Sự Khác Biệt Giữa Việt Nam Và Trung Quốc / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Channuoithuy.edu.vn

Một Sự Khác Biệt Giữa Việt Nam Và Trung Quốc

Tôi có khá nhiều đồng nghiệp, vì một lý do nào đó, thường đi Việt Nam và Trung Quốc. Những lúc tán gẫu, tôi hay hỏi cảm nghĩ của họ về hai đất nước ấy. Chúng tôi đủ thân để có thể nói thật với nhau về nhiều điều. Một trong những điểm chung hầu như mọi người đều đồng ý với nhau là cách nhận xét về con người Việt Nam và Trung Quốc.

Xin tóm tắt vài ý chính:

Với tư cách cá nhân và trong quan hệ liên cá nhân (interpersonal), nói chung, người Việt Nam thân thiện hơn hẳn người Trung Quốc. Nhiều bạn tôi nêu lên một kinh nghiệm: Đến một quốc gia mới nào đó, một trong những việc đầu tiên họ làm là ngồi hay đứng ở một góc phố nào đó, với ly cà phê hay chiếc máy ảnh trên tay, ngắm thiên hạ qua lại. Những dòng người đi qua, lúc thưa thớt lúc đông đảo; lúc thảnh thơi lúc hối hả. Hết lớp này đến lớp khác. Họ chỉ ngắm và cố nắm bắt một nét gì đó chung nhất giữa hàng ngàn con người xa lạ kia. Theo họ, nét chung của người Trung Quốc là tính hướng đích (goal-oriented): Mọi người cứ cắm cúi đi, nhắm đến việc thực hiện một ý định nào đó của mình, ví dụ, đi thật nhanh đến chỗ làm hoặc một nơi nào đó. Khi thực hiện điều đó, họ không hề quan tâm đến người khác. Và bất chấp người khác. Không phải là họ chen lấn. Nói đến chen lấn là nói đến một chút ý thức về sự hiện diện của người khác. Trong phần lớn trường hợp, trên đường phố, người Trung Quốc không hề có ý thức đến sự hiện hữu của người khác. Họ cứ đi thẳng. Như chỉ có một mình họ. Ai không tránh họ thì họ đụng thẳng vào, lấy vai hích, mở ra một lối đi. Vậy thôi. Người Việt Nam thì khác. Họ đi và họ nhìn chung quanh. Ngay cả khi chen lấn thì họ cũng quan sát người khác để biết khi nào cần chen lấn và chen lấn đến mức độ nào thì dừng lại. Người Việt cũng thường đi thành từng cặp hoặc nhóm. Giữa họ với nhau lúc nào cũng có tiếng nói hoặc tiếng cười. Có khi vì mải mê cười và nói, họ không để ý đến chung quanh. Nhưng ít nhất họ cũng để ý đến nhau.

Khi được người ngoại quốc chận lại hỏi đường, người Việt cũng hay dừng lại và biểu hiện một số cố gắng giúp đỡ hơn người Trung Quốc. Trong trường hợp không biết tiếng Anh, người Trung Quốc thường lạnh lùng đi thẳng; người Việt Nam thường cười ngượng nghịu và lắc đầu. Thấp thoáng có chút gì như áy náy về việc mình không biết nói tiếng Anh và/hoặc không giúp đỡ được người khác.

Quán xá ở Việt Nam và ở Trung Quốc đều ồn ào như nhau. Nhưng từ lỗ tai của những người không biết tiếng Việt và tiếng Tàu, người ta có cảm tưởng như người Tàu thường cãi cọ, còn người Việt thì thường đùa giỡn.

Tuy nhiên, với tư cách công tư chức, trong vai trò của người làm việc, nhiều bạn tôi nói: Họ thích người Tàu hơn người Việt.

Người Việt dường như không phân biệt việc riêng và việc chung; quan hệ cá nhân và quan hệ công chúng; giữa tình cảm và trách nhiệm; không tập trung để giải quyết hẳn một việc gì. Nói chuyện với nhau thì rất vui nhưng sau đó, không ai dám chắc là công việc có hoàn tất như dự tính hay không. Nhiều việc rất đơn giản nhưng cứ kéo dài dây dưa từ ngày này qua ngày khác, thậm chí, từ tháng này qua tháng khác. Có khi, cuối cùng, phải bỏ dở.

Phần lớn người Trung Quốc, ngược lại, làm việc như một doanh nhân đầy tính toán nhưng rất năng nổ. Họ muốn làm được việc và xem mọi đối tác như những khách hàng cần được mua chuộc. Một số bạn bè tôi kể: sang bàn bạc các dự án hợp tác chung với các đại học ở Trung Quốc, mất thì giờ nhất là chương trình ăn uống. Sáng, mới mở mắt, đã có người đến tận khách sạn mời đi ăn. Ăn xong, đến đại học, chào hỏi và giới thiệu qua quýt chút xíu, lại được mời ăn nữa, ngay trong trường. Ăn xong, bàn việc tiếp. Đến trưa, lại ăn. Cực kỳ thịnh soạn. Rồi bàn việc tiếp. Giữa chừng, mọi người dừng lại để ăn. Chiều, lại ăn. Ăn xong, có người chở đi loanh quanh xem phố xá. Rồi lại ăn, trước khi về khách sạn ngủ. Người ta tính mỗi ngày được mời ăn uống không dưới 7,8 lần. Ngày nào cũng thế. Ngay cả những người kiêng ăn cũng cảm kích: Người ta cảm thấy được chiều chuộng và được tôn trọng. Về lại Úc, phần lớn không giấu được thiện cảm. Người này kể với người khác. Số người thích tìm kiếm các dự án hợp tác với Trung Quốc càng ngày càng nhiều.

