So Sánh Pháp Luật Và Đạo Đức / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Channuoithuy.edu.vn

Phân Biệt “Pháp Luật” Với “Đạo Đức”

So sánh và Phân biệt pháp luật với đạo đức. Pháp luật và đạo đức có những điểm giống và khác nhau như sau:

– Pháp luật và đạo đức đều có những quy tắc xử sự chung hay quy phạm xã hội để hướng dẫn cách xử sự cho mọi người trong xã hội cho nên chúng đều có các đặc điếm của các quy phạm xã hội, đó là:

+ Pháp luật và đạo đức đều là những khuôn mẫu, chuẩn mực để hướng dẫn cách xử sự cho mọi người trong xã hội, để bất kỳ ai khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh do chúng dự liệu thì đều phải xử sự theo những cách thức mà chúng đã nêu ra – Căn cứ vào pháp luật, đạo đức, các chủ thể sẽ biết mình đuợc làm gì, không đuợc làm gì, phải làm gì và làm như thế nào khi ở vào một điều kiện, hoàn cảnh nhất định.

+ Pháp luật và đạo đức đều là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người. Căn cứ vào các quy định của pháp luật, các quy tắc đạo đức, có thể xác định được hành vi nào là hợp pháp, hành vi nào là hợp đạo đức; hành vi nào là trái pháp luật, hành vi nào là trái đạo đức.

+ Pháp luật và đạo đức đều được đặt ra không phải cho một chủ thể cụ thể hay một tổ chức, cá nhân cụ thể mà là cho tất cả các chủ thể tham gia vào quan hệ xã hội do chúng điều chỉnh.

+ Pháp luật và đạo đức đều được thực hiện nhiều lần trong thực tế cuộc sống, bởi vì chúng được ban hành không phải để điều chỉnh một quan hệ xã hội cụ thế, một trường hợp cụ thế mà để điều chỉnh một quan hệ xã hội chung, tức là mọi trường hợp, khi điều kiện hoặc hoàn cảnh do chúng dự kiến xảy ra.

– Cả pháp luật và đạo đức đều tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập và giữ gìn trật tự xã hội.

– Cả pháp luật và đạo đức đều vừa có tính giai cấp, vừa có tính xã hội và tính dân tộc.

2 – Điểm khác nhau

– Pháp luật có tính quyền lực nhà nước, bởi vì pháp luật được hình thành bằng con đường nhà nước, do nhà nước đặt ra (ví dụ như các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước), hoặc do nhà nước thừa nhận (các phong tục, tập quán, các quan niệm, quy tắc đạo đức…) nên pháp luật luôn thể hiện ý chí của nhà nước – Pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp, từ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thuyết phục, động viên, khen thưởng, tổ chức thực hiện cho đến áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước.

– Đạo đức lúc đầu được hình thành một cách tự phát trong cộng đồng xã hội, sau đó có thể là tự giác khi được bổ sung bằng những quan điểm, quan niệm và phong cách sống của các vĩ nhân; được lưu truyền từ đời này sang đời khác theo phương thức truyền miệng; được bảo đảm thực hiện bằng thói quen, bằng dư luận xã hội, bằng lương tâm, niềm tin của mỗi người và bằng các biện pháp cưỡng chế phi nhà nước – Đạo đức thường thể hiện ý chí của một cộng đồng dân cư.

– Đạo đức chủ yếu có tính chất khuyên răn đối với mọi người, chỉ cho mọi người biết nên làm gì, không nên làm gì, phải làm gì và chỉ tác động tới các cá nhân trong xã hội.

– Có những quan hệ xã hội đạo đức điều chỉnh nhưng pháp luật không điều chỉnh, ví dụ như quan hệ tình bạn, tình yêu…

– Pháp luật có tính hệ thống, bởi vì pháp luật là một hệ thống các quy phạm để điều chỉnh nhiều loại quan hệ xã hội phát sinh trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống như dân sự, kinh tế, lao động…, song các quy phạm đó không tồn tại một cách biệt lập mà giữa chúng có mối hên hệ nội tại và thống nhất với nhau để tạo nên một chỉnh thể là hệ thống pháp luật.

– Pháp luật có tính xác định về hình thức, tức là pháp luật thường được thể hiện trong những hình thức nhất định, có thể là tập quán pháp, tiền lệ pháp hoặc văn bản quy phạm pháp luật. Trong các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định của pháp luật thường rõ ràng, cụ thể, bảo đảm có thể được hiểu và thực hiện thống nhất trong một phạm vi rộng.

– Đạo đức không có tính xác định về hình thức, bởi vì nó tồn tại dưới dạng bất thành văn, được lưu truyền từ đời này sang đời khác bằng hình thức truyền miệng.

– Pháp luật chỉ ra đời và tồn tại trong những giai đoạn lịch sử nhất định, giai đoạn có sự phân chia giai cấp, mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp.

– Đạo đức ra đời và tồn tại trong tất cả các giai đoạn phát triển của lịch sử.

Nguồn: Luật sư Online tại: https://www.facebook.com/iluatsu/

Mối Quan Hệ Giữa Đạo Đức Công Vụ Và Pháp Luật Công Vụ

Ngày đăng: 10/09/2016 03:26

1. Quan niệm về đạo đức và đạo đức công vụ

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng”(1).

Trong xã hội hiện nay có nhiều quy tắc xã hội: chính trị, pháp luật, đạo đức, tôn giáo, quy tắc của các tổ chức xã hội, cộng đồng.v.v… Những quy tắc này có quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất và có vai trò điều chỉnh hành vi, cách xử sự của con người.

Đạo đức được hiểu là “Phép tắc về quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với tập thể, với xã hội”(2), “phẩm chất tốt đẹp của con người: sống có đạo đức”. Đạo đức là từ ghép, được tạo bởi hai thành tố “đạo” và “đức”; “đạo” là “một cái đạo lý, một cái lẽ nhất định, là ai cũng phải noi đấy mà theo”; “đức” có nghĩa là ” cái đạo để lập thân, thiện, làm thiện, cảm hóa đến người”(3)…

Như vậy, đạo đức được hiểu ở một số phương diện sau: thứ nhất, đạo đức là những chuẩn mực, những quy tắc trong hành vi, cách xử sự giữa con người với con người; thứ hai, đạo đức là công lý, lẽ phải, chuẩn mực phù hợp với quy luật của tự nhiên và xã hội, là “cái lẽ sống, lẽ phải, đạo ở đời”; thứ ba, đạo đức phẩm chất, nét đẹp của con người. Đạo đức là cái lẽ, cái mà con người phải tuân theo, là cái phải làm và cái không được làm.

