So Sánh Giữa Siêu Văn Bản Và Trang Web / Top 6 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Channuoithuy.edu.vn

Trang Web Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Trang Web Và Website

Trang web là thuật ngữ dùng dùng để chỉ một tập hợp các trang thông tin dạng web được tổ chức, liên kết lại với nhau để thể hiện các dạng thông tin như văn bản, hình ảnh, video, âm thanh,…

Trang web là thuật ngữ dùng dùng để chỉ một tập hợp các trang thông tin dạng web được tổ chức, liên kết lại với nhau để thể hiện các dạng thông tin như văn bản, hình ảnh, video, âm thanh,… Nó giống như một ngôi nhà bao gồm nhiều thành phần gồm tường, móng, cửa, nội thất,… được kết hợp lại để tạo ra một không gian gọi là nhà. Có nhiều loại trang web khác nhau, từ đơn giản đến phức tạp như: chúng tôi chúng tôi chúng tôi chúng tôi kenh14.vn,…

Trang web là gì lấy ví dụ

Trang web là gì định nghĩa

Trang web b2b là gì

Trang web bán hàng là gì

Trang web và blog là gì?

Băng thông trang web là gì

Địa chỉ trang web là gì?

Cập nhật trang web là gì

Trang web cá nhân là gì

Dữ liệu trang web là gì

Định dạng trang web là gì

Điều hướng trang web là gì

Sơ đồ trang web là gì?

Cài đặt trang web là gì

Tiêu đề trang web là gì

Header trang web là gì

Trang web bán hàng là gì

Hosting trang web là gì

Index trang web là gì

Thiết kế trang web là gì

Quản lý trang web là gì

Làm trang web là gì

Dữ liệu trang web là gì

Liên kết trang web là gì

Trang web org là gì

Trong trang web pop up là gì

Trang web chính thức là gì

Trang web bị chặn là gì

Trang web doanh nghiệp là gì

Trang web (Web page) là gì? Thuật ngữ tưởng chừng căn bản đấy lại gây ra khá nhiều sự bối rối cho các bạn làm marketing online. ¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯ Hôm trước đứa em đang đi thực tập SEO cho một công ty về nhờ mình kiểm tra xem việc đi backlink đã chuẩn chưa?

Mình: Tại sao từ khóa nào em cũng đi link về trang chủ vậy?Em (hồn nhiên): Ơ thế không đi link về trang web thì đi về đâu ạ?Mình: Em có hiểu khái niệm trang web là gì không?Em: Thì là trang X đấy (X là tên miền website)Mình (giải thích): Một website thường có nhiều trang web, mỗi trang web đó gọi là web page. Một Web page (trang web) có thể là 1 bài viết, 1 chuyên mục hoặc 1 trang thông tin bất kỳ. Cụ thể, mỗi website thường có rất nhiều các nội dung khác nhau như trang giới thiệu, trang thông tin liên hệ, các bài viết giới thiệu về sản phẩm, dịch vụ,… mỗi trang nội dung có một URL (đường link) riêng biệt, ta gọi mỗi trang đó là một web page. Em (gãi gãi đầu): Tại chị hướng dẫn bảo em là SEO cho từ khóa nào thì cứ đi link cho từ khóa đó về trang web cần SEO là được :)))

Thực chất, bạn hướng dẫn kia nói không sai, nhưng lại chưa giải thích cho “lính mới” hiểu rõ thuật ngữ trang web (web page) và website nên mới dẫn đến sự nhầm lẫn cười ra nước mắt như vậy.

Khi dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt, Website và Web page đều có nghĩa là trang web. Song, phạm vi ứng dụng của hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Chính vì chưa có sự thống nhất về ngôn từ nên hiện nay có rất nhiều bạn không phân biệt được Website và trang web (Web page) để sử dụng sao cho chính xác.

Trang web doanh nghiệp là gì?

Trang web doanh nghiệp là trang web thể hiện các thông tin về một doanh nghiệp cụ thể. Ví dụ, trên trang web của công ty thiết kế website Tất Thành thì sẽ thể hiện phần lớn các thông tin về công ty, dịch vụ, sản phẩm mà công ty cung cấp, các hình ảnh, video, khách hàng, dự án,… của công ty Tất Thành. Ngoài ra có thể có các tinh tức chuyên ngành trong lĩnh vực thiết kế website, marketing. Trang web doanh nghiệp thường do chính do doanh nghiệp đó quản lý và đăng tải các thông tin lên. Ngày nay, trang web doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong các hoạt động quảng bá, marketing, kinh doanh của doanh nghiệp đó. Trang web doanh nghiệp, công ty khác với các trang web dạng tin tức chẳng hạn. Trang web tin tức là các trang đăng tải các thông tin tổng hợp, có thể là về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, môi trường, pháp luật,… và không đưa thông tin riêng về công ty nào cả. Trang web web dạng mạng xã hội như facebook chẳng hạn thì cung cấp công cụ để người dùng đăng tải các thông tin lên.

Web Pages và Website không giống nhau

I. Bản chất của trang web (web page) là gì?

Để hiểu được khái niệm trang web (web page) thì trước tiên bạn cần hiểu khái niệm website, hãy xem bài viết này: Website là gì ?

Tôi sẽ định nghĩa khái niệm trang web (web page) qua các ví dụ minh họa sau:

Ví dụ về Trang web (Web pages):

Phân loại trang web (web page)

Tùy vào mục đích sử dụng, trang web (Web page) được phân ra thành nhiều loại:

Cấu tạo của trang web (web page)

Trang web (Web page) được cấu tạo từ các dòng mã HTML. Chính trình duyệt (Browser) đã biên dịch (phiên dịch) những dòng mã đó thành các cấu trúc, hình ảnh, văn bản và hiển thị cho người xem.

HTML là ngôn ngữ siêu văn bản dùng để giúp các trình duyệt thể hiện nội dung Trang web (Web page). Thử tưởng tượng rằng chúng ta chưa có HTML và để tạo nên trang web (Web page) chúng ta dùng ngôn ngữ thường.

Ví dụ: Để trang web (Web page) có nền trắng

Người Việt Nam chúng ta viết: nền: trắng;

Nhưng người Anh lại viết: background: white;

Người Lào viết: Xnogngshtuog: chtaosgunu; (Tôi ví dụ thôi bạn đừng Google Translate làm gì :))

Vậy mỗi người viết theo ý hiểu của mình thì liệu một cỗ máy cần đồ sộ cỡ nào để hiểu hết những dòng mã đó? Chính vì thế HTML sinh ra và người viết mã phải tuân theo các quy luật của nó nhằm giúp trình duyệt dễ dàng hiểu và thể hiện.