Nói một cách tóm tắt, theo các bạn tôi, người Việt, tự bản chất, vẫn là những nông dân thật thà, chất phác và dễ thương nhưng chỉ biết những cái lợi nhỏ trước mắt và ít đáng tin cậy trong công việc; người Trung Quốc, ngược lại, là những doanh nhân xem mọi đối tác là những khách hàng cần được ve vãn và khai thác. Việt Nam là một địa điểm tuyệt hảo để đi du lịch, nhưng Trung Quốc mới là một địa điểm để hợp tác và làm ăn.

Dĩ nhiên, ở trên chỉ là ý kiến của năm, mười người. Để có một kết luận chính xác, cần có một cuộc thăm dò rộng lớn hơn. Nhưng bằng kinh nghiệm cá nhân của người Việt, chúng ta cũng rất dễ thấy những nhận định ấy có lẽ không quá xa sự thật.

Tôi kể lại ý kiến của các bạn tôi không phải để chê bai người Việt và khen ngợi người Trung Quốc. Tôi chỉ muốn nêu lên vấn đề để chúng ta cùng suy nghĩ. Để cùng phát triển. Nguồn: Blog Nguyễn Hưng Quốc (VOA)

Sự Khác Nhau Giữa Tết Trung Thu Trung Quốc Và Việt Nam

Tết Trung Thu hay còn gọi là Tết Nguyên Tiêu. Không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà cái tết này diễn ra nhiều nước ở Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản hay Hàn Quốc…với nhiều nghi lễ khác biệt nhau.

Tết Trung Thu hay còn gọi là Tết Nguyên Tiêu. Không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà cái tết này diễn ra nhiều nước ở Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản hay Hàn Quốc…với nhiều nghi lễ khác biệt nhau.

Tương truyền, tết trung thu có nguồn gốc từ Trung Quốc sau đó du nhập vào Việt Nam. Chuyện kể rằng, từ thời vua Đường Minh Hoàng (713-741 Tây Lịch) đi dạo chơi vườn Ngự Uyển vào đêm rằm tháng 8 âm lịch. Ngày rằm trăng tròn vành vạnh, sáng trong, tiết trời mát mẻ. Đang thưởng thức cảnh đẹp bất ngờ nhà vua gặp đạo sĩ La Công Viễn còn được gọi là Diệp Pháp Thiện. Đạo sĩ đã hóa phép đưa nhà vua lên cung trăng. Ở đấy, cảnh còn đẹp hơn cả trần thế, nhà vùa vui chơi hưởng lạc cùng các nàng tiên xinh đẹp múa hát đến lúc quên cả về. Sau khi trở lại dân gian thì vua vẫn còn luyến tiếc.

Sau đó, để nhớ đến ngày được lên cung trăng, nhà vua lệnh cho ra đời Khúc Nghê Thường Vũ Y và cứ đến đêm rằm tháng 8 hàng năm khắp mọi nơi lại tổ chức rước đèn và bày tiệc ăn mừng trong khi nhà vua cùng với Dương Quí Phi uống rượu dưới trăng ngắm đoàn cung nữ múa hát để kỷ niệm.

Bất đầu từ đây thì tết trung thu hay tết nguyên tiêu ra đời và được tổ chức hàng ngày vào ngày 15.8 (Âm lịch). Trong tiếng Trung, “Nguyên” có nghĩa là đầu tiên, “Tiêu” có nghĩa là mặt trăng, “tết Nguyên Tiêu” nghĩa là đêm rằm đầu tiên của năm mới.

Trung thu Trung Quốc và Việt Nam đều là lễ hội lớn và có tổ chức rước đèn trong đêm rằm.

Ý nghĩa tết trung thu Trung Quốc và Việt Nam

Ngày hội tết trung thu Trung Quốc

Dù bất cứ truyền thuyết nào đi chăng nữa thì ở Trung Quốc từ “trung thu” được xuất hiện lần đầu tiên trong nghi thức của người Chu tức Chu Nguyên Chương (1328-1398). Trong những ngày lễ hội các gia đình sẽ bày tiệc ngắm trăng, trẻ em được tham gia chơi nhiều trò chơi như rước đèn cá chép, đèn kéo quân, múa lân, người lớn coi đêm Rằm tháng Tám là đêm của thơ ca, hẹn hò đôi lứa.

Tết trung thu Trung Quốc vào đêm rằm có nhiều hoạt động sôi nổi như:

Người Trung Quốc cổ đại luôn tin rằng, có một sự liên kết mật thiết giữa Mặt trăng và nước. Vốn từ trong một truyền thuyết của người Choang ở Trung Quốc, Mặt trăng và Mặt trời được xem là cặp vợ chồng và các ngôi sao là con cái. Người ta liên tưởng rằng, lúc trăng tròn nhất là lúc mặt trăng đang mang thai, sau khi sinh con xong, Mặt trăng sẽ bị khuyết đi và có hình lưỡi liềm. Và điều đặc biệt từ câu chuyện này mà khiến người Choang tin rằng, phụ nữ có vị trí hết sức quan trọng và phải được tôn vinh vào ngày Rằm tháng 8 – khi Mặt trăng tròn và sáng nhất trong năm.

Vào đêm rằm mọi người thường đi ngắm trăng bởi trong năm ngày rằm tháng 8 trăng tròn vành vạnh, sáng và đẹp nhất.

Người dân Trung Quốc có tục lệ ăn bánh trung thu. Ban đầu những chiếc bánh tạo ra để làm vật cúng tế thần mặt trăng, sau này chúng trở thành một món ăn không thể thiếu trong ngày tết này. Bánh để ăn, biếu người thân trong gia đình, đãi khách….Cũng chính vì thể mà tết trung thu còn gọi tên khác nữa là “tết đoàn viên”.

