Phương Pháp Nghiên Cứu Thực Nghiệm Trong Tâm Lý Học: Phân Loại, Lựa Chọn Phương Pháp Và Xử Lý Kết Quả

Khoa học trẻ, tâm lý học, đã bị đàn áp trong nhiều thập kỷ và không được cộng đồng khoa học chấp nhận. Cô đã xoay sở để nổi bật với triết học chỉ vào cuối thế kỷ XIX, nhưng ngay cả sau khi cô phải chứng minh giá trị của mình. Điều này đã được thực hiện, trước hết, thông qua các kỹ thuật tâm lý thực nghiệm. Họ đã làm cho nó có thể tìm thấy một sự biện minh cho nhiều lý thuyết khoa học và thực hiện một số khám phá có ý nghĩa đối với cộng đồng thế giới.

Cần lưu ý rằng trong thời gian này, các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm là chính và duy nhất. Các nhà khoa học chỉ tích lũy kiến ​​thức trong lĩnh vực này, vì vậy họ cần khẩn trương tìm ra phương pháp tiếp cận mới cho các đối tượng nghiên cứu của họ. Theo thời gian, việc áp dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm chỉ trở thành một phần của phương pháp và hiện được sử dụng cùng với các phương pháp khác để chứng minh tính hợp lệ của một lý thuyết cụ thể.

Tuy nhiên, đến nay, tâm lý thực nghiệm gây ra rất nhiều tranh cãi. Các nhà khoa học không thể xác định ranh giới cho phép của nó và nơi có thể được gán cho nó trong hệ thống kiến ​​thức. Mặc dù có những khó khăn này, các phương pháp tiến hành nghiên cứu thực nghiệm đang được quan tâm hàng năm giữa các chuyên gia trong lĩnh vực này và những người muốn áp dụng kiến ​​thức tâm lý vào thực tế.

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả ngắn gọn

Trước khi bạn hoàn toàn đi sâu vào việc phân loại các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, cần phải đưa ra một ý tưởng chung về phương pháp nghiên cứu, mà không khó để tưởng tượng các hoạt động của các nhà khoa học.

Nói một cách đơn giản, chúng có thể được mô tả như một sự kết hợp của các kỹ thuật và phương pháp cho phép các chuyên gia có được thông tin đáng tin cậy về đối tượng nghiên cứu. Điều này cho phép bạn xây dựng một lý thuyết khoa học khác, cũng như phát triển một số khuyến nghị thực tế sẽ được sử dụng tích cực trong các công trình tiếp theo của các nhà khoa học khác.

Vì tâm lý học rất khó tưởng tượng nếu không có phương pháp nghiên cứu, nên dễ dàng nhất để tháo rời chúng bằng cách sử dụng ví dụ của khoa học này. Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu trong tâm lý học là vô cùng hạn chế, chúng rất dễ hiểu ngay cả đối với người ngoài cuộc. Và kết quả của ứng dụng của họ có thể rất ấn tượng.

Phương pháp nghiên cứu trong tâm lý học: Các loại

Các phương thức chính được chia thành hai nhóm:

Phương pháp đầu tiên có thể được mô tả là thu thập dữ liệu có mục đích về đối tượng nghiên cứu và phân tích thông tin nhận được. Do đó, anh ta nên đưa ra lời giải thích về một hoặc một yếu tố tâm lý khác điều chỉnh hành vi của cá nhân.

Phương pháp quan sát có một số yêu cầu mà chúng tôi tập trung vào một thời gian ngắn:

điều kiện tự nhiên;

tập trung rõ ràng;

đăng ký tất cả các kết quả nhận được.

Thí nghiệm: Mô tả ngắn gọn và Đặc điểm nổi bật

Phương pháp nghiên cứu thử nghiệm có thể được mô tả như một toàn bộ chiến lược và một tập hợp các hành động. Nó bao gồm theo dõi một quá trình cụ thể, cũng như ảnh hưởng đến nó bằng cách thay đổi một số điều kiện nhất định.Do điều này, giả thuyết này hoặc giả thuyết được kiểm tra, nó có thể được xác nhận hoặc bác bỏ. Hơn nữa, khả năng ảnh hưởng đến quá trình và thay đổi các điều kiện ban đầu cung cấp thông tin đầy đủ hơn về đối tượng nghiên cứu.

Sự khác biệt chính giữa phương pháp nghiên cứu và quan sát thực nghiệm là tình huống mà đối tượng nghiên cứu sẽ được mô hình hóa một cách giả tạo. Hơn nữa, nhà tổ chức chủ động can thiệp vào nó. Tùy thuộc vào mục tiêu của thử nghiệm, nó có thể thay đổi một hoặc một số biến, khắc phục các thay đổi đang diễn ra. Chúng ta có thể nói rằng nhà nghiên cứu không chỉ nghiên cứu chính đối tượng và các phản ứng của nó, mà còn cả cách các biến tương tác giữa bản thân và đối tượng.

Tôi cũng muốn làm rõ rằng kỹ thuật thử nghiệm ngụ ý toàn quyền kiểm soát các nghiên cứu và các biến được giới thiệu để theo dõi các phản ứng. Đây là một sự khác biệt khác giữa hai phương pháp. Nếu quan sát làm cho không thể thấy trước bất kỳ quy trình nào, thì thử nghiệm cho phép chúng được dự đoán và mô hình hóa. Ngoài ra, thường các nhà nghiên cứu cố tình kích hoạt các phản ứng nhất định bằng cách thao tác các biến. Điều này cho phép bạn khám phá đầy đủ các đối tượng. Người ta tin rằng kỹ thuật này là kỹ thuật duy nhất có thể chứng minh đầy đủ khả năng tồn tại của một lý thuyết hoặc giả thuyết cụ thể.

Các chi tiết cụ thể của kỹ thuật và lợi thế của nó

Tính đặc hiệu chính của thí nghiệm là cực kỳ đơn giản – đó là sự can thiệp vào quá trình nghiên cứu để thay đổi các điều kiện cho đến khi tất cả dữ liệu được nhận. Đây chính xác là mục tiêu chính của các phương pháp ứng dụng nghiên cứu thực nghiệm.

khả năng có ý thức gây ra một số hiện tượng tinh thần;

khả năng ảnh hưởng đến các điều kiện của thí nghiệm;

xác định mối quan hệ nhân quả.

Thực nghiệm, bạn có thể nhận được rất nhiều sự thật, bởi vì nó cho phép bạn thiết lập rõ ràng mối quan hệ giữa các điều kiện thay đổi và quá trình tâm lý.

