Sự Khác Nhau Giữa Chart Và Graph / Top 13 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2023 # Top Trend | Channuoithuy.edu.vn

Cách Viết Dạng Bài Multiple Charts/Graphs Trong Writing Task 1

IELTS Writing là phần thi kỹ năng thứ 3 trong bài thi IELTS. Phần thi này kéo dài 60 phút và được chia thành 2 phần, bao gồm: IELTS Writing Task 1 – Describe some visual information (Mô tả thông tin dưới dạng hình ảnh) và IELTS Writing Task 2 – Respond to a point of view or argument or problem ( Hồi đáp một luận điểm hoặc một vấn đề). Mặc dù, Task 1 chỉ chiếm ⅓ tổng số điểm của phần Writing trong bài thi IELTS nhưng thí sinh không nên vì thế mà xem nhẹ tầm quan trọng của phần này. Dạng bài Multiple Charts/Graph là một trong những dạng bài khó, thường xuyên xuất hiện trong Task 1. Để làm tốt dạng đề này thí sinh cần tìm hiểu kỹ càng về cách ra đề, cách xử lý dạng đề cũng như những từ vựng và cấu trúc câu nên được sử dụng.

Tổng quan về dạng bài Multiple Charts/Graphs Giới thiệu sơ lược về dạng bài Multiple Charts/Graph Về dạng bài Multiple Charts/Graphs

Multiple Charts/Graph hay còn được gọi là dạng bài Mixed Charts, gồm có 2 bảng biểu biểu thị 2 thông tin khác nhau, 2 bảng biểu này có thể cùng hoặc khác loại. Thí sinh cần đưa ra so sánh về số liệu, nhận xét các điểm giống và khác nhau, cuối cùng đưa ra kết luận về mối tương quan giữa hai bản biểu.

Một số dạng bài Multiple Charts thường gặp:

Table (biểu đồ bảng) kết hợp với Pie chart (biểu đồ tròn)

Ví dụ: The pie chart below shows the main reasons why agricultural land becomes less productive. The table shows how these causes affected three regions of the world during the 1990s.

Table (biểu đồ bảng) và Line chart (biểu đồ đường)

Table (biểu đồ bảng) kết hợp Bar chart (biểu đồ cột)

Ví dụ : Summarize the information by selecting and reporting the main features and make comparisons where relevant. The given charts give information about the number of students at university in the UK from 1991 to 2001, government spending and the types of family economic background they came from in 1991.

Pie chart (biểu đồ tròn) và Line chart (biểu đồ đường)

Pie chart(biểu đồ tròn) kết hợp Bar chart (biểu đồ cột)

Line chart(biểu đồ đường) và Bar chart( biểu đồ cột)

Summarize the information by selecting and reporting the main features and make comparisons where relevant.

Kết hợp giữa Line graph (biểu đồ đường), bar chart (biểu đồ cột) và pie chart (biểu đồ tròn)

Phân tích dạng bài Multiple charts/graphs trong IELTS Writing Task 1

Thoạt nhìn vào đề, thí sinh có thể sẽ hoang mang vì sự xuất hiện của 2 hoặc nhiều hơn 2 biểu đồ khác nhau; tuy nhiên, bản chất của dạng biểu đồ kết hợp là vô cùng đơn giản : Thí sinh chỉ cần phân tích riêng lẻ từng dạng biểu đồ đề đã cho và đặt mỗi biểu đồ vào 1 đoạn body riêng biệt – vì bản chất thông tin ở mỗi biểu đồ thường khác nhau về thành phần và đơn vị; thế nên, việc kết hợp hay so sánh thông tin giữa chúng trong cùng 1 đoạn body là không thể.

Một số lưu ý khi phân tích biểu đồ

Các điểm nổi bật thí sinh có thể cân nhắc, chọn lọc và đưa vào phần miêu tả:

Số liệu/ Điểm cao nhất/thấp nhất.

Điểm bắt đầu/kết thúc

Xu hướng chính/ Thay đổi đáng kể của nhóm dữ liệu

Nếu biểu đồ không thể hiện thời gian, dữ liệu nên được tường thuật ở thì hiện tại đơn.

Bố cục dạng bài Multiple charts/graphs

Tương tự các dạng bài khác, dạng biểu đồ kết hợp cũng gồm 3 phần Introduction, Overview và Body.