Do đó, có thể hiểu: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các nguyên tắc, quy phạm hình thành một cách tự nhiên trên cơ sở quan niệm về lẽ phải, sự công bằng, về điều thiện, cái ác trong đời sống xã hội của con người, nhóm người, tầng lớp xã hội, giai cấp, dân tộc, quốc gia, thể hiện ý chí, tâm tư tình cảm của họ, nhằm điều chỉnh quan hệ xã hội, ý thức, hành vi của con người và là căn cứ để đánh giá hành vi, cách ứng xử của con người với nhau, của con người với gia đình, nhóm người, cộng đồng, giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, quốc gia và với thiên nhiên, được thực hiện một cách tự giác bởi niềm tin, lòng nhân ái của con người, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận cộng đồng, xã hội.

Cán bộ, công chức (CBCC) là một hợp phần của cộng đồng xã hội, do đó đạo đức của họ hàm chứa các yếu tố: đạo đức dân tộc mà họ xuất thân, đạo đức cộng đồng nơi mà họ sinh sống, đạo đức xã hội như mọi thành viên xã hội khác, đạo đức của người CBCC nhà nước trong hoạt động công vụ. Đạo đức CBCC, chứa đựng những yếu tố đạo đức chung của thành viên xã hội, khi thực thi công vụ thì đạo đức của họ mới được biểu hiện một cách đầy đủ nhất, đạo đức công vụ của CBCC là một bộ phận đạo đức của người CBCC. Đạo đức CBCC thể hiện, xuất phát từ vị thế của người đó trong bộ máy nhà nước, xã hội, khác với đạo đức của một công dân trong xã hội. Với cách tiếp cận như vậy, đạo đức của CBCC bao gồm hai phần: đạo đức công vụ và đạo đức của người đó ngoài công vụ, mỗi mặt có những đặc trưng riêng, tạo thành một thể thống nhất đạo đức của người CBCC.

Từ những vấn đề trên có thể hiểu: Đạo đức công vụ là hệ thống các nguyên tắc, các quy tắc hành vi, xử sự trong công vụ, nhằm điều chỉnh thái độ, hành vi, cách xử sự, chức trách, bổn phận, nghĩa vụ của CBCC trong hoạt động công vụ và những người khác khi được ủy quyền thực thi công vụ (từ khía cạnh chủ quan). Ngoài phạm vi công vụ thì đạo đức của CBCC nhà nước không trở thành đạo đức công vụ. Từ góc độ khách quan, đạo đức công vụ của CBCC là thái độ, hành vi, cách xử sự, việc thực hiện chức trách, bổn phận, nghĩa vụ của CBCC khi thi hành công vụ.

2. Mối liên hệ giữa đạo đức công vụ và pháp luật về công vụ

2.1 Sự thống nhất giữa đạo đức công vụ và pháp luật về công vụ

Thứ nhất, đạo đức công vụ và pháp luật về công vụ đều là những giá trị xã hội do con người sáng tạo nên và để phục vụ cho cuộc sống của con người; là những nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, định hướng cho sự phát triển tiến bộ của các quan hệ xã hội hình thành trong công vụ và là những chuẩn mực hành vi, cách ứng xử của công chức trong hoạt động công vụ. Những nhân tố này bổ sung cho nhau, điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động công vụ. Pháp luật về công vụ không thể tồn tại nếu thiếu cơ sở đạo đức công vụ. Đạo đức công vụ là nguồn vật chất của pháp luật về công vụ. Đạo đức công vụ nếu thiếu pháp luật sẽ không có khả năng phát huy chức năng điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động công vụ.

Về mối quan giữa pháp luật và đạo đức nói chung, cũng là mối quan hệ giữa pháp luật về công vụ và đạo đức công vụ. Theo ông Vũ Đình Hòe: “Trong cái nhất thể “đạo đức – pháp luật” – xét về cội nguồn thì Thiện, Đức có trước và là gốc của Lễ, Luật; xét về công dụng đối với xã hội thì: đạo đức gây men sống, còn pháp luật là chuẩn, xác định mức độ phạm vi, phương pháp tác động của men sống ấy chỉ đạo hành động con người bảo đảm cho hành động ấy có hiệu quả đối với xã hội”(4). Với cách tiếp cận này thì thiện, đức là cái thứ nhất, có trước pháp luật, còn pháp luật là cái thứ hai được sản sinh trên nền đạo đức. Đạo đức là lẽ sống, men sống của cuộc đời, tạo nên pháp luật, còn pháp luật là chuẩn mực hành vi của con người được xây dựng trên nền đạo đức; việc thực hiện pháp luật – chuẩn mực lại do đạo đức – yếu tố nội tâm của con người quyết định. Xét theo cách tiếp cận này thì đạo đức được đặt cao hơn pháp luật, là nền tảng của pháp luật, nhưng cũng không vì thế mà coi nhẹ pháp luật, tuyệt đối hóa đạo đức trong đời sống cộng đồng đầy phức tạp và rộng lớn như ngày nay.

Thứ hai, pháp luật về công vụ và đạo đức công vụ tồn tại là khách quan bổ sung, hỗ trợ trong điều chỉnh ý thức, hành vi, cách xử sự của CBCC trong thực thi công vụ. Một người không chấp hành các quy tắc pháp luật trong hoạt động công vụ cũng có nghĩa là vi phạm các quy tắc đạo đức công vụ.

Thứ ba, pháp luật về công vụ và đạo đức công vụ đều có vai trò và hướng tới mục tiêu chung là trật tự hóa, củng cố các quan hệ xã hội phát sinh trong đời sống nhà nước, xã hội và hoàn thiện đời sống xã hội, phát triển và làm giàu thêm nhân cách, bảo vệ quyền, tự do, lợi ích của con người, hướng con người tới chủ nghĩa nhân đạo, công lý, sự tự do, bình đẳng, lòng nhân ái. Trong mối quan hệ này, đạo đức công vụ, pháp luật về công vụ như là những hình thức thể hiện các giá trị xã hội mà nhà nước cần phải gìn giữ, củng cố, bảo vệ.