Hạn chế trong việc sử dụng thí nghiệm

Sự lựa chọn phương pháp nghiên cứu thực nghiệm không phù hợp với mọi tình huống. Rốt cuộc, việc tổ chức một thí nghiệm có thẩm quyền là khá khó khăn. Các chuyên gia cho rằng nó nên được mô hình hóa theo cách mà đối tượng nghiên cứu thậm chí không nghi ngờ sự tham gia của nó vào các quy trình nhất định.

Thật không may, điều này không phải lúc nào cũng có thể, và sau đó có một mối nguy hiểm là chính đối tượng nghiên cứu sẽ bắt đầu ảnh hưởng đến kết quả của quá trình. Đối tượng có thể cảm thấy sợ hãi, mong muốn thể hiện bản thân trong một ánh sáng thuận lợi hơn, điều này sẽ không cho phép anh ta có được thông tin về các phản ứng tâm lý thực sự của mình.

Một khó khăn khác là trong một số thí nghiệm, nhà nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu phải liên lạc chặt chẽ với nhau. Trong trường hợp này, một kết nối cảm xúc được thiết lập giữa chúng, có thể ảnh hưởng đến hành vi của đối tượng. Trong trường hợp này, kết quả không thể được coi là hoàn toàn thuần túy và cần nghiên cứu bổ sung. Có lẽ trong trường hợp này nên sử dụng các phương pháp khác.

Các loại thí nghiệm

Trong thế giới khoa học, người ta thường phân biệt hai loại thí nghiệm:

phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm;

thí nghiệm tự nhiên.

Mô tả ngắn gọn, thí nghiệm trong phòng thí nghiệm bao gồm chuẩn bị kỹ lưỡng. Nó diễn ra trong các phòng đặc biệt với số lượng lớn thiết bị, trong khi tất cả các đối tượng đều biết rằng họ đang tham gia nghiên cứu. Tuy nhiên, mục tiêu thực sự của những gì đang xảy ra có thể bị ẩn khỏi chúng.

Thí nghiệm trong phòng thí nghiệm

Xem xét các phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm rộng hơn, chúng ta có thể trình bày chúng như mô hình hóa hoạt động của một đối tượng trong một không gian hạn chế. Trong trường hợp này, tất cả các phương pháp nghiên cứu có thể được sử dụng, một sắc thái rất quan trọng là sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại và phát triển các hướng dẫn đặc biệt. Nó phải được tuân thủ bởi cá nhân tham gia thí nghiệm và tất cả những người tham gia.

Thí nghiệm tự nhiên

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết thực nghiệm, sau này được gọi là Hy tự nhiên, lần đầu tiên được đưa vào thực hành vào đầu thế kỷ XX. Bản chất của nó nằm ở sự thiếu hiểu biết của đối tượng nghiên cứu về thí nghiệm và các điều kiện càng gần với môi trường sống thông thường của nó.

Ưu điểm chính của kỹ thuật này là khả năng của nhà nghiên cứu ảnh hưởng tích cực đến đối tượng và quá trình, nhưng đồng thời vẫn không tham gia vào tất cả các hành động. Điều này mang lại độ tinh khiết đáng kinh ngạc của dữ liệu thu được, nhưng đồng thời khiến nó không thể lặp lại thí nghiệm. Khi ở trong điều kiện tương tự, đối tượng bắt đầu nhận ra rằng chúng được tạo ra một cách có chủ đích.

Trong những năm gần đây, thế giới khoa học thường xuyên tranh luận về đạo đức của một kỹ thuật như vậy. Thực tế là trong quá trình thí nghiệm, một kỹ thuật ẩn được sử dụng. Cuộc sống của một cá nhân trở thành một nguồn chú ý chặt chẽ, trong khi các nhà nghiên cứu không nhận được sự đồng ý của anh ta để tham gia vào quá trình này. Một thí nghiệm có thể trở thành một chấn thương tâm lý thực sự nếu điều kiện của nó được tiết lộ.

Các giai đoạn thử nghiệm

Cần lưu ý rằng mỗi thí nghiệm bao gồm các giai đoạn nhất định. Sắc thái này rất quan trọng đối với độ tinh khiết của quy trình:

Trong giai đoạn thứ hai, thí nghiệm diễn ra trực tiếp. Nó bao gồm trong tác động của các nhà nghiên cứu ra thế giới bên ngoài. Trong trường hợp này, một kỹ thuật đặc biệt được phát triển. Nó trực tiếp phụ thuộc vào các nhiệm vụ và vấn đề đang được nghiên cứu. Hơn nữa, nó có thể trở nên phổ biến, tất cả phụ thuộc vào mức độ các vấn đề của thí nghiệm đang có nhu cầu.

Hơn nữa, các phương pháp xử lý các nghiên cứu thực nghiệm, tùy thuộc vào các nhiệm vụ, vẫn không thay đổi. Điều chính trong quy trình này vẫn còn, chúng tôi nhắc lại, độ tinh khiết của dữ liệu thu được.

Phân loại thí nghiệm

Vấn đề này đòi hỏi phải xem xét chi tiết, vì ngày nay việc phân loại phụ thuộc trực tiếp vào nhiều yếu tố. Thông thường nó được thực hiện phụ thuộc vào hai đặc điểm. Đó là giá trị nói về họ một cách chi tiết.

Theo kết quả tiếp xúc, ba loại thí nghiệm được phân biệt:

Làm sáng tỏ. Trong quá trình nghiên cứu, đối tượng không hình thành bất kỳ cài đặt mới nào, các thuộc tính mới không xuất hiện và các thuộc tính hiện tại không nhận được sự phát triển phù hợp. Theo cách phân loại này, người thí nghiệm có một vị trí tương tự như hành vi của người quan sát bên ngoài.

Hình thành. Ở đây, sự tham gia của người tổ chức thí nghiệm là tích cực nhất.Trong nhiều trường hợp, đối tượng hoàn toàn thay đổi, thường thì những thay đổi này là không thể đảo ngược. Đồng thời, bản thân tổ chức thí nghiệm không chỉ cho phép đăng ký dữ liệu thu được mà còn tiết lộ động lực, cơ chế ảnh hưởng, các giai đoạn hình thành các quá trình tâm lý nhất định, v.v.

Các chuyên gia phân loại thí nghiệm theo mức độ nhận thức:

nhận thức đầy đủ về đối tượng về tất cả các sắc thái của thí nghiệm trong tương lai;

nhận thức một phần của cá nhân, trong đó, ngoài các sự kiện cụ thể, các giả thuyết sai lầm có thể cung cấp cho anh ta;

che giấu các nhiệm vụ, mục tiêu và điều khoản của thí nghiệm (thường thì đối tượng thậm chí không có ý tưởng rằng mình đã trở thành một đối tượng quan sát).