Ở dạng bài này, thí sinh cũng viết mở bài tương tự như các dạng 1 loại biểu đồ : paraphrase lại những từ/cụm từ trong đề bài và viết 2 hoặc nhiều câu hơn theo từng chart/graph riêng lẻ tùy vào đề bài . Ở phần này, thí sinh nên viết từ 1-2 câu. Thí sinh có thể áp dụng mẫu câu sau :

The bar/chart + illustrates/ gives information about/ shows/ depicts + (đối tượng 1 đề bài đưa) + while/and + the table/picture provides information about/describes/compares + (đối tượng 2 đề bài đưa).

: The line graph shows visits to and from the UK from 1979 to 1999, and the bar graph shows the most popular countries visited by UK residents in 1999.

The line graph illustrates the number of visitors from and to UK between 1979 and 1999, while the bar chart describes the most renowned places to visit by the UK in the year 1999.

Đối với dạng bài này, thí sinh có thể viết một cách đơn giản và hiệu quả bằng cách xác định thông tin nổi bật ở mỗi biểu đồ và sau đó đặt các câu vào phần Overview.

Các nhóm thông tin nổi bật trong mỗi biểu đồ mà thí sinh có thể quan sát và ghi lại gồm có:

Số liệu cao nhất/ thấp nhất

Sự chênh lệch giữa các số liệu

Sự thay đổi theo thời gian hay xu hướng tổng quát ( áp dụng khi dạng biểu đồ có sự thay đổi về mặt thời gian)

Lưu ý: Thí sinh không đi sâu vào phân tích chi tiết hay đưa ra số liệu cụ thể trong phần này.

Một số từ và cụm từ thí sinh có thể sử dụng để dẫn vào phần Overview : Overall/ Generally / It can be seen that / In summary/ In general / Generally.

Sau khi chỉ ra được xu hướng nổi bật nhất của từng biểu đồ, thí sinh có thể nối các câu chứa thông tin lại bằng cách sử dụng “and” hoặc “while/ meanwhile”

Overall, the number of tourists visiting to and from United Kingdom increased significantly over the period of 20 years, and the figure of UK residents was always higher than that of UK visitors. It can also be seen that France is the most popular tourist destination, following by Spain.

Hay In summary, Europe has the highest percentage of total land degraded,while the least affected region is North America. Generally, the main cause of this global issue is over-grazing.

Ví dụ : Body With regard to the line graph, during the first quarter of a typical year, average temperature quickly rises from 22oC and reaches a peak of approximately 28oC. This number declines gradually in the following months and reaches its lowest point of roughly 18oC in July. Then, the weather tends to get warmer as the average temperature increases considerably to nearly 26o C in October, before falling steadily in the final months. As can be seen from the bar graph, the average rainfalls in the first two months are relatively low – slightly under 20 mm. This figure increases fivefold in March (95 mm) and reaches a peak at about 280 mm in April. The weather tends to be drier in the following months as the average precipitation drops remarkably and reaches it bottom at nearly 10 mm in July. Rainfall rises minimally during the third quarter before experiencing a sixfold increase in October, and then exceeds 150 mm in the next month. Finally, the average rainfall decreases to 50 mm in December.

Ở phần body, thí sinh không nên kết hợp việc phân tích số liệu của cả hai biểu đồ cùng một lúc vì đơn vị tính ở các dạng biểu đồ thường không tương đồng nên để chọn ra điểm để so sánh sẽ rất khó. Ngoài ra, Task 1 chỉ chiếm 1/3 số điểm vậy nên dành nhiều hơn 20 phút cho Task 1 sẽ gây trở ngại cho việc hoàn thành Task 2, phần chiếm 2/3 tổng số điểm. Vậy nên, phương án tối ưu nhất trong dạng bài biểu đồ kết hợp Multiple charts chính là phân tích lần lượt từng biểu đồ một theo từng đoạn.

Cụ thể hơn :

Đoạn 1: Phân tích chi tiết ý đã nêu ở overview hoặc điểm nổi bật của chart/graph thứ 1

Đoạn 2: Phân tích chi tiết ý đã nêu ở overview hoặc điểm nổi bật của chart/graph thứ 2

Đoạn 3 : (nếu có) phân tích tương tự với chart/graph thứ 3

Để bắt đầu chuyển từ overview sang body để miêu tả số liệu, thí sinh có thể dùng các cụm từ như “With regard to / Concerning / Regarding / As can be seen from ” + tên của biểu đồ. Ví dụ : Regarding the table/ Concerning the pie chart

Thí sinh chỉ nên miêu tả những thông tin nổi bật nhất và đưa ra các đánh giá, so sánh dựa vào số liệu và mối tương quan giữa các biểu đồ ; tránh liệt kê toàn

bộ thông tin của các biểu đồ.

