So Sánh Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa 4 Cuộc Cách Mạng Tư Sản Anh, Pháp, Mĩ, Hà Lan ? Câu Hỏi 70139

Giống:

– Đều là cuộc cách mạng tư sản

– Mở đường cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển.

– Hạn chế:Sau cách mạng nhân dân ko dc đáp ứng quyền lợi gì và chưa đáp ứng dc nhu cầu của họ

– Đều là những cường quốc chuyển từ chế độ tư bản sang đế quốc

Khác:

Cách mạng Anh:

+ Do giai cấp tư sản liên kết vs quý tộc lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh

+ Đây là cuộc cách mạng ko triệt để vì vẫn còn ngôi vua

Cách mạng Pháp:

+ Đây là cuộc cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến

+ Hạn chế: Không hoàn toàn xóa bỏ bóc lột Phong kiến

– Cách mạng Mĩ:

+ Đây là cuộc cách mạng tư sản lật đổ ách thống trị của thực dân Anh

+ Sau cách mạng, vẫn còn tồn tại sự bất bình đẳng. Phụ nữ ko có quyền bỏ phiếu, người da đen và idian ko có quyền chính trị

***) Hoặc trả lời là:

* Giống:

– Đều là các cuộc Cách mạng tư sản, do giai cấp tư sản lãnh đạo, nhằm lật đổ quan hệ sản xuất phong kiến lỗi thời, mở đường cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển

– Động lực chủ yếu là quần chúng nhân dân

– Tất cả đều giành được thắng lợi, cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng thế giới

* Khác

* Nhiệm vụ

– Anh: Lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế

– Bắc mĩ lần 1 : Lật đổ nền thống trị thực dân Anh

– Pháp: xoá bỏ chế độ chuyên chế

* Hình thức:

– Hà Lan: Cách mạng giải phóng dân tộc

– Anh: nội chiến

– Bắc mĩ: giải phóng dân tộc, giành độc lập thuộc địa

– Pháp: Nội chiến – Chiến tranh vệ quốc

* Lãnh đạo:

– Hà Lan: Tư sản

– Anh: liên minh tư sản và quý tộc mới

– Bắc Mĩ: tư sản và chủ nô

– Pháp: Tư Sản ( đại, vừa, nhỏ )

* Động lực:

– Hà Lan: quần chúng nhân dân

– Anh: nhân dân

– Bắc mĩ: Nhân dân + 1 số nô lệ

– Pháp: quần chúng nhân dân nhiều giai cấp

* Kết quả

– Hà Lan: Thành lập nước CH Hà Lan

– Anh : thiết lập quân chủ lập hiến

– BM: hợp chủng quốc Hoà kì ra đời

– Pháp: THiết lập nền dân chủ Gia cobanh, thời kì thoát trào tái lập nền quân chủ

* Ý nghĩa:

– Hà Lan: là cuộc CMTS đầu tiên, mở ra thời đại mới bùng nổ các cuộc CMTS, nhưng với sự thành công cũng đem lại nhiều hạn chế, Hà Lan trở nên hùng mạnh và lại tiếp tục chính sách xâm lược

– Anh: Mở ra thời kỳ quá độ từ phong kiến sang tư bản chủ nghĩa

– Bắc Mĩ: thúc đẩy cuộc đấu tranh chống phong kiến châu âu và phong trào giành độc lập ở Mĩlanh

– Pháp: là Cuộc CMTS triệt để nhất, mở ra thời đại thắng lợi, củng cố quyền thống trị của giai cấp tư sản trên phạm vi toàn thế giớ

Nêu Những Điểm Chung Và Riêng Của Cách Mạng Tư Sản Anh Thế Kỉ Xvii, Chiến Tranh Giành Độc Lập Của Các Thuộc Địa Anh Ở Bắc Mĩ Và Cách Mạng Tư Sản Pháp Cuối Thế Kỉ Xviii (Có Thể Lập Bảng So Sánh, Hệ Thống Kiến Thức…)

Nêu những điểm chung và riêng của Cách mạng tư sản Anh thế kỉ XVII, Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ và Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII (có thể lập bảng so sánh, hệ thống kiến thức,…). Hướng dẫn giải

dựa vào những kiến thức đã học để so sánh

Lời giải chi tiết * Bảng so sánh các cuộc CMTS thời kì cận đại Nội dung Cách mạng tư sản Anh thế kỉ XVII Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII Nhiệm vụ, mục tiêu

– Lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế.

– Mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

– Lật đổ nền thống trị của thực dân Anh.

– Mở đường cho chủ nghĩa tư bản Bắc Mĩ phát triển.

– Xóa bỏ chế độ quân chủ chuyến chế.

– Mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

Lãnh đạo

Quý tộc mới, tư sản.

Tư sản , chủ nô.

Tư sản.

Hình thức

Nội chiến.

Cách mạng giải phóng dân tộc.

Nội chiến, chiến tranh vệ quốc.

Kết quả, Ý nghĩa

– Lật đổ chế độ phong kiến, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

– Thiết lập chế độ quân chủ lập hiến.

– Giải phóng Bắc Mĩ khỏi sự thống trị của thực dân Anh, thành lập quốc gia tư sản, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

– Góp phần thúc đẩy cách mạng chống phong kiến ở châu Âu, phong trào đấu tranh của nhân dân Mĩ La-tinh cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX.

– Lật đổ nền quân chủ chuyên chế, thủ tiêu tàn dư phong kiến, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

– Giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân.

– Chế độ phong kiến bị lung lay ở khắp châu Âu.

– Mở ra thời đại mới của chủ nghĩa tư bản trên thế giới.

Tính chất

Là một cuộc cách mạng tư sản chưa triệt để.

Là một cuộc cách mạng tư sản chưa triệt để.

Là một cuộc cách mạng tư sản triệt để.

Nội dung Cách mạng tư sản Anh thế kỉ XVII Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII Nhiệm vụ, mục tiêu

– Lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế.

– Mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

– Lật đổ nền thống trị của thực dân Anh.

– Mở đường cho chủ nghĩa tư bản Bắc Mĩ phát triển.

– Xóa bỏ chế độ quân chủ chuyến chế.

– Mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

Lãnh đạo

Quý tộc mới, tư sản.

Tư sản , chủ nô.

Tư sản.

Hình thức

Nội chiến.

Cách mạng giải phóng dân tộc.

Nội chiến, chiến tranh vệ quốc.

Kết quả, Ý nghĩa

– Lật đổ chế độ phong kiến, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

– Thiết lập chế độ quân chủ lập hiến.

– Giải phóng Bắc Mĩ khỏi sự thống trị của thực dân Anh, thành lập quốc gia tư sản, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

– Góp phần thúc đẩy cách mạng chống phong kiến ở châu Âu, phong trào đấu tranh của nhân dân Mĩ La-tinh cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX.

– Lật đổ nền quân chủ chuyên chế, thủ tiêu tàn dư phong kiến, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

– Giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân.

– Chế độ phong kiến bị lung lay ở khắp châu Âu.

– Mở ra thời đại mới của chủ nghĩa tư bản trên thế giới.

Tính chất

Là một cuộc cách mạng tư sản chưa triệt để.

Là một cuộc cách mạng tư sản chưa triệt để.

Là một cuộc cách mạng tư sản triệt để.

Chương 1: Các Cuộc Cách Mạng Tư Sản (Từ Giữa Thế Kỉ Xvi Đến Cuối Thế Kỉ Xviii)

Chi tiết Chuyên mục: Bài 29: Cách mạng Hà Lan và cách mạng tư sản Anh

– Diến biến chính của cách mạng Anh

+ 1642 -1648: Nội chiến ác liệt (vua – Quốc hội)

+ 1645: Trận Nêdơbi, nhà vua thua.

+ 1449: Xử tử vua, nền cộng hoà ra đời, cách mạng đạt đỉnh cao.

+ 1653: Nền độc tài được thiết lập (một bước tụt lùi)

+ 1688: Quốc hội tiến hành chính biến, sau đó chế độ quân chủ lập hiến được xác lập.

– Kết quả của Cách mạng Anh: Lật đổ chế độ phong kiến mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển. Thiết lập chế độ quân chủ lập hiến.