Đêm rằm những cô nàng thiếu nữ sẽ có lễ cúng trăng với mong muốn mình có vẻ đẹp thanh cao, thuần khiết như Hằng Nga, trắng sáng lung linh vĩnh cửu tựa như mặt trăng tròn.

Đây là một trong những hoạt động ý nghĩa mà được mọi người mong chờ đặc biệt là thiếu nữ với em nhỏ. Những chiếc đèn hoa đăng lung linh được thả trôi ra ngoài sông được làm từ giấy dầu thiết kế hình hoa sen hay chiếc thuyền…thắp nến ở giữa. Chiếc thuyền trôi ra xa mang theo bao ước nguyện tâm linh, ai cũng mong muốn chiếc đèn của mình bay xa để những điều ước trở thành hiện thực.

Vào lễ tết trung trung thu mọi người còn đi rước đèn, giải câu đố vô cùng thú vị, không khí nô nước, náo nhiệt từ người gia cho tới em nhỏ.

Ngày hội tết trung thu Việt Nam

Có nguồn gốc từ Trung Quốc sau được du nhập vào Việt Nam, không những vậy văn hóa nước ta cũng chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Quốc vì thế rằm trung thu khá giống nhau, diễn ra vào ngày 15.8 (Âm Lịch) không khí vui tươi, náo nhiệt trên khắp cả nước.

Theo truyền thuyết kể lại rằng, tết trung thu có từ thời nhà Lý, ban đầu chỉ tổ chức ở kinh thành Thăng Long với hội đua thuyền, múa rối nước và rước đèn. Người Việt tâm niệm cứ đến ngày này là lúc những người nông dân tạ ơn Rồng đã mang mưa tới cho mùa màng bội thu.

Các hoạt động diễn ra

Khi tết trung thu đến mọi người sẽ làm bánh, biếu người thân những hộp bánh ngon, trẻ em được tổ chức những trò chơi vui rước đèn, bày cỗ, phá cỗ…dưới ánh trăng sáng trong. Người lớn thi nhau bày những mâm cỗ đẹp nhất bày tỏ lòng thành kính dâng lên trời đất.

Lễ rước đèn là hoạt động được yêu thích nhất. Trẻ em sẽ cầm trên tay những chiếc đèn lồng xinh xắn làm từ tre và giấy gió hay bọc vải lụa cùng với những họa tiết như hoa đào, hoa mai, công phượng… dưới thời nhà Lý. Đèn lồng là sự biểu hiện của ấm no, hạnh phúc và tình cảm gia đình ấm áp, quây quần bên nhau.

Tết trung thu Trung Quốc và Việt Nam khá giống nhau nhưng mỗi nơi đều có giá trị khác nhau phù hợp với thuần phong mỹ tục của đất nước, hướng tới những điều tốt đẹp. Bài viết phần nào giúp mọi người có cái nhìn cơ bản về sự khác nhau giữa tết trung thu ở Trung Quốc và ở Việt Nam.

Khác Biệt Văn Hóa Giữa Việt Nam Và Trung Quốc Nhìn Từ Lịch Sử

“Nước ta đã có phép tắc nhất định: vả lại Nam Bắc phong tục khác nhau “(1).

Nghệ Tông cũng nói:

” Triều đình dựng nước, tự có phép độ riêng, không theo chế độ nhà Tống, là vì Nam Bắc đều làm chủ nước mình, không cần phải bắt chước nhau(2).

Đến Nguyễn Trãi, nhận thức đó được thể hiện rạch ròi, trong Bình Ngô đại cáo:

” Như nước Đại Việt ta Thật là một nước văn hiến!

Cõi bờ sông núi đã riêng. Phong tục Bắc Nam cũng khác

Trải Triệu Đinh Lý Trần đời đời dựng nước. Cùng Hán Đường Tống Nguyên làm đế một phương.

Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau Song hào kiệt bao giờ cũng có”(3)

Nhận thức ấy, sở dĩ được nói ra, là để chống với một khuynh hướng tư tưởng nảy sinh từ đời Trần và phát triển mạnh từ thời Lê, muốn cải biến văn hóa Việt Nam theo văn hóa Trung Quốc. Đó là khuynh hướng tư tưởng của Nho gia. Đại đa số các nhà Nho Việt Nam dù là các bậc đại Nho như Phạm Sư Mạnh đời Trần thịnh hay Lê Quý Đôn đời Lê suy, khi suy tư về văn hóa, tư tưởng… vẫn lấy văn hóa, văn minh Trung Quốc làm hệ thống qui chiếu. Đây là cái mặc cảm tự ti dân tộc, cái phong thái ” Nam nhân Bắc hướng “(4). Dù là những người yêu nước, yêu nước kiểu nhà Nho, khi muốn chứng minh rằng nước ta là nước “văn hiến” thì họ cũng chỉ biết nói rằng “Hồ Việt đồng phong các đệ huynh” (Nguyễn Trung Ngạn), rằng văn hiến Việt Nam “bất dị Trung Quốc” “vô tốn Trung Quốc” (Lê Quý Đôn) (không khác không thua kém Trung Quốc). Như Hồ Quý Ly, người đã biết chê bai nhiều nhà Nho, từ Khổng Tử đến Trình Chu, có nhiều cái nhìn độc đáo về học thuật, văn hóa nhưng khi trả lời người Bắc hỏi về phong tục nước ta cũng chỉ đành nói:

” Dục vấn An Nam sự An Nam phong tục thuần. Y quan đường chế độ Lễ nhạc Hán quân thần “.

” Lễ nhạc như Tiền Hán, y quan giống Thịnh Đường ” được coi là tiêu chuẩn của một nước “văn hiến”.