Thứ tư, pháp luật công vụ và đạo đức công vụ đều có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ trong công vụ hướng tới những nhóm người, tầng lớp, giai cấp, tập thể, cộng đồng, quốc gia, dân tộc với những yêu cầu đòi hỏi như nhau. Thông qua chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật công vụ và đạo đức công vụ tạo thành một thể thống nhất các quy phạm xã hội.

Thứ năm, pháp luật về công vụ và đạo đức công vụ đều là những quy phạm, hiện tượng xã hội xác định ranh giới giữa cái cần phải và cái có thể, cái không thể trong các hành vi xử sự của các chủ thể quan hệ công vụ. Pháp luật về công vụ và đạo đức công vụ trở thành phương tiện thể hiện và thừa nhận các lợi ích cá nhân và xã hội.

Thứ sáu, pháp luật công vụ và đạo đức công vụ là những giá trị nền tảng xã hội, là những chỉ số văn hóa công vụ, văn hóa xã hội của sự tiến bộ xã hội, các nguyên tắc và kỷ luật trong đời sống nhà nước và xã hội. Pháp luật công vụ và đạo đức công vụ đều hướng tới thiết lập đời sống cộng đồng chung của con người.

Thứ bảy, sự thống nhất giữa pháp luật công vụ với đạo đức công vụ thể hiện ở sự tác động qua lại giữa hai hiện tượng này. Đạo đức công vụ là cơ sở, là nguồn sống của pháp luật công vụ; pháp luật về công vụ không bao giờ đối lập với các quy tắc đạo đức công vụ. Pháp luật là phương tiện để ghi nhận, thể chế hóa các quan niệm, ý niệm, chuẩn mực đạo đức công vụ, biến chúng thành những chuẩn mực chung trong hoạt động công vụ, buộc mọi đối tượng tham gia quan hệ công vụ phải thực hiện. Bằng con đường này mà nhiều quy phạm đạo đức công vụ được “chuyển hoá” thành pháp luật về công vụ.

Như vậy, trong mối quan hệ này quy phạm pháp luật về công vụ trong một số trường hợp trở thành hình thức pháp lý thể hiện những giá trị đạo đức công vụ; nói cách khác, đạo đức công vụ là phạm trù nội dung, còn pháp luật về đạo đức công vụ là phạm trù hình thức, thể hiện nội dung đạo đức công vụ. Ngoài ra, đạo đức công vụ còn được thể hiện dưới hình thức quy phạm chính trị, quy phạm của các tổ chức xã hội.v.v… Những chuẩn mực đạo đức công vụ được thể hiện dưới hình thức pháp luật thì chính chúng đã được chuyển hoá thành pháp luật và trong trường hợp này đạo đức không còn là đạo đức theo nghĩa nguyên thủy của nó, nó đã biến thể thành pháp luật.

2.2 Sự khác biệt giữa pháp luật công vụ và đạo đức công vụ

Thứ nhất, pháp luật công vụ và đạo đức công vụ khác nhau bởi con đường hình thành và phát triển. Pháp luật công vụ do nhà nước ban hành, thừa nhận, đình chỉ, sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ. Đạo đức công vụ lại là sản phẩm chung của xã hội, hình thành rất lâu dài trong lịch sử có nhà nước, trong hoạt động thực tiễn, đời sống nhà nước, được chọn lọc tự nhiên qua nhiều thế hệ, được lưu truyền từ thế hệ này tới thế hệ khác. Đạo đức công vụ vừa mang tính phổ biến, lại vừa mang tính cá biệt, cụ thể của từng đối tượng CBCC (đạo đức của công chức ở những ngành nghề khác nhau).

Thứ hai, pháp luật công vụ và đạo đức công vụ khác nhau bởi phương pháp bảo đảm thực hiện chúng. Nếu pháp luật được bảo đảm bởi các biện pháp mang tính cưỡng chế của nhà nước, thì đạo đức công vụ lại được bảo đảm bởi chính các dư luận trong cơ quan, tổ chức, dư luận xã hội.

Thứ ba, pháp luật công vụ và đạo đức công vụ khác nhau bởi các tính chất đặc trưng, phạm vi tác động điều chỉnh của chúng đối với các quan hệ công vụ và vai trò của chúng đối với đời sống nhà nước, xã hội.

Thứ tư, pháp luật công vụ và đạo đức có các thuộc tính, hình thức thể hiện khác nhau.

Thứ năm, pháp luật công vụ và đạo đức công vụ tác động điều chỉnh tới ý thức và hành vi của con người bởi tính chất và phương thức khác nhau.

Thứ sáu, pháp luật công vụ và đạo đức công vụ khác nhau bởi tính chất và trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp trách nhiệm do vi phạm.

Thứ bảy, pháp luật công vụ và đạo đức công vụ khác nhau bởi mức độ các yêu cầu, đòi hỏi đối với hành vi của CBCC trong hoạt động công vụ. Đạo đức công vụ bao giờ cũng có yêu cầu cao hơn đối với hành vi của CBCC so với pháp luật về công vụ. Nếu pháp luật về công vụ chỉ đặt ra yêu cầu, đòi hỏi “tối thiểu” đối với hành vi thì đạo đức đặt ra mức “tối đa” đối với hành vi của CBCC trong hoạt động công vụ.

Thứ tám, dưới góc độ triết học thì đạo đức công vụ là một bộ phận của đạo đức nói chung, cùng với đạo đức của các đối tượng khác trong xã hội tạo thành hình thái ý thức xã hội cùng với các hình thái ý thức xã hội khác (chính trị, tư tưởng, khoa học và nghệ thuật…). Còn pháp luật công vụ dưới góc độ pháp lý chỉ là những văn bản quy phạm pháp luật, không phải là một hình thái ý thức xã hội, mà cả ý thức pháp luật mới tạo thành một hình thái ý thức xã hội.

