Phương Pháp Lai Hữu Tính / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top View | Channuoithuy.edu.vn

Dùng Phương Pháp Lai Hữu Tính Để Tạo Giống Hoa Lan Huệ Mới

Kỹ Thuật Lai Tại Chỗ Gắn Huỳnh Quang (Fish)

Lãi Kép Là Gì? Cách Tạo Nên Điều Không Tưởng

Hướng Dẫn Cách Lấy Lại Vóc Dáng Sau Khi Sinh Con Cho Các Mẹ

Cách Lấy Lại Vóc Dáng Cho Mẹ Sau Khi Sinh Em Bé

Cách Lấy Lại Vóc Dáng Sau Khi Sinh Con Chỉ Trong 12 Tháng

Chọn tạo các giống hoa lan huệ bằng phương pháp lai hữu tính có thể tạo ra giống hoa có hình thức đẹp, đáp ứng như cầu của người yêu cây trồng.

Lai hữu tính để tạo giống hoa lan huệ mới

Công trình nghiên cứu của TS Phạm Thị Minh Phượng, khoa Nông học thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cùng cộng sự chọn tạo giống hoa lan huệ bằng phương pháp lai hữu tính giữa nguồn gene bản địa và nhập nội.

Phương pháp lai hữu tính giữa nguồn gene bản địa và nhập nội có thể tạo ra những giống hoa có hình dạng mới lạ, màu sắc phong phú. (Ảnh: Học viện Nông nghiệp Việt Nam)

Mục tiêu của nghiên cứu này là tạo ra các tổ hợp lai hoa lan huệ mới có màu sắc hoặc hình dạng khác biệt, tạo đà phát triển cho sản xuất trong nước. Trong điều kiện nuôi trồng ở Gia Lâm, Hà Nội, các cây lai đều có khả năng sinh trưởng tốt, biểu hiện ở chiều cao tăng dần đều, số lá trên củ nhiều, kích thước củ to.

Theo website của Học viện Nông nghiệp Việt Nam, kết quả lai cho ra những bông hoa đẹp, hình dạng mới lạ như hình tam giác, cánh bán kép 8-9 cánh mỗi bông, cánh hoa xếp cân đối, chiều cao mức trung bình phù hợp với sản xuất hoa trồng chậu ở Việt Nam. Màu sắc hoa phong phú, nhiều tông màu từ đỏ, hồng, cam đỏ, trắng viền hồng, có những loại hoa lai tỏa mùi thơm dịu mát.

Lan huệ (hay thường được gọi là hoa loa kèn) được trồng khá phổ biến và phân biệt chủ yếu dựa vào màu sắc hoa. Các giống hoa nhập nội có nhiều điểm vượt trội như hoa có nhiều hình dạng (cánh đơn, bán kép hoặc cánh kép), kích thước hoa đa dạng, màu sắc hoa phong phú (vàng, cam, đỏ cá hồi, đỏ thẫm, hoặc nhiều màu trên cánh hoa). Các giống hoa bản địa tuy đa dạng về số lượng nhưng còn có hạn chế về hình dáng và màu sắc, chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường.

Những Rủi Ro Khi Lai Cận Huyết Ở Gà Mà Sư Kê Cần Biết

Hạt Giống Lúa Lai F1 Gs999

Hạt Giống Lúa Lai F1 Gs9

Hướng Dẫn Kỹ Thuật Trồng Giống Mướp Lai F1

Kỹ Thuật Trồng Giống Bí Đỏ Lai F1

Lai Hai Cặp Tính Trạng Là Gì? Phương Pháp Giải Bài Tập Lai Hai Cặp Tính Trạng

Phương Pháp Giải Bài Tập Lai Hai Cặp Tính Trạng Của Menđen

Phương Pháp Giải Lai Hai Cặp Tính Trạng

Cách Lái Xe An Toàn Vào Ban Đêm

Những Kinh Nghiệm Lái Xe An Toàn Vào Ban Đêm Tốt Nhất

Hướng Dẫn Cách Lái Xe An Toàn Ban Đêm

Lai 2 cặp tính trạng là gì? Bài tập lai hai cặp tính trạng sinh học 9

Khái niệm lai hai cặp tính trạng là gì?

