và đều làm nổi bật mục đích thuyết minh: cung cấp tri thức về hoa lan.

– Làm nổi bật đặc điểm của hoa lan: phương pháp chú thích làm nổi bật vị trí của hoa trong thế giới các loài hoa nói chung, phương pháp phân tích và giải thích giúp phân loại hoa lan theo đặc điểm môi trường bám trụ của rễ, phương pháp nêu ví dụ, dùng số liệu giúp tăng tính thuyết phục khi khẳng định hoa lan rất phong phú.

Câu 2: (trang 51 SGK Ngữ văn 11 tập 2) Viết bài thuyết minh về một nghề truyền thống để giới thiệu với bạn bè quốc tế. VD: Nghề gốm.

Gốm là một nghề truyền thống lâu đời ở nước ta. Nổi tiếng trong các làng nghề, phải kể đến làng gốm Bát Tràng ở ngoại vi thủ đô Hà Nội.

Có ba quá trình cơ bản để làm nên một sản phẩm gốm Bát Tràng là tạo cốt gốm, trang trí hoa văn, phủ men và quá trình nung. Thợ gốm lấy đất sét trong làng hoặc từ các vùng như Hổ Lao, Trúc Thôn đem về ngâm trong bể chứa nước. Đất sét được ngâm từ “bể đánh”, sau khi chín thì đánh thành dịch lỏng và đổ vào “bể lắng”. Sau khi tách khỏi tạp chất, đất sét tiếp tục được đưa sang “bể phơi” và “bể ủ”, thời gian ủ càng lâu đất càng tốt. Ủ xong, thợ gốm nặn cốt, sửa hàng và phơi khô sản phẩm. Vẽ trang trí và phủ men là công đoạn thể hiện rất rõ tài hoa của thộ gốm Bát Tràng. Họ có đến năm loại men khác nhau để phủ cho sản phẩm bao gồm men rạn, men thô, men chảy, men trơn và men lam. Cuối cùng, gốm được cho vào lò nung trong khoảng 3 ngày 3 đêm rồi mở cửa lò để nguội khoảng 2 ngày 2 đêm.

Đồ gốm Bát Tràng được sản xuất theo lối thủ công, thể hiện rõ rệt tài năng sáng tạo của người thợ lưu truyền qua nhiều thế hệ. Do tính chất của các nguồn nguyên liệu tạo cốt gốm và việc tạo dáng đều làm bằng tay trên bàn xoay, cùng với việc sử dụng các loại men khai thác trong nước theo kinh nghiệm nên đồ gốm Bát Tràng có nét riêng là cốt đầy, chắc và khá nặng, lớp men trắng thường ngả màu ngà, đục.

Nghề gốm Bát Tràng chẳng những là một nghề nghiệp quan trọng của nhân dân làng Bát Tràng mà còn trở thành biểu tượng cho các làng nghề thủ công truyền thống của nước Việt Nam ta. Sản phẩm gốm Bát Tràng ngày càng mở rộng giá trị của mình từ lĩnh vực kinh tế đến văn hóa, du lịch…

Chia sẻ: chúng tôi

Soạn Văn 10: Phương Pháp Thuyết Minh

Soạn Bài: Phương Pháp Thuyết Minh

Soạn Văn 8: Phương Pháp Thuyết Minh

Soạn Văn Bài Phương Pháp Thuyết Minh: Tầm Quan Trọng Của Phương Pháp Thuyết Minh

Thuyết Minh Về Chiếc Nón Lá Việt Nam

Tại Sao Lại Có Kinh 2 Lần Trong 1 Tháng?

Có Kinh 2 Lần Trong 1 Tháng Có Nguy Hiểm Không?

1 Tháng Có Kinh Nguyệt 2 Lần (Chia Sẻ Kinh Nghiệm)

Đau Bụng Trước Và Trong Kỳ Kinh Kéo Dài Trong Bao Lâu?

Ra Huyết Sau Chuyển Phôi – Xấu Hay Tốt?

Dấu Hiệu Dính Tử Cung Sau Hút Thai Cần Lưu Ý – Hệ Thống Y Khoa Diamond

Hỏi: Chào bác sĩ, em là Hoài, năm này em 24 tuổi và mới kết hôn được 4 tháng. Dạo gần đây do công việc bận rộn nên em không chú ý nhiều nhưng bây giờ tính lại em mới phát hiện tháng này em có kinh 2 lần. Hiện tại em rất lo lắng không biết có kinh 2 lần trong 1 tháng có sao không và đây có phải là em đã có thai không ạ? Bởi thực sự chúng em vẫn chưa tính đến chuyện có con. Mong bác sĩ giải đáp sớm cho em. Em cảm ơn ạ!

