Phương Pháp Sử Dụng Sơ Đồ Đường Chéo / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Channuoithuy.edu.vn

Phương Pháp Sử Dụng Sơ Đồ Đường Chéo

Câu 1: Thể tích dung dịch HCl 10M và thể tích H 2 O cần dùng để pha thành 400 ml dung dịch HCl 2M lần lượt là

A. 150 ml và 250 ml. B. 360 ml và 40 ml.

C. 40 ml và 360 ml. D. 80 ml và 320 ml.

Câu 2: Cần thêm bao nhiêu gam nước vào 50 gam tinh thể CuSO 4.5H 2 O để thu được dung dịch có nồng độ 40% ?

A. 15 gam. B. 20 gam. C. 30 gam. D. 35 gam.

Câu 3: Hoà tan hoàn toàn m gam Na 2 O nguyên chất vào 40 gam dung dịch NaOH 12%, thu được dung dịch NaOH 51%. Giá trị của m là

A. 11,3. B. 20,0. C. 31,8. D. 40,5.

Câu 4: Hoà tan 200 gam SO 3 vào m gam dung dịch H 2SO 4 49% ta được dung dịch H 2SO 4 78,4%. Giá trị của m là

A. 133,3 gam. B. 146,9 gam. C. 272,2 gam. D. 300 gam.

Câu 5: Nguyên tử khối trung bình của clo là 35,485. Nguyên tố clo có hai đồng vị bền và . Thành phần % số nguyên tử của là

A. 75,77%. B. 24,23%. C. 15,95%. D. 84,05%.

Câu 6: Cần lấy V 1 lít CO 2 và V 2 lít CO để có được 24 lít hỗn hợp khí có tỉ khối đối với metan bằng 2. Giá trị của V 1, V 2 lần lượt là

A. 18 và 6. B. 8 và 16. C. 10 và 14. D. 6 và 18.

Câu 7: Cần trộn 2 thể tích metan với 1 thể tích đồng đẳng X của metan để thu được hỗn hợp khí có tỉ khối so với hiđro bằng 15. Công thức phân tử của X là

A. 66,67%. B. 45,55%. C. 33,33%. D. 54,45%.

Câu 9: X là quặng hematit chứa 60% Fe 2O 3. Y là quặng manhetit chứa 69,6% Fe 3O 4. Trộn m 1 tấn quặng X với m 2 tấn quặng Y thu được quặng Z, từ 1 tấn quặng Z có thể điều chế được 0,5 tấn gang chứa 4% cacbon. Tỉ lệ m 1/m 2 là

A. . B. . C. . D. .

Câu 10: Cho 0,1 mol hỗn hợp X gồm hai ancol tác dụng với Na dư, thu được 2,688 lít khí (đktc). Biết hai ancol trong X đều có khả năng hoà tan Cu(OH) 2 tạo thành màu xanh da trời. Mặt khác, khi đốt cháy mỗi ancol đều thu được thể tích CO 2 nhỏ hơn 4 lần thể tích ancol bị đốt cháy. Số mol của mỗi ancol trong X là

A. 0,04 mol và 0,06 mol. B. 0,05 mol và 0,05 mol.

C. 0,02 mol và 0,08 mol. D. 0,035 mol và 0,065 mol.

A. 1:2. B. 1:3. C. 2:1. D. 3:1.

Câu 12: Để pha được 500 ml nước muối sinh lí (C = 0,9%) cần lấy V ml dung dịch NaCl 3% pha với nước cất. Giá trị của V là

A. 150 ml. B. 214,3 ml. C. 285,7 ml. D. 350 ml.

A. 133,3 gam. B. 146,9 gam. C. 272,2 gam. D. 300 gam.

Câu 14: Nguyên tử khối trung bình của brom là 79,319. Brom có hai đồng vị bền: và . Thành phần % số nguyên tử của là

A. 84,05. B. 81,02. C. 18,98. D. 15,95.

Câu 15: Một hỗn hợp gồm O 2, O 3 ở điều kiện tiêu chuẩn có tỉ khối hơi với hiđro là 18. Thành phần % về thể tích của O 3 trong hỗn hợp là