Các nhà Nho yêu nước Việt Nam thường nhận thức được rõ “Thổ hữu chủ” (Lê Văn Thịnh), “Địa phận Nam Bắc (Phạm Sư Mạnh) “Giang sơn hữu hạn phân Nam Bắc” (Nguyễn Trung Ngạn) “Sóc Nam giới hạn tự an bài” (Ngô Thì Nhậm)… Nghĩa là có ý thức rõ về độc lập chính trị và chủ quyền lãnh thổ, nhưng lại khác mơ hồ trong ý thức độc lập về văn hóa. Mà văn hóa tức là lối sống, là tâm hồn dân tộc. Độc lập về văn hóa mới độc lập sâu sắc, vững chắc…

Dễ hiểu, khi một nhà trí thức “thấm nhuần” văn hóa Trung Quốc thì thậm chí “quên” cả thiên nhiên Việt Nam. Những câu thơ tả cảnh thu chẳng hạn, từ đời Lê về sau này đều chịu ảnh hưởng của Trung Hoa. Mùa thu trong “truyện Hoa tiên” của Nguyễn Huy Tự chẳng hạn, giống như mùa thu của Đỗ Phủ.

” Lác đác rừng phòng hạt móc sa Ngàn lau hiu hắt khi thu mờ Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm Mặt đất mây đùm cửa ải xa”!

(Phan Huy Vịnh dịch)

Đến như Nguyễn Du mà cũng thế:

“Rừng phong khi lá rủ vàng”

Phải tới Nguyễn Khuyến mới tái tạo một mùa thu thuần túy Việt Nam (xem: Thu vịnh, Thu điếu..)

Tâm thức Việt Nam thời Lý Trần, chừng nào đó, đã có sự suy tư hồi cố (pensée rétra spective) về thời trước Bắc thuộc (Sử ký Đỗ Thiện. Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái…)

“Lô Thủy phiên ly, Thao tụ lạc Văn Lang nhật nguyệt, Thục sơn hà”

(Sông Lô phên giậu, Thao dân họp Văn Lang ngày tháng, Thục non sông).

(Hành quân, Phạm Sư Mạnh).

Song nói chung, nhận thức về một nền văn minh Việt Nam đặc sắc, khác cách mạng Trung Hoa, tồn tạo hàng ngàn năm trước thời Bắc thuộc của giới trí thức phong kiến Việt Nam (sư tăng, đạo sĩ, nho sĩ…) còn mơ hồ lắm. Bảo là về cơ bản họ không biết gì thì e quá, song cũng không hoàn toàn là nói ngoa…

*

Giới trí thức Marxist Việt Nam bắt đầu đem lại một nhận thức ngày càng rõ ràng và đầy đủ về một nền văn hóa, văn minh Việt Nam buổi đầu dựng nước và giữ nước, trước thời Bắc thuộc. Đó là cái gốc của văn hóa Việt Nam. Đó là văn minh Đông Sơn hay có người muốn gọi, là văn minh sông Hồng (để đối sánh với văn minh Hoàng Hà, văn minh sông Nil, văn minh Lưỡng Hà v.v… Quả thật, những nền văn minh đầu tiên của thế giới, có thể gọi là “văn minh của những dòng sông lớn”, về thực chất, là văn minh nông nghiệp (civilisationagncole). Qua thời đại chống Bắc thuộc và qua kỷ nguyên Đại Việt, cái gốc đó không hề bị trốc rễ, tuy, sự thực “cây văn hóa Việt Nam” bị chặt trụi khá nhiều cành, bị (và được) lắp ghép nhiều cành nhánh mới…(5)

Nghĩa là, tuy có sự giao tiếp và hỗn dung văn hóa Việt Hoa, thì khuynh hướng giao tiếp và hỗn dung vẫn là Việt Hóa chứ không phải là Hoa hoá; và văn hóa Việt Nam không bao giờ là một bản sao chép của văn hóa Trung Hoa.

Khi tình trạng nhị nguyên văn hóa diễn ra mạnh mẽ (chủ yếu là từ thời Lê Thánh Tông trở về sau, chứ ở thời đại Lý Trần thì văn hóa cung đình vẫn gần gũi với văn hóa làng xóm) thì tất cả những đặc điểm độc đáo và ưu tú của văn hóa Việt Nam vẫn kết tinh ở văn hóa làng xóm, tức là nền văn hóa dân gian. Do nhiều nguyên nhân và điều kiện lịch sử, cái nói lên bản sắc và văn hóa dân tộc Việt Nam là văn hóa dân gian Việt Nam.

Văn hóa dân gian không ra đời một sớm một chiều. Cái gốc của nó là nền văn hóa dân tộc trước thời Bắc thuộc. Và theo tôi, không nên chỉ ngược lên đến thời đại Đông Sơn (đồng thau muộn – sắt sớm) mà phải ngược lên đến tận thời đại ĐÁ MỚI (Hòa Bình – Bắc Sơn), thời đại nẩy sinh NÔNG NGHIỆP và LÀNG XÓM, khi tim hiểu cội nguồn đặc điểm văn hóa Việt Nam.

Có lẽ chưa chắc ai trong chúng ta cũng tán thành cái quan điểm của Claude-Lévi-Strauss khi ông cho rằng ” Con người chỉ thực sự sáng tạo những công trình vĩ đại vào buổi đầu. Trong bất cứ lĩnh vực nào, chỉ có bước đầu hoàn toàn có giá trị, những giai đoạn kế tiếp chỉ là sự lặp lại những giai đoạn đã qua “(6)

Những điều ông nói sau đây, theo tôi, là đúng:

” Một trong những giai đoạn nhiều sáng tạo nhất của lịch sử nhân loại xảy ra vào thời đại đá mới với sự phát minh ra trồng trọt, chăn nuôi… Muốn đạt đến những thành quả vĩ đại này, không phải trong chốc lát là được, mà trái lại, những tập thể loài người bé nhỏ lúc bấy giờ đã phải trải qua hàng mấy nghìn năm quan sát, thí nghiệm và truyền đạt kinh nghiệm từ đời này sang đời khác. Sự nghiệp vĩ đại này đã diễn ra một cách tốt đẹp, liên tục và thành công… “(7)

Bất cứ nhà khảo cổ học, dân tộc học và sử học nào cũng biết rằng nếp sống thời đá mới, trên cơ bản, vẫn được duy trì trong nếp sống nông thôn của nhân loại, thậm chí cho mãi đến thế kỷ 18, XIX(8).