Ở ví dụ trên, đoạn 1 nói về sự thay đổi của nhiệt độ, bao gồm nhiệt độ cao nhất, thấp nhất , biểu hiện qua biểu đồ đường. Sau đó, đoạn 2 nói về dạng biểu đồ còn lại – biểu đồ đường, và miêu tả lượng mưa cao nhất và thấp nhất trong khoảng thời gian được ghi nhận, cũng như so sánh giữa các tháng có độ chênh lệch lượng mưa lớn.

Hai đoạn ở body tả 2 dạng số liệu khác nhau, và các số liệu được chọn đưa vào câu trả lời có đặc điểm nổi bật như cao nhất, thấp nhất và luôn có sự so sánh giữa các thành phần trong từng dạng biểu đồ.

Dạng bài Multiple Charts/Graphs – biểu đồ kết hợp thoạt nhìn có vẻ phức tạp vì lượng thông tin được đưa vào qua các dạng biểu đồ là rất lớn, tuy nhiên cách tiếp cận và xử lý các số liệu trong body tương đối giống với cách xử lý các dạng bài có 1 dạng biểu đồ. Thí sinh cần lưu ý lượng thông tin cần đưa vào trong 2 phần Introduction và Overview vì đây là 2 phần có sự khác biệt lớn nhất so với dạng bài có 1 dạng biểu đồ ; dù lượng thông tin lớn, thời gian hợp lý để hoàn thành 1 bài biểu đồ kết hợp cũng tương tự như các dạng khác chính là 20 phút.

Kinh nghiệm phòng thi rất quan trọng và thi thử là cách rất tốt để tích lũy kinh nghiệm. Đề thi IELTS tại ZIM rất sát đề thi thật, đánh giá trình độ chính xác, nhận kết quả ngay sau khi thi, và phần thưởng 1.000.000đ cho giải nhất ….

Sự Khác Nhau Giữa Foreach Và For

Có hai loại lập trình viên. Người viết code để làm và người muốn viết code tốt. Ở đây chúng ta nhận được một câu hỏi lớn. Code tốt là gì? Code tốt xuất phát từ thực hành lập trình tốt. Thực hành lập trình tốt là gì? Trên thực tế, mục tiêu của tôi ở đây không phải là để nói về thực hành lập trình tốt (tôi đang lập kế hoạch để viết code sắp tới!), Chứ không phải để nói chuyện nhiều hơn về cách viết một cái gì đó sẽ hiệu quả hơn. Tôi chỉ xem xét sâu hơn trong hai tuyến được sử dụng phổ biến hiện nay, và sự khác biệt của chúng trong các khía cạnh về hiệu suất.

Phải làm quen với IL và assembly. Một số kiến ​​thức của JIT cũng cần thiết để hiểu điều gì đang xảy ra.

Tôi sẽ ví dụ một phần nhỏ mã của 2 vòng lặp phổ biến là for và foreach. Chúng ta sẽ xem xét một số mã và sẽ thấy những gì nó làm được, chi tiết hơn về các chức năng.

Cả hai mã sẽ tạo ra kết quả tương tự. foreach được sử dụng trên đầu trang của collections để thông qua trong khi for có thể được sử dụng trên bất cứ đâu. Tôi sẽ không giải thích gì về các mã. Trước khi đi vào sâu hơn, tôi nghĩ rằng các bạn đã quen thuộc với ILDASM được sử dụng để tạo ra mã IL, và công cụ CorDbg mà thường được sử dụng để tạo ra mã biên dịch JIT.

Mã IL xuất bởi biên dịch C # được tối ưu hóa đến một số mở rộng, trong khi để lại một số phần đến JIT. Dù sao, điều này không thực sự quan trọng đối với chúng ta. Vì vậy, khi chúng ta nói về việc tối ưu hóa, có hai điều chúng ta phải xem xét. Đầu tiên là biên dịch C # và thứ hai là JIT.