Chi tiết Chuyên mục: Bài 29: Cách mạng Hà Lan và cách mạng tư sản Anh

– Tính chất: Cách mạng Hà Lan vừa là một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, vừa là cuộc cách mạng tư sản, bởi vì nó vừa chống bọn xâm lược Tây Ban Nha vừa mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

– Ý nghĩa:

+ Là cuộc cách mạng tư sản đầu tiên trên thế giới

+ Lật đổ ách thống trị của thực dân Tây Ban Nha, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

+ Mở ra thời đại mới, thời đại bùng nổ của các cuộc cách mạng tư sản.

Chi tiết Chuyên mục: Bài 29: Cách mạng Hà Lan và cách mạng tư sản Anh

– Kinh tế:

+ Nông nghiệp: Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản vào trong nông nghiệp

+ Thủ công nghiệp: Công trường thủ công chiếm ưu thế so với phường hội

+ Thương nghiệp: Việc buôn bán phát triển nhất là buôn bán len dạ và nô lệ da đen.

– Xã hội: Xuất hiện tầng lớp quý tộc mới. Tư sản và quý tộc mới giàu lên nhanh chóng. Đời sống nông dân cực khổ.

– Chính trị: Chế độ quân chủ chuyên chế bảo thủ và lạc hậu kìm chế sự phát triển của chủ nghĩa tư bản

– Mâu thuẫn giữa tư sản và quý tộc mới với các thế lực phong kiến phản động trở nên gay gắt.

Chi tiết Chuyên mục: Bài 29: Cách mạng Hà Lan và cách mạng tư sản Anh

– 8/1566, nhân dân miền Bắc Nê-đec-lan khởi nghĩa, lực lượng phát triển mạnh, làm chủ nhiều nơi.

– 8/1567, Tây Ban Nha đưa quân sang đàn áp khởi nghĩa nhưng không ngăn trở được sự phản kháng của quần chúng.

– 4/576, quân khởi nghĩa giải phóng nhiều vùng rộng lớn.

– 4/11/1579, Quân đội Tây Ban Nha tấn công giết 8000 người, phá hủy một trung tâm thương mại.

– 23/1/1579, Hội nghị U-trech gồm đại biểu các tỉnh miền Bắc họp tuyên bố thành lập ” Các tỉnh Liên Hiệp”.

– 1648, Tây Ban Nha chính thức công nhận nền độc lập của “Các tỉnh Liên Hiệp”

Chi tiết Chuyên mục: Bài 29: Cách mạng Hà Lan và cách mạng tư sản Anh

– Tình hình kinh tế: Đầu thế kỉ XVI, Nê-đec-lan là một trong những vùng kinh tế phát triển nhất châu Âu: Nhiều thành phố, hải cảng xuất hiện và trở thành trung tâm thương mại nổi tiếng như U-trếch, Am-xtec-dam,… Nhiều ngân hàng được hành lập có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế.

– Tình hình xã hội: Cùng với sự phát triển công thương nghiệp, giai cấp tư sản Nê-dec-lan sớm hình thành, ngày càng có thế lực về kinh tế nhưng bị cản trở bởi ách thống trị của thực dân Tây Ba Nha.

Các Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp Trong Lịch Sử Và Đặc Điểm Cách Mạng Công Nghiệp Lần Thứ Tư

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra vào cuối thế kỷ XVIII, đẩu thế kỷ XIX, gắn liền với các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật lẩn thứ nhất, mở đầu từ ngành dệt ở Anh, sau đó lan tỏa sang nhiều ngành sản xuất khác và tới nhiều nước khác, trước hết là Mỹ, các nước châu Âu và Nhật Bản. Mở đầu cuộc cách mạng này, nền sản xuất hàng hóa trong ngành dệt ban đầu dựa trên công nghệ thủ công giản đơn, quy mô nhỏ, lao động chân tay chuyển sang sử dụng các phương tiện cơ khí và máy móc trên quy mô lớn nhờ áp dụng các sáng chế kỹ thuật trong sản xuất công nghiệp.