Sự khác nhau giữa trang Web và Website

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

Trong văn nói hàng ngày

Khi ai đó nói với bạn là “vào trang web A mà xem, vào trang web B mà tìm,…” thì ý của họ là hãy truy cập vào tên miền A, tên miền B – khái niệm trang web ở đây chính là website

⇒ Khi nói đến website là nói đến tổng thể trang web, lấy tên của website (tên miền) để gọi

Nếu họ nói với bạn là “xem thông tin đấy ở trang giới thiệu, lấy số điện thoại ở trang liên hệ” thì trang giới thiệu hoặc liên hệ ở đây chính là một web page.

⇒ Khi nói đến trang web tức là nói đến một trang nội dung cụ thể của website – gắn liền với một URL riêng biệt.

Kích thước

Website thường bao gồm nhiều trang web con được liên kết với nhau thông qua các đường link.

Web page là một trang con trong website.

Nội dung

Một website có thể chứa nhiều thông tin dành cho nhiều người cho nhiều mục đích và nhu cầu khác nhau.

Một trang web chỉ phục vụ cho một mục đích và/hoặc một nhu cầu cụ thể.

Tại sao cần phân biệt trang web (web pages) và website?

Web pages ảnh hưởng đến việc SEO website của bạn

Toàn bộ website của bạn phải được tối ưu hóa đúng cho công cụ tìm kiếm, nhưng điều quan trọng hơn là tối ưu hóa các trang web, trang đích và bài đăng blog vì đó là cách thuật toán của Google hoạt động.

Tóm lại, để đơn giản hóa khái niệm trang web (Web page) thì bạn chỉ cần hiểu như sau:

Website bao gồm một hoặc nhiều trang web (web page)

Tên miền là tên gọi của website, Tiêu đề (URL) là tên gọi của trang web

Các trang web trên cùng 1 website có thể được trình bày khác nhau (màu sắc và bố cục khác nhau)

Thế nên để cho đỡ hiểu nhầm trong ngôn ngữ tiếng Việt thì các bạn nên sử dụng khái niệm ” trang web” thay cho web pages trong tiếng Anh và giữ nguyên khái niệm website, tức là website vẫn chỉ là website thôi không dịch ra tiếng Việt nữa.

Trang web chính thức là gì?

Một tập đoàn, công ty, cơ quan, đơn vị, cá nhân, cửa hàng, dự án,… có thể có một hoặc nhiều website. Website có thể do đơn vị chủ quản chính thức lập ra hoặc do nhân viên, đơn vị con lập ra. Ví dụ như một dự án bất động sản thì có thể có website của chủ đầu tư, của các nhân viên kinh doanh bất động sản. Các website này có thể là hai hoặc thậm chí hàng chục, hàng trăm web,… được lập ra để phục vụ các hoạt động marketing, kinh doanh. Có những website có thể do cùng một công ty, cơ quan lập ra theo các hướng khác nhau hoặc cho các dự án, mảng kinh doanh khác nhau. Tuy nhiên, trong các website đó thì chỉ có một website chính thức của dự án hay của công ty đó. Các website khác thường là các trang web phụ học vệ tinh. Trang web chính thức sẽ là nơi đăng tải các thông tin chính thức, nhanh nhất, đúng nhất của đơn vị chủ quản, công ty, tập đoàn đó. Việc xem thông tin tại các website chính thức sẽ đảm bảo an toàn cho người xem, tránh các thông tin sai lệch, chậm trễ hay thậm chí là các thông tin lừa đảo có thể có.

Org là viết tắt của từ Organization – Tổ chức phi chính phủ hoặc phi lợi nhuận. Trang web ORG là trang web của các tổ chức phi chính phủ hoặc phi lợi nhuận. Trang web của các tổ chức phi chính phủ hoặc phi lợi nhuận sử dụng tên miền .org hoặc .org để phân biệt với các trang web của các tập đoàn, công ty, cá nhân kinh doanh (hay sử dụng tên miền .com, chúng tôi hoặc .vn), các trang web của chính phủ (thường dùng đuôi tên miền là .gov, .gov.vn,…) và các loại trang web khác. Việc sử dụng đúng loại đuôi tên miền sẽ giúp người xem dễ phân biệt và tin tưởng hơn vào trang web, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của trang web hơn.

Tất cả những gì có bên trong trang web thì được gọi là dữ liệu của trang web. Dữ liệu của trang web có thể là: chữ, hình ảnh, video, âm thanh. Trong đó các loại định dạng video, hình ảnh là chiếm nhiều dung lượng của trang web nhất. Một trang web có thể chứa được nhiều dữ liệu hai không thì phụ thuộc vào dung lượng hosting của website đó. Dung lượng hosting càng lớn thì càng cho phép chứa nhiều dữ liệu. Một trang web chứa quá nhiều dữ liệu cũng có thể ảnh hưởng đến tốc độ tải trang web khi người dùng xem thông tin trên website. Vì vậy khi làm dữ liệu cho trang web, bạn cũng cần cân nhắc tối ưu dữ liệu sao cho phù hợp, vẫn truyền tải đủ thông điệp tới người xem và vẫn có thể hiển thị nhanh, vừa tốt cho người xem và việc tăng thứ hạng website.

Điều hướng trang web là gì?

So Sánh Văn Hóa Quốc Gia Giữa Việt Nam Và Nhật Bản

Nếu chúng ta khám phá Nhật Bản qua lăng kính văn hóa xã hội và con người, chúng ta có thể có được một cái nhìn tổng quan và sâu sắc về văn hóa Nhật Bản rất khác biệt so với các nền văn hóa thế giới khác. Đặc biệt là Việt Nam, tuy cùng chung châu lục các lịch sử văn hóa cũng có nhiều điểm giao thoa, tuy nhiên sự khác biệt vẫn là rất lớn.

Nguồn: hofstede-insights.com

1. Khoảng cách quyền lực

Nhật bản với số điểm trung bình là 54, là một xã hội phân cấp biên giới. Vâng, người Nhật luôn ý thức về vị trí phân cấp của họ trong bất kỳ môi trường xã hội nào và hành động tương ứng. Tuy nhiên, nó không phân cấp như hầu hết các nền văn hóa châu Á khác. Một số người nước ngoài trải nghiệm Nhật Bản cực kỳ phân cấp vì kinh nghiệm kinh doanh của họ về quá trình ra quyết định chậm chạp: tất cả các quyết định phải được xác nhận bởi mỗi lớp phân cấp và cuối cùng là quản lý cấp cao ở Tokyo.

Việt Nam đạt điểm cao về chiều này (điểm 70), điều đó có nghĩa là mọi người chấp nhận một trật tự thứ bậc trong đó mọi người đều có một vị trí và không cần biện minh thêm. Hệ thống phân cấp trong một tổ chức được coi là phản ánh sự bất bình đẳng vốn có, tập trung hóa là phổ biến, cấp dưới mong muốn được nói phải làm gì và ông chủ lý tưởng là một người chuyên quyền nhân từ. Những thách thức đối với các nhà lãnh đạo không được đón nhận.

2. Chủ nghĩa cá nhân

Chủ nghĩa cá nhân hay là sự đề cao tính cá nhân và tính tập thể trong một quốc gia, một xã hội. Trong các xã hội theo chủ nghĩa cá nhân, mối quan hệ giữa con người tương đối lỏng lẻo, mỗi người có xu hướng chỉ quan tâm đến lợi ích của bản thân mình. Những xã hội này ưa thích tính cá nhân hơn sự đoàn kết tập thể. Cạnh tranh được đưa ra làm tiêu chuẩn để đo lường và ai cạnh tranh tốt nhất sẽ giành được phần thưởng. Các nước phương Tây như: Australia, Canada, Anh, Hoa Kỳ… là những đất nước đặc trưng theo chủ nghĩa cá nhân.

Nhật Bản đạt 46 điểm trên khía cạnh Chủ nghĩa cá nhân, đây là một con số cao hơn nhiều so với các nước xung quanh như Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam. Xã hội Nhật Bản cũng cho thấy nhiều đặc điểm của một xã hội tập thể: như sự tôn trọng với các quyết định của tập thể và khía cạnh đạo đức khi mọi người có cảm giác xấu hổ, mất mặt vì điều do một thành viên trong nhóm mình gây ra. Tuy nhiên, nó chặt chẽ như hầu hết những người hàng xóm châu Á khác. Giải thích cho điều này là xã hội Nhật Bản không có hệ thống gia đình mở rộng, tạo thành một cơ sở của các xã hội tập thể hơn. Nhật Bản đã là một xã hội gia trưởng và tên và tài sản gia đình được thừa kế từ cha cho con trai lớn nhất. Các em trai hoặc chị sẽ phải rời khỏi nhà và thành lập gia đình riêng của mình.

Người Nhật có kinh nghiệm tập thể theo tiêu chuẩn phương Tây và có kinh nghiệm cá nhân theo tiêu chuẩn châu Á. Họ riêng tư và dè dặt hơn hầu hết những người châu Á khác. chẳng hạn như gia đình mở rộng của họ và cộng đồng địa phương của họ. Người Nhật có kinh nghiệm tập thể theo tiêu chuẩn phương Tây và có kinh nghiệm cá nhân theo tiêu chuẩn châu Á. Họ riêng tư và dè dặt hơn hầu hết những người châu Á khác. chẳng hạn như gia đình mở rộng của họ và cộng đồng địa phương của họ. Người Nhật có kinh nghiệm tập thể theo tiêu chuẩn phương Tây và có kinh nghiệm cá nhân theo tiêu chuẩn châu Á. Họ riêng tư và dè dặt hơn hầu hết những người châu Á khác.

Ngược lại, trong các xã hội theo chủ nghĩa tập thể, mối quan hệ giữa các cá nhân như quan hệ ruột thịt giữa các thành viên trong gia đình, quan hệ bạn bè, đồng nghiệp… đóng vai trò quan trọng hơn trong các mong muốn của từng cá nhân. Hoạt động kinh doanh được tiến hành dựa trên cơ sở làm việc nhóm trong đó ý kiến tập thể luôn được coi trọng. Tập thể là quan trọng hơn tất cả, vì cơ bản, cuộc sống là loạt các mối quan hệ hợp tác và rành buộc lẫn nhau. Sự đoàn kết và đồng tình giúp giữ vững mối quan hệ hoà hợp trong tập thể. Các nước châu Á, đặc biệt là Đông Á như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam là những ví dụ tiêu biểu cho một xã hội theo chủ nghĩa tập thể.

Trong các xã hội cá nhân, mọi người thường tự chăm sóc bản thân và gia đình trực tiếp của mình. Trong các xã hội tập thể, mọi người có chung một nhóm mối quan hệ sẽ chăm sóc lẫn nhau để đổi lấy sự quan tâm giúp đỡ lại, hoặc các lợi ích hoặc lòng trung thành.

Việt Nam, với số điểm 20 là một xã hội tập thể. Điều này được thể hiện trong một cam kết ngầm, lâu dài chặt chẽ với nhóm tập thể mà họ tham gia, đó là một gia đình, họ hàng hoặc các mối quan hệ mở rộng như bạn bè, đồng nghiệp… Lòng trung thành trong một nền văn hóa tập thể là tối quan trọng và ghi đè lên hầu hết các quy tắc và quy định xã hội khác. Một xã hội như vậy thúc đẩy các mối quan hệ mạnh mẽ, nơi mọi người có trách nhiệm với các thành viên trong nhóm của họ. Trong các xã hội tập thể các hành vi phạm tội cá nhân cũng dẫn đến xấu hổ và mất mặt cho cả nhóm. Trong môi trường làm việc cũng thế, các cá nhân được đánh giá cả theo khía cạnh đạo đức (như liên kết gia đình), sự hòa đồng của họ với tập thể.

3. Mức độ Nam tính hay Nữ tính?

Nam tính/ Nữ tính là khái niệm chỉ một định hướng của xã hội dựa trên giá trị của nam tính và nữ tính. Xã hội có tính nam tính cao được tạo nên bởi những người đàn ông và phụ nữ quyết đoán, chú trọng đến sự nghiệp, kiếm tiền và hầu như không quan tâm đến những thứ khác. Có thể kể đến các ví dụ điển hình là Australia, Nhật Bản. Hoa Kỳ cũng là một đất nước có nam tính tương đối cao. Các nền văn hoá nói tiếng Tây Ban Nha cũng khá nam tính và thể hiện sự say mê lao động, sự táo bạo và cạnh tranh.

Điểm số cao (Nam tính cao) trên khía cạnh này cho thấy xã hội sẽ được thúc đẩy bởi sự cạnh tranh, thành tích và thành công, với thành công được xác định bởi người chiến thắng / người giỏi nhất trong lĩnh vực. Những đặc điểm của một xã hội nam tính còn bao gồm can đảm, gia trưởng, độc lập và quyết đoán. Những đặc điểm này là rất khác nhau tùy vào địa điểm cũng như tình huống, và nó chịu ảnh hưởng từ các yếu tố xã hội và văn hóa đặc thù của từng quốc gia.