(Hoàng Thị Thu Hoài, 24 tuổi, Nam Định)

Chào Thu Hoài,

Cảnh giác khi có kinh 2 lần trong 1 tháng

Khi bước vào tuổi dậy thì, nữ giới sẽ bắt đầu xuất hiện kinh nguyệt với chu kỳ bình thường khoảng từ 28-30 ngày, thời gian hành kinh khoảng 2-7 ngày và lượng máu mất đi khoảng từ 20-80ml, máu kinh có màu đỏ thẫm. Tuy nhiên, không phải chị em nào cũng có chu kỳ kinh nguyệt đều đặn như vậy, điển hình là tình trạng có kinh 2 lần trong 1 tháng. Vậy ra có kinh nguyệt 2 lần trong tháng là do đâu và có sao không?

1 tháng có kinh 2 lần

Nguyên nhân có kinh 2 lần trong 1 tháng

Tại sao có kinh 2 lần trong 1 tháng? Theo các chuyên gia Sản phụ khoa Phòng Khám Đa Khoa Quốc Tế Cộng Đồng cho biết, có kinh 2 lần trong tháng do nhiều nguyên nhân gây ra những trong đó có hai nhóm nguyên nhân chính là nguyên nhân sinh lý và nguyên nhân bệnh lý.

Nguyên nhân sinh lý

Rối loạn nội tiết tố:

Kinh nguyệt của nữ giới chịu ảnh hưởng của nội tiết tố nên khi hormone estrogen tăng lên sẽ kích thích rụng trứng. Tùy vào nồng độ estrogen của mỗi người mà sẽ gặp kinh nguyệt sớm hơn 1 đến 2 tuần, tức là có thể có kinh 2 lần trong tháng.

Do tâm lý:

Những phụ nữ thường xuyên bị căng thẳng, stress, suy nghĩ nhiều là đối tượng dễ gặp phải tình trạng có kinh 2 lần 1 tháng. Bởi khi căng thẳng, cơ thể sẽ sản sinh ra hormone cortisol nhằm giúp chống lại trạng thái này. Tuy nhiên, chính hormone này lại kích thích sản sinh ra nhiều estrogen khiến chu kỳ kinh nguyệt bị thay đổi, đến sớm hơn nên mới xảy ra tình trạng có kinh 2 lần trong 1 tháng.

Do chế độ ăn uống thiếu khoa học:

Ăn uống không đủ chất, tăng cân hoặc giảm cân đột ngột cũng là nguyên nhân rối loạn kinh nguyệt, trong đó có tình trạng có kinh 2 lần trong tháng.

Vận động cường độ cao:

Mặc dù tập luyện thể dục thể thao rất tốt cho sức khỏe nhưng nếu tập luyện quá nhiều với cường độ cao thì sẽ gây nhiều nguy hại cho sức khỏe của nữ giới, đồng thời gia tăng tình trạng rối loạn kinh nguyệt. Bởi, khi vận động với cường độ cao, lượng estrogen trong cơ thể sẽ tăng cao, ảnh hưởng đến chu kỳ kinh nguyệt nên thường gây ra tình trạng có kinh nguyệt sớm, có kinh 2 lần trong 1 tháng.

Nguyên nhân bệnh lý

Viêm phần phụ:

Viêm phần phụ là tình trạng các tác nhân có hại như vi khuẩn, virus, nấm… xâm nhập vào các bộ phận thuộc phần phụ của nữ giới như vòi trứng, buồng trứng… gây viêm nhiễm. Chính vì vậy dẫn đến kinh nguyệt bất thường và có thể có kinh nguyệt 2 lần trong tháng.

Lạc nội mạc tử cung:

Là tình trạng tế bào biểu mô của niêm mạc tử cung bị lạc ra ngoài và mắc lại ở một số bộ phận ngoài tử cung. Mặc dù không còn ở vị trí cũ nhưng các biểu mô này vẫn phát triển và tiết dịch bình thường. Sau khi trứng rụng xuống mà không được thụ tinh, các mô này cũng bong ra tương tự như những tế bào niêm mạc trong tử cung và gây ra hiện tượng chảy máu bất thường. Khi mắc phải căn bệnh này, phụ nữ có thể có kinh nguyệt sớm hơn 1 tuần đến 2 tuần nên bạn sẽ thấy có kinh 2 lần trong 1 tháng. Ngoài ra, bạn còn gặp phải những cơn đau khi hành kinh, kinh nguyệt ra nhiều lẫn nhiều cục máu đông hoặc kinh nguyệt chuyển sang màu nâu đen.

U xơ tử cung:

Là sự hình thành của các khối u trong thành tử cung. Khi những khối u này phát triển lớn lên, chúng sẽ làm biến dạng tử cung, làm niêm mạc tử cung phát triển không bình thường nên thường dẫn đến tình trạng rối loạn kinh nguyệt, trong đó có tình trạng kinh nguyệt ra 2 lần trong 1 tháng.

Hội chứng buồng trứng đa nang:

Đây là tình trạng nhiều nang trứng phát triển trong buồng trứng. Hiện tượng này khiến cho nồng độ hormone trong cơ thể nữ giới bị rối loạn, gây ra tình trạng kinh nguyệt không đều, điển hình là có kinh 2 lần trong tháng và xuất huyết giữa chu kỳ kinh nguyệt.