Nói đến nông nghiệp, làng xóm… là phải nói đến THIÊN NHIÊN, TỰ NHIÊN, mà thực ra, nói rộng hơn, đã nói đến VĂN HÓA là phải nói đến TỰ NHIÊN, vì xét cho cùng, cái VĂN HÓA chỉ là cái TỰ NHIÊN, được thích ứng và biến đổi bởi con người, để thỏa mãn những NHU CẦU về mọi mặt của con người.(9)

Có người đã và sẽ bảo tôi là không Marxist, là nghiêng theo “quyết đinh luận địa lý” khi xem xét những đặc điểm của văn hóa Việt Nam trong sự đối sánh với văn hóa Trung Quốc:

Việt Nam (lưu vực sông Hồng)Trung Quốc ban đầu (lưu vực sông Hoàng Hà)

– Khí hậu nhiệt đới, gió mùa ẩm ướt

– Khí hậu đại lục, mùa đông băng giá, lượng mưa chỉ tập trung vào cuối mùa hè, độ bốc hơi cao.

– Đất phù sa nâu, do sông bồi

Hoàng thổ, do gió cuốn

.- Nông nghiệp tưới nước (nước mưa, nước tát, từ hệ thống tưới nước)

– Đất phát sinh nông nghiệp là vùng hoàng thổ nửa khô hạn. Nông nghiệp trồng khô

– Cây lương thực: cây có củ, mía, rau, dưa bầu bí, và đặc biệt cây lúa.

– Cây lương thực: túc tức tiểu mễ (kê), cao lương, sau nữa là mạch cho đến trước đời Tần vẫn chưa chiếm địa vị chủ đạo

– Ăn cơm, xôi: đôi đũa

– Ăn bánh, cháo

Trong văn hóa Viễn Đông là xuất phát từ đất Việt trồng lúa nước

– Ở nhà sàn: nhà mái cong của văn hóa Viễn Đông là một thành tựu văn hóa gốc Việt…

– Ở nhà hầm và nửa hầm

– Đi lại: chủ yếu dùng đường nước: thuyền mảng. Trên bộ dùng voi. Thủy binh, bộ và tượng binh

– Đi lại trên bộ: ngựa, xe, bộ và kỵ binh. Lấy xe, ngựa làm độ số sức mạnh quyền lực (bánh xa quốc, thiên xa quốc…) (xem: Luận ngữ, Xuân Thu)

– Nỏ, rìu chiến

– Cung 2 cánh, qua.

– Đắp đê

– Giếng, nước ngầm – Khơi sâu và khơi nhiều dòng chảy

– Cồng, trống

– Chuông, khánh…

– Gắn nghề nông với nghề cá

– Cạnh đồng bằng là thảo nguyên, cạnh khu trồng trọt là khu chăn nuôi lớn. Đan xen văn hóa nông nghiệp và văn hóa du mục. Hướng đại lục

– Chữ viết, đô thị ra đời muộn. Văn hóa xóm làng. Vai trò phụ nữ cao, gia đình hạt nhân (nhà) ra đời sớm. Làng ra đời sớm. Nhà – Họ – Hàng – Làng – Nước là một thể thống nhất hữu cơ. Nền dân chủ làng mạc (dân chủ dân cày)

– Chữ viết, đô thị ra đời sớm. Văn hóa đế vương, chế độ phụ hệ nghiêm khắc. Khuynh hướng chính trị – xã hội tập quyền, chuyên chế, phục tùng tư tưởng, đặc trị, quân sự.

Cội nguồn của những đặc điểm văn hóa dân tộc cố nhiên phải tìm trong những điều kiện lịch sử cả dân tộc. Nhưng trước đó, và trong suốt quá trình lịch sử, cũng như phải thấy những điều kiện địa lý từ đó ảnh hưởng đến phương thức canh tác, đến hình thái kinh tế… và áp lực của chúng lên hình thái xã hội – chính trị. Văn hóa, trước hết, là một sự trả lời, một sự ứng phó của một cộng đồng cư dân, trước những thách thức của những điều kiện địa lý – khí hậu (géoclimatique), và sau đó là sự trả lời, ứng phó, trước những thách thức của những điều kiện xã hội – lịch sử. Tôi muốn nhắc lại ở đây một ý kiến của K. Marx bàn về mối quan hệ giữa người với thiên nhiên:

” Con người trong sự sản xuất chỉ có thể tiến hành giống như thiên nhiên, tức là nó chỉ có thể biến đổi cái hình thái của các thể chất. Hơn nữa ngay trong sự lao động biến đổi hình thái như thế, con người luôn luôn vẫn được sự giúp đỡ của những lực lượng tự nhiên, như thế thì lao động không phải là nguồn gốc duy nhất của những giá trị sử dụng mà nó sản xuất, không phải là nguồn gốc duy nhất của những của cải vật chất. Lao động là bố và đất đai là mẹ của những của cải này, như William Petty đã nói “(10)

Theo quan điểm duy vật lịch sử mà tôi hiểu, thì nền tảng địa lý và môi trường thiên nhiên không nằm bên ngoài xã hội như ông Mao hiểu (xem Mâu thuẫn luận trong: “Mao Trạch Đông Tuyển tập”, tập I, Nxb Sự thật, 1960. Tr. 434-435) mà nằm ngay trong cơ sở kinh tế của xã hội.