Trong số những thành tựu kỹ thuật có ý nghĩa then chốt trong giai đoạn này trước hết phải kể đến sáng chế “thoi bay” của Giôn Kây vào năm 1733 có tác dụng tăng năng suất lao động lên gấp đôi. Năm 1764, Giôn Ha-gơ-rếp sáng chế xe kéo sợi, làm tăng năng suất gấp 8 lần. Năm 1769, Ri-sác Ác-rai cải tiến công nghệ kéo sợi bằng súc vật, sau đó là bằng sức nước Năm 1785, Ét-mun Các-rai sáng chế máy dệt vải, tăng năng suất dệt lên tới 40 lần. Năm 1784, Giêm Oát sáng chế máy hơi nước, tạo động lực cho sự phát triển máy dệt, mở đầu quá trình cơ giới hóa ngành công nghiệp dệt.

Năm 1784, Hen-ry Cót tìm ra phương pháp luyện sắt từ quặng. Năm 1885, Hen-ry Bét-xen-mơ sáng chế lò cao có khả năng luyện gang lỏng thành thép đáp ứng được về yêu cầu rất lớn khối lượng và chất lượng thép đế chế tạo máy móc thời kỳ đó. Năm 1814, chiếc đầu máy xe lửa đầu tiên chạy bằng hơi nước ra đời, khai sinh hệ thống đường sắt ở châu Âu và châu Mỹ. Năm 1807,

Rô-bớt Phu-tông chể tạo thành công tàu thủy chạy bằng hơi nước.

Sau những bước khởi đầu ở nước Anh, cách mạng công nghiệp đã nhanh chóng lan rộng ra phạm vi thế giới và trở thành hiện tượng phổ biến đồng thời mang tính tất yếu đối với tất cả các quốc gia tư bản.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai

Các phương tiện truyền thông như điện tín và điện thoại ra đời vào năm 1880, Liên lạc bằng điện thoại ngay lập tức được ứng dụng trên khắp thế giới, Đầu thế kỷ XX hình thành một lĩnh vực kỹ thuật điện mới là điện tử học và ngành công nghiệp điện tử ra đời, mở đầu kỷ nguyên điện khí hóa, thúc đây sự phát triển các ngành công nghiệp khác như luyện kim, chế tạo máy, đóng tàu, công nghiệp quân sự; giao thông vận tải, công nghiệp hóa chất. Trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự diễn ra cuộc cách mạng cơ hóa và tự động hóa vũ khí trang bị mà điển hình là các phương tiện chiến tranh được sử dụng trong Chiền tranh thế giới thứ nhất,

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba

Điểm xuất phát của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba là Chiến tranh thế giới thứ hai, trong đó các bên tham chiến đã từng nghiên cứu chế tạo thành công các hệ thống vũ khí và trang bị dựa trên nguyện lý hoạt động hoàn toàn mới như bom nguyên tử máy bay phản lực, dàn tên lửa bắn loạt, tên lửa chiến thuật đầu tiên v.v. Đây là thành quả hoạt động nghiên cứu phát triển của rất nhiều viện nghiên cứu và văn phòng thiết kế quân sự bí mật Ngay sau đó các thành tựu khoa học – kỹ thuật quân sự được áp đụng vào sản xuất, tạo tiền đề cho cách mạng công nghiệp lần thứ ba, diễn ra trong nhiều lĩnh vực, tác động đến tất cả các hoạt động kinh tế, chính trị, tư tưởng đời sống, văn hóa, của con người.

Cách mạng công nghiệp lần thứ ba trải qua hai giai đoạn. Giai đoạn một từ giữa những năm 40 đến những năm 60 của thế kỷ XX. Giai đoạn hai bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI. Trong ranh giới giữa hai giai đoạn này là thành tựu khoa học đột phá trong lĩnh vực sáng chế và áp dụng máy tính điện tử trong nền kinh tế quốc dân, tạo động lực để hoàn thiện quá trình tự động hóa có tính hệ thống và đưa tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế chuyển sang một trạng thái công nghệ hoàn toàn mới.

Giai đoạn một chứng kiến sự ra đời vô tuyến truyền hình, công nghệ đèn bán dẫn, máy tính điện tử, ra-đa, tên lửa, bom nguyên tử, sợi tổng hợp, thuốc kháng sinh pê-nê-xi-lin, bom nguyên tử, vệ tinh nhân tạo, máy bay chở khách phản lực, nhà máy điện nguyên tử, máy công cụ điều khiển bằng chương trình, la-de, vi mạch tổng hợp, vệ tinh truyền thông, tàu cao tốc. Giai đoạn hai chứng kiến sự ra đời công nghệ vi xử lý, kỹ thuật truyền tin băng cáp quang, rô-bốt công nghiệp, công nghệ sinh học vi mạch tổng hợp thể khối có mật độ linh kiện siêu lớn, vật liệu siêu cứng, máy tính thế hệ thứ 5, công nghệ di truyền, công nghệ năng lượng nguyên tử.