A. 15%. B. 25%. C. 35%. D. 45%.

Câu 16: Cần trộn hai thể tích metan với một thể tích đồng đẳng X của metan để thu được hỗn hợp khí có tỉ khối hơi so với hiđro bằng 15. X là

Câu 17: Thêm 250 ml dung dịch NaOH 2M vào 200 ml dung dịch H 3PO 4 1,5M. Muối tạo thành và khối lượng là

A. 50%. B. 55%. C. 60%. D. 65%.

A. 180 gam và 100 gam. B. 330 gam và 250 gam.

C. 60 gam và 220 gam. D. 40 gam và 240 gam.

A. 2 lít và 7 lít. B. 3 lít và 6 lít. C. 4 lít và 5 lít. D. 6 lít và 3 lít.

SƯU TẦM

Tổ Hóa Học-Long Mỹ @ 10:48 14/10/2013 Số lượt xem: 219

Phương Pháp Sơ Đồ Đường Chéo

Bài toán trộn lẫn các chất với nhau là một dạng bài tập hay gặp trong chương trình hóa học phổ thông cũng như trong các đề thi kiểm tra và đề thi tuyển sinh đại học, cao đẳng. Ta có thể giải bài tập dạng này theo nhiều cách khác nhau, song việc giải loại dạng bài tập này có thể giải theo phương pháp sơ đồ đường chéo

Nguyên tắc: Trộn lẫn hai dung dịch:

: có khối lượng m 1, thể tích V 1, nồng độ C 1 (nồng độ phần trăm hoặc nồng độ mol), khối lượng riêng d 1.

Sơ đồ đường chéo và công thức tương ứng với mỗi trường hợp là:

A. 1:2. B. 1:3. C. 2:1. D. 3:1.

Hướng dẫn giải

Áp dụng công thức (1):

. ( Đáp án C)

Ví dụ 2: Để pha được 500 ml dung dịch nước muối sinh lý (C = 0,9%) cần lấy V ml dung dịch NaCl 3% pha với nước cất. Giá trị của V là

A. 150 ml. B. 214,3 ml. C. 285,7 ml. D. 350 ml.

V 1 =

= 150 ml. ( Đáp án A)

A. 133,3 gam. B. 146,9 gam. C. 272,2 gam. D. 300 gam.

Hướng dẫn giải

Phương trình phản ứng:

SO 3 + H 2O H 2SO 4

100 gam SO 3

Nồng độ dung dịch H 2SO 4 tương ứng 122,5%.

Gọi m 1, m 2 lần lượt là khối lượng của SO 3 và dung dịch H 2SO 4 49% cần lấy. Theo (1) ta có:

Ví dụ 4: Nguyên tử khối trung bình của brom là 79,319. Brom có hai đồng vị bền:

. Thành phần % số nguyên tử của là

A. 84,05. B. 81,02. C. 18,98. D. 15,95.

Hướng dẫn giải

Ta có sơ đồ đường chéo:

Ví dụ 5: Một hỗn hợp gồm O 2, O 3 ở điều kiện tiêu chuẩn có tỉ khối hơi với hiđro là 18. Thành phần % về thể tích của O 3 trong hỗn hợp là

A. 15%. B. 25%. C. 35%. D. 45%.

Hướng dẫn giải

Áp dụng sơ đồ đường chéo:

Ví dụ 6: Cần trộn hai thể tích metan với một thể tích đồng đẳng X của metan để thu được hỗn hợp khí có tỉ khối hơi so với hiđro bằng 15. X là

Hướng dẫn giải

Áp dụng sơ đồ đường chéo:

® ïM 2 – 30ï = 28

M 2 = 58 Þ 14n + 2 = 58 Þ n = 4.

Ví dụ 7: Thêm 250 ml dung dịch NaOH 2M vào 200 ml dung dịch H 3PO 4 1,5M. Muối tạo thành và khối lượng tương ứng là

Hướng dẫn giải

Có:

Sơ đồ đường chéo:

Mà: mol

A. 50%. B. 55%. C. 60%. D. 65%.

Hướng dẫn giải

= 0,02 mol = 158,2.