Lai hai cặp tính trạng là việc dùng 2 cặp bố mẹ thuần chủng nhưng khác nhau về tính trạng và các tính trạng này có sự tương phản.

Để nghiên cứu và tìm hiểu về lai hai cặp tính trạng, Gregor Mendel đã thí nghiệm bằng cách lai hai loại đậu Hà Lan thuần chủng và có sự khác nhau về 2 cặp tính trạng tương phản.

Từ đó, ông đã rút ra kết luận rằng, khi lai hai cặp bố mẹ khác nhau về hai cặp tính trạng thuần chủng tương phản di truyền độc lập với nhau, thì ta sẽ có được kiểu hình F2 có tỉ lệ mỗi kiểu hình bằng tích của các tính trạng hợp thành nó.

Đặc biệt, khi ta lai hai cặp tính trạng có thể tạo ra sự biến dị tổ hợp, tức là sự xuất hiện của các loại kiểu hình khác. Đây là sự khác nhau cơ bản giữa lai hai cặp tính trạng và lai một cặp tính trạng.

Bài tập lai hai cặp tính trạng sinh học 9

Bài toán thuận lai 2 cặp tính trạng

Với dạng bài toán thuận, ta sẽ được biết KG, KH của P. Qua đó xác định tỉ lệ KG, KH của F.

Để giải dạng toán thuận, trước tiên ta cần quy ước gen dựa trên giả thiết của đề bài. Sau đó Từ KH của P sau đó xác định KG của P. Cuối cùng, lập sơ đồ lai và xác định KG của F rồi cuối cùng xác định KH của F.

Bài toán nghịch lai hai cặp tính trạng

Đầu tiên, xác định tỉ lệ KH của F.

Tiếp theo, phân tích kết quả từng cặp tính trạng ở con lai. Dựa vào tỉ lệ tính trạng của F để suy ra KG của P về cặp tính trạng đang xét suy ra KH của P.

Với tỉ lệ (F_{1}=3:1) thì cả 2 cơ thể P đều có KG dị hợp về cặp tính trạng đang xét, tính trội hoàn toàn.

Với tỉ lệ (F_{1}=1:2:1) thì cả 2 cơ thể P đều có KG dị hợp về cặp tính trạng đang xét và tính trội không hoàn toàn.

(F_{1}) đồng tính trội thì ít nhất 1 cơ thể P đồng hợp trội; F1 đồng tính lặn do đó cả 2 cơ thể P đều đồng hợp lặn.

Tỉ lệ (F_{1}=1:1) thì 1 cơ thể P có KG dị hợp, cơ thể P còn lại có KG đồng hợp lặn về cặp tính trạng đang xét.

Xét chung 2 cặp tính trạng để suy ra KG ở hai cặp tính trạng của bố mẹ

Cuối cùng, lập sơ đồ lai minh họa.

Phương pháp giải bài tập lai hai cặp tính trạng sinh học 9

Bên cạnh dạng toán thuận và dạng toán nghịch, ta có thể chia thành các dạng cụ thể như sau:

Dạng 1: Xác định tỉ lệ của giao tử

Với dạng bài tập lai hai cặp tính trạng này, ta cần ghi nhớ và phân biệt giao tử chỉ mang 1 alen với mỗi cặp alen.

Nếu ta gọi n là số cặp gen dị hợp thì số kiểu giao tử sẽ tuân theo công thức tổng quát là 2n kiểu và các kiểu giao tử này có tỉ lệ bằng nhau.

Do vậy, có công thức:

Cá thể đồng hợp của cả 2 cặp gen sẽ tạo (2^{0}=1) kiểu giao tử.

Cá thể dị hợp tử của 1 cặp gen sẽ tạo (2^{1}=2) kiểu giao tử.

Cá thể dị hợp tử của cả 2 cặp gen sẽ tạo (2^{2}=4) kiểu giao tử.

Dạng 2: Biết gen lặn, gen trội và kiểu gen, xác định kết quả lai

Đây là một dạng bài quan trọng trong chuyên đề lai hai cặp tính trạng. Với dạng này, ta cần áp dụng 4 bước sau:

Bước 1: Quy ước gen.