Vì vậy, thay vì tìm kiếm sâu hơn vào mã IL, chúng ta sẽ thấy thêm về mã được phát ra bởi JIT. Đó là đoạn code sẽ chạy trên máy tính của chúng ta. Bây giờ ta đang sử dụng bộ xử lý AMD Athlon 1900 +. Mã này rất phụ thuộc vào phần cứng của chúng ta. Vì vậy, những gì bạn có thể nhận được từ máy tính của bạn có thể khác với tôi đến một số mở rộng. Dù sao, các thuật toán sẽ không thay đổi nhiều.

Trong khai báo biến, foreach có năm khai báo biến (ba số nguyên Int32 và hai mảng Int32) trong khi for chỉ có ba (hai số nguyên Int32 và một mảng Int32). Khi nó vào thông qua vòng lặp, foreach sao chép các mảng hiện tại đến một for hoạt động mới. Trong khi for không quan tâm phần đó.

Ở đây, tôi sẽ chỉ vào sự khác biệt chính xác giữa các mã.

cmp dword ptr [eax+4],0 i<myInterger.Length jle 0000000F mov ecx,dword ptr [eax+edx*4+8] total += myInterger[i] inc edx ++i cmp esi,dword ptr [eax+4] i<myInterger.Length jl FFFFFFF8

Tôi sẽ giải thích những gì đang xảy ra ở đây. ESI đăng ký giữ giá trị và chiều dài của mảng myInteger được so sánh ở hai đoạn. Đầu tiên được thực hiện chỉ một lần để kiểm tra điều kiện và nếu vòng lặp có thể tiếp tục, giá trị được thêm vào. Đối với các vòng lặp, nó được thực hiện ở đoạn thứ hai. Bên trong vòng lặp, nó được tối ưu hóa tốt và như đã giải thích, công việc được thực hiện tối ưu hóa hoàn hảo.

cmp esi,dword ptr [ebx+4] i<myInterger.Length jl FFFFFFE3 cmp esi,dword ptr [ebx+4] i<myInterger.Length jb 00000009 mov eax,dword ptr [ebx+esi*4+8] mov dword ptr [ebp-0Ch],eax mov eax,dword ptr [ebp-0Ch] add dword ptr [ebp-8],eax total += i inc esi ++i cmp esi,dword ptr [ebx+4] i<myInterger.Length jl FFFFFFE3

Bất cứ ai cũng sẽ nói rằng cả hai đều không giống nhau. Nhưng chúng ta sẽ xem xét lý do tại sao nó khác với FOR. Lý do chính của sự khác biệt là cả hai đều khác nhau hiểu bởi trình biên dịch. Các thuật toán chúng đang sử dụng là khác nhau. Nó đang làm điều tương tự một lần nữa và một lần nữa không có lý do!

cmp esi,dword ptr [ebx+4] jl FFFFFFE3 cmp esi,dword ptr [ebx+4]

Nó cũng sử dụng báo cáo di chuyển không cần thiết làm giảm hiệu suất của mã. foreach được nghĩ rằng tất cả mọi thứ như collection và đối xử với chúng như collection. Tôi cảm thấy, sẽ làm giảm hiệu suất công việc.

Vì vậy, tôi cảm thấy rằng nếu bạn đang có kế hoạch để viết mã hiệu suất cao mà không phải là collection, sử dụng cho FOR. Ngay cả đối với collection, foreach có thể nhìn thuận tiện khi sử dụng, nhưng nó không phải là hiệu quả. Vì vậy, tôi đề nghị tất cả mọi người sử dụng FOR thay vì FOREACH bất kỳ lúc nào.

Trên thực tế, tôi đã làm một nghiên cứu nhỏ về vấn đề hiệu suất của các mã chủ yếu trên .NET. Tôi thấy rằng thực sự phải biết làm thế nào để JIT hoạt động và gỡ lỗi các mã được tạo ra bởi trình biên dịch JIT. Phải mất một thời gian để hiểu được mã.

Sự Khác Nhau Giữa Work Và Job

Sự khác nhau giữa Work và Job

Th.hai, 18/08/2014, 11:13

Lượt xem: 7251

Trước hết, về mặt ngữ pháp, work vừa là một động từ lại vừa là một danh từ, trong khi job chỉ là danh từ thôi.

Giờ chúng ta sẽ nói tới nghĩa của các từ này.

Work – làm việc – là một hoạt động mà bạn dùng tới nỗ lực hay năng lượng, thường là để đạt được một mục đích hay nhiệm vụ gì đó chứ không phải là để vui chơi, giải trí. Từ này ngược hẳn nghĩa với từ play, và to work có nghĩa là thực hiện hành động đó.