Áp dụng sơ đồ đường chéo:

C. 60 gam và 220 gam. D. 40 gam và 240 gam.

Hướng dẫn giải

Ta coi CuSO 4.5H 2O như là dung dịch CuSO 4 có:

C% =

64%.

Gọi m 1 là khối lượng của CuSO 4.5H 2O và m 2 là khối lượng của dung dịch CuSO 4 8%.

Theo sơ đồ đường chéo:

Mặt khác m 1 + m 2 = 280 gam.

Vậy khối lượng CuSO 4.5H 2 O là:

m 1 = = 40 gam

và khối lượng dung dịch CuSO 4 8% là:

m 2 = 280 – 40 = 240 gam. ( Đáp án D)

A. 2 lít và 7 lít. B. 3 lít và 6 lít.

C. 4 lít và 5 lít. D. 6 lít và 3 lít.

Hướng dẫn giải

Ta có sơ đồ đường chéo:

.

Cần phải lấy lít H 2SO 4 (d = 1,84 g/ml) và 6 lít H 2O. ( Đáp án B)

MỘT SỐ BÀI TẬP VẬN DỤNG GIẢI THEO PHƯƠNG PHÁP SƠ ĐỒ ĐƯỜNG CHÉO

1. Hòa tan hoàn toàn m gam Na 2 O nguyên chất vào 40 gam dung dịch NaOH 12% thu được dung dịch NaOH 51%. Giá trị của m (gam) là:

A. 11,3. B. 20,0. C. 31,8. D. 40,0.

2. Thể tích nước nguyên chất cần thêm vào 1 lít dung dịch H 2SO 4 98% (d = 1,84 g/ml) để được dung dịch mới có nồng độ 10% là

A. 14,192 ml. B. 15,192 ml. C. 16,192 ml. D. 17,192 ml.

3. Nguyên tử khối trung bình của đồng 63,54. Đồng có hai đồng vị bền:

Thành phần % số nguyên tử của

A. 73,0%. B. 34,2%. C.32,3%. D. 27,0%.

4. Cần lấy V 1 lít CO 2 và V 2 lít CO để có được 24 lít hỗn hợp CO 2 và CO có tỉ khối hơi đối với metan bằng 2. Giá trị của V 1 (lít) là

A. 2. B. 4. C. 6. D. 8.

5. Thêm 150 ml dung dịch KOH 2M vào 120 ml dung dịch H 3PO 4 1M. Khối lượng các muối thu được trong dung dịch là

6. Hòa tan 2,84 gam hỗn hợp 2 muối CaCO 3 và MgCO 3 bằng dung dịch HCl (dư) thu được 0,672 lít khí ở điều kiện tiêu chuẩn. Thành phần % số mol của MgCO 3 trong hỗn hợp là

A. 33,33%. B. 45,55%. C. 54,45%. D. 66,67%.

7. Lượng SO 3 cần thêm vào dung dịch H 2SO 4 10% để được 100 gam dung dịch H 2SO 4 20% là

A. 2,5 gam. B. 8,88 gam. C. 6,66 gam. D. 24,5 gam.

A. 0,805. B. 0,8 55. C. 0,972. D. 0,915.

9. Hòa tan m gam Al bằng dung dịch HNO 3 loãng thu được hỗn hợp khí NO và N 2O có tỉ khối so với H 2 bằng 16,75. Tỉ lệ thể tích khí trong hỗn hợp là

A. 2 : 3. B. 1 : 2. C. 1 : 3. D. 3 : 1.

10. Từ 1 tấn quặng hematit A điều chế được 420 kg Fe. Từ 1 tấn quặng manhetit B điều chế được 504 kg Fe. Hỏi phải trộn hai quặng trên với tỉ lệ khối lượng (m A : m B) là bao nhiêu để được 1 tấn quặng hỗn hợp mà từ 1 tấn quặng hỗn hợp này điều chế được 480 kg Fe.

A. 1 : 3. B. 2 : 5. C. 2 : 3. D. 1 : 1.

Sưu tầm: Cô Oanh – ĐHSP Hà Nội.