Ung thư cổ tử cung:

Đây là căn bệnh nguy hiểm và thường có triệu chứng là kinh nguyệt bất thường. Nhiều khi căn bệnh này làm xuất huyết âm đạo nên phụ nữ dễ nhầm với máu kinh và cho rằng mình có kinh 2 lần trong tháng.

Có kinh 2 lần trong 1 tháng có sao không?

Dù có kinh 2 lần trong 1 tháng do bất kỳ yếu tố nào gây ra cũng gây nhiều ảnh hưởng tới sức khỏe, tâm lý và đời sống sinh hoạt.

Giảm chất lượng cuộc sống

Có kinh 2 lần trong tháng khiến chị em bị hoang mang, lo lắng. Bởi cho dù vì bất kỳ một biểu hiện rối loạn kinh nguyệt nào cũng gắn liền với chức năng sinh sản của nữ giới. Vì thế, khi gặp phải hiện tượng này, nữ giới rất khó tập trung trong công việc, cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.

Ảnh hưởng đến khả năng sinh sản

Kinh nguyệt có 2 lần trong tháng do rối loạn nội tiết tố hoặc các bệnh lý phụ khoa có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của nữ giới. Nếu không điều trị kịp thời chị em có thể bị suy giảm khả năng sinh sản, vô sinh hoặc nguy hiểm hơn là biến chứng ung thư – đe dọa đến tính mạng.

Có kinh 2 lần trong 1 tháng có thai không?

Có kinh 2 lần trong 1 tháng có thai không? Với thắc mắc này, các chuyên gia Phòng Khám Đa Khoa Quốc Tế Cộng Đồng cho biết, trường hợp có kinh lần thứ 2 trong tháng mà số lượng máu ra nhiều, máu đỏ tươi hoặc đỏ thẫm, có kèm theo các cục máu đông thì bạn chưa có thai. Bởi vì máu kinh là dấu hiệu thông báo buồng trứng vẫn phóng noãn bình thường và trứng không được thụ tinh.

Trong trường hợp mà máu xuất hiện lần thứ hai rất ít và không có cục máu đông thì có thể là máu báo thai. Để xác định chính xác mình có thai hay không tốt nhất bạn nên sử dụng que thử thai hoặc có thể đến các trung tâm y tế chuyên khoa uy tín để siêu âm.

Cách khắc phục tình trạng có kinh 2 lần trong 1 tháng hiệu quả

Để khắc phục tình trạng có kinh 2 lần trong 1 tháng hiệu quả, các chuyên gia khuyên chị em nên tuân thủ nghiêm túc các vấn đề sau:

Xây dựng lối sống lành mạnh, ăn uống khoa học, tăng cường bổ sung nhiều rau xanh, thực phẩm giàu canxi, sắt và vitamin để giúp cân bằng nội tiết tố.

Tập luyện thể dục thể thao hợp lý, tránh vận động quá nhiều.

Hạn chế sử dụng thuốc tránh thai, nhất là thuốc tránh thai khẩn cấp. Bạn nên dùng những cách tránh thai an toàn khác như dùng bao cao su.

Luôn duy trì tâm trạng thoải mái, giảm căng thẳng hay strees,…

Đi khám phụ khoa định kỳ để có thể chủ động phát hiện sớm các bất thường ở cơ quan sinh dục và có biện pháp xử lý kịp thời.

Khi phát hiện kinh nguyệt bất thường cần tiến hành thăm khám sớm để được các bác sĩ xác định rõ ràng nguyên nhân do đâu, từ đó có cách xử lý kịp thời, hiệu quả.

Phòng Khám Đa Khoa Quốc Tế Cộng Đồng 

Hiện tại, Phòng Khám Đa Khoa Quốc Tế Cộng Đồng Số 193c1 Bà Triệu – Hai Bà Trưng – Hà Nội đang là đơn vị y tế đáng tin cậy được chị em nữ giới ở Hà Nội và các tỉnh thành lân cận lựa chọn khi gặp các rắc rối về sức khỏe phụ khoa. Phòng khám là đơn vị y tế uy tín, được Sở y tế cấp phép hoạt động chuyên thăm khám và điều trị các bệnh phụ khoa, bệnh lây truyền qua đường tình dục, chăm sóc sức khỏe sinh sản.

Phòng khám được xây dựng theo mô hình quốc tế với đầy đủ cơ sở hạ tầng khang trang sạch sẽ, hệ thống trang thiết bị y tế hiện đại, đội ngũ y bác sĩ giỏi, có trình độ chuyên môn cao, dày dặn kinh nghiệm, phương pháp điều trị độc đáo có sự kết hợp cả đông tây y và các thiết bị y tế giúp mang lại hiệu quả điều trị cao, đồng thời hạn chế tối đa tình trạng tái nhiễm bệnh.

