So Sánh Các Cuộc Cách Mạng Tư Sản Hà Lan Anh Bắc Mĩ Pháp / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Channuoithuy.edu.vn

So Sánh Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa 4 Cuộc Cách Mạng Tư Sản Anh, Pháp, Mĩ, Hà Lan ? Câu Hỏi 70139

Giống:

– Đều là cuộc cách mạng tư sản

– Mở đường cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển.

– Hạn chế:Sau cách mạng nhân dân ko dc đáp ứng quyền lợi gì và chưa đáp ứng dc nhu cầu của họ

– Đều là những cường quốc chuyển từ chế độ tư bản sang đế quốc

Khác:

Cách mạng Anh:

+ Do giai cấp tư sản liên kết vs quý tộc lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh

+ Đây là cuộc cách mạng ko triệt để vì vẫn còn ngôi vua

Cách mạng Pháp:

+ Đây là cuộc cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến

+ Hạn chế: Không hoàn toàn xóa bỏ bóc lột Phong kiến

– Cách mạng Mĩ:

+ Đây là cuộc cách mạng tư sản lật đổ ách thống trị của thực dân Anh

+ Sau cách mạng, vẫn còn tồn tại sự bất bình đẳng. Phụ nữ ko có quyền bỏ phiếu, người da đen và idian ko có quyền chính trị

***) Hoặc trả lời là:

* Giống:

– Đều là các cuộc Cách mạng tư sản, do giai cấp tư sản lãnh đạo, nhằm lật đổ quan hệ sản xuất phong kiến lỗi thời, mở đường cho nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển

– Động lực chủ yếu là quần chúng nhân dân

– Tất cả đều giành được thắng lợi, cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng thế giới

* Khác

* Nhiệm vụ

– Anh: Lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế

– Bắc mĩ lần 1 : Lật đổ nền thống trị thực dân Anh

– Pháp: xoá bỏ chế độ chuyên chế

* Hình thức:

– Hà Lan: Cách mạng giải phóng dân tộc

– Anh: nội chiến

– Bắc mĩ: giải phóng dân tộc, giành độc lập thuộc địa

– Pháp: Nội chiến – Chiến tranh vệ quốc

* Lãnh đạo:

– Hà Lan: Tư sản

– Anh: liên minh tư sản và quý tộc mới

– Bắc Mĩ: tư sản và chủ nô

– Pháp: Tư Sản ( đại, vừa, nhỏ )

* Động lực:

– Hà Lan: quần chúng nhân dân

– Anh: nhân dân

– Bắc mĩ: Nhân dân + 1 số nô lệ

– Pháp: quần chúng nhân dân nhiều giai cấp

* Kết quả

– Hà Lan: Thành lập nước CH Hà Lan

– Anh : thiết lập quân chủ lập hiến

– BM: hợp chủng quốc Hoà kì ra đời

– Pháp: THiết lập nền dân chủ Gia cobanh, thời kì thoát trào tái lập nền quân chủ

* Ý nghĩa:

– Hà Lan: là cuộc CMTS đầu tiên, mở ra thời đại mới bùng nổ các cuộc CMTS, nhưng với sự thành công cũng đem lại nhiều hạn chế, Hà Lan trở nên hùng mạnh và lại tiếp tục chính sách xâm lược

– Anh: Mở ra thời kỳ quá độ từ phong kiến sang tư bản chủ nghĩa

– Bắc Mĩ: thúc đẩy cuộc đấu tranh chống phong kiến châu âu và phong trào giành độc lập ở Mĩlanh

– Pháp: là Cuộc CMTS triệt để nhất, mở ra thời đại thắng lợi, củng cố quyền thống trị của giai cấp tư sản trên phạm vi toàn thế giớ

Các Cuộc Cách Mạng Công Nghiệp Trong Lịch Sử Và Đặc Điểm Cách Mạng Công Nghiệp Lần Thứ Tư

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra vào cuối thế kỷ XVIII, đẩu thế kỷ XIX, gắn liền với các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật lẩn thứ nhất, mở đầu từ ngành dệt ở Anh, sau đó lan tỏa sang nhiều ngành sản xuất khác và tới nhiều nước khác, trước hết là Mỹ, các nước châu Âu và Nhật Bản. Mở đầu cuộc cách mạng này, nền sản xuất hàng hóa trong ngành dệt ban đầu dựa trên công nghệ thủ công giản đơn, quy mô nhỏ, lao động chân tay chuyển sang sử dụng các phương tiện cơ khí và máy móc trên quy mô lớn nhờ áp dụng các sáng chế kỹ thuật trong sản xuất công nghiệp.

Trong số những thành tựu kỹ thuật có ý nghĩa then chốt trong giai đoạn này trước hết phải kể đến sáng chế “thoi bay” của Giôn Kây vào năm 1733 có tác dụng tăng năng suất lao động lên gấp đôi. Năm 1764, Giôn Ha-gơ-rếp sáng chế xe kéo sợi, làm tăng năng suất gấp 8 lần. Năm 1769, Ri-sác Ác-rai cải tiến công nghệ kéo sợi bằng súc vật, sau đó là bằng sức nước Năm 1785, Ét-mun Các-rai sáng chế máy dệt vải, tăng năng suất dệt lên tới 40 lần. Năm 1784, Giêm Oát sáng chế máy hơi nước, tạo động lực cho sự phát triển máy dệt, mở đầu quá trình cơ giới hóa ngành công nghiệp dệt.

Năm 1784, Hen-ry Cót tìm ra phương pháp luyện sắt từ quặng. Năm 1885, Hen-ry Bét-xen-mơ sáng chế lò cao có khả năng luyện gang lỏng thành thép đáp ứng được về yêu cầu rất lớn khối lượng và chất lượng thép đế chế tạo máy móc thời kỳ đó. Năm 1814, chiếc đầu máy xe lửa đầu tiên chạy bằng hơi nước ra đời, khai sinh hệ thống đường sắt ở châu Âu và châu Mỹ. Năm 1807,

Rô-bớt Phu-tông chể tạo thành công tàu thủy chạy bằng hơi nước.

Sau những bước khởi đầu ở nước Anh, cách mạng công nghiệp đã nhanh chóng lan rộng ra phạm vi thế giới và trở thành hiện tượng phổ biến đồng thời mang tính tất yếu đối với tất cả các quốc gia tư bản.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai

Các phương tiện truyền thông như điện tín và điện thoại ra đời vào năm 1880, Liên lạc bằng điện thoại ngay lập tức được ứng dụng trên khắp thế giới, Đầu thế kỷ XX hình thành một lĩnh vực kỹ thuật điện mới là điện tử học và ngành công nghiệp điện tử ra đời, mở đầu kỷ nguyên điện khí hóa, thúc đây sự phát triển các ngành công nghiệp khác như luyện kim, chế tạo máy, đóng tàu, công nghiệp quân sự; giao thông vận tải, công nghiệp hóa chất. Trong lĩnh vực kỹ thuật quân sự diễn ra cuộc cách mạng cơ hóa và tự động hóa vũ khí trang bị mà điển hình là các phương tiện chiến tranh được sử dụng trong Chiền tranh thế giới thứ nhất,

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba

Điểm xuất phát của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba là Chiến tranh thế giới thứ hai, trong đó các bên tham chiến đã từng nghiên cứu chế tạo thành công các hệ thống vũ khí và trang bị dựa trên nguyện lý hoạt động hoàn toàn mới như bom nguyên tử máy bay phản lực, dàn tên lửa bắn loạt, tên lửa chiến thuật đầu tiên v.v. Đây là thành quả hoạt động nghiên cứu phát triển của rất nhiều viện nghiên cứu và văn phòng thiết kế quân sự bí mật Ngay sau đó các thành tựu khoa học – kỹ thuật quân sự được áp đụng vào sản xuất, tạo tiền đề cho cách mạng công nghiệp lần thứ ba, diễn ra trong nhiều lĩnh vực, tác động đến tất cả các hoạt động kinh tế, chính trị, tư tưởng đời sống, văn hóa, của con người.

Cách mạng công nghiệp lần thứ ba trải qua hai giai đoạn. Giai đoạn một từ giữa những năm 40 đến những năm 60 của thế kỷ XX. Giai đoạn hai bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI. Trong ranh giới giữa hai giai đoạn này là thành tựu khoa học đột phá trong lĩnh vực sáng chế và áp dụng máy tính điện tử trong nền kinh tế quốc dân, tạo động lực để hoàn thiện quá trình tự động hóa có tính hệ thống và đưa tất cả các lĩnh vực trong nền kinh tế chuyển sang một trạng thái công nghệ hoàn toàn mới.

Giai đoạn một chứng kiến sự ra đời vô tuyến truyền hình, công nghệ đèn bán dẫn, máy tính điện tử, ra-đa, tên lửa, bom nguyên tử, sợi tổng hợp, thuốc kháng sinh pê-nê-xi-lin, bom nguyên tử, vệ tinh nhân tạo, máy bay chở khách phản lực, nhà máy điện nguyên tử, máy công cụ điều khiển bằng chương trình, la-de, vi mạch tổng hợp, vệ tinh truyền thông, tàu cao tốc. Giai đoạn hai chứng kiến sự ra đời công nghệ vi xử lý, kỹ thuật truyền tin băng cáp quang, rô-bốt công nghiệp, công nghệ sinh học vi mạch tổng hợp thể khối có mật độ linh kiện siêu lớn, vật liệu siêu cứng, máy tính thế hệ thứ 5, công nghệ di truyền, công nghệ năng lượng nguyên tử.

Nhận diện cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư

Khác với ba cách mạng công nghiệp trước đây hình thành và phát triển trên cơ sở các thành tựu của ba cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển dựa trên cơ sở cả ba cuộc cách mạng khoa bọc – kỹ thuật trước đó, trước hết la cuộc cách mạng công nghiệp lấn thứ ba. Những thành tựu đột phá của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba, đặc biệt là công nghệ mạng In-tơ-nét, đã làm biến đổi sâu sắc toàn bộ diện mạo của đời sống xã hội cũng như nền kinh tế toàn cầu, tạo cơ sở cho sự phát triển FIR vào giữa thập kỷ thứ hai của thế kỷ XXI trong đó không chỉ máy tính điện tử kết nối thành mạng mà gần như tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người các dây chuyền sản xuất; nghiên cứu khoa học, giáo dục, y tế, dịch vụ, giải trí…đều được liên kết thành “mạng thông minh” mở ra kỷ nguyên mạng In-tơ-nét kết nối vạn vật.

Ngoài những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật lần thứ ba, FIR còn dựa trên những thành tựu khoa học mới nhất trong những lĩnh vực cơ bản như công nghệ cảm biến cực nhạy dựa trên cơ sở vật liệu na-nô điện tử và sinh học điện từ, có khả năng biến đổi những tín hiệu vô cùng yếu thành tín hiệu điện như sóng tư duy, bức xạ hồng ngoại cực yếu .v…; trí tuệ nhân tạo có khả năng giải mã, phân tích khối lượng thông tin cực lớn, với tốc độ cực nhanh, kể cả những thông tin như trực cảm, sóng tư duy, xúc cảm; siêu máy tính quang tử sử dụng các quang tử ánh sáng thay vì sử dụng tín hiệu điện tử như trong các máy tính điện tử, có tốc độ tính toán cực nhanh, với khả năng lưu trữ thông tin vượt xa các máy tính điện tử thông thường; công nghệ chế tạo vật liệu từ các nguyên tử; mạng In-tơ-nét kết nối vạn vật sử dụng thế hệ máy tính có trí tuệ nhân tạo cho phép xây dựng các nhà máy và xí nghiệp thông minh; công nghệ in 3D; các nguồn năng lượng tái sinh (năng lượng mặt trời; năng lượng gió; năng lượng thủy triều, năng lượng địa nhiệt); những thành tựu mới trong lĩnh vực sinh học phân tử, sinh học tổng hợp và di truyền học, với sự hỗ trợ của những phương tiện hiện đại, giúp giải mã nhanh các hệ gen, tìm hiểu sâu về mật mã di truyền, có thể giúp chỉnh sửa mã gen để chữa các bệnh di truyền, tạo ra những giống cây trồng mới trong nông nghiệp có những tính năng thích ứng với tình trạng hạn hán, nước nhiễm mặn hoặc chống sâu bệnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư có những đặc điểm sau: (1) phát triển với tốc độ ở cấp số nhân, làm biến đổi nhanh chóng nền công nghiệp ở mọi quốc gia; (2) diễn ra trên phạm vi toàn cầu, làm thay đổi toàn bộ các hệ thống sản xuất, quản lý, quản trị; dịch vụ, nghỉ ngơi; giải trí của con người; (2) dựa trên nền sản xuất linh hoạt, kết hợp trong đó tất cả các khâu thiết kế, sản xuất; thử nghiệm, đáp ứng nhanh nhất nhu cầu của thị trường; thậm chí tới từng cá nhân; (3) không chỉ tạo ra “môi trường cộng sinh” giữa người và rô-bốt mà còn tạo ra “môi trường cộng sinh” giữa thế giới ảo và thế giới thực; (4) mở ra kỷ nguyên rô-bốt thông minh, hoàn toàn thay thế con người trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau; (5) mở ra kỷ nguyên công nghệ chế tạo sản phẩm không có phế thải; (6) công nghệ cảm biến được sử dụng phổ cập với kết quả là vào khoảng giữa thập kỷ thứ 3 của thế kỷ này, 10% dân số sẽ mặc quần áo kết nối với In-tơ-nét; 10% mắt kính kết nối với In-tơ- nét, sử dụng điện thoại di động cấy ghép vào người, 30% việc kiểm toán ở công ty được thực hiện bằng trí tuệ nhân tạo; (7) đẩy nhanh tiến độ phát triển cuộc cách mạng mới trong quân sự, trong đó sẽ ứng dụng phổ biến các vũ khí trang bị thông minh sử dụng trí tuệ nhân tạo và phát triển phương thức tác chiến lấy mạng làm trung tâm. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư không chỉ làm thay đổi toàn bộ diện mạo đời sống xã hội mà còn làm thay đổi căn bản phương thức hoạt động trong lĩnh vực quân sự.

Sai Phạm Và Di Sản Nợ Xấu Của Ông Trần Bắc Hà

NGỌC LÊ – ANH VŨ

Chia sẻ

BIDV đã phải gánh chịu di sản nợ xấu từ thời ông Trần Bắc Hà (ảnh nhỏ)

Đưa BIDV vào tốp 4 với nợ xấu tăng vọt

Ông Trần Bắc Hà sinh năm 1956 tại Bình Định, bắt đầu gắn bó với BIDV từ năm 25 tuổi. Sau 10 năm công tác tại ngân hàng (NH) này, tháng 7.1991 ông được bổ nhiệm làm Giám đốc chi nhánh BIDV tỉnh Bình Định.

Đến năm 1999, ông Hà được bổ nhiệm làm Phó tổng giám đốc BIDV và đến tháng 5.2003 được lựa chọn làm Ủy viên HĐQT kiêm Tổng giám đốc NH này. Ông chính thức trở thành lãnh đạo quyền lực nhất từ đầu năm 2008 với vai trò Chủ tịch HĐQT và là người đại diện sở hữu gần 40% trên tổng số 95,3% cổ phần nhà nước nắm giữ tại BIDV. Ngoài ra, ông cũng trực tiếp nắm giữ hơn 163.600 cổ phiếu BIDV.

Ngoài vai trò lãnh đạo tại BIDV, ông Hà cũng từng là Chủ tịch HĐQT hàng loạt công ty như Công ty TNHH Đầu tư và phát triển Campuchia (IDDC); Công ty Đầu tư và phát triển Myanmar (MIDC); Công ty TNHH hai thành viên Đầu tư phát triển quốc tế (IIDC); rồi Chủ tịch Hiệp hội Các nhà đầu tư VN sang Campuchia (AVIC), sang Lào (AVIL) và sang Myanmar (AVIM).