Cách Sử Dụng Sơ Đồ Tư Duy (Mind Map)

Cứ như vậy bạn sẽ có được trên cùng một trang giấy các công việc bạn định làm trong một tuần, và cái hay của sơ đồ tư duy ở chỗ là nó giúp cho bạn có cái nhìn tổng thể, không bỏ sót các ý tưởng; từ đó bạn có thể dễ dàng đánh số thứ tự ưu tiên các công việc trong tuần để sắp xếp và quản lý thời gian một cách hiệu quả và hợp lý hơn so với một quyển sổ liệt kê các công việc thông thường.

Những lời khuyên khi sử dụng Sơ đồ tư duy:

– Màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh. Tuy nhiên, bạn cũng không cần phải sử dụng quá nhiều màu sắc. Bạn có thể chỉ cần dùng một hai màu nếu thích và muốn tiết kiệm thời gian.

– Nếu bạn thấy mất quá nhiều thời gian để tô đậm màu trong một nhánh, sao bạn không thử gạch chéo, đánh dấu cộng, hay chấm bi trong đó? – Rất mới mẻ và tốn ít thời gian.

– Vẽ nhiều nhánh cong hơn là đường thẳng để tránh sự buồn tẻ, tạo sự mềm mại, cuốn hút.

– Khi bạn sử dụng những từ khóa riêng lẻ, mỗi từ khóa đều không bị ràng buộc, do đó nó có khả năng khơi dậy các ý tưởng mới, các suy nghĩ mới.

– Nếu trên mỗi nhánh bạn viết đầy đủ cả câu thì như vậy bạn sẽ dập tắt khả năng gợi mở và liên tưởng của bộ não. Não của bạn sẽ mất hết hứng thú khi tiếp nhận một thông tin hoàn chỉnh. Vì vậy, hãy nhớ trên mỗi nhánh bạn chỉ viết một, hai từ khóa mà thôi. Khi đó, bạn sẽ viết rất nhanh và khi đọc lại, não của bạn sẽ được kích thích làm việc để nối kết thông tin và nhờ vậy, thúc đẩy năng lực gợi nhớ và dần dần nâng cao khả năng ghi nhớ của bạn.

– Nên thường xuyên sử dụng sơ đồ tư duy khi làm việc nhóm và hệ thống kiến thức đã học trong các môn học ở trường, đặc biệt là khi ôn tập cho các kỳ thi (dù là thi thạc sĩ, học cao học, on thi cao học đều sử dụng tốt). Sơ đồ tư duy cũng giúp các bạn và các thầy cô tiết kiệm thời gian làm việc ở nhà và trên lớp rất nhiều với các phần mềm sơ đồ tư duy trên máy mà các bạn có thể làm tại nhà và gửi email cho các thầy cô chấm chữa trước khi lên lớp.

Cuối cùng, nếu bạn chỉ mới đọc để biết về sơ đồ tư duy thôi thì chưa đủ. Hãy thực hành sơ đồ tư duy ngay từ hôm nay và trải nghiệm nó…

Nhật Hạ (ST)

Phương Pháp Dạy Học Lịch Sử Bằng Sơ Đồ Tư Duy

Bài thơ Việt Nam quốc sử diễn ca, Bác Hồ chúng ta đã viết :

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.

Trong sự nghiệp giáo dục, môn lịch sử ở trường phổ thông đã góp phần không nhỏ trong việc giáo dục lòng tự hào dân tộc, tinh thần yêu nước và trách nhiệm của thể hệ trẻ đối với sự phát triển của nước nhà.

Thế nhưng trong thời đại ngày nay giới trẻ được thừa hưởng một thành quả công nghệ nghe nhìn đã làm ảnh hưởng không ít về môn học Lịch sử. Hơn nữa các bậc phụ huynh, học sinh hiện nay còn cho rằng môn Lịch sử là một môn học phụ nên không mấy quan tâm, chú trọng đến môn học này mà chỉ tập trung vào hai môn Toán và Tiếng Việt.