Ngoài các loại trên, các thí nghiệm kiểm soát và nhào lộn trên không cũng có thể được gọi.

Đối tượng nghiên cứu và bản thân người thí nghiệm phải ở một dạng tương tác nào đó. Thời điểm này là khó khăn nhất, vì vậy kỹ thuật không thể hoạt động mà không phát triển một hướng dẫn.

Cần lưu ý rằng nhiệm vụ chính không phải là sự phát triển của một văn bản như vậy, mà là sự hiểu biết về nó bởi những người tham gia thí nghiệm. Đó là vì điều này mà nhà tâm lý học chịu trách nhiệm chính, bởi vì thường trong cùng điều kiện mọi người nhận thức thông tin theo những cách hoàn toàn khác nhau. Một số ngay lập tức hiểu tất cả các yêu cầu được chỉ định trong hướng dẫn, nhưng những người khác mất một thời gian. Một thử nghiệm không thể được bắt đầu cho đến khi tất cả những người tham gia đã sẵn sàng.

Một vấn đề khác là việc lựa chọn đối tượng. Dựa trên các kết quả được hiển thị bởi một hoặc một loại đối tượng khác, các kết luận sẽ được rút ra trên một nhóm xã hội học khá rộng lớn. Do đó, các nhà nghiên cứu thường chọn các đối tượng đầu tiên một cách sai lầm, và chỉ sau đó các nhóm cá nhân phù hợp hơn mới được hình thành. Nhưng ngay cả trong trường hợp này, chúng được chia thành hai nhóm.

Một lệnh được ban hành cho các đối tượng được tạo ra theo các quy tắc chung. Nó sẽ phản ánh các điểm sau:

mục đích và mục tiêu;

các khóa học và tính năng của những gì đang xảy ra.

Ngoài ra, văn bản nên càng nhiều thông tin và súc tích càng tốt.

Xử lý kết quả mất nhiều thời gian. Điều quan trọng là phải xem xét họ đã bị biến dạng như thế nào trong thí nghiệm. Tâm lý học biết các trường hợp mà một nhà nghiên cứu, bị thuyết phục sâu sắc về tính nhất quán của lý thuyết của mình, đã ảnh hưởng đến hành vi của các đối tượng. Ngoài ra, những người tham gia thử nghiệm có thể trong quá trình đoán các nhiệm vụ và mục tiêu của mọi thứ xảy ra, vô tình điều chỉnh theo kết quả mong đợi.

Phương Pháp Nghiên Cứu Tâm Lý

2. Phương pháp nghiên cứu tâm lý

Khoa học tâm lý sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu để nghiên cứu các hiện tượng tâm lý như quan sát, điều tra bằng phiếu hỏi, thực nghiệm, nghiên cứu các sản phẩm hoạt động, trắc nghiệm…

2.1. Phương pháp quan sát

Quan sát là một loại tri giác có chủ định dùng các phân tích quan mà chủ yếu là phân tích qua thị giác để thu thập các thông tin cần thiết nhằm xác định hiện tượng tâm lý cần nghiên cứu.

Ví dụ: Nghiên cứu hứng thú học tập của học sinh thông qua quan sát các biểu hiện bên ngoài: sự đúng giờ khi đi học, chuẩn bị bài trước khi đến lớp, tính tích cực khi tham gia xây dựng bài, tiếp thu tri thức mới…. tiếp, quan sát gián tiếp, quan sát có tham dự và quan sát không tham dự…

Phương pháp quan sát cho phép nghiên cứu các hiện tượng tâm lý trung thực, khách quan và nghiên cứu tâm lý trong trạng thái tồn tại tự nhiên của nó, đơn giản về thiết bị và ít tốn kém về kinh phí. Hạn chế của quan sát là ở chỗ: mang tính bị động cao, tốn nhiều thời gian, tốn nhiều công sức.

Một số yêu cầu để quan sát có hiệu quả:

– Xác định rõ mục đích quan sát, đối tượng quan sát và đối tượng nghiên cứu.

– Lập kế hoạch quan sát một cách cụ thể và chuẩn bị chu đáo mọi điều kiện cho việc quan sát.

– Lựa chọn hình thức quan sát cho phù hợp với hiện tượng tâm lý cần nghiên cứu và hoàn cảnh nghiên cứu.

– Xác định hình thức ghi biên bản quan sát hợp lí và ghi chép tài liệu quan sát một cách khách quan, trung thực…

Điều tra bằng phiếu hỏi là phương pháp nghiên cứu sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến với một hệ thống câu hỏi đã được soạn sẵn nhằm thu thập những thông tin cần thiết về hiện tượng tâm lý cần nghiên cứu.

Nội dung chính của phiếu hỏi là các câu hỏi. Câu hỏi trong phiếu bao gồm có thể là câu hỏi đóng, loại câu hỏi có nhiều đáp án để lựa chọn và có thể là câu hỏi mở, không có đáp án lựa chọn mà cá nhân tự trả lời.

Điều tra bằng phiếu hỏi có ưu điểm là trong một thời gian ngắn cho phép thu thập thông tin nhanh của nhiều cá nhân trên một địa bàn rộng, mang tính chủ động cao. Hạn chế của phương pháp này là nhiều khi kết quả trả lời không đảm bảo tính khách quan, vì đánh giá hiện tượng tâm lý theo câu trả lời chủ quan của cá nhân người dễ xảy ra hiện tượng “Nghĩ một đằng, nói một nẻo”…

2.3. Phương pháp thực nghiệm

Thực nghiệm là phương pháp nghiên cứu chủ động gây ra các hiện tượng tâm lý cần nghiên cứu sau khi đã tạo ra các điều kiện cần thiết và loại trừ các yếu tố ngẫu nhiên.

Thực nghiệm gồm có nhiều loại bao gồm thực nghiệm trong phòng thí nghiệm và thực nghiệm tự nhiên.

Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm: là loại thực nghiệm được tiến hành trong phòng thí nghiệm ở điều kiện khống chế một cách nghiêm khắc các ảnh hưởng bên ngoài tác động đến hiện tượng tâm lý được nghiên cứu. Loại thực nghiệm này thường được sử dụng nhiều để nghiên cứu các quá trình tâm lý, ít dùng nghiên cứu các thuộc tính tâm lý người và đặc biệt mang tính chủ động cao hơn thực nghiệm tự nhiên.