Nhận diện cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư

Khác với ba cách mạng công nghiệp trước đây hình thành và phát triển trên cơ sở các thành tựu của ba cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển dựa trên cơ sở cả ba cuộc cách mạng khoa bọc – kỹ thuật trước đó, trước hết la cuộc cách mạng công nghiệp lấn thứ ba. Những thành tựu đột phá của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba, đặc biệt là công nghệ mạng In-tơ-nét, đã làm biến đổi sâu sắc toàn bộ diện mạo của đời sống xã hội cũng như nền kinh tế toàn cầu, tạo cơ sở cho sự phát triển FIR vào giữa thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI trong đó không chỉ máy tính điện tử kết nối thành mạng mà gần như tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người các dây chuyền sản xuất; nghiên cứu khoa học, giáo dục, y tế, dịch vụ, giải trí…đều được liên kết thành “mạng thông minh” mở ra kỷ nguyên mạng In-tơ-nét kết nối vạn vật.

Ngoài những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật lần thứ ba, FIR còn dựa trên những thành tựu khoa học mới nhất trong những lĩnh vực cơ bản như công nghệ cảm biến cực nhạy dựa trên cơ sở vật liệu na-nô điện tử và sinh học điện từ, có khả năng biến đổi những tín hiệu vô cùng yếu thành tín hiệu điện như sóng tư duy, bức xạ hồng ngoại cực yếu .v…; trí tuệ nhân tạo có khả năng giải mã, phân tích khối lượng thông tin cực lớn, với tốc độ cực nhanh, kể cả những thông tin như trực cảm, sóng tư duy, xúc cảm; siêu máy tính quang tử sử dụng các quang tử ánh sáng thay vì sử dụng tín hiệu điện tử như trong các máy tính điện tử, có tốc độ tính toán cực nhanh, với khả năng lưu trữ thông tin vượt xa các máy tính điện tử thông thường; công nghệ chế tạo vật liệu từ các nguyên tử; mạng In-tơ-nét kết nối vạn vật sử dụng thế hệ máy tính có trí tuệ nhân tạo cho phép xây dựng các nhà máy và xí nghiệp thông minh; công nghệ in 3D; các nguồn năng lượng tái sinh (năng lượng mặt trời; năng lượng gió; năng lượng thủy triều, năng lượng địa nhiệt); những thành tựu mới trong lĩnh vực sinh học phân tử, sinh học tổng hợp và di truyền học, với sự hỗ trợ của những phương tiện hiện đại, giúp giải mã nhanh các hệ gen, tìm hiểu sâu về mật mã di truyền, có thể giúp chỉnh sửa mã gen để chữa các bệnh di truyền, tạo ra những giống cây trồng mới trong nông nghiệp có những tính năng thích ứng với tình trạng hạn hán, nước nhiễm mặn hoặc chống sâu bệnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có những đặc điểm sau: (1) phát triển với tốc độ ở cấp số nhân, làm biến đổi nhanh chóng nền công nghiệp ở mọi quốc gia; (2) diễn ra trên phạm vi toàn cầu, làm thay đổi toàn bộ các hệ thống sản xuất, quản lý, quản trị; dịch vụ, nghỉ ngơi; giải trí của con người; (2) dựa trên nền sản xuất linh hoạt, kết hợp trong đó tất cả các khâu thiết kế, sản xuất; thử nghiệm, đáp ứng nhanh nhất nhu cầu của thị trường; thậm chí tới từng cá nhân; (3) không chỉ tạo ra “môi trường cộng sinh” giữa người và rô-bốt mà còn tạo ra “môi trường cộng sinh” giữa thế giới ảo và thế giới thực; (4) mở ra kỷ nguyên rô-bốt thông minh, hoàn toàn thay thế con người trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau; (5) mở ra kỷ nguyên công nghệ chế tạo sản phẩm không có phế thải; (6) công nghệ cảm biến được sử dụng phổ cập với kết quả là vào khoảng giữa thập kỷ thứ 3 của thế kỷ này, 10% dân số sẽ mặc quần áo kết nối với In-tơ-nét; 10% mắt kính kết nối với In-tơ- nét, sử dụng điện thoại di động cấy ghép vào người, 30% việc kiểm toán ở công ty được thực hiện bằng trí tuệ nhân tạo; (7) đẩy nhanh tiến độ phát triển cuộc cách mạng mới trong quân sự, trong đó sẽ ứng dụng phổ biến các vũ khí trang bị thông minh sử dụng trí tuệ nhân tạo và phát triển phương thức tác chiến lấy mạng làm trung tâm. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư không chỉ làm thay đổi toàn bộ diện mạo đời sống xã hội mà còn làm thay đổi căn bản phương thức hoạt động trong lĩnh vực quân sự.