Trong mục tiêu giáo dục Tiểu học nhằm giúp các em hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ, và các kĩ năng cơ bản tiếp tục học lên lớp trên.( Trích luật giáo dục và các văn bản ban hành mới nhất- Nhà Xuất bản Lao động)

Vì vậy, tầm quan trọng của bộ môn này là giúp các em ham học hỏi, tìm hiểu để biết rằng giá trị của cuộc sống hôm nay được tạo bởi xương, máu, nước mắt của biết bao nhiêu lớp lớp ông cha ta từ ngàn đời nay đã ngã xuống để dựng nước và giữ nước. Một dân tộc mà đời đời tồn tại và phát triển, một dân tộc đang từng ngày được sánh vai với các nước khác trên thế giới đó là nhờ vào những thành tựu, những chiến công huy hoàng rất đáng tự hào trong sự nhiệp bảo vệ Tổ Quốc.

Vậy để dòng lịch sử chung của ngàn năm hào hùng như một mạch nước ngầm chảy mãi trong mỗi con người Việt thì ta phải làm sao để môn Lịch sử là một món ăn tinh thần, cuốn hút các em học sinh trường Tiểu học Krông Năng nói riêng và các trường Tiểu học trong địa bàn huyện Krông Năng nói chung vào môn học này. Từ môn học chúng ta hình thành cho các em niềm tin vào đạo đức, có thái độ khâm phục tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối và có hành vi đúng đắn để xác định nhiệm vụ của bản thân mình đối với quê hương đất nước thân yêu.

Như vậy việc dạy học môn Lịch sử trong trường phổ thông nói chung và trường Tiểu học nói riêng vô cùng quan trọng. Đã có nhiều thầy giáo, cô giáo tâm huyết với nghề, thường xuyên đổi mới phương pháp dạy học, góp phần nâng cao tính hấp dẫn của môn học. Tuy nhiên, thực tế các trường tiểu học nói chung và ở Trường Tiểu học Krông Năng nói riêng, trong việc dạy môn lịch sử phần lớn giáo viên vẫn chưa đưa ra được những phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh. Hình thức tổ chức dạy học của giáo viên cũng chưa đem lại niềm vui, niềm hứng thú cho các em vào điều kiện cụ thể.

Vậy phải có biện pháp gì để khắc phục? Và đưa ra được những phương pháp dạy học như thế nào để phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh? Đó là tất cả những điều mà nhà sư phạm đều quyết tâm đưa ra những tâm huyết của mình. Vì thế tôi chọn đề tài ” Phương pháp dạy học Lịch sử bằng sơ đồ tư duy “. Nhằm giúp học sinh nắm được một số kiến thức cơ bản về một số sự kiện tiêu biểu của Lịch sử dân tộc qua các thời kì với những nét chính về diễn biến; kết quả; ý nghĩa và các nhân vật Lịch sử tiêu biểu ở phân môn Lịch sử lớp 5.

Trong thời gian nghiên cứu đề tài này, tôi được sự quan tâm giúp đõ của lãnh đạo trường, bạn bè, đồng nghiệp tạo điều kiện cho tôi hoàn thành đề tài này. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Để hướng dẫn học sinh cách học bộ môn Lịch sử theo từng loại bài một cách có hiệu quả. Hay trước khi nhắc đến nhân vật lịch sử nào đó, giáo viên cần cung cấp để học sinh biết được những nét sơ lược về bối cảnh lịch sử ( không gian, thời gian) mà nhân vật hoạt động, hoặc những bài học lịch sử trong đó có những lời đối thoại nổi tiếng; .. để tiết học trở nên hấp dẫn, phong phú, lôi cuốn học sinh hăng say học tập môn học này. Giáo viên phải tự trang bị cho mình những kiến thức lịch sử cần thiết bằng cách:

Đọc nhiều sách vở, tài liệu dạy và học, tìm hiểu thông tin trên báo, đài, internet và nghiên cứu kĩ sách giáo khoa để hiểu được mục tiêu của bài dạy giúp giáo viên truyền đạt cho các em kiến thức lịch sử có hệ thống và có nhiều dẫn chứng, nhiều câu chuyện minh họa, giúp cho bài dạy sẽ lôi cuốn học sinh hơn, gợi cho các em có lòng yêu thích học môn Lịch Sử.

-Tranh ảnh lịch Sử là một nguồn tư liệu lịch Sử có khả năng khôi phục lại một cách sinh động về hiện tượng lịch sử cụ thể. Đây là đồ dùng dạy học trực quan phục vụ cho việc dạy và học trên cả 3 mặt : Giáo dục, giáo dưỡng và phát triển, nhằm giúp các em nắm bắt và khắc sâu được các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử thiêng liêng, cao quý nhất .