Thực nghiệm tự nhiên: là loại thực nghiệm được tiến hành trong điều kiện bình thường của cuộc sống và hoạt động. Trong thực nghiệm tự nhiên có bao hàm cả quan sát. Nếu trong quan sát nhà nghiên cứu chỉ thay đổi các yếu tố riêng rẽ của hoàn cảnh thì trong thực nghiệm tự nhiên nhà nghiên cứu có thể chủ động gây ra hành vi biểu hiện và diễn biến của hiện tượng tâm lý cần nghiên cứu bằng cách khống chế các nhân tố không cần thiết cho việc nghiên cứu, làm nổi bật các yếu tố cần thiết trong hoàn cảnh giúp cho việc khai thác, tìm hiểu hiện tượng tâm lý cần nghiên cứu bằng thực nghiệm.

Thực nghiệm nghiên cứu tâm lý có thể bao gồm: thực nghiệm điều tra và thực nghiệm hình thành.

Thực nghiệm điều tra: nhằm dựng nên một bức tranh về thực trạng hiện tượng tâm lý được nghiên cứu ở một thời điểm cụ thể

Thực nghiệm hình thành: còn gọi là thực nghiệm giáo dục với mục đích khẳng định ảnh hưởng của tác động giáo dục đến sự hình thành, phát triển hiện tượng tâm lý nào đó ở con người.

Thực nghiệm hình thành thông thường gồm ba giai đoạn: đo thực trạng hiện tượng tâm lý trước thực nghiệm, thiết kế biện pháp tác động giáo dục mới và áp dụng vào trong thực tiễn. Sau một thời gian tác động đo lại sự biến đổi của hiện tượng tâm lý; Từ đó khẳng định vai trò, ảnh hưởng, mối quan hệ của biện pháp tác động giáo dục đó đến sự hình thành và phát triển hiện tượng tâm lý cần nghiên cứu.

Thực nghiệm nghiên cứu tâm lý dù là loại hình thực nghiệm nào cũng khó có thể khống chế hoàn toàn ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan của người bị thực nghiệm đặc biệt dễ bị căng thẳng tâm lý, thần kinh khi làm thực nghiệm. Vì vậy khi sử dụng thực nghiệm nghiên cứu tâm lý cần chú ý tạo ra trạng thái tự nhiên và có sự phối hợp giữa thực nghiệm với các phương pháp nghiên cứu khác

2.4. Phương pháp trắc nghiệm (Test)

Trắc nghiệm tâm lý là một công cụ đã được tiêu chuẩn hoá dùng để đo lường một cách khách quan một hay một số mặt tâm lý nhân cách thông quạ những mẫu câu trả lời bằng ngôn ngữ, phi ngôn ngữ hoặc bằng các hành vi khác.

Các tiêu chuẩn của một trắc nghiệm tâm lý khác với các phương pháp nghiên cứu tâm lý khác là: Có độ tin cậy cao, nghĩa là kết quả đo bằng trắc nghiệm cùng một nghiệm thể, đối tượng ở nhiều lần đo khác nhau đều cho kết quả giống nhau. Có tính hiệu lực (ứng nghiệm) là trắc nghiệm phải đo được chính hiện tượng tâm lý cần đo, đúng với mục đích của trắc nghiệm. Tính tiêu chuẩn hoá – cách thức tiến hành, xử lí kết quả phải theo một tiêu chuẩn xác định và có quy chuẩn theo một nhóm chuẩn. Trắc nghiệm trọn bộ thường bao gồm bốn phần: văn bản trắc nghiệm, hướng dẫn quá trình tiến hành, hướng dẫn đánh giá, bản chuẩn hoá.

Trắc nghiệm tâm lý có nhiều loại như: trắc nghiệm trí tuệ Binê – Xmông, trắc nghiệm trí tuệ Raven… trắc nghiệm chuẩn đoán nhân cách Ayzen, Rôsát, Murây…

Ưu điểm cơ bản của trắc nghiệm:

– Tính chất ngắn gọn,

– Tính tiêu chuẩn hoá,

– Đơn giản về thiết bị và kĩ thuật,

– Định lượng được kết quả nghiên cứu.

Mặt hạn chế của trắc nghiệm là:

– Trắc nghiệm chỉ quan tâm đến kết quả thống kê cuối cùng, không chú ý đến quá trình dẫn đến kết quả.

– Khó soạn thảo một bộ trắc nghiệm đảm bảo tính tiêu chuẩn hoá.

– Không tính đến các nhân tố đa dạng có thể ảnh hưởng đến kết quả trắc nghiệm….

Trắc nghiệm tâm lý cần được sử dụng kết hợp với các Phương pháp nghiên cứu tâm lý khác để chuẩn đoán tâm lý nhân cách con người và chỉ được coi là công cụ chuẩn đoán tâm lý ở một thời điểm phát triển nhất định của con người.

2.5. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động

Đó là phương pháp dựa vào sản phẩm (vật chất, tinh thần) của hoạt động do con người tạo ra để nghiên cứu đánh giá tâm lý con người như trí tuệ, tình cảm, tính cách… con người, bởi vì khi tạo ra các sản phẩm chủ thể (con người) đã gửi “mình” (tâm lý, nhân cách) vào sản phẩm. Khi tiến hành phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động cần chú ý xem xét trong mối liên hệ với thời gian, không gian của hoạt động và điều kiện tiến hành hoạt động.

2.6. Phương pháp đàm thoại (phỏng vấn)

Đàm thoại (phỏng vấn) là cách thức thu nhập thông tin về hiện tượng tâm lý được nghiên cứu dựa vào các nguồn thông tin thu thập được trong quá trình trò chuyện. Nguồn thông tin có thể bao gồm các câu trả lời và các yếu tố hành vi như cử chỉ, ngôn ngữ của người trả lời.

Phỏng vấn có thể bao gồm nhiều hình thức: trực tiếp hoặc gián tiếp, phỏng vấn cá nhân hoặc nhóm.

Muốn phỏng vấn thu được nhiều tài liệu tốt cần phải:

– Xác định rõ mục đích, yêu cầu vấn đề cần tìm hiểu,

– Tìm hiểu trước thông tin về đối tượng trò chuyện,

– Rất linh hoạt trong quá trình trò chuyện để thay đổi cách trò chuyện, dẫn dắt câu hỏi cho phù hợp với văn cảnh, hoàn cảnh nhằm đạt được mục đích của nhà nghiên cứu.

Ngoài các phương pháp nghiên cứu kể trên, trong khoa học tâm lý còn sử đụng nhiều các phương pháp nghiên cứu khác để nghiên cứu tâm lý người như phương pháp đo đạc xã hội học, phương pháp nghiên cứu tiểu sử cá nhân… Để đảm bảo độ tin cậy khoa học của kết quả nghiên cứu tâm lý cần: – Sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với hiện tượng tâm lý của con người cần nghiên cứu.

– Sử dụng phối hợp, đồng bộ các phương pháp khi nghiên cứu tâm lý con người.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

Tác phẩm: Giáo trình Tâm lý học đại cương

Tác giả: Nguyễn Xuân Thức (Chủ biên) – Nguyễn Quang Uẩn – Nguyễn Văn Thạc – Trần Quốc Thành – Hoàng Anh – Lê Thị Bừng – Vũ Kim Thanh – Nguyễn Kim Quý – Nguyễn Thị Huệ – Nguyễn Đức Sơn

Nguồn: Nhà Xuất bản Đại học Sư Phạm, 2007

Phương Pháp Nghiên Cứu Tâm Lý – Kipkis

2. Phương pháp nghiên cứu tâm lý

Khoa học tâm lý sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu để nghiên cứu các hiện tượng tâm lý như quan sát, điều tra bằng phiếu hỏi, thực nghiệm, nghiên cứu các sản phẩm hoạt động, trắc nghiệm…

2.1. Phương pháp quan sát

Quan sát là một loại tri giác có chủ định dùng các phân tích quan mà chủ yếu là phân tích qua thị giác để thu thập các thông tin cần thiết nhằm xác định hiện tượng tâm lý cần nghiên cứu.

Ví dụ: Nghiên cứu hứng thú học tập của học sinh thông qua quan sát các biểu hiện bên ngoài: sự đúng giờ khi đi học, chuẩn bị bài trước khi đến lớp, tính tích cực khi tham gia xây dựng bài, tiếp thu tri thức mới…. tiếp, quan sát gián tiếp, quan sát có tham dự và quan sát không tham dự…

Phương pháp quan sát cho phép nghiên cứu các hiện tượng tâm lý trung thực, khách quan và nghiên cứu tâm lý trong trạng thái tồn tại tự nhiên của nó, đơn giản về thiết bị và ít tốn kém về kinh phí. Hạn chế của quan sát là ở chỗ: mang tính bị động cao, tốn nhiều thời gian, tốn nhiều công sức.

Một số yêu cầu để quan sát có hiệu quả:

– Xác định rõ mục đích quan sát, đối tượng quan sát và đối tượng nghiên cứu.

– Lập kế hoạch quan sát một cách cụ thể và chuẩn bị chu đáo mọi điều kiện cho việc quan sát.

– Lựa chọn hình thức quan sát cho phù hợp với hiện tượng tâm lý cần nghiên cứu và hoàn cảnh nghiên cứu.

– Xác định hình thức ghi biên bản quan sát hợp lí và ghi chép tài liệu quan sát một cách khách quan, trung thực…

Điều tra bằng phiếu hỏi là phương pháp nghiên cứu sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến với một hệ thống câu hỏi đã được soạn sẵn nhằm thu thập những thông tin cần thiết về hiện tượng tâm lý cần nghiên cứu.

Nội dung chính của phiếu hỏi là các câu hỏi. Câu hỏi trong phiếu bao gồm có thể là câu hỏi đóng, loại câu hỏi có nhiều đáp án để lựa chọn và có thể là câu hỏi mở, không có đáp án lựa chọn mà cá nhân tự trả lời.

Điều tra bằng phiếu hỏi có ưu điểm là trong một thời gian ngắn cho phép thu thập thông tin nhanh của nhiều cá nhân trên một địa bàn rộng, mang tính chủ động cao. Hạn chế của phương pháp này là nhiều khi kết quả trả lời không đảm bảo tính khách quan, vì đánh giá hiện tượng tâm lý theo câu trả lời chủ quan của cá nhân người dễ xảy ra hiện tượng “Nghĩ một đằng, nói một nẻo”…

2.3. Phương pháp thực nghiệm

Thực nghiệm là phương pháp nghiên cứu chủ động gây ra các hiện tượng tâm lý cần nghiên cứu sau khi đã tạo ra các điều kiện cần thiết và loại trừ các yếu tố ngẫu nhiên.

Thực nghiệm gồm có nhiều loại bao gồm thực nghiệm trong phòng thí nghiệm và thực nghiệm tự nhiên.

Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm: là loại thực nghiệm được tiến hành trong phòng thí nghiệm ở điều kiện khống chế một cách nghiêm khắc các ảnh hưởng bên ngoài tác động đến hiện tượng tâm lý được nghiên cứu. Loại thực nghiệm này thường được sử dụng nhiều để nghiên cứu các quá trình tâm lý, ít dùng nghiên cứu các thuộc tính tâm lý người và đặc biệt mang tính chủ động cao hơn thực nghiệm tự nhiên.

Thực nghiệm tự nhiên: là loại thực nghiệm được tiến hành trong điều kiện bình thường của cuộc sống và hoạt động. Trong thực nghiệm tự nhiên có bao hàm cả quan sát. Nếu trong quan sát nhà nghiên cứu chỉ thay đổi các yếu tố riêng rẽ của hoàn cảnh thì trong thực nghiệm tự nhiên nhà nghiên cứu có thể chủ động gây ra hành vi biểu hiện và diễn biến của hiện tượng tâm lý cần nghiên cứu bằng cách khống chế các nhân tố không cần thiết cho việc nghiên cứu, làm nổi bật các yếu tố cần thiết trong hoàn cảnh giúp cho việc khai thác, tìm hiểu hiện tượng tâm lý cần nghiên cứu bằng thực nghiệm.

Thực nghiệm nghiên cứu tâm lý có thể bao gồm: thực nghiệm điều tra và thực nghiệm hình thành.

Thực nghiệm điều tra: nhằm dựng nên một bức tranh về thực trạng hiện tượng tâm lý được nghiên cứu ở một thời điểm cụ thể

Thực nghiệm hình thành: còn gọi là thực nghiệm giáo dục với mục đích khẳng định ảnh hưởng của tác động giáo dục đến sự hình thành, phát triển hiện tượng tâm lý nào đó ở con người.

Thực nghiệm hình thành thông thường gồm ba giai đoạn: đo thực trạng hiện tượng tâm lý trước thực nghiệm, thiết kế biện pháp tác động giáo dục mới và áp dụng vào trong thực tiễn. Sau một thời gian tác động đo lại sự biến đổi của hiện tượng tâm lý; Từ đó khẳng định vai trò, ảnh hưởng, mối quan hệ của biện pháp tác động giáo dục đó đến sự hình thành và phát triển hiện tượng tâm lý cần nghiên cứu.

Thực nghiệm nghiên cứu tâm lý dù là loại hình thực nghiệm nào cũng khó có thể khống chế hoàn toàn ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan của người bị thực nghiệm đặc biệt dễ bị căng thẳng tâm lý, thần kinh khi làm thực nghiệm. Vì vậy khi sử dụng thực nghiệm nghiên cứu tâm lý cần chú ý tạo ra trạng thái tự nhiên và có sự phối hợp giữa thực nghiệm với các phương pháp nghiên cứu khác

2.4. Phương pháp trắc nghiệm (Test)

Trắc nghiệm tâm lý là một công cụ đã được tiêu chuẩn hoá dùng để đo lường một cách khách quan một hay một số mặt tâm lý nhân cách thông quạ những mẫu câu trả lời bằng ngôn ngữ, phi ngôn ngữ hoặc bằng các hành vi khác.

Các tiêu chuẩn của một trắc nghiệm tâm lý khác với các phương pháp nghiên cứu tâm lý khác là: Có độ tin cậy cao, nghĩa là kết quả đo bằng trắc nghiệm cùng một nghiệm thể, đối tượng ở nhiều lần đo khác nhau đều cho kết quả giống nhau. Có tính hiệu lực (ứng nghiệm) là trắc nghiệm phải đo được chính hiện tượng tâm lý cần đo, đúng với mục đích của trắc nghiệm. Tính tiêu chuẩn hoá – cách thức tiến hành, xử lí kết quả phải theo một tiêu chuẩn xác định và có quy chuẩn theo một nhóm chuẩn. Trắc nghiệm trọn bộ thường bao gồm bốn phần: văn bản trắc nghiệm, hướng dẫn quá trình tiến hành, hướng dẫn đánh giá, bản chuẩn hoá.

Trắc nghiệm tâm lý có nhiều loại như: trắc nghiệm trí tuệ Binê – Xmông, trắc nghiệm trí tuệ Raven… trắc nghiệm chuẩn đoán nhân cách Ayzen, Rôsát, Murây…

Ưu điểm cơ bản của trắc nghiệm:

– Tính chất ngắn gọn,

– Tính tiêu chuẩn hoá,

– Đơn giản về thiết bị và kĩ thuật,

– Định lượng được kết quả nghiên cứu.

Mặt hạn chế của trắc nghiệm là:

– Trắc nghiệm chỉ quan tâm đến kết quả thống kê cuối cùng, không chú ý đến quá trình dẫn đến kết quả.

– Khó soạn thảo một bộ trắc nghiệm đảm bảo tính tiêu chuẩn hoá.

– Không tính đến các nhân tố đa dạng có thể ảnh hưởng đến kết quả trắc nghiệm….

Trắc nghiệm tâm lý cần được sử dụng kết hợp với các Phương pháp nghiên cứu tâm lý khác để chuẩn đoán tâm lý nhân cách con người và chỉ được coi là công cụ chuẩn đoán tâm lý ở một thời điểm phát triển nhất định của con người.

2.5. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động

Đó là phương pháp dựa vào sản phẩm (vật chất, tinh thần) của hoạt động do con người tạo ra để nghiên cứu đánh giá tâm lý con người như trí tuệ, tình cảm, tính cách… con người, bởi vì khi tạo ra các sản phẩm chủ thể (con người) đã gửi “mình” (tâm lý, nhân cách) vào sản phẩm. Khi tiến hành phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động cần chú ý xem xét trong mối liên hệ với thời gian, không gian của hoạt động và điều kiện tiến hành hoạt động.

2.6. Phương pháp đàm thoại (phỏng vấn)

Đàm thoại (phỏng vấn) là cách thức thu nhập thông tin về hiện tượng tâm lý được nghiên cứu dựa vào các nguồn thông tin thu thập được trong quá trình trò chuyện. Nguồn thông tin có thể bao gồm các câu trả lời và các yếu tố hành vi như cử chỉ, ngôn ngữ của người trả lời.

Phỏng vấn có thể bao gồm nhiều hình thức: trực tiếp hoặc gián tiếp, phỏng vấn cá nhân hoặc nhóm.

Muốn phỏng vấn thu được nhiều tài liệu tốt cần phải:

– Xác định rõ mục đích, yêu cầu vấn đề cần tìm hiểu,

– Tìm hiểu trước thông tin về đối tượng trò chuyện,

– Rất linh hoạt trong quá trình trò chuyện để thay đổi cách trò chuyện, dẫn dắt câu hỏi cho phù hợp với văn cảnh, hoàn cảnh nhằm đạt được mục đích của nhà nghiên cứu.

Ngoài các phương pháp nghiên cứu kể trên, trong khoa học tâm lý còn sử đụng nhiều các phương pháp nghiên cứu khác để nghiên cứu tâm lý người như phương pháp đo đạc xã hội học, phương pháp nghiên cứu tiểu sử cá nhân… Để đảm bảo độ tin cậy khoa học của kết quả nghiên cứu tâm lý cần: – Sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với hiện tượng tâm lý của con người cần nghiên cứu.

– Sử dụng phối hợp, đồng bộ các phương pháp khi nghiên cứu tâm lý con người.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

Tác phẩm: Giáo trình Tâm lý học đại cương

Tác giả: Nguyễn Xuân Thức (Chủ biên) – Nguyễn Quang Uẩn – Nguyễn Văn Thạc – Trần Quốc Thành – Hoàng Anh – Lê Thị Bừng – Vũ Kim Thanh – Nguyễn Kim Quý – Nguyễn Thị Huệ – Nguyễn Đức Sơn

Nguồn: Nhà Xuất bản Đại học Sư Phạm, 2007

“Like” us to know more!

Knowledge is power

Nghiên Cứu Lý Luận Bằng Phương Pháp Thực Nghiệm Sư Phạm

Các bước tiến hành thực nghiệm bao gồm:

– Xây dựng giả thuyết thực nghiệm.

– Dự kiến hệ thống chuẩn đánh giá, xác định phương tiện và cách thức đánh giá nhằm so sánh sự biến đổi kết quả trước và sau thực nghiệm sư phạm.