Ông Hà đã thúc đẩy sự phát triển vượt bậc của BIDV, trở thành một trong 4 NH mạnh của hệ thống. Tuy nhiên, cũng “góp phần” đẩy nợ xấu tăng vọt. Theo báo cáo tài chính của 11 NH công bố vào tháng 8.2016 (thời điểm ông Hà nghỉ hưu), 11 NH “ôm” hơn 48.882 tỉ đồng nợ xấu. Trong đó, BIDV là NH có tổng số nợ xấu cao nhất, lên tới 13.183 tỉ đồng, tăng 35,95% so với cuối năm 2015. Trong quý 1/2018, lợi nhuận sau thuế của BIDV chỉ tăng 8,5% và chi phí dự phòng đã ăn mòn phần lớn 70% lợi nhuận trước trích lập.

Ông Hà cũng 2 lần dính tin đồn bị bắt vào năm 2013 và 2017. Cả 2 lần thông tin này xuất hiện đều ảnh hưởng khiến thị trường chứng khoán “bốc hơi” tỉ USD. Trước đó, ông Hà cũng từng dính vào tin đồn cho NH TMCP Phương Nam vay 5.000 tỉ đồng, hỗ trợ Phương Nam thâu tóm Sacombank. Tuy nhiên, ông bác bỏ tin đồn này.

Theo tài liệu của cơ quan điều tra (CQĐT), để có tiền tăng vốn điều lệ khi tái cơ cấu VNCB, Phạm Công Danh – Chủ tịch VNCB và Tập đoàn Thanh Thanh tìm đến BIDV để vay vốn. Danh gặp ông Đoàn Ánh Sáng, Phó tổng giám đốc BIDV phụ trách ban khách hàng doanh nghiệp, và ông Trần Lục Lang, Phó tổng giám đốc phụ trách ban quản lý rủi ro. Qua 2 nhân vật này, Danh đặt vấn đề việc Danh sẽ giới thiệu khách hàng có nhu cầu vay vốn kinh doanh cho BIDV.

Trường hợp khách hàng do VNCB giới thiệu không có đủ tài sản đảm bảo thì VNCB sẽ hỗ trợ, dùng tài sản của mình cầm cố, thế chấp, đảm bảo khoản vay theo quy định của BIDV. Khi được lãnh đạo BIDV đồng ý cho vay, Danh chỉ đạo cấp dưới dùng 12 công ty “ma” do mình thành lập, làm khống hồ sơ vay vốn 4.700 tỉ đồng tại BIDV. Tài sản đảm bảo khoản vay gồm 3.070 tỉ đồng là tiền của VNCB gửi tại BIDV và một số tài sản khác của Tập đoàn Thiên Thanh như 6 lô đất sân vận động Chi Lăng (Đà Nẵng), đất 209 Trường Chinh (Đà Nẵng).

CQĐT xác định quá trình tiếp nhận hồ sơ, ra chủ trương, cho vay và thu nợ của BIDV có nhiều sai phạm, trong đó có sai phạm của ông Hà. Ngày 3.10.2014, ông Trần Bắc Hà (lúc này đang giữ chức vụ Trưởng phân ban rủi ro tín dụng đầu tư thuộc Ủy ban Quản lý rủi ro của BIDV) ký 12 quyết định phê duyệt chủ trương cho vay mua vật liệu xây dựng đối với 12 công ty sân sau của Phạm Công Danh.

Ông Hà giao quyết định cho các chi nhánh thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ vay vốn, thẩm định khách hàng, phương án kinh doanh, xem xét quyết định cấp tín dụng đảm bảo khả năng thu đủ nợ gốc và lãi. Cùng ngày, ông Lang ký 12 công văn gửi 4 chi nhánh và ban khách hàng doanh nghiệp về việc giao các chi nhánh Bến Thành, Gia Định, Nam Sài Gòn, Sở Giao dịch 2 tiếp nhận hồ sơ, giải ngân, thu nợ theo quy trình của BIDV.

Sau đó 4 chi nhánh làm hồ sơ giải ngân 4.700 tỉ đồng theo nội dung phê duyệt. Theo kết luận điều tra, quyết định phê duyệt chủ trương cho vay của hội sở là phán quyết tín dụng để các chi nhánh thực hiện cho vay. Khi đến hạn, 12 công ty không trả được nợ nên BIDV đã tự động trừ tiền trên tài khoản tiền gửi của VNCB. Vì bảo lãnh cho các khoản vay nói trên, VNCB bị thiệt hại hơn 2.500 tỉ đồng.

CQĐT nhận định, BIDV đã không kiểm tra, thẩm định đối với khách hàng, không kiểm tra, thẩm định đối với các công ty cung cấp vật liệu xây dựng đầu vào. Vì thế, sau khi BIDV giải ngân chuyển tiền vào tài khoản 4 công ty của Phạm Công Danh thì tiền bị dùng cho mục đích cá nhân, chứ không phải để kinh doanh vật liệu xây dựng như hồ sơ vay.

(Theo Thanh niên)

So Sánh Giá Cước Internet Các Nhà Mạng 2022

Hiện nay, tại Việt Nam có rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ Intenret tới cho Hộ gia đình, và các doanh nghiệp, trong đó có 4 nhà cung cấp dịch vụ lớn nhất đó là: Viettel Telecom, VNPT, FPT Telecom và CMC Telecom (liên minh với VTVcab)… Mỗi hãng viễn thông lại cung cấp các gói sản phẩm dịch vụ khác nhau, và có rất nhiều các chương trình khuyến mại theo hàng tháng, khi tìm kiếm trên mạng internet có hàng ngàn kết quả trả về, kiến khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ rất khó biết nên sử dụng gói cước nào, giá cước và khuyến mại như thế nào.

SO SÁNH GIÁ CƯỚC INTERNET CÁC NHÀ MẠNG

1. Nhà mạng viễn thông VNPT

Tổng quan:

Công nghệ cáp quang 100%

Phí hòa mạng trả sau cao

Ít khuyến mại kèm theo

Hay ảnh hưởng bởi cáp quang biển AAG

Thường yêu cầu trả trước 06 -12 tháng

Tổng quan:

Công nghệ cáp quang 100%

Gói cước thường cao hơn 20% nhà mạng khác

Thủ tục lắp đặt phức tạp, yêu cầu Hộ Khẩu khi trả sau

Tham khảo tại: http://fpttelecom.com/bao-gia-cac-goi-cuoc-cap-quang-fpt/

Gói cước cho Hộ gia đình

Công nghệ cáp đồng trục CMTS

Yêu cầu sử dụng kèm cả Truyền hình cáp

Tốc độ gói cước thấp, băng thông quốc tế hạn chế

Khuyến mại nhiều, thường tặng sữa TH TrueMilk, Bia, Mũ bảo hiểm, Áo mưa

Thích hợp khách hàng muốn gói cước rẻ và không đặt cao vấn đề chất lượng

Tham khảo tại: http://vtvnet.net/lap-mang-internet-truyen-hinh-cap-internet-vtvcab

Tổng quan:

Công nghệ cáp quang 100%

Giá cước chỉ từ 200.000đ

Tốc độ quốc tế gói doanh nghiệp tốt

Chính sách khuyến mại tốt, thủ tục đơn giản

Tổng quan:

Đối với Hộ gia đình

Bạn đang muốn đăng ký lắp đặt cáp quang Viettel Đà Nẵng và đang muốn biết thông tin chi tiết về các gói dịch vụ, các chương trình khuyến mại và thủ tục đăng ký lắp […]

Năm 2020, khi bạn đăng ký Lắp cáp quang Viettel Hà Nội, bạn sẽ được trải nghiệm đường truyền internet siêu tốc lên tới hàng trăm Mbps, sử dụng công nghệ Gpon/AON tiên tiến bậc nhất […]

Cáp quang Viettel HCM là dịch vụ Internet siêu tốc được cung cấp bởi Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel, tốc độ lên tới hàng TRĂM Mbps và độ ổn định gần như Tuyệt đối […]

So sánh giá cước Internet các nhà mạng 2016

5 (100%) 2 đánh giá