2.3 Sự không thống nhất giữa pháp luật công vụ và đạo đức công vụ

Pháp luật công vụ và đạo đức công vụ thống nhất với nhau, nhưng không đồng nhất. Các quy phạm đạo đức công vụ “trở thành” các quy phạm pháp luật công vụ thông qua sự phê chuẩn, chấp nhận của nhà nước bằng hoạt động sáng tạo pháp luật của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền. Trong trường hợp này pháp luật công vụ đã tiếp nhận đạo đức công vụ, pháp luật và đạo đức công vụ thống nhất. Nhưng có những trường hợp pháp luật lại không tiếp nhận đạo đức. Thực tiễn đã chỉ ra rằng, trong bất kỳ xã hội nào đều còn tồn tại cả chuẩn mực đạo đức công vụ của nhà nước cũ trước đó không phù hợp với thời đại mới. Sự tồn tại này là do ý thức đạo đức công vụ – một bộ phận hình thái ý thức xã hội thuộc về yếu tố chủ quan của con người, một chế độ nhà nước tuy không còn nhưng ý thức do xã hội đó sản sinh ra vẫn tồn tại dai dẳng cả tích cực và tiêu cực. Trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, chế độ phong kiến ở nước ta đã bị đập tan, nhưng ý thức đạo đức công vụ do nó sản sinh ra vẫn còn tồn tại có cả mặt tích cực và tiêu cực. Mặt tích cực được phát huy, được pháp luật thừa nhận, củng cố; mặt tiêu cực bị lên án, không được pháp luật thừa nhận. Rõ ràng trong trường hợp này giữa pháp luật công vụ và một bộ phận đạo đức công vụ có phần lệch pha – pháp luật công vụ không dung nạp, không thừa nhận những quy tắc đạo đức công vụ đã lỗi thời, không còn phù hợp; những điều này còn bị lên án, phê phán bởi dư luận xã hội.

Sự không thống nhất giữa pháp luật công vụ và đạo đức công vụ còn thể hiện ở chỗ, trong pháp luật công vụ có những quy phạm thuần túy mang tính kỹ thuật pháp lý, chẳng hạn những quy phạm quy định về tổ chức bộ máy nhà nước, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước, nhiệm vụ, quyền hạn của công chức, những quy định về các thủ tục trong hành chính.

2.4 Sự tác động qua lại giữa pháp luật công vụ và đạo đức công vụ

Một là, sự tác động qua lại giữa pháp luật công vụ và đạo đức công vụ bắt nguồn từ sự tác động qua lại có tính xã hội và sự tác động chức năng của chúng. Pháp luật công vụ và đạo đức công vụ là hai nhân tố cơ bản điều chỉnh các quan hệ công vụ, bổ sung cho nhau, cùng nhau duy trì trật tự các quan hệ công vụ, cùng ảnh hưởng tới nhân cách CBCC, hình thành văn hóa đạo đức, văn hóa công vụ, ý thức đạo đức và ý thức pháp luật của mọi CBCC; chúng có nhiều yêu cầu, đòi hỏi chung đối với các hành vi của các chủ thể vốn được pháp luật công vụ và đạo đức công vụ khuyến khích. Nếu pháp luật công vụ trừng phạt đối với những hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt những hành vi tội phạm, thì đạo đức công vụ lại là sự bàn luận, đánh giá, lên án những hành vi đó. Sự đánh giá của pháp luật công vụ và đạo đức công vụ thường là thống nhất. Mọi hành vi vi phạm pháp luật công vụ, về nguyên tắc cũng là vi phạm đạo đức công vụ. Pháp luật công vụ quy định phải chấp hành các đạo luật, đồng thời cũng bổ sung vào đó đạo đức công vụ.

Hai là, đạo đức công vụ là cơ sở của pháp luật công vụ. Không một pháp luật nào lại không có cơ sở đạo đức, không có pháp luật nào lại là pháp luật không đạo đức. Pháp luật về công vụ không thể tồn tại thiếu cơ sở đạo đức. Theo nghĩa này đạo đức công vụ là nguồn vật chất của pháp luật công vụ.

Ba là, đạo đức công vụ là cơ sở bảo đảm cho việc thực hiện đúng pháp luật công vụ trên thực tế. Từ góc nhìn pháp lý thì việc thực hiện pháp luật (tuân thủ, chấp hành, sử dụng và áp dụng pháp luật) là nghĩa vụ của các CBCC, nhưng việc thực hiện trên thực tế nghĩa vụ đó lại tùy thuộc vào sự tự giác của CBCC. Sự tự giác nhiều hay ít lại tùy thuộc ở ý thức đạo đức công vụ và ý thức pháp luật của CBCC về bổn phận, trách nhiệm của mình đối với xã hội, nhà nước, đối với tổ chức và đối với các thành viên khác trong cộng đồng, xã hội.

Bốn là, mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức thể hiện qua sự tác động của pháp luật công vụ đối đạo đức công vụ. Sự tác động này thể hiện ở những nội dung sau đây:

Thứ nhất, nhà nước thừa nhận những quy tắc đạo đức công vụ tiến bộ và từng bước lựa chọn những quy tắc đạo đức công vụ tốt đẹp, lành mạnh, thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật, nghĩa là chuyển hóa đạo đức công vụ thành những quy phạm pháp luật về công vụ. Thông qua sự chuyển hóa đó các quy phạm đạo đức công vụ trở thành các chuẩn mực thể hiện dưới hình thức pháp lý, được nhà nước bảo đảm thực hiện, mọi CBCC phải tuân theo. Việc thực hiện pháp luật về công vụ có nội dung đạo đức cũng chính là thực hiện các quy tắc đạo đức công vụ. Chính thông qua sự chuyển hóa này mà hình thành mối quan hệ giữa pháp luật công vụ và đạo đức công vụ, nhờ có sự điều chỉnh của pháp luật công vụ mà các quy phạm đạo đức công vụ ngày càng được củng cố, phát huy các giá trị trong điều chỉnh quan hệ công vụ.

Thứ hai, nhà nước ban hành nhiều quy định pháp luật nhằm đề cao, bảo tồn, phát huy những giá trị đạo đức công vụ tốt đẹp đồng thời ngăn chặn những hành vi trái với đạo đức công vụ.