– Lựa chọn đối tượng thực nghiệm theo những yêu cầu nhất định để các kết luận rút ra sau thực nghiệm có thể vận dụng trong quá trình tổ chức giáo dục thể chất ỏ phạm vi rộng lón, bảo đảm tính phù hợp và có thể có sai số nhỏ.

+ Đảm bảo tính đại diện và ,tiêu biểu.

+ Khống chế các tác động không thực nghiệm, nếu chọn nhóm thực nghiệm và nhóm đốĩ chứng trong một lớp học.

+ Khống c hế ảnh hưởng thứ tự các tác động.

– Các biên bản thực nghiệm phải được ghi chép cẩn thận, đúng quy cách, ti mỉ, chính xác, có lượng th ôn g tin phong phú và gi ải trí .

– Để đảm bảo tính phổ biến của kết quả thực nghiệm, phải chú ý chọn đối tượng đa dạng, tiêu biểu để nghiên cứu, cần tiến hành ở nhiều địa bàn, trên các đoi tượng khác nhau, tiến hành thực nghiệm lặp lại nhiều lần củng một đối tượng ỏ các thời điểm khác nhau. Chính điều này làm cho kết quả thực nghiệm sư phạm mang tính khách quan nhất trong các kết quả nghiên cứu bằng các phương pháp khác.

Phương pháp thực nghiệm sư phạm có ưu thê lớn nhất trong việc đi sâu vào các quan hệ bản chất, xác định các quy luật và cơ chế, vạch rõ các thành phần và cấu trúc của hiện tượng giáo dục Bảo đảm chắc chắn nhất của phương pháp này là có thể lặp lại thực nghiệm nhiều lần với những kết quả giống nhau, chứng tỏ mối quan hệ có tính quy luật.

Trong thực tiễn giáo dục thể chất cho th ấy c ác nhân tố m ớ i trong thực nghiệm có thể là kĩ thuật động tác, các phương pháp và’phương tiện’tập luyện, các thành phần của lượng vận động, các nh ân t ố tâm lí,…

Đặc điểm cơ bản của thực nghiệm sư phạm là sự điều khiển và can thiệp có chủ định, có kế hoạch của con người vào đổi tượng nghiên cứụ, đó là sự cô lập, tách biệt nhân tố có lợi, hai để sáng tạo, phát hiện và điều chỉnh các mối liên hệ mới, hợp lí nhằm đặt tới hiệu quả cao trong tập luyện v à thi đấu thể dục thể thao.

Các n h ân tố mớị được chi a t hành hai loại: nhân tố thực nghiệm là nhân tạ tạo ra nguyên nhân và kết quả; nhân tô’ trúng hợp là nhân tố cùng lúc tác, động với nhân tố thực nghiệm đệ tạo nên sự so sánh.

Nội dung thực nghiệm sư phạm được .chia theo các vấn đề, mục tiêu và điều kiện nghiên cứu.

Thực nghiệm sư phạm gồm có: thực nghiệm chọn mẫu, thực nghiệm trong điều kiện tự nhiên và trong phòng thí nghiệm. Ngoài ra còn có thực nghiệm so sánh trình tự và song song.

Thực nghiệm so sánh trình tự là thực nghiệm đối chiếu, hay thực nghiệm so sánh hiệụ quả quá trình giáo dục thể chất sau khi đưa nhân tố mới vào với kết quả trước đó trên cùng một nhóm ngựời tập.

Thực nghiệm so sánh song song là thực nghiệm được tiến hành, cùng một lúc trên hai hay nhiều nhóm. .Một nhóm được, áp dụng nhân tô’ thực nghiệm mới: gọi là nhóm thực nghiệm,, còn ỏ nhóm khác không có gì khác biệt so với lúc tập bình thường gọi là nhóm đối chứng. Các buổi tập thực hiện đồng thòi cả hai nhóm song song.

– Các nhóm thực nghiệm phải như nhau về lứa tuổi, trình độ thể lực trình độ kĩ thuật, giới tính và một s ố trình độ khác.

– Thực nghiệm trên số lượng người đủ lớn, để số liệu nhận được có độ tin cậy Cao. Khi tính toán, xử lí sổ li ệ u phải sử dụng phương pháp thống kê toán học.

– Trong thực nghiệm không nên nghiên cứu đồng thời một số vấn đề gây ảnh hưởng xấu lẫn nh a u,hạn chế kết quả nghiên cứu.

– Để kết quả nghiên cứu khách quan, trước khi nghiên cứu nên kiểm tra, xác định trình độ ban đầu của các nhóm. Cu ối thực nghiệm, đánh giá và ghi kết quả cuối cùng.

Phương pháp thống kê toán học lậ một bộ phận của x á c suất th ố ng k ê , c ó đ ối tượng nghiên cứu là việc thu thập, đúc kết các số liệu quan sát, mực nghiệm, phân tích và rút ra kết luận đáng tin cậy.

Phương pháp này giúp đánh giá chất lượng giáo dục, so sánh hiệu quả của các phương pháp giáo dục khác nhau, phân tích các môi qữari hệ giữa các hiện tượng giáo dục, phân tích tác động của c ác nhân t ố đối với c ác hiện tượng giáo dục, loại bỏ các yếu t ố ngẫu nhiên, sáng tỏ quy luật của hiện tượng giáo dục.

– Nhà nghiên cứu xuất phát từ’mục đích xử lí và phân tích số liệu thu được, chỉnh lí số liệu, biểu thị nội dung cơ bản của nó bằng một số chỉ số, vạch rõ mối liên hệ giữa các chỉ s ố đ ó .

– Sử dụng các công thức tính toán khác nhau.

– Từ sự khái quát các trưòng hợp giống nhau rút ra những k ế t luận có ý nghĩa.

Sử dụng công thức thống kê toán học để xử lí kết quả cho phép xác định độ tin cậy của những kết luận

Từ khóa tìm kiếm nhiều: giao duc mam non, giáo dục mầm non, chương trình giáo dục mầm non mới, chương trình giáo dục mầm non, đồ dùng sáng tạo mầm non, nghề giáo viên mầm non, chuong trinh giao duc mam non hien nay, giáo dục thể chất là gì, giao duc the chat la gi, phát triển thể chất cho trẻ mầm non, phat trien the chat cho tre mam non

5 Phương Pháp Điều Tra Bằng Bảng Hỏi Trong Nghiên Cứu Tâm Lý Học

Trong nghiên cứu khoa học ở các môn thuộc khoa học xã hội và nhân văn thường dùng một hệ thống các phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (điều tra viết) là một phương pháp phổ biến. Chúng tôi xin được chia sẻ với bạn đọc những nội dung cơ bản cũng như kỹ thuật xây dựng và sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi trong nghiên cứu Tâm lý học.