So Sánh Các Phương Pháp Sản Xuất Tinh Dầu

Đây là phương pháp đơn giản và dễ thực hiện nhất với chi phí thấp, bằng cách sử dụng máy ép nghiền nguyên liệu , túi chứa tinh dầu li ti trong vỏ ngoài nguyên liệu khi bị tác động một lực sẽ vỡ ra, cho ra hỗn hợp tinh dầu . Nguyên liệu thường được dùng là các loại họ cam quýt như bưởi, cam, chanh. Sau khi ép xong, hỗn hợp tinh dầu có lẫn nước và cặn, sử dụng thiết bị tách ly tâm tinh dầu để lấy được tinh dầu nguyên chất cũng như loại bỏ những cặn bã còn sót lại. Phương pháp ép còn được gọi là ép lạnh, không dùng nhiệt để thu được tinh dầu trong nguyên liệu.

Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp nghiền ép là không thu được tối đa lương tinh dầu có trong thực vật, và chỉ giới hạn ở những loại thực vật có nhiều tinh dầu như cam, bưởi, lạc… đối với các loại thực vật có hàm lượng tinh dầu ít và khó chiết suất (hoa, lá) như hoa hồng, hoa oải hương, sả, bạc hà.. phương pháp nghiền ép gần như không hiệu quả.

Phương pháp sử dụng CO2 lỏng

Phương pháp chiết suất tinh dầu từ co2 hóa lỏng là phương pháp mới nhất hiện nay. Để thực hiện phương pháp này, nguyên liệu được đặt trong một thùng kín, CO2 hóa lỏng được bơm vào trong thùng, cùng với áp suất và nhiệt độ thích hợp, CO2 giúp cho nguyên liệu chiết suất ra các chất thơm. Sau khi hoàn thành quá trình, co2 trở về trạng thái khí và tự tiêu tan, giữ lại hoàn toàn tinh dầu nguyên chất.

Sử dụng CO2 lỏng để chiết suất tinh dầu chiết xuất tinh dầu với tỉ lệ cao nhất hiện nay, nhưng đây không phải là phương pháp phổ biến trong ngành sản xuất tinh dầu vì giá thành cao, chi phí đầu tư trang thiết bị lớn. Hiện nay, phương pháp này chỉ được sử dụng phổ biến trong chiết xuất tinh dầu cao cấp làm nước hoa, thuốc, mỹ phẩm…

Phương pháp Chưng cất hơi nước

Sản xuất tinh dầu bằng phương pháp chưng cất hơi nước là phương pháp phổ biến nhất, phương pháp này được thực hiện từ hơn 5.000 năm trước, và ngày nay hầu hết thiết bị chưng cất là các nồi chưng cất tinh dầu được làm bằng thép không gỉ hoặc đồng. Nguyên liệu trước khi cho vào nồi chưng cất được làm sạch và xử lý phù hợp với cấu trúc của nguyên liệu (phơi khô, cắt nhỏ…), sau khi hoàn tất quá trình chưng cất, sản phẩm đầu ra là hỗn hợp tinh dầu. Tùy thuộc vào mỗi cơ sở sản xuất, hỗn hợp tinh dầu sẽ được xử lý tách ly tâm, lọc cặn bã, hút chân không… để cho ra sản phẩm tinh dầu nguyên chất.