Hơn nữa, đến với phòng khám, người bệnh sẽ được khám chữa trong một môi trường y tế chuyên nghiệp, thân thiện, thủ tục thăm khám nhanh gọn không phải chờ đợi lâu, chi phí công khai niêm yết theo quy định của Sở y tế, thông tin cá nhân được bảo mật tuyệt đối. Vậy nên, chị em hãy yên tâm khám chữa bệnh tại Phòng khám.

1 Tháng Có Kinh 2 Lần Có Sao Không Và Nên Xử Lý Thế Nào?

9 Dấu Hiệu Có Kinh Nguyệt Trước 1 Tuần Chính Xác 100%

Rối Loạn Kinh Nguyệt Sau Sinh Và Những Biểu Hiện Mẹ Cần Biết

Những Điều Mẹ Cần Biết Kinh Nguyệt Sau Khi Sinh

Dấu Hiệu Sắp Có Kinh Sau Sinh – Bắt Đầu Lại Thời Con Gái

Vấn Đề Phân Biệt Viết I (Ngắn) Và Y (Dài)

Sự Khác Biệt Giữa Y Sĩ Và Y Tá

Cần Phân Biệt Rõ Tên Gọi Y Tá Và Điều Dưỡng

Since When?! How To Describe Time With Depuis, Pendant And Il Y A In French

Bàn Tiếp Về Chuyện I Ngắn Y Dài

Giá Vàng Ý Bao Nhiêu 1 Chỉ? Phân Biệt Vàng Ý Và Bạch Kim

Hiện nay, trong chính tả tiếng Việt (chữ Quốc ngữ), người ta vẫn còn lúng túng trong việc chọn i ngắn và y dài trong một số trường hợp. Cụ thể là khi âm /i/ đứng làm âm chính trong âm tiết mở (không có âm cuối vần) sau các phụ âm /h, k, l, m, s, t/. Và do đó vẫn tồn tại hai cách viết.

Những người thiên về góc nhìn ngữ âm học cho rằng cả hai chữ i ngắn và y dàitrong các trường hợp trên đều ghi âm /i/ nên bản chất không có gì khác nhau cả, vậy nên tốt nhất là nhập hai cách viết đó làm một cho nhất quán và giản tiện. Giáo trình Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt viết: “Trong chính tả hiện nay đang có những trường hợp cùng một âm vị nhưng được viết tùy tiện theo hai cách khác nhau. Đó là cách viết lung tung i/y và d/gi” (1). Và tác giả đề nghị: “Thống nhất viết nguyên âm – âm chính /i/ bằng chữ cái “i”, ví dụ: lí luận, kĩ thuật, mĩ thuật,… ” (2). Không chỉ tác giả của giáo trình trên mà xu hướng chung của giới ngôn ngữ học nhiều năm qua là như vậy.

Nhưng xã hội cũng không dễ gì chấp nhận những đề nghị nói trên, dù có những lý do hợp lý nhất định. Tuy đại đa số không có lý thuyết về ngôn ngữ học, nhưng bằng ngữ cảm bản ngữ, người ta cũng nhận thấy viết nhất loạt i ngắn như mất mát, thiếu hụt cái gì đó, cho nên cách viết y dài vẫn được duy trì ở chỗ này chỗ khác. Chẳng hạn:

– Tại số nhà 20 Lý Thái Tổ, Hà Nội có hai viện “chữ nghĩa” lớn nhất nước ta – Viện Văn học (với cơ quan ngôn luận là tạp chí Văn học) và Viện Ngôn ngữ (với tạp chí Ngôn ngữ) – thì trong khi bên Ngôn ngữ viết i ngắn, bên Văn học vẫn viết y dài.

– Nhà xuất bản Giáo dục quy định những trường hợp trên phải nhất loạt viết i ngắn. Tuy nhiên, khi các công ty con của nhà xuất bản ra đời, ban đầu tên công ty đều viết là ti (i ngắn), nhưng rồi càng ngày người ta càng nhận thấy bất tiện, nên đã dần dần đổi sang viết ty (y dài).

– Một số tác giả viết sách cho Nhà xuất bản Giáo dục, trong khi chấp nhận viết nhất loạt i ngắn cho sách giáo khoa, thì các sách khác vẫn đề nghị viết phân biệt i ngắn/ y dài.

Đặc biệt, học giả Cao Xuân Hạo, trong một giai đoạn dài đã đơn thương độc mã chống lại chủ trương sáp nhập i ngắn và y dài, cũng như chủ trương cải tiến chữ Quốc ngữ nói chung. Cái mà đa số giới ngôn ngữ học cho hệ thống ghi âm 1 đối 1 (1 âm – 1 chữ và ngược lại) là ưu điểm của chữ Quốc ngữ – thì ông đánh giá ngược lại: “Nhược điểm của chữ Quốc ngữ không phải ở chỗ nó chưa thật là một hệ thống phiên âm vị học, mà ở chỗ nó có tính chất thuần tuý ghi âm, và hoàn toàn bất lực trước nhiệm vụ biểu hiện nghĩa mà lẽ ra nó phải đảm đương, và nhược điểm ấy lộ rõ nhất và tai hại nhất là trong trường hợp các từ đồng âm vốn có rất nhiều trong tiếng Việt. Tuy vậy, cũng giống như chữ Anh và chữ Pháp, những chỗ bị người ta coi là bất hợp lý chính là những chỗ làm cho nó phân biệt nghĩa và cội nguồn của các từ đồng âm như và , và (trong lí nhí). v.v.. Đáng tiếc là những chỗ như thế không lấy gì làm nhiều” (3).

Nếu vận dụng triệt để nguyên tắc ngữ âm học theo kiểu 1 – 1 giữa âm và chữ, thì ngoài i ngắn/ y dài trong âm tiết mở nói trên, sẽ còn phải xử lý “nhất quán” hàng loạt trường hợp khác. Ví dụ:

i/y độc lập làm âm tiết: y tế, chuẩn y, ý nghĩa, ỷ thế, yêu cầu, yếu thế yểu điệu,… → i tế, chuẩn i, í nghĩa, iêu cầu,… Và i/y trong tổ hợp làm vần:uyên bác, khuyên bảo, quyên góp, thuyết minh,… → uiên bác, khuiên bảo, quiên góp, thuiết minh,…

c/k/q (cùng ghi âm “cờ”): quốc ca, cứu quốc, con đường quanh co,… → kuốc ka, kứu kuốc, kon đường kuanh ko,…

d/gi (cùng ghi âm “dờ”): giáo dục gia đình → dáo dục da đình hoặc záo zục za đình

g/gh (cùng ghi âm “gờ”): gồ ghề, ghen ghét → gồ gề, gen gét

ng/ngh (cùng ghi âm “ngờ”): ngấp nghé, ngông ghênh → ngấp ngé, ngông ngênh

Ngoài ra còn nhiều trường hợp “bất hợp lý” khác: viết u và o khi cùng ghi âm đệm /u/: ; viết u và o khi cùng ghi âm cuối /u/: ; viết ă và a khi cùng ghi âm chính /a/ ngắn: (trẻ con vẫn đánh vần “á-u-au, sờ-au-sau “. v.v..

Nếu sửa tất cả cho nhất quán, để chữ Quốc ngữ thành một “hệ thống ghi âm hoàn hảo, không chê vào đâu được”, hẳn sẽ có một thứ chữ Quốc ngữ “hiện đại” khác xa thứ chữ hiện hành. Hậu quả là khoảng vài chục năm sau nữa, con cháu sẽ không đọc nổi chữ Quốc ngữ kể từ thời chúng ta trở về trước!

Nhưng điều quan trọng hơn, nếu triệt để vận dụng nguyên tắc ngữ âm học như trên, tuy được một vài cái tiện nhất định thì lại mất rất nhiều cái lợi khác.

Thứ nhất, nó mất đi sự trong sáng. Ví dụ, nếu đồng nhất viết đình cũng như thịt, sự cũng như nhí sẽ mất sự phân biệt nghĩa và mất cả sự đánh dấu về từ nguyên.

Thứ hai, nó mất đi sự phong phú. Chẳng hạn trong tên riêng, người ta có quyền lựa chọn để biểu đạt một ý nghĩa nào đó. Giữa tên là Tí với nghĩa là “bé” khác với Tý với nghĩa là “năm Tý, năm Chuột”. Hầu hết tên riêng người ta chọn y dài (gốc Hán) để thể hiện sắc thái trang trọng: chọn Hy (hy vọng), không chọn Hi (cười hi hi), chọn Kỳ (kỳ vọng), không chọn Kì (kì kèo), v.v..

Ngoài ra, trong một số trường hợp, nó mất đi vẻ đẹp văn hóa. Ví dụ giữa “công ti” và “công ty”, người ta thấy viết “công ty” hay hơn. Vì sao vậy? Vì chữ “ti” được viết trong “ti trôn”, rồi “ti” còn có nghĩa là “vú” (sờ ti). Viết “công ty” sẽ trang trọng hơn “công ti” là vì thế.

Đấy là điều giải thích vì sao cả nửa thế kỷ qua, với rất nhiều lời kêu gọi của nhiều nhà ngôn ngữ học, với hàng loạt giáo trình, sách giáo khoa chỉ ra sự “bất hợp lý” mà sự “bất hợp lý” vẫn tồn tại! Cuộc sống bao giờ cũng có sự lựa chọn khôn ngoan, chống lại những giáo điều, duy ý chí.

Sự duy ý chí ấy bắt nguồn từ đâu? Theo tôi, đó là việc việc vận dụng máy móc lý thuyết về chữ ghi âm, coi chữ chỉ là ký hiệu của âm: “Chữ ghi âm không quan tâm đến nội dung, ý nghĩa của từ mà chỉ ghi lại chuỗi âm thanh của từ đó. Chữ viết ghi âm là đại diện của ngữ âm chứ không phải ý nghĩa. Quan hệ giữa và ở đây là một quan hệ mà âm là trung gian: ” (4)(Người trích nhấn mạnh).

Nhận định trên thực ra chỉ đúng trên nguyên tắc chung của loại hình chữ ghi âm, trong tương quan với phạm trù đối lập là chữ ghi ý. Nguyên tắc có giá trị lý thuyết, giúp cho nhận thức khái quát, đi vào những sự vật hiện tượng cụ thể lại phải xem xét một cách cụ thể. Thực tế bao giờ cũng phong phú hơn lý thuyết. Thực tế trên thế giới, theo nhiều nhà ngôn ngữ học, không có một thứ chữ nào thuần túy ghi âm, cũng như không có một thứ chữ nào thuần túy ghi ý. Theo chúng tôi, đành rằng chữ Quốc ngữ là chữ ghi âm, nhưng đấy là trên nguyên tắc chung, phần còn lại, tính chất ghi ý của nó cũng chẳng phải là nhỏ. Ngoài những ký hiệu và chữ viết tắt như m, m2, m3, kg, kw, kb, D, ^, %, chữ ghi ý thì hình thức chính tả “siêu phương ngữ” hiện hành là biểu hiện sinh động của tính chất ghi ý. Hình thức chính tả hiện nay được gọi là “siêu phương ngữ” vì nó không “trung thành” hẳn với phát âm của một vùng phương ngữ nào. Miền Bắc không phân biệt các âm đầu /ch – tr/, /x – s/, /d/gi – r/ khi nói nhưng khi viết vẫn phân biệt, cho nên hình thức (quả) chanh – (đấu) tranh, xinh (đẹp) – sinh (sống),… là những hình thức ghi ý; miền Nam không phân biệt các âm cuối /n – ng/, t – c/, các thanh hỏi – ngã, âm đầu /v – d/,… cho nên (ánh) trăng – (con) trăn, bắt (tay) – bắc (cầu), rủ (bóng) – rũ (xuống),… là những hình thức ghi ý. Vậy nên dù có sáp nhập các hình thức i ngắn/ y dài, d/ gi thì cũng chẳng thêm được bao nhiêu, thì cũng không sao đưa chữ Quốc ngữ thành chữ ghi âm hoàn toàn được. Nếu bây giờ trung thành với nguyên tắc “ngữ âm học” (nói sao viết vậy) thì tiếng Việt sẽ vỡ ra ít nhất thành hai mảng: tiếng miền Nam và tiếng miền Bắc. Nhưng người Việt Nam từ Móng Cái đến Hà Tiên chẳng mấy khó khăn khi viết chính tả, dù rằng rất nhiều chữ nói một đằng viết một nẻo, nói giống nhau mà viết khác nhau. Vì sao vậy? Thứ nhất vì chữ viết là một hệ thống, độc lập tương đối với hệ thống ngữ âm. Trong buổi đầu hình thành chữ Quốc ngữ, có thể đó là một hệ thống ký tự 1 đối 1 đối với hệ thống ngữ âm, nghĩa là khá “hợp lý”. Nhưng trong quá trình phát triển, ngữ âm và chữ viết đã biến đổi theo những con đường riêng, không hoàn toàn phụ thuộc vào nhau, cuối cùng tiến tới một hình thức như ngày nay. Thứ hai, do tính độc lập tương đối đó, chữ viết trở thành một kênh giao tiếp khác. Ngôn ngữ nói được tiếp nhận bằng thính giác, còn ngôn ngữ viết được tiếp nhận bằng thị giác. Theo Cao Xuân Hạo: ” Khi một hệ chữ viết đã được dùng trong vài ba thế kỷ, nó trở thành một truyền thống văn hoá. Mỗi từ ngữ dần dần có một diện mạo riêng. Một gestalt mà người ta đã quen thuộc đến mức không thể thay đổi được nữa. Và cái gestalt thị giác do cách viết tạo nên được liên hội với cái nghĩa của từ ngữ bất chấp cách phát âm ra sao, và nhờ đó người đọc phân biệt các từ đồng âm mặc dù không có sự giúp đỡ của các tình huống đối thoại hay của sự hiện diện của người đối thoại…” (5)

Gestalt là một thuyết tâm lý học. Nghĩa của từ này trong tiếng Việt tuơng đương các từ “hình thể”, “hình dạng”, “phom”, “diện mạo tổng quát”. Thuyết gestalt được áp dụng trong nhiều lĩnh vực. Riêng về nhận thức, nó cho rằng sự tri giác của con người không phải là sự đơn lẻ, lần lượt mà có tính tổng hợp, toàn bộ, tức thời (cho nên có người dịch là thuyết “hoàn hình”). Ví như ta nhận ra một người quen không phải lần lượt bằng từng nét riêng rẽ (mắt, mũi, dáng điệu,… ) rồi cộng lại, mà nhận ra toàn bộ diện mạo một cách đồng thời. Trong việc đọc cũng vậy, không phải bằng “đánh vần” từng âm, ghép các âm lại rồi mới luận ra nghĩa, mà cái nghĩa đến ngay khi tri giác toàn bộ “mặt chữ”, cũng không cần “vang lên” bất kỳ một âm thanh nào. Nói cách khác, từ chữ, cái ý (nghĩa) đến thẳng, không cần qua “cầu” trung gian là âm.

Sẽ có người băn khoăn: làm thế nào để nhận biết từ Hán Việt, từ thuần Việt? Thực ra bằng ngữ cảm bản ngữ, nói chung mỗi người đều có thể nhận ra, cũng giống như biết rằng khi nào dùng từ phu nhân, khi nào dùng từ vợ, khi nào dùng phụ nữ, khi nào dùng đàn bà. Về cách phân biệt Hán Việt/thuần Việt, chúng tôi sẽ đề cập vào một dịp khác, ở đây chỉ nêu một quy tắc thông dụng nhất: Yếu tố thuần Việt có thể dùng độc lập, còn đa số yếu tố Hán Việt thì không. Ví dụ nói hai nước chứ không nói hai quốc.

Nhưng vấn đề nhận biết Hán Việt/ thuần Việt cũng không quan trọng lắm. Nếu đã chuẩn hóa và các sách báo làm gương thực hiện thì cách viết i hay y dần dần sẽ trở thành những gestalt trong đầu óc mỗi người, và việc viết đúng đã được tự động hoá, cũng giống như xưa nay mọi người vẫn viết đúng y tế/ (lớp) i tờ, ỷ thế/ ỉ eo, ý nghĩa/ í ới mà không cần phải suy nghĩ gì.

Đối với một dân tộc, trong vài ba thế kỷ, mỗi từ ngữ sẽ dần dần có một diện mạo riêng, một gestalt, thì với một con người, nhiều nhất cũng chỉ dăm bảy năm (cứ cho là học hết lớp 9), cũng đủ hình thành cái gestalt thị giác cho mỗi chữ – nghĩa, và việc viết đúng chính tả i/y là không mấy khó khăn.

Cần sớm chuẩn hóa vấn đề này. Vì nếu i ngắn được “nhất loạt hóa” như một số cơ quan báo chí, xuất bản hiện nay sẽ tạo điều kiện lối viết tùy tiện, bất chấp nghĩa. Lâu ngày cái gestalt ấy được định hình, muốn quay trở lại để phân biệt (nghĩa) cũng không được nữa.

(1) Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, 2003, tr.123.

(2) Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến. Sđd, tr.123.

(3) Cao Xuân Hạo. Tiếng Việt – văn Việt – người Việt. Nxb Trẻ, 2003, tr.113.

(4) Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến. Sđd, tr.120.

(5) Cao Xuân Hạo. Sđd, tr.110.

Bài viết này được tác giả trình bày tại Hội thảo Ngôn ngữ học toàn quốc năm 2010, Trường ĐHKHXH&NV, ngày 18/4/2010 và đăng trên tạp chí Thế giới trong ta số chuyên đề 3 + 4 (2010).

Nguồn USSH

Cách Phân Biệt Thổ Địa

Review Son Ysl Rouge Pur Couture: Bảng Màu + Giá

Cushion Ysl Review Dòng Phấn Nước Cao Cấp Khiến Mọi Cô Gái Muốn Có

Cách Phân Biệt Túi Xách Hàng Hiệu Thật Và Hàng Fake

Cách Phân Biệt Son Thật Son Giả Cho Các Bạn Ghiền Son

Lời Giải Đáp Cho Câu Hỏi “Tại Sao Biển Xanh Lại Mặn?”

Vì Sao Nước Biển Có Vị Mặn Mà Nước Sông Hồ Lại Có Vị Ngọt?

Tại Sao Nước Biển Lại Mặn Mà Nước Sông Thì Không ?

Sự Tích Cái Cối Xay Muối

Nổi Mề Đay Là Gì? Triệu Chứng, Nguyên Nhân Và Cách Trị Tại Nhà

Vì Sao Lại Bị Nổi Mề Đay Sau Sinh? Bí Quyết Chữa Nổi Mề Đay Dành Cho Các Mẹ

Người ta thường nói câu “Đừng hỏi tại sao mà biển xanh lại mặn” trong những trường hợp nói về chuyện gì đó là đương nhiên, một sự thật hiển nhiên nào đó. Nhưng nhiều người vẫn đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi này. Đây là một vài lý giải cho lý do tại sao nước biển lại mặn của một nhà nghiên cứu khoa học có tên là Kaz Vorpal.

Tại sao biển xanh lại mặn?

Nước biển mặn có phải do đó là vựa muối lớn nhất trên trái đất?

Lý do nước biển mặn không phải vì trên Trái Đất có một vựa muối bí ẩn to đùng nằm ở đâu đó đâu. Lượng muối ngay trên bề mặt hành tinh này có vẻ là nguyên nhân hợp lý hơn. Ờ thì không có khúc sử thi huyền bí nào về một thứ có thể bị hòa tan và cuối cùng ướp mặn các đại dương. Xin nhắc lại, thứ chính xác là ta mong đợi không phải thế.

Không, chỉ đơn giản là như thế này:

Halite là một loại đá xuất hiện chủ yếu tại những nơi có mỏ muối. Nước mưa bào mòn phần lớn bề mặt của halite, làm chúng tan ra và rồi hòa vào đại dương.

Natri clorua (Sodium chloride) là một loại đá tự nhiên, dễ thấy và phổ biến, được gọi là halite. Đây là một loại khoáng chất, giống như là đá thạch anh hoặc tràng thạch. Từng có một thời, chất này (và gốc natri của nó) xuất hiện vô cùng phổ biến trên bề mặt của lớp vỏ Trái Đất, nhiều hơn rất nhiều so với bây giờ, nhưng cũng không được trải đều và xuất hiện phổ biến như những loại khoáng chất khác bởi chất này dễ dàng bị hòa tan trong nước, trong điều kiện nhiệt độ và dưới các điều kiện tự nhiên phổ biến của Trái Đất, trong khi đá thạch anh thì không.

Do đó, halite, chứ không phải thạch anh, có xu hướng bị hòa tan trong nước mưa, chảy trên mặt đất và bị cuốn xuống các con sông, hồ, v.v., cho đến khi không còn được thấy nhiều trên bề mặt Trái Đất nữa, chúng bị tan chảy và tích tụ trên các đại dương. Và Natri từ các loại đá như halite phán ứng với Clo để tạo thành hợp chất Natri Clorua.

Thêm nữa, các loại khoáng chất hòa tan trong nước khác, như Canxi Clorua, Magie clorua, Kali oxit, Canxi cacbonat, v.v… cũng xuất hiện trong nước biển với lý do tương tự, chỉ là với hàm lượng ít hơn mà thôi, vì chúng ít bị hòa tan hoặc là do chúng ít phổ biến hơn.

Thế thôi đấy. Không có gì kỳ diệu, hiếm thấy hay đặc biệt đâu.

Nếu như Trái Đất có một biển Amoniac (ammonia) được hình thành bởi những cơn mưa, thì lượng Bạc Clorua (Silver chloride) sẽ bị hòa tan nhiều hơn, khi đó Natri clorua sẽ bị hòa tan ít hơn. Và các khoáng chất dễ bị hòa tan trong Amoniac sẽ xuất hiện phổ biến hơn trên bề mặt Trái Đất, bạn hiểu ý tôi chứ. Lúc đó đại dương amoniac sẽ chứa đầy loại các khoáng chất khác như Bạc clorua, thay vì Natri clorua.

Mà tại sao nước biển không trở nên mặn hơn theo thời gian?

Ngày nay, độ mặn không tăng nhanh cho lắm, bởi phần lớn lượng muối bề mặt đã bị rửa trôi vào các đại dương rồi. Lượng halite mới được tạo ra chỉ xuất hiện một cách chậm rãi thôi, ví dụ các mỏ đá gốc Natri như đá granite, tương tự như quá trình phân hủy muối cũ, như một phần của đại dương bị biến mất trong quá trình hình thành bề mặt trái đất thông qua các chuyển động của các tầng đá. Các nguồn nước khác được hình thành theo kiểu khác như suối nước nóng hay các nguồn khác nữa thì lại không mang theo muối.

Đá Halite bị hòa tan và chảy ra sông hồ, vậy thì tại sao sông sồ không mặn mà chỉ có biển mới mặn?

Câu trả lời là sông là các dòng chảy, muối thì hòa tan từ từ và hạ nguồn của sông là đổ ra biển. Biển lại không phải dòng chảy giống như sông. Sông đổ ra biển chứ biển không đổ về sông. Vậy nên muối trong nước sông đều được cuốn theo dòng nước để ra biển.

Được Disney mời quay lại ‘Guardians of the Galaxy 3’, James Gunn đón nhận cơn mưa chúc mừng từ các sao Marvel Disney sẽ không đưa Deadpool vào vũ trụ điện ảnh Marvel? XEM THÊM: Top Thương Hiệu Mỹ Phẩm Thiên Nhiên Top 20 công ty tổ chức sự kiện hàng đầu Việt Nam Top 18 đơn vị làm dịch vụ Digital Marketing tốt nhất hiện nay Top 15 đơn vị triển khai phần mềm ERP hàng đầu Việt Nam hiện nay

Vì Sao Nước Biển Mặn?

Tại Sao Nước Biển Lại Có Vị Mặn?

Tại Sao Viền Môi Bị Thâm?

Nguyên Nhân Và Cách Trị Thâm Viền Môi Nhanh Chóng Hiệu Quả

Tại Sao Viền Môi Bị Thâm Và Cách Khắc Phục Như Thế Nào?

🌟 Home
🌟 Top