1. Định nghĩa

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (phương pháp ăng két) là một phương pháp phỏng vấn viết, được thực hiện cùng một lúc với nhiều người theo một bảng hỏi in sẵn. Người được hỏi trả lời ý kiến của mình bằng cách đánh dấu vào các ô tương ứng theo một quy ước nào đó.

2. Cấu trúc của bảng hỏi

PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN

(Dành cho ai…)

* Mở đầu:

– Ý nghĩa, vai trò của vấn đề nghiên cứu.

– Hướng dẫn trả lời.

* Nội dung: Hệ thống câu hỏi.

* Vài nét về người điều tra.

* Lời cảm ơn!

3. Hệ thống câu hỏi

* Câu hỏi mở: Là loại câu hỏi không có đáp án trả lời sẵn mà người trả lời phải tự điền ý kiến của mình vào đó.

Ví dụ : Tại sao bạn thi vào Trường Đại học Cảnh sát nhân dân?

* Câu hỏi đóng: Là loại câu hỏi có đáp án trả lời sẵn mà người trả lời chỉ đọc và đánh dấu vào những ý kiến, mức độ phù hợp với cá nhân (để cách một số dòng).

Ví dụ : Trong những lý do sau đây, lý do nào khiến bạn thi vào Trường Đại học Cảnh sát nhân dân? Trả lời bằng cách đánh dấu (+) vào những ý kiến phù hợp với bản thân:

– Nghề có ý nghĩa xã hội sâu sắc £

– Nghề có truyền thống gia đình £

– Nghề mà bản thân mơ ước từ nhỏ £

– Nghề mà học xong, ra trường có việc làm ngay £

– Nghề được bao cấp trong quá trình học tập, rèn luyện £

* Ưu điểm:

– Câu hỏi mở: Khai thác được hết ý kiến của người trả lời.

– Câu hỏi đóng: Dễ xử lý, dễ khái quát hóa vấn đề.

* Hạn chế:

– Câu hỏi mở: Khó xử lý, khó khái quát hóa vấn đề.

– Câu hỏi đóng: Ép người trả lời theo ý kiến của nhà nghiên cứu, độ khách quan không cao.

* Các loại câu hỏi đóng:

a) Theo mức độ trả lời, gồm có 4 loại sau:

– Câu hỏi đóng có 2 mức độ trả lời: (có hoặc không).

+ Ví dụ: Trước khi phạm tội, anh (chị) có xác định rằng mình có thể bị bắt không?

+ Cách xử lý: Tính phần trăm (%).

– Câu hỏi đóng có 3 mức độ trả lời: Thường người ta ghép câu hỏi.

+ Cách xử lý:

@ Xử lý từng ý một.

@ Cho điểm: Thích cho 3 điểm; bình thường cho 2 điểm; không thích cho 1 điểm.

@ Công thức tính:

(n1 x 3) + (n2 x 2) + (n3 x 1)

n =

– Câu hỏi đóng 4 mức độ trả lời : (rất thích, thích, bình thường, không thích).

+ Xử lý từng câu một.

+ Cho điểm tương ứng các mức độ: 4; 3; 2; 1 và tính như trên.

– Câu hỏi đóng có 5 mức độ trả lời: (rất thích, thích, bình thường, không thích, chán ghét).

+ Xử lý từng câu một.

+ Cho điểm tương ứng các mức độ: + 2; + 1; 0; – 1; – 2.

+ Tính theo công thức trên, kết quả có thể là âm hoặc dương.

@ Sau dấu âm càng lớn bao nhiêu thì càng ghét bấy nhiêu.

@ Sau dấu dương càng lớn thì càng thích bấy nhiêu.

Loại câu hỏi này, dải tần lựa chọn nhiều hơn, cho phép ta có thể kết luận ngược chiều.

b) Theo nội dung trả lời:

Một câu hỏi có 5 câu trả lời, nhưng trong 5 câu trả lời chỉ có 01 câu đúng, lựa chọn 01 câu đúng. Câu hỏi đóng loại này là câu hỏi chủ yếu để nắm bắt mức độ nắm vững tri thức của người được điều tra. Trong hai loại câu hỏi trên thì thường sử dụng loại câu hỏi đóng theo mức độ.

4. Ưu, nhược điểm khi sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

– Ưu điểm:

+ Có thể điều tra được trên diện rộng về mặt địa lý, một số lượng lớn khách thể nghiên cứu trong thời gian ngắn.

+ Dễ khái quát vấn đề vì phương pháp này cho phép làm theo số đông, càng đông càng dễ khái quát.

+ Đơn giản về thiết bị và dễ sử dụng.

+ Mang tính chủ động cao.

– Hạn chế:

+ Phương pháp này tiếp cận nghiên cứu tâm lý con người dưới góc độ nhận thức luận, tức là thông qua câu trả lời để suy ra về mặt tâm lý cho nên nhiều khi không đảm bảo độ khách quan và tính trung thực của kết quả nghiên cứu.

+ Tốn kém về mặt kinh phí.

5. Một số lưu ý khi xây dựng bảng hỏi và sử dụng .

– Các câu hỏi phải rõ ý, không được mập mờ, không gây nên nhiều cách hiểu khác nhau, cách hiểu nước đôi.

– Với câu hỏi nhị phân (thang trả lời “có” hoặc “không”) thì nhất thiết không được đặt dưới dạng phủ định.

– Trong các câu hỏi tuyển, các phương án trả lời không được giao nhau.

– Với các câu hỏi có sắp xếp thứ tự ưu tiên, cần chú ý không nên đưa ra nhiều có thể sẽ gây khó khăn và người trả lời dễ có thái độ “qua quít”, trả lời cho xong, kết quả khó đảm bảo chính xác.

– Trong phiếu điều tra có thể sử dụng câu hỏi mở nhằm thu thập tối đa ý kiến riêng của người trả lời, giúp cho việc xử lý kết quả có chiều sâu tâm lý.

– Phải lựa chọn biến đổi nội dung câu hỏi cho phù hợp với khách thể nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu.

– Hình thức phải đẹp, độ dài của phiếu vừa phải, thường khoảng 30 câu.

– Đảm bảo sự cân đối giữa câu hỏi đóng và mở (thường trong một bảng hỏi có khoảng 80% câu hỏi đóng và 20% câu hỏi mở.

– Trong những trường hợp cần thiết, phải giữ bí mật cho người trả lời.

– Nên có hình thức thưởng, phạt vật chất cho người trả lời.