Với 95 điểm, Nhật Bản là một trong những xã hội nam tính nhất trên thế giới. Các đặc điểm nổi bật về sự gia trưởng, quyết đoán và dũng cảm, sự trọng nam khinh nữ được thừa nhận rộng rãi trong xã hội. Tuy nhiên, tính nam tính này cũng được kết hợp với chủ nghĩa tập thể (thường nổi bật ở các xã hội nữ tính) của họ. Từ khi còn rất nhỏ ở trường mẫu giáo, trẻ em học cách thi đấu trong ngày thể thao cho các nhóm của mình (đội đỏ truyền thống chống lại đội trắng). Trong lao động, sự cạnh tranh mang tính tập thể rất gay gắt tại Nhật.

Trong công ty Nhật Bản, bạn thấy rằng nhân viên có động lực nhất khi họ chiến đấu trong một đội chiến thắng trước các đối thủ cạnh tranh. Những gì bạn cũng thấy là một biểu hiện của nam tính ở Nhật Bản là động lực cho sự xuất sắc và hoàn hảo trong sản xuất vật chất của họ (monodukuri) và trong các dịch vụ vật chất (khách sạn và nhà hàng) và thuyết trình (gói quà và trình bày thực phẩm) trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Nghiện công việc là một biểu hiện phổ biến khác về nam tính của người Nhật. Phụ nữ ở Nhật thường ở nhà chăm lo con cái và nhà cửa. Họ khó có thể thăng tiến trong công ty ở Nhật Bản với các tiêu chuẩn cao về nam tính, về thời gian làm việc chăm chỉ và kéo dài.

Ngược lại, trong các nền văn hoá nữ tính sẽ chú trọng hơn đến sự chăm sóc, phúc lợi, chất lượng cuộc sống, các mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau. Các nước Scandinavia, cả Nam giới và Nữ giới đều chú trọng vào việc duy trì vai trò, sự phụ thuộc và quan tâm đến những người kém may mắn hơn. Hệ thống phúc lợi phát triển cao và nhà nước thường có chế độ trợ cấp rất tốt cho giáo dục. Một xã hội nữ tính là nơi mà chất lượng cuộc sống được coi là tiêu chuẩn để đánh giá sự thành đạt.

Việt Nam đạt 40 điểm về chiều này và do đó được coi là một xã hội nữ tính. Ở các quốc gia nữ tính, trọng tâm là tập trung vào hoạt động để sống, các nhà quản lý cố gắng đồng thuận và đưa ra nhiều chính sách xã hội tốt, mọi người coi trọng sự bình đẳng, đoàn kết và chất lượng trong cuộc sống làm việc của họ. Xung đột được giải quyết bằng thỏa hiệp và đàm phán. Các ưu đãi như thời gian rảnh và tính linh hoạt được ưa chuộng. Tập trung vào hạnh phúc và hưởng thụ bên các mối quan hệ của mình.

4. Mức độ e ngại rủi ro

Sự e ngại rủi ro thể hiện mức độ mà con người có thể chấp nhận rủi ro và sự không chắc chắn trong cuộc sống của họ. Một xã hội có mức độ e ngại rủi ro cao, sẽ có nhiều tổ chức bảo hiểm để tối thiểu hoá rủi ro và đảm bảo an toàn tài chính. Các công ty tập trung tạo ra việc làm ổn định và thiết lập các quy định để điều chỉnh các hoạt động của nhân viên cũng như tối thiểu hoá sự không minh bạch. Các nhà lãnh đạo thường phải mất nhiều thời gian để ra quyết định vì phải xem xét hết mọi khả năng xảy ra rủi ro. Bỉ, Pháp và Nhật Bản là những nước có mức độ e ngại rủi ro tương đối cao.

Điểm số 92 Nhật Bản cho thấy là một trong những quốc gia có mức độ e ngại rủi do cao nhất trên trái đất. Điều này là do Nhật Bản liên tục bị đe dọa bởi thiên tai từ động đất, sóng thần, bão đến các vụ phun trào núi lửa. Nhật Bản đã học cách tự chuẩn bị cho mọi tình huống không chắc chắn, các kế hoạch khẩn cấp và biện pháp phòng ngừa không chỉ cho những thảm họa tự nhiên bất ngờ mà còn cho mọi khía cạnh khác của xã hội. Có thể nói ở Nhật Bản, bất cứ điều gì bạn làm đều được dự đoán tối đa và quy định thành các tục lệ, nghi thức bắt buộc. Cuộc sống mang tính nghi thức rất cao và bạn có rất nhiều nghi lễ. Tại đám cưới, đám tang, trong công sở, tại cuộc gặp quan trọng và các sự kiện xã hội khác, những gì mọi người mặc và cách mọi người nên cư xử được quy định rất chi tiết trong các sách xã giao.

Người Nhật thường không muốn làm những việc không có tiền lệ. Nhật Bản tốn rất nhiều thời gian và nỗ lực vào nghiên cứu tính khả thi và tất cả các yếu tố rủi ro phải được xử lý trước khi bất kỳ dự án nào có thể bắt đầu. Các nhà quản lý yêu cầu tất cả các sự kiện và số liệu chi tiết trước khi đưa ra bất kỳ quyết định nào.

Những xã hội có mức độ e ngại rủi ro thấp thường giúp các thành viên làm quen và chấp nhận sự không chắc chắn. Các nhà quản lý rất nhanh nhạy và tương đối thoải mái khi chấp nhận rủi ro nên họ ra quyết định khá nhanh. Con người chấp nhận cuộc sống mỗi ngày xảy đến và làm việc bình thường vì họ không lo lắng về tương lai. Họ có xu hưóng dung hoà được các hành động và quan điểm khác biệt so với bản thân họ vì họ không cảm thấy sợ sệt. Ấn Độ, Ireland, Jamaica và Hoa Kỳ là những ví dụ tiêu biểu nhất cho các quốc gia có mức độ e ngại rủi ro thấp.

Việt Nam đạt 30 điểm về mức độ e ngại rủi ro được đánh giá có sự bao dung, ít quy tắc và chấp nhận đổi mới đi đôi với sai sót nhiều lần hơn. Xã hội duy trì một thái độ thoải mái hơn, chấp nhận nhiều sự sai lệch so với chuẩn mực. Trong các xã hội thể hiện UAI thấp, mọi người tin rằng không nên có nhiều quy tắc hơn mức cần thiết. Lịch trình thường linh hoạt, chính xác và đúng giờ không phải là yếu tố bắt buộc. Các lý do diễn giải cho sự chậm trễ, sai sót thường dễ được chấp nhận.