Bước 2: tiếp theo, hãy xác định tỉ lệ giao tử của P

Bước 3: Lập sơ đồ lai hay còn gọi là bảng tổ hợp giao tử.

Bước 4: cuối cùng, ta cần tính tỉ lệ kiểu gen và tỉ lệ kiểu hình. Sau đó xét riêng từng tính trạng, rồi lấy tích sẽ được kết quả cả hai tính trạng.

10 Phương Pháp Làm Giàu Của Phụ Nữ Mà Đàn Ông Nên Học

Phương Pháp Làm Giàu Nhanh Nhất Được Minh Chứng Và Ứng Dụng Thành Công Trên Hàng Tỷ Người Mỗi Năm

5 Phương Pháp Nghĩ Giàu Làm Giàu Giúp Thu Hút Của Cải Nhanh Chóng

Tổng Hợp Những Mô Hình Làm Giàu Đơn Giản Hay Nhất 2022

Phương Pháp Làm Giàu Đơn Giản Ai Cũng Có Thể Áp Dụng

Tính Kết Cấu Theo Phương Pháp Phần Tử Hữu Hạn

Phương Pháp Chứng Minh Phản Chứng

Lăn Kim Prp Thực Sự An Toàn? Bác Sĩ Da Liễu Giải Đáp!

Điều Trị Sẹo Rỗ Bằng Phương Pháp Prp – Trung Tâm Thẩm Mỹ

Cấy Prp Trị Sẹo Rỗ

Phương Pháp Điều Trị Rụng Tóc Hàng Đầu Hiện Nay

I. GIỚI THIỆU VỀ GIÁO TRÌNH TÍNH KẾT CẤU THEO PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ HỮU HẠN

Trong vong nửa thế kỷ này, lý thuyết phần tử hữu hạn đã được ứng dụng vào lĩnh vực tính kết cấu trong nhiều ngành KHKT như chế tạo hàng không, chế tạo cơ khí, xây dựng vv… Nó đã tỏ ra có hiệu lực trong quá trình giải nhiều bài toán cơ học mà riêng lý thuyết đàn hồi không thể giải được.

Cuốn sách này nhằm mục đích trang bị cho sinh viên, cán bộ giảng dạy , kỹ sư, nghiên cứu sinh thuộc các ngành xây dựng, chế tạo cơ khí,… những khái niệm cơ bản về lý thuyết phần tử hữu hạn. Sách trình bày theo quan điểm thực dụng, nghĩa là lý thuyết được minh họa bằng nhiều ví dụ cụ thể để bạn đọc dễ tiếp thu. Hơn nữa, có nhiều nguyên lý nhưng tác giả chỉ chọn những nguyên lý dễ hiểu nhất và không đi sâu chứng minh về mặt toán học. Để hiểu được nội dung sách, bạn đọc nên tham khảo các tài liệu (11) và (12) để nắm được các khái niệm về đại số ma trận.

Cuối sách có các bài tập kềm đáp án mang tính chất lý thuyết để rèn luyện kỹ năng tính toán của người đọc. Ngoài ra, còn có các chương trình tính theo ngôn ngữ Turbo- Pascal 7.0. Sở dĩ tác giả chọn ngôn ngữ này vì nó gần với cách nói của con người, dễ hiểu, hơn nữa đang dược giảng dạy tại các trường đại học.

Nội dung gồm có:

Chương 1- Khái niệm và nguyên lý cơ bản trong lý thuyết phần tử hữu hạn;

Chương 2- Tính chất của các phần tử hữu hạn;

Chương 3- Bài toán một chiều;

Chương 4- Hệ giàn;

Chương 5- Bài toán hai chiều dùng tam giác biến dạng không đổi;

Chương 6- Vật rắn tròn xoay chịu tải trọng đối xứng;

Chương 7- Phần tử hữu hạn cùng tham số hai chiều- Phương pháp tích phân bằng số;

Chương 8- Dầm hai chiều và khung phẳng;

Chương 9- Hệ dầm trực giao;

Chương 10- Dầm ba chiều và khung không gian;

Chương 11- Bài toán ba chiều;

Chương 12- Bài toán dao động.

Do những nguyên nhân chủ quan và khách quan nên, không tránh được thiếu sót, mong bạn đọc phê bình và góp ý.

Cuối cùng, tác giả chân thành cảm ơn Ban biên tập Nhà xuất bản Xây dựng đã tham gia  biên tập và cho xuất bản sách. Đặc biệt, tác giả tỏ lòng cảm ơn biên tập viên Trần Cường đã hết lòng giúp đỡ và cổ vũ để hoàn thành tốt việc biên soạn sách.

Phương Pháp Phần Tử Hữu Hạn Lý Thuyết Và Bài Tập

Phương Pháp Phân Tích Phần Tử Hữu Hạn: Lý Thuyết Và Ứng Dụng

Phân Tích Phần Tử Hữu Hạn (Fea: Finite Element Analysis) Của Máy Công Cụ

Câu Hỏi Phỏng Vấn Xin Việc Thường Gặp Và Cách Trả Lời

Phỏng Vấn Qua Điện Thoại

Phương Pháp Phần Tử Hữu Hạn

Phương Pháp Phần Tử Hữu Hạn Là Gì? Áp Dụng Với Solidworks Simulation

Bài Giảng Phương Pháp Phần Tử Hữu Hạn: Bài Giảng 1

Đề Tài Ứng Dụng Phương Pháp Phần Tử Hữu Hạn Mở Rộng Trong Việc Tính Hệ Cường Độ Ứng Suất

Cách Trị Sẹo Rỗ Bằng Phương Pháp Prp Hiệu Quả Cao

Công Nghệ Điều Trị Sẹo Rỗ Bằng Phương Pháp Prp ” Mỹ Viện Phương

Phương pháp phần tử hữu hạn là phương pháp số để giải các bài toán được mô tả bởi các phương trình vi phân riêng phần cùng với các điều kiện biên cụ thể.

Cơ sở của phương pháp này là làm rời rạc hóa các miền liên tục phức tạp của bài toán. Các miền liên tục được chia thành nhiều miền con (phần tử). Các miền này được liên kết với nhau tại các điểm nút. Trên miền con này, dạng biến phân tương đương với bài toán được giải xấp xỉ dựa trên các hàm xấp xỉ trên từng phần tử, thoả mãn điều kiện trên biên cùng với sự cân bằng và liên tục giữa các phần tử.

Về mặt toán học, phương pháp phần tử hữu hạn (PPPTHH) được sử dụng để giải gần đúng bài toán phương trình vi phân từng phần (PTVPTP) và phương trình tích phân, ví dụ như phương trình truyền nhiệt. Lời giải gần đúng được đưa ra dựa trên việc loại bỏ phương trình vi phân một cách hoàn toàn (những vấn đề về trạng thái ổn định), hoặc chuyển PTVPTP sang một phương trình vi phân thường tương đương mà sau đó được giải bằng cách sử dụng phương pháp sai phân hữu hạn, vân vân.

PPPTHH không tìm dạng xấp xỉ của hàm trên toàn miền xác định V của nó mà chỉ trong những miền con Ve (phần tử) thuộc miền xác định của hàm.Trong PPPTHH miền V được chia thành một số hữu hạn các miền con, gọi là phần tử. Các miền này liên kết với nhau tại các điểm định trước trên biên của phần tử được gọi là nút. Các hàm xấp xỉ này được biểu diễn qua các giá trị của hàm (hoặc giá trị của đạo hàm) tại các điểm nút trên phần tử. Các giá trị này được gọi là các bậc tự do của phần tử và được xem là ẩn số cần tìm của bài toán.

Trong việc giải phương trình vi phân thường, thách thức đầu tiên là tạo ra một phương trình xấp xỉ với phương trình cần được nghiên cứu, nhưng đó là ổn định số học (numerically stable), nghĩa là những lỗi trong việc nhập dữ liệu và tính toán trung gian không chồng chất và làm cho kết quả xuất ra xuất ra trở nên vô nghĩa. Có rất nhiều cách để làm việc này, tất cả đều có những ưu điểm và nhược điểm. PPPTHH là sự lựa chọn tốt cho việc giải phương trình vi phân từng phần trên những miền phức tạp (giống như những chiếc xe và những đường ống dẫn dầu) hoặc khi những yêu cầu về độ chính xác thay đổi trong toàn miền. Ví dụ, trong việc mô phỏng thời tiết trên Trái Đất, việc dự báo chính xác thời tiết trên đất liền quan trọng hơn là dự báo thời tiết cho vùng biển rộng, điều này có thể thực hiện được bằng việc sử dụng phương pháp phần tử hữu hạn.

Phương pháp Phần tử hữu hạn thường được dùng trong các bài toán Cơ học (cơ học kết cấu, cơ học môi trường liên tục) để xác định trường ứng suất và biến dạng của vật thể.

Ngoài ra, phương pháp phần tử hữu hạn cũng được dùng trong vật lý học để giải các phương trình sóng, như trong vật lý plasma, các bài toán về truyền nhiệt, động lực học chất lỏng, trường điện từ.

Phương pháp phần tử hữu hạn được bắt nguồn từ những yêu cầu giải các bài toán phức tạp về lý thuyết đàn hồi, phân tích kết cấu trong xây dựng và kỹ thuật hàng không. Nó được bắt đầu phát triển bởi Alexander Hrennikoff (1941) và Richard Courant (1942). Mặc dù hướng tiếp cận của những người đi tiên phong là khác nhau nhưng họ đều có một quan điểm chung, đó là chia những miền liên tục thành những miền con rời rạc. Hrennikoff rời rạc những miền liên tục bằng cách sử dụng lưới tương tự, trong khi Courant chia những miền liên tục thành những miền có hình tam giác cho cách giải thứ hai của phương trình vi phân từng phần elliptic, xuất hiện từ các bài toán về xoắn của phần tử thanh hình trụ. Sự đóng góp của Courant là phát triển, thu hút một số người nhanh chóng đưa ra kết quả cho PPVPTP elliptic được phát triển bởi Rayleigh, Ritz, và Galerkin. Sự phát triển chính thức của PPPTHH được bắt đầu vào nửa sau những năm 1950 trong việc phân tích kết cấu khung máy bay và công trình xây dựng, và đã thu được nhiều kết quả ở Berkeley (xem Early Finite Element Research at Berkeley) trong những năm 1960 trong ngành xây dựng. Phương pháp này được cung cấp nền tảng toán học chặt chẽ vào năm 1973 với việc xuất bản cuốn Strang và tổng kết trong An Analysis of The Finite element Method và kể từ đó PPPTHH được tổng quát hóa thành một ngành của toán ứng dụng, một mô hình số học cho các hệ thống tự nhiên, được ứng dụng rộng rãi trong kĩ thuật, ví dụ như điện từ học và động lực học chất lỏng.

Sự phát triển của PPPTHH trong cơ học kết cấu đặt cơ sở cho nguyên lý năng lượng, ví dụ như: nguyên lý công khả dĩ, PPPTHH cung cấp một cơ sở tổng quát mang tính trực quan theo quy luật tự nhiên, đó là một yêu cầu lớn đối với những kỹ sư kết cấu.

Ví dụ cho bài toán hai chiều là bài toán Dirichlet

Ở đây, miền Ω là một miền đơn liên mở trong mặt phẳng (x,y), có biên ∂Ω rất “đẹp” (ví dụ: một đa tạp trơn hoặc một đa giác), uxx và uyy là đạo hàm riêng cấp hai theo biến x và y.

Ở ví dụ P1, có thể giải trực tiếp bằng cách lấy nguyên hàm. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ thực hiện được trong không gian một chiều và không thể giải được trong trường hợp không gian có hơn hai chiều hoặc trong bài toán u + u” = f. Chính vì lí do này mà chúng ta sẽ phát triển phát triển PPPTHH cho trường hợp P1 và phác họa tổng quát của PPPTHH cho trường hợp P2.

Lời giải sẽ bao gồm hai bước, nó phản ánh hai bước chủ yếu phải thực hiện để giải một bài toán biên bằng PPPTHH. Ở bước đầu tiên, chúng ta sẽ biểu diễn lại bài toán biên trong dạng gần đúng của nó hoặc dạng biến phân. Rất it hoặc không có máy tính được dùng để thực hiện bước này, việc này được làm bằng tay ở trên giấy. Bước thứ hai là rời rạc hóa, dạng gần đúng được rời rạc trong một không gian hữu hạn chiều. Sau bước thứ hai này, chúng ta sẽ có biểu thức cụ thể cho toàn bộ bài toán nhưng lời giải của bài toán trong không gian hữu hạn chiều tuyến tính chỉ là lời giải gần đúng của bài toán biên. Bài toán trong không gian hữu hạn chiều này sau đó được giải bằng máy tính.

PPSPHH là một phương pháp khác để giải phương trình vi phân từng phần. Sự khác nhau giữa PPPTHH và PPSPHH là:

PPSPHH xấp xỉ bài toán phương trình vi phân; còn PPPTHH thì xấp xỉ lời giải của bài toán này

Điểm đặc trưng nhất của PPPTHH là nó có khả năng áp dụng cho những bài toán hình học và những bài toán biên phức tạp với mối quan hệ rời rạc. Trong khi đó PPSPHH về căn bản chỉ áp dụng được trong dạng hình chữ nhật với mối quan hệ đơn giản, việc vận dụng kiến thức hình học trong PPPTHH là đơn giản về lý thuyết.

Điểm đặc trưng của phương pháp sai phân hữu hạn là có thể dễ dàng thực hiện được.

Trong một vài trường hợp, PPSPHH có thể xem như là một tập con của PPPTHH xấp xỉ. Việc lựa chọn hàm cơ sở là hàm không đổi từng phần hoặc là hàm delta Dirac. Trong cả hai phương pháp xấp xỉ, việc xấp xỉ được tiến hành trên toàn miền, nhưng miền đó không cần liên tục. Như một sự lựa chọn, nó có thể xác định một hàm trên một miền rời rạc, với kết quả là toán tử vi phân liên tục không sinh ra chiều dài hơn, tuy nhiên việc xấp xỉ này không phải là PPPTHH.

Có những lập luận để lưu ý đến cơ sở toán học của việc xấp xỉ phần tử hữu hạn trở lên đúng đắn hơn, ví dụ, bởi vì trong PPSPHH đặc điểm của việc xấp xỉ những điểm lưới còn hạn chế.

Kết quả của việc xấp xỉ bằng PPPTHH thường chính xác hơn PPSPHH, nhưng điều này còn phụ thuộc vào nhiều vấn đề khác và một số trường hợp đã cho kết quả trái ngược.

Nói chung, PPPTHH là một phương pháp thích hợp để phân tích các bài toán về kết cấu (giải các bài toán về biến dạng và ứng suất của vật thể dạng khối hoặc động lực học kết cấu), trong khi đó phương pháp tính trong động lực học chất lỏng có khuynh hướng sử dụng PPSPHH hoặc những phương pháp khác (như phương pháp khối lượng hữu hạn).Những bài toán của động lực học chất lỏng thường yêu cầu phải rời rạc hóa bài toán thành một số lượng lớn những “ô vuông” hoặc những điểm lưới (hàng triệu hoặc hơn), vì vậy mà nó đòi hỏi cách giải phải đơn giản hơn để xấp xỉ các “ô vuông”. Điều này đặc biệt đúng cho các bài toán về dòng chảy ngoài, giống như dòng không khí bao quanh xe hơi hoặc máy bay, hoặc việc mô phỏng thời tiết ở một vùng rộng lớn. Có rất nhiều bộ phần mềm về phương pháp phần tử hữu hạn, một số miễn phí và một số được bán.

Tài Liệu Matlab Phần Tử Hữu Hạn (Fem)

35 Câu Hỏi Phỏng Vấn Xin Việc Thường Gặp Và Cách Trả Lời (Phần 1)

Hướng Dẫn Phỏng Vấn Xin Việc Bằng Tiếng Anh

4 Dạng Câu Hỏi Phỏng Vấn Hiệu Quả

Các Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu

🌟 Home
🌟 Top