K.Marx nói: ” Cái toàn thể những liên hệ giữa những người sản xuất với thiên nhiên và giữa họ với nhau, cái toàn thể những sự liên hệ như thế, trong ấy người ta sản xuất, thì chính là xã hội, xét về cái cơ cấu kinh tế của nó “(11)

F. Engels cũng nói: ” Bàn về những quan hệ kinh tế mà chúng tôi gọi là cơ sở quyết định của lao động xã hội, thì chúng tôi hiểu đấy là cái cách thức và phương thức theo đó người ta sản xuất những điều kiện sinh sống của mình và trao đổi sản phẩm với nhau. Tức là trong ấy có bao hàm toàn bộ kỹ thuật sản xuất và vận tải… trong khái niệm quan hệ kinh tế cũng có bao hàm cái nền tảng địa lý… và lẽ cố nhiên là cả cái môi trường bên ngoài bao bọc cái hình thái xã hội như thế “(12)

Hiểu như vậy, thì cơ sở kinh tế, nguyên nhân căn bản của sự phát triển của xã hội gồm ba phần: Quan hệ sản xuất, địa lý và môi trường thiên nhiên và kỹ thuật sản xuất.

Vậy thì khi bàn đến những đặc điểm của văn hóa Việt Nam, phải tìm cội nguồn của nó từ thời đại đá mới, thời đại phát sinh nông nghiệp và làng xóm, phải chú ý đến những điều kiện nền tảng địa lý và môi trường thiên nhiên đã sản sinh ra những đặc điểm văn hóa ấy trước khi xét đến những điều kiện lịch sử của dân tộc đã duy trì và củng cố những đặc điểm văn hóa ấy. Đừng tách rời văn hóa với thiên nhiên.

Như vậy, đứng về mặt thiên nhiên, nhân chủng, văn hóa… Việt Nam thoạt kỳ thủy là một với khu vực Đông Nam Á chứ không phải là một với Trung Hoa. Cái không gian địa lý thiên nhiên Đông Nam Á cần phải hiểu rộng hơn cái không gian chính trị Đông Nam Á hiện nay: Nó bao gồm cả lưu vực Trường Giang trở xuống phía Nam, khu vực phía Nam dải Tần Lĩnh và bao gồm cả khu vực Átxam hiện tại. Đó là cái không gian địa lý, cái môi trường thiên nhiên ở đó nảy sinh và phát triển văn hóa nông nghiệp lúa nước.

Về mặt nhân chủng, cho tới khoảng giữa thiên niên kỷ I trước Công nguyên (-500), về cơ bản, đó là vùng phi Hoa – phi Ấn, vùng Việt theo nghĩa rộng (Việt là một tộc danh phiếm xưng, chỉ toàn bộ các cư dân phi Hoa phi Ấn, thuộc các ngữ hệ Môn-Khơme, Tày – Thái, Mèo – Dao, Tạng – Miến, Anh-đô-nê- diêng (Mã Lai, Đa Đảo), Việt – Mường. Cho tới trước khi Trung Quốc bành trướng xuống vùng lưu vực Trường Giang, thì Việt Nam và Trung Quốc là khác nhau trên căn bản: Việt Nam là vùng châu Á gió mùa. Trung Quốc là vùng châu Á đại lục; Việt Nam là vùng nông nghiệp nước (hệ thống ngập nước) (systèmesinnondés), rồi hệ thống tưới nước (systèmes irrgués). Trung Hoa là vùng nông nghiệp khô (culture sèche); Việt Nam là vùng lúa nước, Trung Hoa là vùng kê, cao lương, rồi mạch. Từ giữa thiên niên kỷ I trước Công nguyên, bành trướng Trung Quốc tràn xuống lưu vực Trường Giang và xa mãi về phía Nam; vùng “Bách Việt” co lại dần, tưởng “mất hết” nhưng cuối cùng vẫn còn một Việt Nam, đại biểu duy nhất còn sót lại của phức hợp Bách Việt ngày xưa, tồn tại vừa với tính chất Dân tộc – Nhà nước (Nation-Etat) vừa với tính chất Dân tộc – Nhân dân (Nation – Peuple). Từ đó xuất hiện trên thực tiễn những sự giống nhau, những cái “bất dị” giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Vậy cái khác nhau (dị, thù, theo ngôn từ Nguyễn Trãi) là có trước, cái giống nhau là có sau. Và phải nói ngay là cái giống nhau là văn hóa, vốn về bản chất, là phồn tạp, là đa dạng. Đông Nam Á là một vùng thiên nhiên phong phú, thống nhất nhưng đa dạng. Cho nên văn hóa bản địa của vùng này cũng vậy tuy có nhiều hằng số thống nhất nhưng cũng cực kỳ đa dạng. Với trào lưu lịch sử, những nền văn hóa vùng này lại tiếp thu, với những phương thế và liều lượng khác nhau, các nhân tố ngoại sinh (éléments exogènes) khác nhau, từ Ấn Độ, Trung Hoa, phương Tây… (chỉ kể về mặt tôn giáo, là đạo Phật, đạo Bà La môn, đạo Nho, đạo Lão, đạo Hồi, đạo Thiên chúa…) nên lại càng đa dạng và càng có vẻ che lấp cái gốc, những nhân tố văn hóa nội sinh (éléments endogènes) của chính vùng này.

Hãy nói đến cái giống nhau giữa một Việt Nam và một Trung Quốc cổ truyền (từ giữa thế kỷ 14 trở về trước).

Cái giống nhau đã từng được giới học giả trong ngoài nước, một thời quá nhấn mạnh khiến thế giới tưởng đâu Việt Nam là một “vùng phía trước” (Avant Monde) của văn minh Trung Hoa ở khu vực Đông Nam Á. Chỉ nhấn mạnh đến cái giống nhau và về cái giống nhau, người ta chỉ nói đến và cắt nghĩa là do Việt Nam học, vay mượn, tiếp thu của Trung Quốc: một cái khung chính trị, hành chính (armature pol itico adminisitrative): một nhà nước Hoa hóa (Etat sinisé) với hoàng đế và một bộ máy quan liêu các cấp, một ý thức hệ: Nho giáo với “kẻ sĩ” v.v… Cái giống nhau ở kiến trúc thượng tầng ở trên bề mặt – mà cũng không hoàn toàn như nhau: vua Việt khác hoàng đế Trung Hoa, chức danh quan lại có thể giống nhau mà chức năng và sự vận hành của bộ máy cũng có khác(13). Thời Tống, Trung Quốc theo Tống – Nho (néo – Cofucianisme); thời Lý Trần, ngang thời Tống, Đại Việt sùng Phật nhưng không bài Nho, Lão. Luật Hồng Đức soạn ngay dưới thời ông vua sùng Nho, thích mô phỏng Trung Quốc và Lê Thánh Tông, mà do áp lực của lịch sử – vẫn phải tôn trọng những nhân tố nội sinh trong nền văn hóa, phong tục dân gian…

Người ta thường “quên” một sự kiện là từ Tần Hán trở về sau, khi Trung Quốc đã thôn tính xong lưu vực Trường Giang rồi Châu Giang… thì nền văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước ở phương Nam được chồng lên (surimpostion) nền văn hóa nông nghiệp trồng khô ở Hoa Bắc và hội nhập (intégrer) vào văn minh Trung Quốc. Trung Quốc đã “chữ nghĩa hoá” (nhờ ưu thế văn tự) nhiều thành tựu văn hóa của phương nam và nhận làm của mình. Văn hóa phương Bắc là văn hóa chữ nghĩa, văn hóa phương nam là văn hóa truyền miệng. Qua sách vở Trung Quốc về sau người Việt học lại nhiều điều vốn là kinh nghiệm, ký ức của tổ tiên mình nhưng đã qua sự sửa đổi “khái niệm hoá” của học giả Trung Quốc. Sơ nguyên tượng (archétipe) của “Bàn Cổ” vốn là huyền thoại “Bàn Hồ” của tổ tiên người Dao. “Thần Nông” (theo ngữ pháp Trung văn thì phải là “Nông thần”) vốn là “anh hùng văn hóa” (héros culturel) của người Việt). Truyện Ngưu Lang – Chức Nữ gắn với hiện tượng ‘mưa ngâu” ở phương Nam cũng là một tích Việt được ghi lại bằng Hán văn. Lịch Tầu (âm lịch như đang dùng hiện nay) chỉ mới lưu hành từ thời Hán Vũ Đế (140 trước Công nguyên) và chỉ đúng với khí hậu Hoa Bắc. Các lễ hội 5-5 âm lịch (lễ hội ngày Hạ chí), 15-7 âm lịch, trung thu 15-8 âm lịch vốn đều không xuất phát từ Hoa Bắc mà đều có gốc tích ở miền Sở, Việt… tức vùng trồng lúa nước phương Nam… Còn có thể kể ra nhiều lắm. Nhiều cái giống nhau giữa Việt Nam và Trung Quốc là do Trung Quốc đã tích hợp văn hóa lúa nước vào cấu trúc văn hóa Trung Hoa.

Song dù có bao nhiêu sự giống nhau thì cũng không xóa mờ được những sự khác nhau, đặc biệt, ở dưới bề sâu, trong dân gian. Làng Việt là một cấu trúc xã hội thuần Việt còn bảo lưu đậm nét tính chất công xã hơn nhiều những tổ chức “lân” “li” “hương”… của Trung Quốc.

Nó dựa trên một cơ sở kinh tế tiểu nông là phổ biến, trong khi ở Trung Quốc, bên cạnh kinh tế tiểu nông có hẳn một cơ cấu kinh tế trang viên của một giai cấp đại địa chủ.

Ở Việt Nam, cho đến thế kỷ 16, chỉ có một “kẻ chợ”, một đô thị là Thăng Long – Đông Đô (Hà Nội), còn tất cả là “kẻ quê”, với một hệ thống “chợ quê” và những luồng buôn bán nhỏ chứ hầu như không có những luồng thương mại lớn.

Trong khí đó, từ Xuân Thu chiến quốc qua Đường Tống; Minh Thanh… Ở Trung Quốc đã xuất hiện rất nhiều đô thị vương công với những luồng thương mại lớn (đường lụa, đường trà…) và một tầng lớp đại thương nhân. Kẻ sĩ Trung Quốc nằm ở các đô thị vương công này và phục vụ vương công: xuất hiện các “chư tử” với rất nhiều học thuyết chính trị xã hội – triết học v.v… – Trí thức Việt – phần lớn nằm ở làng quê, là các sư sãi, thầy đồ, thầy lang, thầy cúng, thầy bói… gắn với nông dân và không xuất hiện nhiều “tử” lớn. Ít sách vở, ít lý luận khái quát.

Cơ cấu kinh tế: tiểu nông.

Cơ cấu xã hội: làng xóm

Tính chất xã hội: cộng đồng công xã

Cơ cấu tâm lý dân tộc: tâm lý tiểu nông, hạn hẹp, chủ tình (sentimentalisme), ưa dung hòa (compromis), làm ăn nhỏ, biện pháp nửa vời (demimesure)…

Có đại địa chủ, đại thương nhân, có nhiều đô thị lớn, có chữ viết sớm, sách vở nhiều, Trung Quốc có cả một nền văn minh đế chế, một nền văn hóa đế vương, (culture impériale) tách biệt hẳn và đè nén mạnh dân cày nơi nông trang, với một tâm lý làm lớn, làm lố (chinoiserie démesure) duy ý chí (volontarisme).