Việc sưu tầm tranh ảnh rất quan trọng để các em dễ hình dung, dễ nhớ, nhớ lâu các sự kiện lịch sử.

Ví dụ khi dạy bài: Chiến dịch biên giới thu- đông năm 1950.

Mục đích yêu cầu học sinh nhận thức được cuộc chiến đấu ở biên giới thắng lợi đã góp phần làm thay đổi cục diện ở chiến trường Bắc Bộ. Giáo dục học sinh tinh thần chịu đựng gian khổ trong mọi hoàn cảnh.

* Các mốc sự kiện lịch sử

Ngoài những việc chuẩn bị nêu trên, trong môn Lịch sử lớp 5 các mốc sự kiện lịch sử rất quan trọng, vì kiến thức lịch sử ở cấp Tiểu học không được trình bày theo một hệ thống chặt chẽ mà chỉ chọn ra những sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu cho một giai đoạn lịch sử nhất định đưa vào chương trình phân môn Lịch sử. Ở lớp 5 gồm 32 tiết với các mốc sự kiện lịch sử chính như: Hơn 80 năm

chống thực dân Pháp ( 1858 – 1945); Xô Viết Nghệ Tĩnh; các cuộc khởi nghĩa và hoạt động yêu nước chống thực dân Pháp đầu thế kỷ 20; thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam, cách mạng tháng tám năm 1945 và tuyên ngôn độc lập (2/9/1945); chín năm kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954); các chiến dịch quân sự lớn. Chiến thắng Điện Biên Phủ; Hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh Đông Dương; kháng chiến chống Mĩ và xây dựng đất nước ( 1954 – 1975); xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước ( 1975 đến nay). Với nội dung kiến thức như vậy, để tránh tình trạng tiếp thu kiến thức thụ động như trước, việc chuẩn bị các mốc sự kiện lịch sử để đưa vào sơ đồ tư duy khi dạy sẽ giúp các em hứng thú trong giờ học, các em sẽ có cơ hội hình dung được sinh động về các sự kiện lịch sử đã diễn ra cách các em rất xa.

* Các đoạn phim tư liệu :

Đây là loại tài liệu mang nội dung thông tin bằng hình ảnh và âm thanh trên các vật liệu khác nhau, chúng có khả năng ghi và làm tái hiện lại những hình ảnh và âm thanh đúng như đã xảy ra trong thực tế , chính vì vậy những đoạn phim tư liệu giúp cho học sinh xem như đang chứng kiến những sự kiện đang xảy ra trước mắt

mình . Những tư liệu này không chỉ phản ánh, miêu tả hay kể lại về hiện thực xã hội đã xảy ra mà nó thể hiện bằng những hình ảnh và âm thanh của những sự kiện,

hiện tượng đó đúng như đã diễn ra và làm tái hiện lại một cách chân thực các sự kiện đó, qua đó học sinh được chứng kiến toàn bộ quá trình diễn biến của sự kiện hoặc khoảnh khắc nào đó của sự kiện hoặc con người .

Trong công tác giảng dạy, kết hợp với những bài giảng trên lớp là những đoạn phim tư liệu được trình chiếu làm minh họa, sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn bài giảng của thầy cô. Ví dụ khi trình chiếu những bộ phim tư liệu về Bác như: ” Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh 1975″; những hình ảnh Bác đi chiến dịch,…Những hình ảnh như vậy có tính giáo dục rất cao đối với học sinh và giúp làm cho tiết học sinh động hơn.

Các câu hỏi phải chuẩn kiến thức, kĩ năng, phù hợp với từng đối tượng học sinh, sắp xếp câu hỏi từ dễ đến khó, từ đơn giải đến phức tạp, kích thích học sinh độc lập suy nghĩ rồi trả lời nhằm dẫn dắt các em đạt mục tiêu, yêu cầu của bài học.