3. Những tiêu chí để đánh giá đạo đức công vụ

Tiêu chí đánh giá đạo đức công vụ là những chuẩn mực, căn cứ làm cơ sở để đánh giá đạo đức của người CBCC khi thực thi công vụ. Việc hình thành các tiêu chí đánh giá đạo đức công vụ trước hết phải xuất phát từ quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; những yêu cầu của nhà nước pháp quyền đối với tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, hoạt động công vụ của những người thực thi công vụ; các nguyên tắc hoạt động công vụ; thái độ, hành vi ứng xử của người thực thi công vụ trong hoạt động công vụ. Mặt khác, phải xuất phát từ những mối quan hệ giữa người thực thi công vụ với nhà nước, cơ quan, những người khác nơi họ làm việc, với đối tượng mà hoạt động công vụ của họ tác động tới. Xuất phát từ quan niệm như vậy, các tiêu chí đánh giá đạo đức công vụ của CBCC bao gồm:

Một là, sự trung thành của người thực thi công vụ với nhà nước, chính thể, tổ chức.

Đây là tiêu chí đầu tiên và quan trọng nhất để đánh giá đạo đức công vụ của người thực thi công vụ. Tiêu chí này mang tính chính trị vì hoạt động công vụ đều hướng tới thực hiện những nhiệm vụ chính trị nhất định, không có hoạt động công vụ nào lại không mang nội dung chính trị. Do đó, một trong những phẩm chất đạo đức không thể thiếu của những người phục vụ nhà nước là phải trung thành với nhà nước, với chính thể mà mình phục vụ, trung thành với sự nghiệp của tổ chức – nơi mình phục vụ, luôn phấn đấu vì mục tiêu của tổ chức. Bởi chính sự phát triển của tổ chức là cơ sở, tiền đề mang lại những lợi ích, nguồn lực cho người phục vụ trong tổ chức. Đây không chỉ là tiêu chí để đánh giá CBCC, mà còn là yêu cầu của nhà nước, cơ quan, tổ chức đối với những người thực thi công vụ. Vì vậy, người thực thi công vụ không thể phản bội Tổ quốc, chính thể, cơ quan, tổ chức mà mình đang phục vụ.

Hai là, việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật, quy chế làm việc trong thi hành công vụ.

Tiêu chí về tính hợp hiến, hợp pháp của hoạt động công vụ bắt nguồn từ yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý xã hội bằng pháp luật và nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đã được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Hiến pháp năm 2013 tuy không sử dụng thuật ngữ pháp chế xã hội chủ nghĩa, nhưng tinh thần của nguyên tắc này được thể hiện dưới hình thức mới với quy định Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật (Điều 8).

Việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật của CBCC trong hoạt động công vụ là tiêu chí đặc biệt quan trọng để đánh giá đạo đức công vụ của CBCC, vì chính họ là những người thực hiện, áp dụng pháp luật để đưa ra các quyết định quản lý khác nhau và thực hiện những hành vi hành chính để thực hiện những quyết định đó. Vì vậy, việc thực hiện “Hiến pháp và pháp luật là thước đo đạo đức”, sự chấp hành Hiến pháp, pháp luật là tiêu chí không thể thiếu để đánh giá đạo đức của CBCC trong hoạt động công vụ và cả trong cuộc sống. Cán bộ, công chức cũng như mọi đối tượng khác trong xã hội không chấp hành Hiến pháp, pháp luật, hay chấp hành một cách không nghiêm minh, thường xuyên, liên tục thì cũng khó có thể nói rằng người đó có đạo đức, vì Hiến pháp và pháp luật là khuôn mẫu về hành vi, xử sự đã được nhà nước thừa nhận chính thức, luôn không đối lập với đạo đức, các quy tắc đạo đức thấm đượm vào Hiến pháp, pháp luật, do đó chấp hành Hiến pháp và pháp luật cũng là chấp hành các giá trị đạo đức đã được pháp luật hóa.

Ba là, hiệu quả hoạt động công vụ của cán bộ, công chức.

Người CBCC thực thi công vụ được nhà nước trả lương từ ngân sách nhà nước, do đó hoạt động công vụ của họ phải mang lại hiệu quả nhất định nhằm góp phần tạo ra những giá trị xã hội, hoặc đáp ứng các yêu cầu hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Hiệu quả hoạt động công vụ, việc hoàn thành nghĩa vụ, nhiệm vụ công vụ là thước đo đánh giá sự phục vụ, cống hiến của CBCC đối với nhà nước, xã hội, do đó hiệu quả hoạt động công vụ phải được coi là một trong những tiêu chí cơ bản để đánh giá đạo đức công vụ của CBCC.

Bốn là, tính trung thực, không thiên vị, vụ lợi trong hoạt động công vụ.

Trung thực là đức tính, phẩm giá cao quý của con người, là sự đối lập với lừa đảo, dối trá. Tính trung thực của con người trong đời sống quyết định sự đúng đắn, khách quan trong mọi quan hệ xử sự của con người, đặc biệt đối với CBCC khi thực thi công vụ. Khi không trung thực trong cuộc sống, trong hoạt động công vụ sẽ dẫn đến những quyết định sai trái gây tổn hại cho nhà nước, xã hội, cá nhân, tổ chức. Chính sự không trung thực của CBCC sẽ dẫn tới những vi phạm pháp luật trong công vụ, vì không trung thực người ta mới khai gian lý lịch, thành tích để được khen thưởng, phong hàm, cấp, không trung thực mới dẫn tới thiên vị, bè phái, vì không trung thực, vụ lợi nên mới có tình trạng tham nhũng…

Năm là, quan hệ giữa cán bộ, công chức.

Trong hoạt động công vụ hình thành nên các mối quan hệ chính thống giữa CBCC với nhau trong công vụ, từ đó hình thành nên tình cảm, thái độ của họ với nhau trong công vụ. Người CBCC có đạo đức công vụ tốt là người phải biết thiết lập quan hệ với đồng nghiệp trong công vụ, chia sẻ kinh nghiệm, hợp tác, không chỉ biết hoàn thành nghĩa vụ công vụ của mình mà phải biết giúp đỡ đồng nghiệp hoàn thành nhiệm vụ, công vụ, có tinh thần, thái độ cầu thị, biết giúp nhau cùng phát triển, hoàn thiện để hoàn thành mọi nhiệm vụ chung.

Chỉ trong hoạt động công vụ mới hình thành quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới. Quan hệ giữa người lãnh đạo, quản lý với người bị lãnh đạo, quản lý là do địa vị pháp lý của họ trong công vụ quyết định, người lãnh đạo, quản lý, người bị lãnh đạo, quản lý đều phải ý thức được điều này. Người lãnh đạo, quản lý có đạo đức công vụ phải là người biết hướng dẫn, dẫn dắt cấp dưới trong công vụ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để cấp dưới hoàn thành nhiệm vụ, công vụ, biết nêu gương trong công vụ và trong sinh hoạt, tôn trọng ý kiến cấp dưới, biết nghe ý kiến đúng của cấp dưới, biết đáp ứng những yêu cầu đòi hỏi hợp pháp, chính đáng của cấp dưới, quan tâm thường xuyên tới tư cách, động cơ và lợi ích của cấp dưới, biết tạo điều kiện cho cấp dưới phát triển trong chức nghiệp. Người lãnh đạo, quản lý có đạo đức là người phải gương mẫu chấp hành Hiến pháp, pháp luật, kỷ luật và biết yêu cầu, hướng dẫn cấp dưới thực hiện, có lòng vị tha vì con người trong hoạt động lãnh đạo, quản lý và trong xử lý những vi phạm trên cơ sở chuẩn mực pháp luật.

Đối với cấp trên, nhân viên phải tôn trọng người lãnh đạo, quản lý, chấp hành mọi quyết định hợp pháp của người lãnh đạo, quản lý, hoàn thành mọi nhiệm vụ, bổn phận công vụ của mình và chịu trách nhiệm trước cấp trên, người lãnh đạo, quản lý về mọi quyết định, hành vi công vụ của mình. Tôn trọng người lãnh đạo, quản lý là tôn trọng người giữ các chức vụ mà nhà nước đã trao cho họ.

Sáu là, tận tụy phục vụ khách hàng.

Mục tiêu của hoạt động công vụ là phục vụ nhà nước, xã hội và công dân, do đó trong quá trình hoạt động công vụ, người CBCC phải tôn trọng nhân dân, lắng nghe ý kiến của dân, phải đặt mình vào vị trí của khách hàng để giải quyết công việc. Đồng thời, khi thực thi công vụ, CBCC cần phải có thái độ lịch sự và công bằng, giải quyết công việc đúng pháp luật, không gây phiền hà, sách nhiễu, không vụ lợi, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, quan tâm đến đời sống, thật sự gần gũi, hiểu biết nguyện vọng chính đáng của nhân dân, khiêm tốn học hỏi nhân dân; sẵn sàng lắng nghe ý kiến phê bình, góp ý của nhân dân.

Bảy là, sự tự giác thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm, bổn phận công vụ.

Thái độ của người thực thi công vụ đối với việc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm, bổn phận công vụ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá đạo đức công vụ của họ. Thái độ trong công vụ có ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động công vụ, quan hệ của người thực thi công vụ với khách hàng của nền công vụ. Người thực thi công vụ có thể bằng lòng nhiệt tình, sự tự giác hoặc cũng có thể bằng thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm. Vì vậy, cần coi thái độ thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm, bổn phận công vụ là một trong những tiêu chí để đánh giá đạo đức công vụ của người thực thi công vụ./.

GS. TS. Phạm Hồng Thái – Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội

Ghi chú:

(1) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 3, Nxb CTQG, H.2002, tr.434.

(2) Đại từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên), Nxb Văn hóa – Thông tin, H.1999, tr.595.

(3) Thiều Chửu, Hán Việt từ điển, Nxb Văn hóa – Thông tin, H.2001, tr.177, tr. 614.

(4) Vũ Đình Hòe, Pháp quyền – nhân nghĩa Hồ Chí Minh, Nxb Văn hóa – Thông tin, H. 2001, tr.334.

tcnn.vn

So Sánh Dao Nhật Và Dao Đức

Ngày: 10/08/2020 lúc 15:58PM

Khi bạn tìm mua một con dao chất lượng cao, có khả năng bạn sẽ bắt gặp 2 loại dao chính: dao Đức và dao Nhật . 2 trường phái dao trên đã khẳng định được vị thế của mình trên bản đồ thế giới. Vậy làm sao để đưa ra quyết định chọn lựa giữa 2 loại dao này?

Đã đến lúc bạn cần một con dao thực thụ mà đảm bảo được tiêu chí về độ sắc bén và sáng bóng. Hơn nữa, bộ dao bếp được thiết kế mang màu sắc riêng sẽ trở thành điểm nhấn trong gian bếp của bạn. Khi bạn tìm mua một con dao chất lượng cao như vậy, có khả năng bạn sẽ bắt gặp 2 loại dao chính: dao Đức và dao Nhật. Tất nhiên còn rất nhiều loại dao khác, nhưng 2 trường phái thiết kế dao trên đã khẳng định được vị thế của mình trên bản đồ thế giới về dao. Vậy làm sao để đưa ra quyết định chọn lựa giữa 2 loại dao này? Loại nào tốt nhất cho phong cách nấu ăn của bạn?

Sự khác biệt giữa 2 loại dao này chủ yếu nằm ở độ cứng của thép và góc cạnh, từ đó có sự phân biệt với nhau về độ bền và chức năng. Tuy nhiên, để làm sáng rõ câu hỏi ngày hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhìn nhận 2 dòng dao Đức và dao Nhật từ 5 góc cạnh: loại thép, góc cạnh,cấu tạo, tính đối xứng và công dụng.

Loại thép

Thép là hợp kim bao gồm Sắt và Các-bon. Cả dao của Đức và Nhật đều được làm từ thép, nhưng là 2 loại thép có tỷ trọng thành phần cấu tạo khác nhau. Thang điểm Rockwell (HRC) được sử dụng để xác định độ cứng của một miếng thép: con số này càng cao tức là lượng Các-bon trong miếng thép đó càng lớn, thép càng cứng.

Lưỡi dao của Đức được rèn bằng loại thép khoảng 57 HRC, trong khi lưỡi dao của Nhật từ loại thép trong khoảng 60 đến 63HRC.

Lưỡi dao Nhật cứng hơn sẽ giữ cạnh tốt hơn, tuy nhiên kém bền hơn và dễ bị sứt mẻ, thậm chí có khả năng bị gãy. Các loại dao bằng thép mềm hơn của Đức bền hơn rất nhiều nhưng đánh đổi vấn đề không duy trì được góc cạnh lâu như dao Nhật. Đó là lý do khiến độ sắc của dao Đức không duy trì được lâu như dao Nhật.