5. Định hướng lâu dài

Khía cạnh định hướng dài hạn hay ngắn hạn này thể hiện mức độ con người và các tổ chức trì hoãn sự thoả mãn trong ngắn hạn để đạt được thành công trong dài hạn. Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp và con người trong các nền văn hoá định hưóng dài hạn có xu hướng nhìn về lâu dài khi lập kế hoạch và cuộc sống. Họ chú trọng đến các kế hoạch cho khoảng thời gian trong nhiều năm hoặc thậm chí là nhiều thập kỉ. Khía cạnh dài hạn được thể hiện rõ nét trong các giá trị đạo đức của người châu Á, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam…

Một phần, những giá trị này là dựa trên các học thuyết của Khổng từ, triết gia nổi tiếng người Trung Quốc sống vào khoảng năm 500 trước công nguyên. Ngoài việc đưa ra các định hướng dài hạn, Khổng Tử cũng tán thành các giá trị văn hoá cốt lõi khác mà cho đến bây giờ vẫn đang áp dụng cho nhiều nền văn hoá của châu Á. Những giá trị đó bao gồm tính kỷ luật, sự trung thành, sự siêng năng, quan tâm đến giáo dục, sự tôn trọng gia đình, chú trọng đoàn kết cộng đồng và kiểm soát ham muốn cá nhân. Học giả trên thế giới đã công nhận các giá trị này là điều làm nên sự kì diệu của Á Đông, làm nên tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng kể và quá trình hiện đại hoá của các nước Đông Á trong suốt vài thập kỉ qua.

Nhật Bản với 88 điểm là một trong những xã hội định hướng dài hạn nhất. Cuộc sống đối với họ chỉ là một khoảnh khắc rất ngắn trong lịch sử của loài người. Bạn sống làm việc hết sức mình và đó là tất cả những gì bạn có thể làm. Nếu một người Nhật cả thấy mất định hướng, mất khả năng làm việc hoăc vô dụng đối với xã hội, họ thường tìm cách kết thúc cuộc sống của mình. Đây là lý do Nhật có số vụ tự tử cao nhất thế giới. Mọi người sống cuộc sống của họ và hướng tới đức hạnh và danh dự cao như là một phần thưởng hơn là một vị Chúa toàn năng hứa hẹn cho họ lên thiên đàng. Ở Nhật Bản, bạn thấy định hướng dài hạn về tỷ lệ đầu tư liên tục vào R&D ngay trong thời kỳ kinh tế khó khăn, ưu tiên tăng trưởng thị phần ổn định hơn là lợi nhuận hàng quý v.v. . Tất cả đều phục vụ cho độ bền của các công ty.

Việt Nam đạt 57 điểm, tuy không phải là một nền văn hóa ngắn hạn hoàn toàn nhưng cũng không quá coi trọng sự dài hạn. Nguyên nhân có thể một phần ảnh hưởng bởi các cuộc chiến tranh diễn ra liên tiếp trong lịch sử, các giá trị dài hạn chưa kịp xây dựng đã bị đập đi và xây dựng lại từ đầu khi một chế độ mới lên ngôi, điều này biến Việt Nam thành một nền văn hóa thực dụng. Trong các xã hội với định hướng thực dụng, mọi người tin rằng sự thật phụ thuộc rất nhiều vào tình huống, bối cảnh và thời gian. Chúng cho thấy khả năng thích ứng truyền thống dễ dàng cùng với các điều kiện thay đổi, xu hướng hội nhập mạnh mẽ để học hỏi phát triển trong thời gian nhanh nhất.

Ngược lại, Hoa Kỳ và hầu hết các nước phương Tây đều chú trọng đến định hướng ngắn hạn, các đích đến rõ ràng và cụ thể. Các định hướng ngắn hạn có tác dụng thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ của thế giới, đồng nghĩa với việc bất chấp các rủi ro về lâu dài, sự tàn phá, hủy hoại về môi trường. Văn hóa đề cao thành tích và chủ nghĩa cá nhân cũng là nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ ly hôn cao, ngại sinh con và suy thoái dân số diễn ra mạnh mẽ ở các nước phương Tây.

6. Sự tự do cá nhân

Những người sống trong môi trường có văn hóa tự do cá nhân cao (như phương Tây) sẽ luôn chủ động làm những gì mình thích, đôi khi việc đó vượt quá tầm kiểm soát của bản thân. Bên cạnh đó, văn hóa tự do cũng cho mỗi cá nhân tự do toàn quyền trong các quyết định mà không phải chịu sự kiểm soát quá nhiều của hệ thống quy tắc và mối quan hệ. Họ có xu hướng hưởng thụ thành quả một mình (ăn uống, du lịch, mua sắm…) hơn là đi chung với một tập thể hoặc gia đình.

Ngược lại, các xã hội có đặc điểm văn hóa cá nhân kiềm chế hay có giới hạn (Restrained) thường có sự hoài nghi, đắn đo, lo lắng trong các quyết định và hành động. Trong xã hội này mọi người thường không chú trọng nhiều đến giải trí, hưởng thụ để thỏa mãn cá nhân mà gắn nó với các tập thể, mối quan hệ xung quanh. Những cá nhân sống trong xã hội hạn chế sẽ chấp nhận các hành động của mình bị giới hạn bởi những quy tắc và quan hệ. Văn hóa giới hạn bởi các yếu tố đạo đức, sự đánh giá của cộng đồng và truyền thống lịch sử lâu đời tiêu biểu nhất ở các nước đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc,Việt Nam.

Nhật Bản, với số điểm 42 và Việt Nam với 35 điểm đều thuộc nhóm các nước có đặc điểm văn hóa kiềm chế. Tuy nhiên, Nhật bản có xu hướng thoáng hơn do tiếp thu sâu rộng văn hóa của phương Tây trong nhiều thập kỷ. Việt Nam thì do ảnh hưởng trực tiếp của Trung Quốc và các nền văn hóa dựa trên nông nghiệp đề cao tính gia đình và cộng đồng xung quanh. Các nhu cầu về hưởng thụ cá nhân cũng bị phụ thuộc vào các mối quan hệ và đạo đức truyền thống rất nhiều. Tiêu biểu nhất có thể thấy các hoạt động giải trí mang tính cộng đồng phát triển rất mạnh. Các hình thức ăn mừng tiệc tùng, giải trí cá nhân thường được mở rộng ra rất nhiều ra bạn bè, gia đình, đồng nghiệp xung quanh.

Kết

Sự Khác Biệt Giữa Siêu Văn Bản Và Văn Bản Truyền Thống. Tài Liệu Siêu Văn Bản Khác Với Tài Liệu Thông Thường Như Thế Nào

Tài liệu siêu văn bản được hiểu là tài liệu chứa cái gọi là liên kết đến tài liệu khác. Tất cả điều này được thực hiện thông qua Giao thức truyền siêu văn bản (HTTP).

Thông tin trong tài liệu Web có thể được tìm thấy bằng các từ khóa. Điều này có nghĩa là mỗi trình duyệt Web chứa các liên kết cụ thể mà qua đó cái gọi là siêu liên kết được hình thành, cho phép hàng triệu người dùng Internet tìm kiếm thông tin trên khắp thế giới.

Các tài liệu siêu văn bản được tạo dựa trên ngôn ngữ HTML (HyperText Markup Language). Ngôn ngữ này rất đơn giản, các mã điều khiển của nó, trên thực tế, được trình duyệt biên dịch để hiển thị trên màn hình, bao gồm văn bản ASCII. Các liên kết, danh sách, tiêu đề, hình ảnh và biểu mẫu được gọi là các phần tử HTML.

Ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bảnHtml

Ngôn ngữ lập trình HTML (Hypertext Markup Language) được thiết kế để tạo ra các tài liệu siêu văn bản, định dạng của tài liệu này không phụ thuộc vào máy tính hoặc hệ điều hành được sử dụng. Tài liệu HTML là tài liệu Ngôn ngữ Đánh dấu Tổng quát Tiêu chuẩn (SGML) với ngữ nghĩa phù hợp để biểu diễn thông tin từ nhiều lĩnh vực. Tệp tài liệu HTML phải có phần mở rộng .html hoặc .htm. Định dạng này phù hợp để trình bày thư, tin tức, menu, tùy chọn, tài liệu siêu phương tiện, kết quả truy vấn cơ sở dữ liệu, tài liệu đồ họa, v.v.

HTML đã được sử dụng trong World Wide Web (WWW) từ năm 1990 bởi Tim Berners-Lee.

Ngày nay cũng có một phương ngữ đơn giản của SGML – XML u200bu200b(Ngôn ngữ đánh dấu mở rộng). Giả định rằng ngôn ngữ này tương thích với SGML và HTML (ngôn ngữ sau chỉ đúng một phần).

Bất kỳ ứng dụng SGML nào cũng bao gồm một số phần:

Khai báo SGML xác định những ký tự và dấu phân cách nào có thể được sử dụng trong một ứng dụng.

Dtd (định nghĩa kiểu tài liệu) định nghĩa một tiêu chuẩn cho các kiểu tài liệu và xác định cú pháp của các cấu trúc cơ bản.

Đặc tả ngữ nghĩa, cũng có thể bao gồm một số hạn chế cú pháp nhất định không có trong DTD, v.v. …

SGML là hệ thống mô tả các ngôn ngữ đánh dấu (markup). HTML là một ví dụ về một ngôn ngữ như vậy. Mỗi ngôn ngữ đánh dấu được định nghĩa trong SGML được gọi là một ứng dụng SGML. HTML 4.0 là một ứng dụng SGML tuân theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 8879: 1986 – Ngôn ngữ đánh dấu tổng quát tiêu chuẩn SGML (được định nghĩa trong).

Một ứng dụng SGML được đặc trưng bởi:

Khai báo SGML. Một khai báo SGML chỉ định những ký tự và dấu phân cách nào có thể được sử dụng trong một ứng dụng.

Mô tả loại tài liệu DTD (Định nghĩa loại tài liệu). DTD định nghĩa cú pháp cho các cấu trúc đánh dấu. DTD có thể bao gồm các định nghĩa bổ sung, chẳng hạn như các thực thể ký tự tham chiếu.

Một đặc tả mô tả ngữ nghĩa của đánh dấu. Đặc tả này cũng xác định các ràng buộc cú pháp không thể được thể hiện trong DTD.

Ví dụ về tài liệu chứa dữ liệu và đánh dấu. Mỗi ví dụ chứa một liên kết đến một DTD được sử dụng để diễn giải nó.

HTML cung cấp cho nhà phát triển các khả năng sau:

Xuất bản trong tài liệu thời gian thực với tiêu đề, văn bản, bảng, số liệu, ảnh, v.v.

Với một cú nhấp chuột, truy xuất tài liệu thông qua các liên kết siêu văn bản.

Thiết kế các biểu mẫu (form) cho các thao tác từ xa, đặt mua sản phẩm, đặt vé hoặc tìm kiếm thông tin.

Bao gồm bảng tính (ví dụ: Excel), video clip, clip âm thanh và các ứng dụng khác trực tiếp vào tài liệu.

máy chủ web là một máy chủ chấp nhận các yêu cầu HTTP từ các máy khách, thường là các trình duyệt web và đưa ra các phản hồi HTTP cho chúng, thường cùng với một trang HTML, hình ảnh, tệp, luồng phương tiện hoặc dữ liệu khác. Máy chủ web là xương sống của World Wide Web.

Máy chủ web đề cập đến cả phần mềm hoạt động như một máy chủ web và máy tính chạy phần mềm.

Khách hàng truy cập vào máy chủ web tại URL của trang web hoặc tài nguyên khác mà họ muốn.

Các chức năng bổ sung của nhiều máy chủ web là:

Ghi nhật ký các yêu cầu của người dùng vào tài nguyên,

Xác thực người dùng,

Hỗ trợ cho các trang được tạo động,

Hỗ trợ HTTPS cho các kết nối an toàn với máy khách.

Ngày nay, hai máy chủ web phổ biến nhất, cùng chiếm khoảng 90% thị trường, là:

Apache là một máy chủ web miễn phí được sử dụng phổ biến nhất trên các hệ điều hành giống Unix

IIS của Microsoft, được phân phối với HĐH Windows NT

Các thiết bị hoàn toàn khác nhau có thể được sử dụng làm máy khách để truy cập máy chủ web:

Trình duyệt web là cách phổ biến nhất

Phần mềm đặc biệt có thể truy cập độc lập vào máy chủ web để cập nhật hoặc thông tin khác

Điện thoại di động có thể truy cập tài nguyên máy chủ web bằng WAP

Các thiết bị thông minh hoặc thiết bị gia dụng khác

PHP (tương tác PHP: Siêu văn bảnBộ tiền xử lý – “PHP: Hypertext preprocessor”) là ngôn ngữ lập trình được thiết kế để tạo các trang HTML trên máy chủ web và hoạt động với cơ sở dữ liệu. Hiện tại được hỗ trợ bởi đại đa số các nhà cung cấp dịch vụ lưu trữ. Đi kèm với LAMP – bộ “tiêu chuẩn” để xây dựng trang web (Linux, Apache, MySQL, PHP (Python hoặc Perl)).

Trong lĩnh vực lập trình web, PHP là một trong những ngôn ngữ kịch bản phổ biến nhất (cùng với JSP, Perl và các ngôn ngữ được sử dụng trong chúng tôi do tính đơn giản, tốc độ thực thi, chức năng phong phú và phân phối mã nguồn. mã dựa trên giấy phép PHP. PHP được phân biệt bởi sự hiện diện của lõi và các trình cắm thêm, “Tiện ích mở rộng”: để làm việc với cơ sở dữ liệu, ổ cắm, đồ họa động, thư viện mật mã, tài liệu PDF, v.v. Bất kỳ ai cũng có thể phát triển tiện ích mở rộng của riêng mình và kết nối nó. Có hàng trăm tiện ích mở rộng, nhưng chỉ có vài chục tiện ích mở rộng đã được kiểm chứng tốt được đưa vào phân phối tiêu chuẩn. Trình thông dịch PHP kết nối với máy chủ web thông qua mô-đun được tạo riêng cho máy chủ đó (ví dụ: Apache hoặc IIS) hoặc dưới dạng ứng dụng CGI.

Bên cạnh đó, nó có thể được sử dụng để giải quyết các tác vụ quản trị trên các hệ điều hành UNIX, GNU / Linux, Microsoft Windows, Mac OS X và AmigaOS. Tuy nhiên, với khả năng này, nó đã không trở nên phổ biến, nhường chỗ cho Perl, Python và VBScript.

PHP hiện được sử dụng bởi hàng trăm nghìn nhà phát triển. Khoảng 20 triệu trang web báo cáo hoạt động với PHP, chiếm hơn 1/5 tên miền Internet.

Máy chủ Apache HTTP– máy chủ web miễn phí. Kể từ tháng 4 năm 1996, nó là máy chủ HTTP phổ biến nhất trên Internet; vào tháng 8 năm 2007, nó đã chạy trên 51% của tất cả các máy chủ web, vào tháng 4 năm 2008, nó đã tăng 49%.

Độ tin cậy và tính linh hoạt của cấu hình được coi là ưu điểm chính của Apache. Nó cho phép bạn kết nối các mô-đun bên ngoài để cung cấp dữ liệu, sử dụng DBMS để xác thực người dùng, sửa đổi thông báo lỗi, v.v. Hỗ trợ IPv6.

Nhược điểm phổ biến nhất là thiếu giao diện chuẩn thuận tiện cho người quản trị.

Máy chủ được viết vào đầu năm 1995 và người ta tin rằng tên của nó quay trở lại với tiêu đề truyện tranh “một bản vá” (eng. Vá), vì nó đã sửa lỗi của máy chủ World Wide Web phổ biến lúc bấy giờ là NCSA HTTPd 1.3. Sau đó, từ phiên bản 2.x, máy chủ đã được viết lại và bây giờ không chứa mã NCSA, nhưng tên vẫn còn. Hiện tại, phân nhánh 2.2 đang được phát triển và trong phiên bản 1.3 và 2.0 chỉ có các bản sửa lỗi bảo mật được thực hiện.

Máy chủ web Apache được phát triển và duy trì bởi cộng đồng nhà phát triển mở thuộc Tổ chức Phần mềm Apache và được bao gồm trong nhiều sản phẩm phần mềm, bao gồm Cơ sở dữ liệu Oracle và WebSphere của IBM.

Nội dung thông tin và khả năng truy cập là hai thuộc tính quan trọng nhất của tài liệu mà chúng tôi rất coi trọng. Do đó, một tài liệu văn bản thành công phải có các thuộc tính này. Ở mức độ nào siêu văn bản sở hữu chúng, và ở mức độ nào – đối với văn bản thông thường, bạn sẽ học được từ bài viết này.

Trang kết luận

Một tài liệu siêu văn bản có chứa các liên kết, một tài liệu bình thường thì không;

Trong một tài liệu siêu văn bản, thông tin bổ sung có sẵn thuận tiện hơn trong một tài liệu thông thường;

Siêu văn bản không tuyến tính, văn bản bình thường là tuyến tính;

Siêu văn bản là điển hình cho giao tiếp trên Internet.

Nội dung thông tin và khả năng truy cập là hai thuộc tính quan trọng nhất của tài liệu mà chúng tôi rất coi trọng. Do đó, một tài liệu văn bản thành công phải có các thuộc tính này. Ở mức độ nào siêu văn bản sở hữu chúng, và ở mức độ nào – đối với văn bản thông thường, bạn sẽ học được từ bài viết này.

Một tài liệu siêu văn bản có chứa các liên kết, một tài liệu bình thường thì không;

Trong một tài liệu siêu văn bản, thông tin bổ sung có sẵn thuận tiện hơn trong một tài liệu thông thường;

Siêu văn bản không tuyến tính, văn bản bình thường là tuyến tính;

Siêu văn bản là điển hình cho giao tiếp trên Internet.

Rõ ràng, lĩnh vực sử dụng rộng rãi nhất các công nghệ siêu văn bản là dịch vụ mạng World Wide Web (WWW) của Internet toàn cầu. Dịch vụ này cung cấp quyền truy cập trực quan dựa trên siêu văn bản vào dữ liệu trên mạng toàn cầu. Vì những mục đích này, các chương trình trình duyệt và các công cụ phần mềm đặc biệt đã được phát triển để tự động hóa quá trình tạo tài liệu Web (kho lưu trữ cục bộ, các trang, các trang Web).

Việc tạo và truy cập các ấn phẩm Web tương đối dễ dàng đã góp phần vào sự phát triển của Intranet (Intranet) – mạng riêng dựa trên công nghệ Internet. Intranet cho phép bạn kết nối các văn phòng trong cùng một tòa nhà hoặc ở các khu vực khác nhau trên thế giới, loại trừ truy cập trái phép vào dữ liệu.

Trước khi công nghệ WWW ra đời, việc truy cập dữ liệu qua Internet chỉ có thể thực hiện được ở chế độ văn bản và cần có kiến u200bu200bthức tốt về các khía cạnh khác nhau của hoạt động của mạng này. Do đó, người sử dụng Internet lúc đó chủ yếu là các tổ chức khoa học và các lập trình viên chuyên nghiệp, những người cần truy cập nhanh vào các tài liệu đặc biệt khác nhau trong các kho lưu trữ địa phương và trao đổi thông tin với đồng nghiệp. Công nghệ WWW đã mở rộng đáng kể khả năng của Internet, cung cấp khả năng truy cập thông tin đơn giản nhất cho người dùng không chuyên.

Công nghệ World Wide Web ban đầu dựa trên ý tưởng giao tiếp siêu văn bản giữa các nút của mạng toàn cầu trên toàn thế giới. Và về mặt này, công nghệ WWW có thể được coi là một trong những hình thức triển khai các công nghệ siêu văn bản trong một môi trường cụ thể có những đặc điểm cơ bản riêng.

Kể từ khi thành lập, công nghệ WWW đã liên tục được cải tiến. Hiện nay, các ấn phẩm Web dưới dạng tài liệu Web siêu văn bản được phổ biến rộng rãi. Xuất bản web hoạt động trên công nghệ máy khách-máy chủ. Máy chủ web là một chương trình chạy trên máy tính được thiết kế để cung cấp tài liệu cho các máy tính khác, máy chủ này sẽ gửi các yêu cầu thích hợp. Máy khách web là một chương trình cho phép người dùng yêu cầu tài liệu từ máy chủ. Máy chủ chỉ tham gia khi một tài liệu được yêu cầu.

Ngôn ngữ mà máy khách và máy chủ Web giao tiếp được gọi là HTTP (HyperText Transmission Protocol – Giao thức truyền siêu văn bản). Tất cả các ứng dụng Web phải hỗ trợ HTTP để gửi và nhận các tài liệu Web siêu văn bản và siêu văn bản và siêu phương tiện.

Có thể tương tác của người dùng với máy chủ WWW trong chế độ tương tác. Trong trường hợp này, người dùng có thể điền vào bất kỳ biểu mẫu nào chứa các trường để nhập thông tin kỹ thuật số hoặc thông tin biểu tượng, và chuyển nó đến máy chủ bằng cách nhấp vào nút tương ứng trong biểu mẫu. Máy chủ, đã nhận dữ liệu từ các trường biểu mẫu, sẽ khởi chạy một chương trình được tạo riêng cho biểu mẫu này, chương trình này sẽ xử lý dữ liệu đã nhận, tạo động một tài liệu HTML và trả lại cho người dùng.

Sự Khác Nhau Giữa Internet Và Web, So Sánh Internet Và Www

Internet là mạng lưới khổng lồ, kết nối hàng tỷ máy tính và các thiết bị phần cứng khác. Mỗi một thiết bị có thể kết nối với bất kỳ các thiết bị khác miễn là các thiết bị này được kết nối với Internet.

Web bao gồm tất cả các trang web mà bạn có thể xem trực tuyến trên Internet bằng thiết bị phần cứng của mình.

Internet là cơ sở hạ tầng phần cứng

Internet là sự kết nối khổng lồ giữa hàng tỷ máy tính và các thiết bị kết nối khác trên toàn thế giới và được kết nối thông qua cáp hoặc tín hiệu không dây. Mạng lưới khổng lồ này đại diện cho các thiết bị cá nhân, thiết bị kinh doanh, giáo dục và chính phủ, bao gồm mainframe (máy tính lớn), máy tính để bàn, điện thoại thông minh, tiện ích gia đình thông minh, máy tính bảng, laptop và các thiết bị khác.

Internet ra đời vào những năm 1960 với tên gọi là ARPAnet, lúc đầu mạng lưới này được thử nghiệm làm cách để quân đội Mỹ có thể duy trì liên lạc trong trường hợp nếu có cuộc tấn công hạt nhân nguyên tử xảy ra.

Trải qua thời gian, ARPAnet được đưa vào sử dụng để kết nối các máy tính lớn (mainframe) trong các trường đại học nhằm mục đích phục vụ cho việc học tập. Vào những năm 1980 và 1990, khi máy tính cá nhân trở thành xu hướng chủ đạo, mạng Internet đã tăng theo cấp số nhân vì số lượng người dùng sử dụng Internet ngày càng tăng.

Ngày nay Internet đã phát triển và trở thành “mạng nhện khổng lồ” kết nối hàng tỷ máy tính cá nhân, máy tính chính phủ, giáo dục và thương mại và tất cả các thiết bị này được kết nối thông qua cáp hoặc các tín hiệu không dây.

Không một cơ quan, đối tượng nào sở hữu Internet. Không một chính phủ nào có thẩm quyền về hoạt động của mình. Một số quy tắc kỹ thuật và các tiêu chuẩn về phần cứng và phần mềm thực thi cách người dùng truy cập Internet.

Sự khác nhau giữa Internet và Web

Web là các thông tin trên Internet

Bạn phải truy cập Internet để xem World Wide Web và bất kỳ trang web hoặc nội dung nào trong đó thông qua một số trình duyệt như Mozilla Firefox, Google Chrome. Web là phần thông tin chia sẻ, là tên mở rộng của các trang HTML trên Internet.

Web chứa hàng tỷ trang kỹ thuật số mà người dùng có thể xem thông qua phần mềm trình duyệt web trên máy tính. Các trang này chứa nhiều loại nội dung khác nhau, bao gồm nội dung tĩnh như các trang bách khoa toàn thư và các nội dung động như các trang bán hàng eBay, trang cổ phiếu, thời tiết, tin tức và báo cáo lưu lượng truy cập.

World Wide Web ra đời vào năm 1989. Web được các nhà vật lý nghiên cứu xây dựng để chia sẻ kết quả nghiên cứu của họ trên các máy tính với nhau. Ngày nay, ý tưởng đó đã phát triển thành bộ sưu tập tri thức con người lớn nhất trong lịch sử.

Web chỉ là một phần của Internet

Mặc dù các trang web chứa một lượng thông tin khổng lồ, nhưng chúng không phải là cách duy nhất để chia sẻ các thông tin thông qua Internet.

Internet, không phải là web, cũng được sử dụng để gửi email, các tin nhắn tức thời, và truyền các file. Web là một phần rất lớn của Internet nhưng không phải là tất cả.

https://thuthuat.taimienphi.vn/su-khac-nhau-giua-internet-va-web-26282n.aspx Sau khi đã tìm hiểu và biết được sự khác nhau giữa Internet và Web, hy vọng bạn đọc sẽ không còn bị nhầm lẫn và dùng sai giữa Internet và Web nữa.