Các câu hỏi được chuẩn bị dưới hình thức khác nhau như: Giải ô chữ, đố vui, trắc nghiệm, bài tập thực hành,….. chủ yếu là kích thích sự sáng tạo, thích thú khi giải đáp các câu hỏi, giúp các em khắc sâu được kiên thức hơn.

* Các câu hỏi giai đoạn “Hơn tám mươi năm chống thực dân Pháp xâm lược và đô hộ( 1858-1945)

+ Thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta vào thời gian nào? (1858)

+ Nhiêm vụ hàng đầu của nhân dân ta là gì?

+ Nhân vật, sư kiên tiêu biểu cho giai đoạn này là ai ? Ông được nhân dân tin yêu và suy tôn ” Bình Tây Đại nguyên soái” gồm có 11 chữ cái ? (Trương Định)

+ Sự kiện tiêu biểu ngày 5/71885 là gì? Ai đã thay vua Hàm Nghi ra chiếu Cần Vương? ( Tôn Thất Thuyết)

+ Tên tuổi nhà yêu nước gắn liền với phong trào Đông Du? (Hay là câu đố vui: Đố ai qua Nhật, sang Tàu

Soạn thành huyết lệ lưu cầu tàn thư

Hô hào vận động Đông Du

Kết đoàn cùng với sĩ phu khắp miền.

(Là ai ? Phan Bội Châu)

+Nêu kết quả các phong trào cứu nước của các bậc tiền bối? (Cụ Phan Bội Châu muốn dựa vào Nhật để đánh đuổi giặc Pháp, điều đó là nguy hiểm. Cụ Phan Châu Trinh yêu cầu người Pháp làm cho nước ta giàu có, văn minh, đó là điều không thể thực hiện được. Nguyễn Tất Thành quyết định ra tìm đường mới có thể cứu nước, cứu dân.)

+ Nguyễn Tât Thành ra đi cứu nước vào thời gian nào?

+ Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời vào thời gian nào? Do ai chủ trì? ( 3/2/1930 do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc)

+ Sau khi Đảng ra đời đã lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng mạnh mẽ 1930-1931, đó là phong trào nào? ( Xô viết Nghệ – Tĩnh)

+ Ngày 19/8 trở thành ngày gì ở nước ta? (Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội toàn thắng. Ngày 19/8 là ngày kỉ niêm Cách mạng tháng 8 của nước ta.)

+ Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn Độc lâp vào thời gian nào? (2/9/1945)

* Các câu hỏi giai đoạn” Bảo vệ chính quyền non trẻ, trường kì kháng chiến chống thực dân Pháp(1945-1954)

+ Tình thế hiểm nghèo của nước ta sau cách mạng tháng 8 được diễn tả bằng cụm từ nào?

+Chính quyền non trẻ đẩy lùi được ba loại giặc nào? ( “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm” )

+ Ngày 19/12/1946 diễn ra sự kiện gì? (Nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến toàn quốc)

+Tháng 10/1947 Pháp tấn công lên Việt Bắc với âm mưu gì? Kết quả của chiến dịch? ( Thu – đông 1947 Pháp tấn công lên Việt Bắc âm mưu tiêu diệt cơ quan đầu não của kháng chiến và bộ đội chủ lực. Nhưng Việt Bắc trở thành “mồ chôn giặc Pháp”)

+ Năm 1950 diễn ra sự kiện gì? Kết quả ý nghĩ của chiến dịch? (Thu – đông 1950, ta chủ động mở chiến dịch và thắng lợi nhằm giải phóng một phần biên giới, cũng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc)

+ Sau 56 ngày đêm chiến đấu kiên cường gian khổ bộ đội ta đã ghi trang vàng chói lọi vào lịch sử. Em biết gì về sự kiện này?( chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ)

Để tránh tình trạng lâu nay một số giáo viên vẫn sử dụng cách “đọc” cho học sinh nghe dẫn đến sự nhàm chán của học sinh, vậy để tạo được sự cuốn hút trong mỗi tiết dạy và học Lịch Sử, giáo viên tự rèn luyện cho mình cách diễn đạt, giọng kể sao cho phù hợp, hấp dẫn, thu hút sự chú ý của học sinh:

– Giọng kể châm rãi, sâu lắng khi nhắc đến sự hi sinh của các anh hùng dân tộc, giọng kể rõ ràng, rành mạch mang tính chất tường thuật các sự kiện Lịch Sử , tinh thần anh dũng quật cường của ông cha ta….. có như thế cái hay cái đẹp về ký ức Lịch Sử mới đọng lại trong đầu các em thật lâu và cuốn hút học sinh vào môn Lịch Sử, giúp các em học sinh biến môn học Lịch Sử thành món ăn tinh thần.

Đây là một khâu chuẩn bị quan trọng cho sự thành công của một giờ dạy trên lớp. Giáo viên xác định rõ mục tiêu, các hoạt động dạy học phương pháp học như có bao nhiêu hoạt động; phân định hoạt động của giáo viên, hoạt động của học sinh( hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm, cả lớp, đặc biệt là giúp học sinh có nhu cầu và biết cách tự học).Tóm lại bài soạn phải có tính sáng tạo, các hình thức khác nhau (nói, viết, vẽ,…) về sự kiện, hiện tượng lịch sử và các phương pháp tổ chức dạy học hiện đại phối hợp với truyền thống để phát huy tối đa các mặt mạnh của từng phương pháp tránh gây nhàm chán cho các em, phù hợp với điều kiện, trình độ học sinh, không mang tính chiếu lệ, rập khuôn, sao chép từ sách giáo viên.

Lợi ích của sơ đồ tư duy là giúp nhớ lâu hơn, có thể bao hàm kiến thức từ 10 trang sách giáo khoa trong một vài trang giấy và làm nổi bật các ý trọng tâm bằng việc sử dụng màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng…

Dạy học nói chung, dạy học lịch sử ở trường tiểu học nói riêng là một quá trình, đó là một quá trình nhận thức đặc thù, trong đó giáo viên tổ chức, dẫn dắt học sinh một cách có mục đích, có kế hoạch để học sinh nắm vững những tri thức cơ bản, kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực nhận thức, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, hình thành nhân cách.

Với tinh thần đó, người thầy đóng vai trò quyết định tạo nên chất lượng giáo dục. Đặc biệt với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay nhằm phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đòi hỏi người thầy không những có đạo đức trong sáng, tâm huyết với nghề nghiệp, mà còn phải có một trình độ chuyên môn vững vàng. Để đạt được những yêu cầu trên, đòi hỏi người thầy không ngừng rèn luyện về mọi mặt để hoàn thiện mọi kĩ năng sư phạm.

Với dạy bộ môn lịch sử, việc kết hợp kĩ năng khai thác sơ đồ tư duy, sẽ góp phần tích cực đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Thực hiện tốt không những hoàn thiện những kĩ năng sư phạm, nâng cao trình độ chuyên môn của người thầy, mà còn phát huy tính tích cực của học sinh

Trong dạy học mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, không phương pháp nào là vạn năng cả. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải phối hợp nhịp nhàng sao cho người học nắm vững và khắc sâu kiến thức. Ngoài những đổi mới phương pháp dạy học giáo viên luôn theo dõi sự tiến bộ của các em để kịp thời động viên, khen thưởng. Điều quan trọng nữa là giáo viên phải là người có lương tâm, có trách nhiệm, tâm huyết, trau dồi kiến thức, tự cải tiến điều chỉnh hoạt động dạy học sao cho đạt hiệu quả, xứng đáng với niềm tin của phụ huynh học sinh, góp phần trong phát triển sự nghiệp giáo dục nước nhà.

Qua kết quả giảng dạy đã đạt được tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và áp dụng đề tài vào quá trình giảng dạy để nâng cao chất lượng bộ môn lịch sử và chất lượng giáo dục trong nhà trường.

Tuy nhiên với những hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân, đề tài có thể chưa đáp ứng được nhiều yêu cầu của giáo viên. Dù vậy, qua nội dung của vấn đề chắc chắn sẽ góp phần trong việc trao đổi kinh nghiệm chuyên môn cùng đồng nghiệp với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.

Rất mong sự đóng góp của hội đồng khoa học và các đồng nghiệp để sáng kiến kinh nghiệm này được hoàn chỉnh và mang lại giá trị thực tiễn cao.

Bấm vào đây để tải về