Nhìn chung, chúng ta làm việc để kiếm tiền và chúng ta thường dùng từ này như một động từ; để miêu tả những gì việc chúng ta làm để kiếm tiền. Ví dụ: I work for the BBC – Tôi làm cho đài BBC.David works in a café – David làm ở một quán café.

Trong các ví dụ này, chúng ta không biết chính xác nhiệm vụ hay trách nhiệm của người đó là gì. David làm việc ở quán café nhưng chúng ta không biết anh ấy làm việc dọn dẹp, phục vụ bàn, hay nấu đồ ăn.

Vì thế work có một nghĩa chung chung, trong khi job lại rất cụ thể, và nghĩa thông dụng nhất của từ này là tên của chính công việc mà bạn làm để kiếm tiền. Ví dụ,

David has now got a new job. He is a cook in a small restaurant. David vừa kiếm được việc mới. Anh làm đầu bếp tại một tiệm ăn nhỏ.

Trong ví dụ này, chúng ta biết chính xác công việc mà David làm là gì vì chúng ta biết job – nghề của anh ấy là gì.

Tóm lại, chúng ta có thể nói rằng từ job chỉ một nghề, một công việc cụ thể hay một vị trí nghề nghiệp nào đó, như cook – đầu bếp, teacher – giáo viên, hay banker – nhân viên ngân hàng, trong khi work nói tới một hành động làm việc chung chung.

Ví dụ, một người có thể working in their garden – làm việc trong vườn, có thể cắt cỏ, trồng hoa. Tuy nhiên đó là hoạt động vào thời gian rảnh rỗi của người đó, chứ không phải là một phần công việc mà họ vẫn làm để kiếm tiền của người đó.

Khi là động từ, work còn có các nghĩa khác, chẳng hạn, nếu bạn tả một chiếc máy làm việc như thế nào, tức là bạn giải thích nó hoạt động ra sao.

Ví dụ: Can someone show me how the photocopier works? I don’t know how to use it. – Ai có thể chỉ cho tôi máy photocopy làm việc như thế nào không? Tôi không biết dùng nó như thế nào cả.

Tương tự, bạn có thể dùng từ work để nói nếu chiếc máy làm việc/hoạt động tốt.

Ví dụ: Don’t try to use that computer. It doesn’t work. We are waiting for the engineer to fix it. – Đừng có dùng máy tính đó. Nó không làm việc. Chúng tôi đang đợi thợ đến sửa nó.

Cuối cùng, mặc dù job là tên gọi công việc mà bạn làm để kiếm tiền, job cũng chỉ một việc cụ thể mà bạn phải làm; một việc đòi hỏi làm việc và một việc bạn có thể xác định cụ thể.

Ví dụ: I have a few jobs to do at home this weekend. I need to paint my bedroom, fix a broken door and cut the grass. – Tôi có một vài công việc phải làm ở nhà vào cuối tuần. Tôi cần phải quét vôi phòng ngủ, chữa cái cửa ra vào bị hỏng và cắt cỏ.

I’ve been working hard for the last few hours so I think it’s time for me to take a break– Tôi đã làm việc rất chăm chỉ trong suốt mầy tiếng đồng hồ vừa qua rồi, vì thế tôi nghĩ là đã đến lúc tôi có thể nghỉ ngơi.

Fortunately, the work that I do in my job is very interesting, so even though it is hard work, I don’t think I will look for another job! – Rất may là công việc mà tôi làm trong nghề của mình là khá thú vị, vì vậy mặc dù cũng khá vất vả nhưng tôi không nghĩ là tôi sẽ đi kiếm một nghề/một công việc khác.

Thế còn bạn thì sao, Giuliana? Are you a student or do you have a job – Bạn là sinh viên hay bạn đã đi làm và có một nghề rồi?

Whatever you do, is it hard work? – Bạn làm gì đi chăng nữa thì đó có phải làm một công việc vất vả hay không?

Source: bbc

Sự Khác Nhau Giữa Chất Và Lượng

Chất:

Khái niệm: Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng, đó là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính, những yếu tố cấu thành sự vật, hiện tượng, nói lên sự vật, hiện tượng đó là gì, phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng khác. Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có những chất vốn có, làm nên chính chúng. Nhờ đó chúng mới khác với các sự vật, hiện tượng khác. Ví dụ: tính lỏng của nước là quy định về chất của nước so với nước ở dạng khí và dạng rắn.

Tính chất: – Có tính khách quan – Là cái vốn có của sự vật , hiện tượng, do thuộc tính hay những yếu tố cấu thành quy định. – Mỗi sự vật có rất nhiều thuộc tính, chính vì thế mà mỗi sự vật cũng có nhiều chất vì trong mỗi thuộc tính có chất. – Những thuộc tính cơ bản được tổng hợp lại và tạo nên chất – Mỗi sự vật có vô vàn chất: sự vật có vô vàn thuộc tính nên sẽ có vô vàn chất.

Lượng:

Khái niệm: Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật, biểu hiện bằng con số các thuộc tính, các yếu tố cấu thành nó. Lượng là cái khách quan, vốn có của sự vật, quy định sự vật ấy là nó. Lượng của sự vật không phụ thuộc vào ý chí, ý thức của con người. Lượng của sự vật biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm… Ví dụ: nước sôi ở 100[SUP]0[/SUP]C, nhiệt độ cơ thể người bình thường là 37[SUP]0[/SUP]C,…

Tính chất: – Lượng được thể hiện bằng con số hay các đại lượng dài ngắn khác nhau – ở các sự vật phức tạp không thể đưa ra các con số cụ thể thì lượng được trừu tượng hóa, khái quát hóa. – Lượng là cái khách quan, vốn có bên trong của sự vật

Mối quan hệ giữa lượng và chất: – Chất và lượng là hai mặt đối lập nhau: chất tương đối ổn định, trong khi đó lượng thường xuyên thay đổi. tuy nhiên, hai mặt này không tách rời nhau mà tác động qua lại lẫn nhau. – Lượng thay đổi có thể dẫn đến sự thay đổi về chất

Ý nghĩa mối quan hệ: – Có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn và nhận thức – Chống lại quan điểm “ tả khuynh” và “ hữu khuynh” – Giúp ta có thái độ khách quan khoa học và có quyết tâm thực hiện các thay đổi khi có các điều kiện đầy đủ.

Sự Khác Nhau Giữa Xml Và Html

Có thể bạn đã từng nhầm lẫn giữa hai khái niệm XML và HTML. Nhưng đừng lắng, bài viết sau đây sẽ giúp bạn phân biệt sự khác nhau về chúng.

XML là gì?

XML là viết tắt của cụm từ eXtensible Markup Language, còn được hiểu là ngôn ngữ đánh dấu mở rộng với mục đích chính là miêu tả dữ liệu.

Nó được xem như một tập hợp con đơn giản, giúp ích trong việc chia sẻ thông tin giữa các hệ thống. Đặc biệt, tất cả mọi đặc tả dữ liệu về XML đều phải tuân thủ theo quy luật và cú pháp.

HTML là gì?

HTML chính là chữ viết tắt của cụm Hypertext Markup Language. Nó sở hữu khả năng sáng tạo, sắp xếp cấu trúc trong một website, ứng dụng và phân chia chúng thành những đoạn văn, heading, links…

Một điểm cần lưu ý là đây không phải ngôn ngữ lập trình, nó cũng không có khả năng xây dựng chức năng “động”.

Sự khác nhau giữa XML và HTML

Hai ngôn ngữ này được thiết kế nhằm phục vụ cho các mục đích khác biệt. Đối với XML ứng dụng chủ yếu trong việc lưu trữ dữ liệu, thì HTML lại dùng để hiển thị thông tin đó. Tuy HTML vẫn có khả năng lưu trữ, nhưng Thiết Kế Web Số khuyến cáo không nên thực hiện.

Để hiểu rõ hơn về vấn đề, thì bạn có thể hình dung chiếc bàn bếp cùng cái tủ lạnh gồm nhiều ngăn chứa nhiều thức ăn mà gia đình bạn dự trữ. Khi nấu nướng, bắt buộc chúng ta phải đặt rau củ, thịt cá sử dụng trên mặt bàn. Mặc dù nó có khả năng chứa toàn bộ đồ ăn, thức uống lên mặt bàn, nhưng đây là cách làm phản khoa học, vì nếu tình trạng này kéo dài dễ gây vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm và toàn bộ mọi thứ nhanh chóng hư hại.

Bên cạnh đó, XML và HTML vẫn sở hữu vài nét tương đồng như đều là ngôn ngữ đánh dấu, thao tác thực hiện bằng thẻ…