… Văn hóa Việt Nam cổ truyền, về bản chất, là một nền văn hóa xóm làng (culturevillageoise). Là sức mạnh (grandeur) vừa là điểm yếu (faiblesse) của Truyền thống Việt Nam cũng là ở đó.

S.T

Tags: Quan hệ Việt – Trung, Trung Hoa cổ, Văn hóa Việt, Văn hóa Trung Hoa

Sự Khác Biệt Giữa Chuẩn Mực Kế Toán Việt Nam Và Quốc Tế

1. Tìm Hiểu Chung Về Chuẩn Mực Kế Toán Quốc Tế

IAS (International Accounting Standard)/ IFRS (International Financial Reporting Standard) đều được soạn thảo bởi IASB (International Accounting Standard Board). Trước năm 2003, các Chuẩn mực Kế toán Quốc tế được công bố với tên gọi IAS. Sau năm 2003, các Chuẩn mực kế toán mới ra đời đều được đổi tên thành IFRS.

Hiện tại, Chuẩn mực Kế toán Quốc tế có tổng cộng 41 IAS và 16 IFRS. IASB quy tụ các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực, đến từ nhiều Quốc gia, Châu lục và đọc hiểu Báo cáo Tài chính trên nhiều phương diện khác nhau như người lập báo cáo tài chính, nhà quản lý, người sử dụng các báo cáo tài chính và cả những học giả uy tín.

Quy trình soạn thảo và công bố của IAS/ IFRS diễn ra rất chặt chẽ để đảm bảo chất lượng và mang tính thực hành cao. Rất nhiều Quốc gia và vùng lãnh thổ đang dùng IAS/IFRS làm chuẩn mực kế toán của Quốc gia mình như các nước châu Âu, Singapore, Hồng Kông, Úc … Các quốc gia tại châu Á và trên thế giới đang điều chỉnh các chuẩn mực của mình để phù hợp hơn với IFRS và giảm thiểu sự khác biệt nếu có.

Việt Nam cũng nằm trong xu thế đó với sự ra đời của Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22 tháng 12 năm 2014 nhằm giảm thiểu những sự khác biệt giữa 02 Chuẩn mực Kế toán VAS (Vietnam Accounting Standard) và IAS/IFRS.

2. Những Điểm Khác Nhau Tổng Quan

Hình Thức

So với chuẩn mực kế toán VAS, IAS không bị áp đặt về hình thức(như hệ thống tài khoản (Chart of Account) biểu mẫu báo cáo (Accounting form), hình thức sổ kế toán (Ledgers) . IAS/IFRS hầu hết không quy định về các biểu mẫu kế toán và các doanh nghiệp sử dụng IAS/IFRS đều được tự do sử dụng hệ thống tài khoản cũng như các biểu mẫu kế toán phù hợp và thuận lợi với đặc thù của doanh nghiệp (Ví dụ như những doanh nghiệp áp dụng VAS thì tiền mặt sẽ phải có số tài khoản là 111, còn những doanh nghiệp áp dụng IAS/IFRS thì có thể tự do đặt số cho tài khoản này).

IAS còn đưa ra một bộ khung về khái niệm và giữa các chuẩn mực đều có tính thống nhất rất cao. VAS còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng, thiếu bộ khung về định nghĩa cũng như tính thống nhất giữa các chuẩn mực kế toán.

Hệ Thống Tài Khoản (Chart of Account)

IAS/IFRSchỉ quy định về hình thức của các báo cáo tài chính theo IAS 1 mà không quy định về hệ thống tài khoản kế toán. Doanh nghiệp được phép tự tạo ra hệ thống tài khoản kế toán để phù hợp hơn với yêu cầu về báo cáo tài chính cũng như báo cáo quản trị.

Việc bắt buộc đối với doanh nghiệp về hệ thống tài khoản đôi khi gây ra những bất lợi cho những doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam vì các doanh nghiệp thường gặp khó khăn trong chuyển đổi và làm giảm tính thống nhất giữa các công ty trong cùng tập đoàn.

Có nhiều ý kiến cho rằng hệ thống tài khoản ở Việt Nam chỉ nên mang tính định hướng cho doanh nghiệp thay vì bắt buộc như hiện tại.

Các Chuẩn Mực Kế toán Cơ Bản

VAS 21 và IAS 1: VAS quy định báo cáo tài chính không bắt buộc phải có báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu như chuẩn mực IAS 1. Như vậy theo IAS chúng ta có 5 cấu phần (Statement of Financial Position, Statement of Comprehensive Income, Statement of Cashflow, Statement of Changes in Equity, và Notes to Financial Statement) trong khi VAS có 4 cấu phần, riêng báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu sẽ được coi như 1 phần của thuyết minh báo cáo tài chính.

VAS 3 chỉ cho phép đánh giá lại tài sản cố định là bất động sản, nhà xưởng và thiết bị trong trường hợp có quyết định của Nhà nước, đưa tài sản đi góp vốn liên doanh, liên kết, chia tách, sáp nhập doanh nghiệp và không được ghi nhận phần tổn thất tài sản hàng năm. Trong khi đó, theo IAS 16, doanh nghiệp được phép đánh giá lại tài sản theo giá thị trường và được xác định phần tổn thất tài sản hàng năm, đồng thời được ghi nhận phần tổn thất này theo quy định tại IAS 36.

VAS 11 quy định lợi thế thương mại được phân bổ dần trong thời gian không quá 10 năm kể từ ngày mua trong giao dịch hợp nhất kinh doanh. Trong khi đó, IFRS 3 quy định doanh nghiệp phải đánh giá giá trị lợi thế thương mại tổn thất.

3. Tham Chiếu