Để khắc phục tình trạng lưỡi dao cứng dễ mẻ, dao Nhật áp dụng phương pháp rèn kiếm samurai – phương pháp ép lớp. Tức là bên ngoài lớp thép cứng, dao Nhật sẽ thường có thêm nhiều lớp thép mềm bên ngoài để cân bằng với độ cứng của dao, khiến dao vừa sắc – vừa giữ cạnh sắc tốt – lại bền, không dễ mẻ. Đây là lý do các dòng dao Nhật 3 lớp, damascus, 37 lớp, 63 lớp thép lại phổ biến hơn với người sử dụng. Vì thiết kế của nó cực kỳ tối ưu.

Góc mài dao 

Lưỡi dao Nhật Bản mỏng hơn các loại dao khác của Đức, thường trong khoảng 15–16 độ, so với 20 độ của dao kiểu phương Tây. Góc cạnh là điểm then chốt đối với độ sắc bén của một con dao; góc càng hẹp, đường cắt càng nhỏ, dao càng ít ảnh hưởng đến chất lượng, hương vị của thực phẩm.

Trong kĩ thuật rèn dao của người Đức, lưỡi dao thường được hoàn thiện bằng máy, thì các loại lưỡi của Nhật Bản hầu như luôn được mài giũa và tinh chỉnh thủ công. Cạnh của hầu hết các loại lưỡi dao Đức đều được làm cong phù hợp với phong cách rocking cut của châu Âu, trong khi lưỡi dao Nhật thì thẳng hơn để tạo các lát cắt sắc ngọt và chính xác.

Cấu tạo

Thường thì các thương hiệu dao đến từ Đức đều thiết kế sản phẩm của mình với cấu tạo nguyên khối dọc từ lưỡi dao đến cán dao. Thậm chí các dòng dao Nhật được ưa chuộng tại thị trường châu Âu như Global cũng có thiết kế nguyên khối. Họ thích thiết kế dao nguyên khối.

Còn dao Nhật thì bộ phận cán dao được điều chỉnh sao cho thon gọn hơn, khiến cho trọng lượng cả con dao Nhật nhẹ hơn dao Đức. Do đó dao Nhật tạo cho người sử dụng một độ linh hoạt cao hơn.

Tính đối xứng

Trừ khi được sản xuất dành riêng cho thị trường Châu Âu, cạnh dao của những con dao Nhật được rèn không đối xứng – cạnh cắt nghiêng về tay thuận (thường là bên phải) của người dùng theo tỉ lệ 70/30. Có nghĩa là, người tiêu dùng thuận tay trái không thể sử dụng con dao đúng cách mà sẽ phải mua một con dao Nhật được thiết kế dành riêng cho người thuận tay trái. Đó gọi là các dòng dao vát một mặt.

Ngược lại, dao Đức luôn luôn cân bằng và đối xứng, người thuận tay phải và người thuận tay trái sử dụng không cảm nhận được sự khác biệt.

Công dụng

Một con dao Nhật Bản luôn được mài giũa sắc bén, rèn từ những nguyên liệu phù hợp cho những công việc yêu cầu độ chính xác cao và sự tinh tế như thái lát mỏng.

Trong khi đó, dao Đức có xu hướng dày hơn và nặng hơn vì vậy nó trở nên đa dụng hơn phần nào đó.

Vậy kiểu dao Đức hay dao Nhật phù hợp với phong cách nấu ăn của bạn?

Lưỡi dao Nhật Bản mỏng, sắc và nhẹ, đặc biệt lý tưởng cho những công việc chính xác phù hợp với phong cách nấu ăn của các đầu bếp theo phong cách Nhật Bản. Thép cấu thành lưỡi dao Nhật cứng hơn có nghĩa cạnh rất sắc nhưng lại đánh đổi bằng vấn đề lưỡi dao dễ bị mẻ và nứt hơn.

Loại dao Đức nặng hơn, dày hơn và toàn diện hơn, trọng lượng và thép mềm hơn làm cho con dao chắc hơn và bền hơn, và tốt cho cả việc chặt xương. Lưỡi dao của Đức đa năng hơn, dùng để băm, thái và thái sợi, bản chất đa mục đích và độ bền cao đi đôi với nhau.

Bạn vẫn không chắc chắn đâu là con dao phù hợp với mình?

Tóm lại, dao Đức và dao Nhật không quá quan trọng, đặc biệt là hiện nay, khi khoảng cách về sự khác biệt giữa 2 loại dao này ngày càng giảm. Một số loại dao của Đức hiện nay đã được mài sắc bén hơn, và trong khi đó các hợp kim mới đã cải thiện độ bền của dao Nhật Bản.

 

Cùng tham khảo ngay các dòng dao Nhật & Đức chính hãng tại KATANA: 

XEM NGAY

KATANA tự hào là đơn vị hàng đầu trong nhập khẩu, phân phối và bán lẻ sản phẩm dao Đức và Nhật chính hãng. Các thương dao bếp như KATANA, KAI, GLOBAL đến từ Nhật Bản hay ZWILLING đến từ Đức đều đã và đang mang những dấu ấn riêng và chiếm được sự tin cậy của người tiêu dùng quốc tế.

Khi mua hàng tại KATANA bạn được hưởng rất nhiều ưu đãi hấp dẫn và được bảo hành theo chế độ sau:

– Cam kết hàng chính hãng.

– Cam kết chất lượng cao, giá tốt trên thị trường.

BẢO HÀNH 1 ĐỔI 1 TRONG 7 NGÀY – BẢO HÀNH 24 THÁNG VỚI SẢN PHẨM DAO VÀ 12 THÁNG VỚI SẢN PHẨM KHÁC

Gọi ngay hotline: 083.777.8386 để được tư vấn!

Phương Pháp Ohsawa Với Đạo Đức Con Người?

Phương pháp Ohsawa với đạo đức con người? Trong các gia đình, chúng tôi thấy có những đứa trẻ rất dễ thương, lễ phép, chăm học, vân lời dạy bảo tốt lành của cha mẹ, thầy cô; nhưng ngược lại cũng có nhiều trẻ tánh tình kỳ cục, mất dạy, ai thấy cũng ghét, cha mẹ dầu dùng biện pháp mạnh là đánh đập nhưng chứng nào tật nấy, không sao sửa được. Vậy phương pháp Ohsawa có giúp có chúng điều chỉnh được tính tình để trở thành một đứa trẻ tốt lành mà mẹ cha hằng mơ ước hay không?

Quả thật như vậy, có những đứa trẻ dầu hư hỏng nhưng rất dễ dạy nếu các bậc trên trước rành tâm lý để dạy bảo. Trong xả hội văn minh ngày nay, đường hướng tâm lý coi như được các nhà giáo dục chú trọng và môn tâm lý họ được coi như một môn học đắc dụng và số người học môn này lấy các bằng cấp cao tiến sỹ không phải là hiếm. Thế nhưng cũng như thuốc, tuy trị được nhiều bệnh, nhưng có những bệnh nan y không thuốc nào chữa được, dầu có cố đến đâu thì cũng đỡ tạm chớ không dứt hẳn. Điều này, ta thấy nơi những tội phạm, có những kẻ vào tù ra khám như ăn cơm bữa mà xã hội như chỉ còn có cách cho ra khỏi cộng đồng. Cũng như thuốc bất lực trước các chứng nan y, còn phương pháp Ohsawa có hơn gì các liệu pháp tâm lý như đã từng tỏ ra rất tuyệt vời đối với các bệnh thể chất của con người?

Chúng ta để ý rằng, con người hư hỏng, họ rất ngoan cố và ngạo mạn. Họ hư từ gốc tâm táh, từ bẩm sinh, từ gốc tế bào, thành thử không một ai cải tạo họ nổi ngay khi tuổi đời còn rất bé bỏng. Vậy nếu ai đó mà muốn cải hóa họ thì phải dựa vào một đường hướng khác, làm kẻ bị cải hóa không biết là mình đang được cải hóa. Chỉ có đường hướng sinh học mới làm được như vậy vì sự việc được thành tựu từ nơi “vô ngã vô nhân” mới làm cho con người ấy đang được thay da dổi thịt và không cảm thấy khó chịu vì sự hiện diện của “thầy đời”.

Vậy những bậc cha mẹ muốn dạy con “mất dạy” hay những trung tâm cải huấn muốn cải tạo tận căn để những tội phạm “cứng đầu”, họ phải dùng liệu pháp sinh học thiên nhiên mà khỏe khoắn nhãn tiền trong một thời gian không thấy lâu dài. Chứng minh cho điều này là ở nhà tôi có một chị giúp việc, chữ nghĩa không bao nhiêu, sau khoảng một năm ăn cơm gạo lứt ở trong nhà tôi, một ngày nọ nói chuyện vui, chị thú thật: “Độ này không biết sao tôi ít nói, hiền bớt rồi, chớ trước đây tôi nóng tính, rất dữ, dễ ăn thua đủ với mọi người…” Còn về phần tôi, mỗi ngày tôi cũng thấy mình dễ chịu hơn. Tôi thích thua mọi người hơn là hơn thiên hạ. Chính điều này, tôi nhận thấy mình có nhiều bạn thân hơn và họ sẵn sàng giúp đỡ khi họ nhận thấy tôi có khía cạnh nào đó cần giúp đỡ mà không cần ngỏ ý. Đó là điều mà trước đây tôi chưa từng có.

Phương pháp Ohsawa đã làm cho tinh thần con người dễ ổn định. Mà đã ổn định một phần nào của chất liệu “thiền”, con người ta “dễ chơi” hơn, dễ có nhiều bạn thân chân thật hơn và khó có ai ghét bỏ mình. Thế là cuộc sống không còn phải “than trời trách đất” và vũ trụ này, sáng mở mắt ra là ta thấy, dường như – mà quả thật như thế – tất cả đều dành hết cho ta. Ôi, một hạnh phúc từ máu thịt của ta, khó có một ai đánh đổ.

60. Tại sao trong sách Ohsawa thường nói, ta phải tri ân bệnh tật. Bệnh làm ta đau khổ mà tri ân cái nỗi gì? Quả thật thế, câu nói của Tiên sinh dường như là một nghịch lý. Nhưng chúng ta thử nghĩ xem, nếu đường đời mà bằng phẳng thì con người đâu có giỏi giang gì, đâu có học hỏi gì. Nếu chúng ta xem lại những ngày đầu tiên làm máy bay, những máy bay của an hem wright có chiếc nào bay lên được và biết bao chiếc của những người cùng nhiệt huyết đều chung số phận và thân thể họ thì trầy vây tróc vẩy. Họ đâu có chịu thua. Rồi trải qua hơn trăm năm, ngày nay chúng ta có những phi cơ không những an toàn hơn và bay nhanh mà vô cùng tráng lệ. Bất cứ ngành nghề nào cũng vậy, nếu ta thành công sớm thì không học hỏi nhiều và cái thành công ấy có thể là thiếu bề dày kinh nghiệm và được vững chãi cùng năm tháng. Có đau khổ, có đớn đau, có cay đắng nhiều bề, có trăm đường tủi nhục thì thành công mới thú vị và có thể kể thành một câu chuyện đời vui cho con cháu mai sau. Thế là ta cũng nên tri ân cuộc đời từng bạc đãi ta chứ.

Về bệnh hoạn cũng thế. Bệnh mà hết nhanh cũng không hay lắm đâu. Có trầy trật ta mới học hỏi nhiều và kinh nghiệm nhiều để giúp đỡ cho kẻ khác vì trong cuộc chữa trị không phải ai cũng giống ai đâu.

Hơn nữa, nếu bệnh lành nhanh, ta dễ “dữ ngươi” mà vội coi thường bệnh hoạn của mình, không trị đến tận gốc, đến nỗi một ngày xấu trời nào đó, nó sẽ trở lại nặng hơn mà mình đỡ không kịp.

Và chúng tôi cũng xin nói thêm, phương pháp Ohsawa ra đời với một mục đích cao thượng và tuyệt vời là giúp chúng sinh khai mở trí phán đoán siêu việt tiềm ẩn trong mỗi con người để họ sống một cuộc đời thật là tự do, thật là thoải mái, thật là công bình trong bất cứ tình huống nào dầu cho có phong ba bão táp, nên nếu mà không bệnh hay hết bệnh nhanh thì con người không chịu ăn uống đúng phép quân bình lâu dài nên những lợi ích tinh thần vô cùng cao quý nói trên sẽ không thành tựu và họ chỉ có thể sống tương đối khỏe và hạnh phúc, nhưng hai thứ này chỉ hiện hữu một cách phiến diện và hoàn toàn là phù du mộng ảo.