Lựa chọn phương pháp & thiết bị phù hợp

– Phương pháp ép tinh dầu, đây là phương pháp sản xuất tinh dầu đơn giản nhất, phù hợp với việc ép các loại nguyên liệu chứa nhiều tinh dầu như dầu lạc, dầu dừa, cám gạo…

– Phương pháp chiết suất tinh dầu bằng CO2 là phương pháp hiện đại nhất hiện nay, chiết suất được lượng tinh dầu chất lượng cao nhưng đòi hỏi hệ thống máy móc phức tạp, trình độ kĩ thuật cao và giá thành cũng rất lớn.

– Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước sản xuất được đa số các loại tinh dầu. Hơi nước tạo ra từ nồi hơi, thường có áp suất cao hơn không khí, được đưa thẳng vào bình chưng cất. Với phương pháp này, bạn có thể điều chỉnh áp suất, nhiệt độ để tận thu sản phẩm, nhưng phải giữ nhiệt độ ở mức giới hạn để tinh dầu không bị phân hủy. Không có một quy tắc chung nào cho mọi loại nguyên liệu vì mỗi chất nạp đòi hỏi một kinh nghiệm và yêu cầu khác nhau. Hiệu suất và chất lượng tinh dầu phụ thuộc vào đặc tính của tinh dầu và cách chọn phương phảp chưng cất. Thường thì các loại tinh dầu có tỉ trọng lớn hơn nước, khi chưng cất tinh dầu lôi cuốn hơi nước trong thiết bị áp suất cao, cho hiệu suất ly trích cao trong thời gian chưng cất ngắn.

Thiết bị phù hợp nhất có thể thấy là Máy chưng cất tinh dầu sử dụng điện , bởi hệ thống tủ điện điều khiển giúp bạn dễ dàng điều chỉnh nhiệt độ và thời gian phù hợp, tiết kiệm chi phí so với việc dùng gas hay đun củi.

Nguyên lý Hệ thống Chưng cất tinh dầu:

Nguyên liệu tinh dầu sau khi sơ chế được đặt trong nồi đun nguyên liệu, sau đó được làm nóng tạo ra hơi nước, theo ống dẫn hơi đến vị trí bồn ngưng tụ, cho ra hỗn hợp tinh dầu. Tỉ lệ tinh dầu sản xuất theo phương pháp này tương đối cao và phù hợp với hầu hết các nguyên liệu tinh dầu (cành, thân, lá…)

Với nhu cầu Sản xuất và Sử dụng tinh dầu ngày một tăng, KAG Việt Nam đã phát triển hoàn thiện hệ thống Chưng cất tinh dầu bằng phương pháp chưng cất hơi nước , phù hợp với những nguyên liệu phổ biến và dễ thực hiện ở Việt Nam.

Ưu điểm:

– Đơn giản hóa quy trình sản xuất tinh dầu, thiết bị nhỏ gọn, không tốn diện tích

– Dễ sử dụng, dễ lau chùi vệ sinh sau mỗi lần chưng cất.

– Thời gian chưng cất nhanh, có thể sản xuất nhiều loại tinh dầu.

– Có thể tuần hoàn tái sử dụng nước trong bồn ngưng tụ làm lạnh

– Không đòi hỏi vật liệu phụ như các phương pháp tẩm trích, hấp thụ.

Nhược điểm:

– Trong nước chưng luôn luôn có một lượng tinh dầu không nhỏ do không dùng hóa chất, nhưng có thể chưng cất lần hai để lấy được tối đa lượng tinh dầu đã phân tán và hòa tan.

Bạn có thể thu hồi thêm tinh dầu từ nước chưng, hương tinh dầu trong nước chưng nằm dưới hai dạng phân tán và hòa tan. Dạng phân tán thì có thể dùng phương pháp lắng hay ly tâm, còn dạng hòa tan thì phải chưng cất lại. Nếu trọng lượng riêng của tinh dầu và nước quá gần nhau thì có thể thêm NaCl để gia tăng tỉ trọng của nước làm tinh dầu tách ra dễ dàng.

CÔNG TY CP CÔNG NGHỆ KAG VIỆT NAM Hotline: 0904685252 Website:www.maythucphamkag.com Địa chỉ: Số 115/509 Vũ Tông Phan, Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội