Phương Pháp Khăn Trải Bàn / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top View | Channuoithuy.edu.vn

Tư Vấn May Khăn Trải Bàn Phù Hợp

Phương Pháp Luận Là Gì? Ý Nghĩa Và Phân Loại Phương Pháp Luận

Phương Pháp Luận Và Vai Trò Của Phương Pháp Triết Học Trong Nghiên Cứu Khoa Học :: Suy Ngẫm & Tự Vấn :: Chúngta.com

Định Hình Khuôn Mặt Mewing: “hô Biến” Cho Khuôn Mặt Sắc Nét Không Cần Dao Kéo?

Phương Pháp Montessori Là Gì Và Những Điều Bố Mẹ Cần Biết

Ebook Phương Pháp Mới Để Giao Dịch Kiếm Sống (Pdf)

Please enable javascript to view this site.

Khăn trải bàn không chỉ giúp làm đẹp cho không gian phòng ăn mà còn kích thích bạn ăn ngon miệng hơn. Những mẫu khăn trải bàn khác nhau sẽ mang lại cho không gian phòng ăn của nhà bạn một phong cách khác. Điều đó góp phần làm tạo không khí ấm cúng trong gia đình cũng như giúp bạn ăn ngon miệng hơn.

Chính vì vậy, việc lựa chọn đúng khăn trải bàn phù hợp với kiến trúc nhà, với màu sắc của tường, lựa chọn khăn trải bàn theo mùa cũng rất quan trọng.

1.Khăn trải bàn một màu

Chiếc khăn trải bàn tinh tế với một tông màu trang nhã được làm từ chất liệu cotton pha polyester với những đường viền vỏ sò thật tinh tế. Chiếc khăn trải bàn này rất phù hợp với những bộ bàn ăn có dáng uốn cong tao nhã. Với chiếc khăn trải bàn này, không gian phòng ăn trở nên ấm và thanh lịch hơn.

2. Khăn trải bàn màu trắng

Màu trắng mang lại cho không gian một vẻ sạch sẽ, tinh khiết. Một chiếc khăn trải bạn màu trắng khiến bạn cảm giác đồ ăn rất sạch và vệ sinh. Màu trắng mang lại vẻ hiện đại cho không gian phòng ăn và bạn sẽ dễ dàng nhìn thấy mọi vết bẩn trên chiếc khăn trắng để có thể giặt tẩy đúng lúc.

3. Khăn trải bàn hoa dây

Khăn trải bàn hoa dây mang vẻ tươi mới và tràn đầy sức sống cho không gian căn phòng. Khăn trải bàn này thích hợp sử dụng cho thời tiết của mùa xuân. Những bữa ăn gia đình sẽ thêm đầm ấm và tươi vui với những sắc màu tươi tắn từ hoa văn trên chiếc khăn này.

4. Khăn trải bàn với mẫu hoa văn chìm

Những mẫu khăn trải bàn với mẫu hoa văn chìm trong nền vải mang lại sự sang trọng cho phòng ăn của bạn. Bạn nên chọn những chiếc khăn trải bản hơi đậm màu với hoa chìm màu nhạt trang nhã bên dưới. Với sự lựa chọn này. chắc chắn không ai có thể phủ nhận được thẩm mỹ hết sức tinh tế của bạn.

5. Khăn trải bàn hoa rực rỡ

Khi bạn là một người cá tính và thích màu sắc rực rỡ, chắc chắn mẫu khăn trải bàn này sẽ là lựa chọn của bạn. Nếu ngôi nhà được thiết kế cùng những mảng màu rực rỡ, có thể một chiếc khăn trải bàn với mẫu hoa văn này sẽ làm nóng bầu không khí ăn trầm lặng trong tiết trời se lạnh của mùa thu đông.

Cái Nhìn Toàn Diện Và Chính Xác Về Phương Pháp Keto Diet

Trắc Nghiệm Bài 2 Địa Lí 10

Phương Pháp Đo Quang Và Ý Nghĩa Các Xét Nghiệm Sinh Hóa Máu Cơ Bản

Thế Nào Là Viêm Mũi Xoang Mạn Tính?

Nên Chữa Viêm Họng Mạn Tính Quá Phát Bằng Phương Pháp Nào?

Xây Dựng Và Sử Dụng Kĩ Thuật “Khăn Trải Bàn” Trong Dạy Học Lịch Sử Lớp 11

Các Phương Pháp Kế Toán Hàng Tồn Kho

Nghiên Cứu Phương Pháp Kế Toán Dồn Tích Và Kế Toán Tiền Mặt Trong Doanh Nghiệp

Phương Pháp Kế Toán Tiền Mặt Tk111 Theo Thông Tư 133

Kế Toán Tiền Mặt/ Gửi Ngân Hàng Thường Phải Gặp Rủi Ro Nào

Về Sổ Kế Toán Chi Tiết Hàng Tồn Kho

TRƯỜNG THPT SỐ 2 TP LÀO CAI

ĐỀ TÀI

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG KĨ THUẬT “KHĂN TRẢI BÀN”

TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ

(LỚP 11)

Họ và tên giáo viên: Vũ Ngọc Trai

Tổ: Văn – Sử – GDCD

PHẦN I . MỞ ĐẦU

1. Bối cảnh, lý do chọn đề tài

Trong dạy học lịch sử ở trường THPT, ngồi việc giúp cho học sinh

nắm được kiến thức cơ bản, giáo dục tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức,

giáo viên còn phải giúp cho học sinh phát triển năng lực nhận thức và tự

nhận thức.

Theo yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử hiện nay, thì việc

học sinh chủ động nhận thức là điều kiện cần thiết để phát triển tư duy của

các em trong học tập lịch sử và nâng cao chất lượng học tập môn lịch sử.

Tuy nhiên, theo nhận định của một số giáo viên (sau đợt bồi dưỡng hè 2010)

thì việc áp dụng những kĩ thuật dậy học mới còn mới mẻ đối với việc dạy và

học lịch sử ở tỉnh ta. Chúng ta chưa có quan niệm đầy đủ về sự cần thiết của

việc áp dụng những kĩ thuật trong dậy học lịch sử, (thậm chí có người cho

rằng áp dụng những kĩ thuật dậy học mới không phù hợp, không hiệu quả

trong điều kiện cơ sở vật chất và trình độ của học sinh hiện nay).

Vậy áp dụng hay không áp dụng những kĩ thuật mới trong dạy học lịch

sử? Chúng ta sẽ không trả lời có hoặc không mà là phải thông hiểu nó sử

dụng nó như thế nào cho phù hợp với từng phần, từng bài học; phù hợp với

điều kiện cơ sở vật chất và trình độ của học sing từng trường, từng vùng.

Đây chính là lý do mà tôi quan tâm đến việc “Xây dựng và sử dụng kĩ thuật

” khăn trải bàn” trong dạy học lịch sử ở trường THPT số 2 TP Lào Cai”.

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Do thực tế và điều kiện thời gian, nên phạm vi nghiên cứu chỉ dừng

lại ở Xây dựng và sử dụng kĩ thuật dậy học “khăn trải bàn” trong dạy học

lịch sử ở trường THPT số 2 TP Lào cai, trên đối tượng học sinh khối 11.

3. Mục đích nghiên cứu

Qua nghiên cứu vấn đề này, bản thân mong muốn tìm cách áp dụng kĩ

thuật dậy học “khăn trải bàn” vào thực tiễn dạy học; nghiên cứu hiệu quả,

khả năng ứng dụng kĩ thuật vào dạy học lịch sử, nhằm nâng cao chất lượng

bộ môn trong nhà trường.

Nghiên cứu vấn đề này giúp nâng cao nghiệp vụ công tác của bản thân

tôi, đồng thời để trao đổi kinh nghiệm với đồng nghiệp.

Trình bày lại quá trình và kết quả nghiên cứu, tôi rất mong được quý

đồng nghiệp trao đổi, góp ý nhằm tìm ra cách thức xây dựng và sử dụng kĩ

thuật dậy học “khăn trải bàn” trong dạy học lịch sử một cách có hiệu quả

nhất.

4. Nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này, tôi đã thực hiện các nhiệm vụ, các bước nghiên

cứu như sau: Trước hết, tôi nghiên cứu kĩ thuật dậy học “khăn trải bàn”, và

tìm hiểu, tham khảo ở một số tỉnh khác, làm cơ sở cho việc vạch ra cách

thức xây dựng và sử dụng kĩ thuật. Bước tiếp theo, tôi thực hành nghiên cứu,

soạn một số giáo án và thực nghiệm sử dụng kĩ thuật dậy học “khăn trải

bàn” vào dạy học lịch sử ở một số bài. Qua thực nghiệm, nhìn lại quá trình

nghiên cứu đề tài, tôi rút ra một số kinh nghiệm làm cơ sở để tiếp tục nghiên

cứu, ứng dụng vào dạy học sau này.

5. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu

Đáp ứng được một phần nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay

trong các nhà trường phổ thông.

Phù hợp với nguyện vọng của học sinh và sự phát triển của xã hội yêu

cầu khả năng tự nhận thức lĩnh hội, năng động, sáng tạo làm chủ bản thân.

************************

PHẦN 2. NỘI DUNG

1. Cơ sở lý luận

– Mục tiêu giáo dục:

Là đào tạo con người Việt Nam phát triển tồn diện, có đạo đức, tri thức,

sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc

và chủ nghĩa xã hội; Hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và

năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc (Qui

định tại điều 2- Luật Giáo dục).

Điều này đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đầy đủ nhiệm vụ vẻ vang của

mình để ra sức cải tiến và nâng cao chất lượng về mọi mặt công tác trước

tiên là công tác giảng dạy bộ môn lịch sử nhất là việc xây dựng và sử dụng

kĩ thuật dậy học “khăn trải bàn”.

– Mục tiêu bộ môn:

Hình thành kĩ năng tư duy lịch sử và tư duy logic, nâng cao năng lực

xem xét, đánh giá sự kiện, hiện tượng trong mối quan hệ không gian, thời

gian và nhân vật lịch sử

Rèn luyện kĩ năng học tập bộ môn một cách độc lập, thông minh, cởi

mở như làm việc sách giáo khoa, với nhóm bạn, với thầy cô giáo, sưu tầm và

sử dụng các loại tư liệu lịch sử…

Phát triển khả năng phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp. Biết đặt vấn

đề và giải quyết vấn đề trong quá trình học tập.

– Mục tiêu kĩ thuật

Kĩ thuật “khăn trải bàn” Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang

tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm nhằm: Kích thích, thúc

đẩy sự tham gia tích cực. Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân

HS. Phát triển mô hình có sự tương tác giữa HS với HS.

2. Thực trạng việc xây dựng và sử dụng kĩ thuật “khăn trải bàn” trong

dạy học lịch sử

3. Xây dựng và sử dụng kĩ thuật dậy học “khăn trải bàn” trong dạy học

lịch sử (lớp 11).

3.1. Giáo viên phải nắm vững kĩ thuật, hướng dẫn học sinh thông hiểu

kĩ thuật.

– Kĩ thuật dậy học “khăn trải bàn là gì” ?

Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa

hoạt động cá nhân và nhóm nhằm: Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực.

Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS. Phát triển mô hình có

sự tương tác giữa HS với HS.

– Cách tiến hành kĩ thuật “khăn trải bàn”

+ Hoạt động theo nhóm (4 người /nhóm) Mỗi người ngồi vào vị trí như

hình vẽ minh họa. Tập trung vào câu hỏi (chủ đề…).

– Chọn một phần: sơ kết bài hoặc những kiến thức, những sự kiện cần phát

huy trí tuệ của nhiều học sinh ví dụ:

+ Bài 1. Nhật Bản: ĐVĐ. Em hãy tìm hiểu, khi chuyển sang giai đoạn

ĐQCN vào cuối thế kỉ XIX, ở Nhật Bản có những điểm nào giống với đế

quốc Anh, Pháp (ở thời điểm này).

+ Bài 3. Trung Quốc: ĐVĐ. Em hãy tìm ra những điểm khác nhau cơ bản

của những phong trào đấu tranh ở Trung Quốc cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ

XX.(khởi nghĩa Thái bình Thiên quốc, phong trào Duy tân, khởi nghĩa

Nghĩa Hồ đồn, Cách mạng Tân Hợi).

+ Bài 6. chiếùn tranh thế giới thứ nhất (1914 -1918): ĐVĐ. Chiếùn tranh

thế giới thứ nhất được coi là cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa, em hãy giải

thích ngắn gọn vì sao?

+ Bài 7. Những thành tựu văn hố thời cận đại: ĐVĐ. Về văn học, từ đầu

thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX thế giới đã sản sinh ra nhiều nhà văn nổi tiếng

với những tác phẩm bất hủ. Em hãy nêu ra những nhà văn và những tác

phẩm lớn ở Việt Nam cùng thời đại.

+ Bài 9. Cách mạng tháng Mười Nga…: ĐVĐ. Từ năm 1917 đến 1920,

nhân dân Nga dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvich đã hồn thành những

nhiệm vụ cơ bản nào?

+ Bài 10. Liên Xô xây dựng CNXH ( 1921 -1941 ): ĐVĐ. Những thành

tựu nổi bật mà Liên Xô đạt được trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, đối

ngoại.

+ Bài 11. Bài tình hình các nước TBCN giữa hai cuộc chiến tranh thế giới

(1918 -1939): ĐVĐ. Em hãy giải thích ngắn gọn, tại sao xuất hiện hai nhóm

nước lựa chọn hai con đường khác nhau để thốt khỏi cuộc khủng hoảng kinh

tế (1929-1933).

+ Bài 13. Nước Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918-1939): ĐVĐ.

Em hãy tìm ra những điểm tích cực và hạn chế trong chính sách mới của

tổng thống Mĩ Rudơven.

+ Bài 15. Phong trào cách mạng ở trung Quốc và Ấn Độ (1918-1939):

ĐVĐ. Em hãy nêu ra đặc điểm con đường đấu tranh ở Trung Quốc và Ấn

Độ. Giải thích ngắn gọn vì sao mỗi nước có con đường đấu tranh khác

nhau.

+ Bài 17. Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945): ĐVĐ. Em hãy nêu lên

nguyên nhân, vì sao trong giai đoạn từ tháng 9/1939 đến tháng 6/1941, phe

phát xít thắng lớn và ít tổn thất? ( tiết 1). ĐVĐ. Nêu những sự kiện đánh dấu

sự xoay chuyển cục diện chiến tranh thế giới. Nêu suy nghĩ của em về việc

Mĩ ném 2 quả bom nguyên tử xuống Nhật Bản ngày 6&9/8/1945 (tiết 2).

+ Bài 19. Nhân dân Việt Nam kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

(từ 1858 đến trước1873): ĐVĐ. Nêu những hoạt động quân sự chính của

thực dân Pháp từ tháng 9/1858 đến tháng 6/1862. ĐVĐ. Giải thích ngắn gọn,

vì sao lúc đấu triều đình Nguyễn có tổ chức cuộc kháng chiến chống thực

dân Pháp xâm lược, song đến tháng 6/1862 lại kí với Pháp Hiệp ước Nhâm

Tuất nhượng bộ thực dân Pháp.

+ Bài 20. Chiến sự lan rộng ra cả nước. Cuộc kháng chiến của nhân dân ta

từ năm 1873 đến 1884. Nhà Nguyễn đầu hàng: ĐVĐ. Vì sao nói việc triều

đình Nguyến kí với Pháp Hiệp ước Giáp Tuất (1874) đã bỏ qua cơ hội đánh

bại quân Pháp ở Bắc kì khi chúng tiến hành cuộc xâm lược lần một. ĐVĐ.

Hành động của Pháp sau thất bại ở Cầu Giấy lần một và lần hai, khác nhau

như thế nào?. Thủ đoạn xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp từ 1858 đến

1884. ĐVĐ. Cuộc kháng chiến do nhà Nguyễn tổ chức thất bại, nhà Nguyễn

kí kết các hiệp ước đầu hàng thực dân Pháp, nước ta rơi vào tay Pháp. Hay

giải thích nguyên nhân vì sao?.

+ Bài 21. Phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam trong những năm

cuối thế kỉ XIX: ĐVĐ. Vì sao nói cuộc khởi nghĩa Hương Khê là cuộc khởi

nghĩa tiêu biểu nhất trong phong trào Cần vương chống Pháp?. Em hãy nêu

lên tính chất của phong trào khởi nghĩa Cần Vương và rút ra những điểm

hạn chế của phong trào.

+ Bài 22. Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của

thực dân Pháp: ĐVĐ. Em hãy xác định tầng lớp xã hội có khả năng nhất,

lãnh đạo phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam trong những năm đầu

thế kỉ XX.

+ Bài 23. ĐVĐ. Phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam từ đầu thế kỉ

XX đên 1914: Em hãy tìm ra điểm khác nhau trong chủ trương, phương

pháp hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. ĐVĐ.

Điểm khác nhau căn bản nhất giữa Phong trào yêu nước và cách mạng đầu

thế kỉ XX với Phong trào yêu nước Cần Vương cuối thế kỉ XIX.

+ Bài 24. ĐVĐ. Việt Nam trong những năm chiến tranh thế giới thứ nhất

(1914-1918): Điểm mới trong phong trào đấu tranh trong những năm trong

chiến tranh (1914-1918) so với phong trào đấu tranh trong những năm trước

chiến tranh (1897-1914).

* Lưu ý: đối với từng lớp (trình độ khác nhau) thì đưa ra vấn đề

khác nhau, không phải đưa ra tất cả các yêu cầu đó với một lớp. Trong

chương trình còn nhiều sự kiện, nội dung có thể sử dụng kĩ thuật ” khăn

trải bàn”.

3.3. Thực nghiệm sử dụng kĩ thuật dậy học “khăn trải bàn” trong dạy

học lịch sử lớp 11.

Để đánh giá khả năng, hiệu quả, ý nghĩa của việc sử dụng kĩ thuật

dụng tích cực trong việc phát triển năng lực nhận thức cho học sinh. Mang

lại hiệu quả rõ ràng nâng cao chất lượng trong dạy lịch sử.

Tuy nhiên, còn có những cá nhân học sinh chưa thực sự tích cực thực hiện

theo yêu cầu của kĩ thuật mới, nên chưa có sự chuyển biến trong hoạt động

nhận thức và kết quả học tập.

PHẦN 3. KẾT LUẬN

1. Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm

Sử dụng kĩ thuật “khăn trải bàn” trong dạy học lịch sử là một trong

những biện pháp tích cực đối với việc phát triển năng lực nhận thức cho học

sinh, góp phần quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng bộ môn. Với ý

nghĩa tích cực như vậy, bài tập nhận thức rất cần được đưa vào thực tế dạy

học lịch sử ở trường phổ thông.

đúng mức, việc xây dựng và sử dụng kĩ thuật trong dạy học lịch sử sẽ mang

lại kết quả tốt đẹp.

4. Những kiến nghị, đề xuất

Để tạo thuận lợi cho giáo viên, thiết nghĩ rất cần có những công trình

nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống về vấn đề xây dựng và sử dụng kĩ thuật

“khăn trải bàn” làm cơ sở để giáo viên tham khảo.

Cần có nhiều diễn đàn để giáo viên trao đổi, bàn bạc, tìm giải pháp có

hiệu quả cho vấn đề này.

*******************************

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phương pháp dạy học lịch sử (Phan Ngọc Liên – Trần Văn Trị-chủ

biên), 1999 NXB Giáo dục, 296 trang.

2. Lịch sử 11,2006, NXB Giáo dục, Phan Ngọc Liên (Tổng chủ biên).

3. Một số vấn đề cơ bản về phương pháp viết sáng kiến kinh nghiệm

(Nhiều tác giả)

******************************

PHỤ LỤC

MỤC LỤC

PHẦN I . MỞ ĐẦU

1. Bối cảnh, lý do chọn đề tài

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3. Mục đích nghiên cứu

4. Nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu

5. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu

PHẦN 2. NỘI DUNG

1. Cơ sở lí luận

2. Thực trạng việc xây dựng và sử dụng kĩ thuật “khăn trải bàn” trong dạy

học lịch sử

3. Xây dựng và sử dụng kĩ thuật dậy học “khăn trải bàn” trong dạy học lịch

sử (lớp 11).

3.1. Giáo viên phải nắm vững kĩ thuật, hướng dẫn học sinh thông hiểu về

kĩ thuật.

3.2. Chọn bài, phần, sự kiện phù hợp để xây dựng và sử dụng kĩ thuật.

3.3. Thực nghiệm sử dụng kĩ thuật dậy học “khăn trải bàn” trong dạy

học lịch sử lớp 11.

3.4. Nhận xét về hiệu quả của việc sử dụng kĩ thuật : “khăn trải bàn”

PHẦN 3. KẾT LUẬN

1. Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm

2. Nhận định về sáng kiến kinh nghiệm

3. Khả năng ứng dụng và triển khai

4. Những kiến nghị, đề xuất

******************

Cách Đơn Giản Hạn Chế Nhược Điểm Kĩ Thuật Dạy Học Khăn Phủ Bàn

Cách Tính Thuế Giá Trị Gia Tăng Đầu Vào Đầu Ra

Hướng Dẫn Cách Lập Tờ Khai Thuế 01/gtgt Theo Quý, Tháng

Cách Tính Thuế Giá Trị Gia Tăng Theo Phương Pháp Khấu Trừ

Kế Toán Thuế Giá Trị Gia Tăng Theo Phương Pháp Khấu Trừ

Phương Pháp Dạy Học Trải Nghiệm – Sáng Tạo

Dạy Học Bằng Phương Pháp “Học Qua Trải Nghiệm” Hiệu Quả Với Công Thức 5T

Tìm Hiểu Về Phương Pháp Dạy Học Âm Nhạc Kodály Đối Với Trẻ Em

Phương Pháp Dạy Con Không Đòn Roi Sách Miễn Phí

Combo Phương Pháp Dạy Con Không Đòn Roi Ebook Pdf

Tải Về Phương Pháp Dạy Con Không Đòn Roi Sách Mà Không Đăng Ký Tại Odf • Thư Viện Sách Hướng Dẫn

Với yêu cầu thay đổi bức thiết của thời đại, để tăng sự hứng thú, tự khám phá kiến thức của học sinh, các phương pháp dạy học truyền thống dần được thay thế bằng các phương pháp dạy học tích cực và hiện đại. Một trong số các phương pháp đó những là phương pháp dạy học trải nghiệm. Đây cũng chính là phương pháp dạy học mà trường Tiểu học Song ngữ Brendon đã áp dụng đã được nhiều năm.

Học tập trải nghiệm là quá trình liên tục bắt nguồn từ kinh nghiệm để tạo ra tri thức. Có nghĩa là nguồn gốc những kiến thức mà trẻ có được xuất phát từ thực hành chứ không phải là một lý thuyết. Từ những kinh nghiệm đã có đó, kết hợp với những gì mà trẻ cảm nhận được bằng các giác quan để xây dựng, một kiến thức mới hoặc mở rộng kiến thức của bản thân trẻ chứ không phải chỉ là ghi nhớ những gì trẻ thấy.

Học tập trải nghiệm bao gồm các tương tác giữa con người với đối tượng. Nghĩa là kiến thức mà trẻ thu được không phải nhờ vào việc cô truyền thụ cho trẻ hay trẻ bị động, ngồi yên, mà cách duy nhất để học tập thông qua giáo dục trải nghiệm là trẻ phải chủ động, tích cực tiếp xúc, tác động tới môi trường đó.. Trong quá trình trải nghiệm, trẻ là trung tâm là chủ thể của hoạt động trải nghiệm. Vì vậy, giáo dục trải nghiệm đòi hỏi trẻ phải có nhu cầu, hứng thú, sự tò mò với đối tượng trải nghiệm. Bởi vì chính sự hứng thú, tò mò sẽ trở thành động lực thúc đẩy trẻ tham gia vào quá trình trải nghiệm và tự trải nghiệm để tìm hiểu thế giới xung quanh. Cùng với trẻ, giáo viên là người dẫn dắt, hướng trẻ vào môi trường trải nghiệm, đồng thời là người quan sát, giúp đỡ và kiểm tra, hướng dẫn, hệ thống lại những kiến thức mà trẻ thu được qua trải nghiệm.

Chúng ta không thể phủ nhận được những lợi ích của phương pháp dạy học thông qua trải nghiệm. Phương pháp buộc học sinh phải sử dụng tổng hợp các giác quan (nghe, nhìn, chạm, ngửi…), tăng khả năng lưu giữ những điều đã học được lâu hơn; có thể tối đa hóa khả năng sáng tạo, tính năng động và thích ứng của người học. Việc trải qua quá trình khám phá kiến thức và tìm giải pháp giúp phát triển năng lực cá nhân và tăng cường sự tự tin; việc học cũng trở nên thú vị hơn với học sinh và việc dạy trở nên thú vị hơn với giáo viên. Khi chủ động tham gia tích cực vào quá trình học, học sinh được rèn luyện về tính kỷ luật. Học sinh cũng có thể học các kỹ năng sống mà được sử dụng lặp đi lặp lại qua các bài tập, hoạt động, từ đó tăng cường khả năng ứng dụng các kỹ năng đó vào thực tế.

Để có thể dạy học được theo phương pháp này thì đòi hỏi giáo viên cần có sự thay đổi. Bản thân mỗi giáo viên phải thường xuyên học tập, nâng cao trình độ, có vốn hiểu biết và kỹ năng giải quyết các thắc mắc của học sinh nảy sinh trong quá trình học tập thực tế, cần nắm vững phương pháp và được đào tạo bài bản. Ngoài ra, lớp học cần có sĩ số không đông để giáo viên có thể quan sát, hỗ trợ, hướng dẫn kịp thời và tốt nhất tới từng con học sinh. Đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, các thiết bị nghe nhìn, học cụ, học liệu.

Trong nhiều năm qua, trường Tiểu học Song ngữ Brendon rất chú trọng các hoạt động dạy học, giáo dục trải nghiệm cho học sinh các khối lớp. Từ học sinh các khối lớp nhỏ như lớp 1, lớp 2 cho đến các học sinh các khối lớp lớn hơn như lớp 3, 4, 5. Brendon đã liên kết với Trung tâm Toán trải nghiệm Pomath để đào tạo và cấp chứng chỉ cho giáo viên trong trường giảng dạy bộ môn Toán học theo hướng trải nghiệm. Theo kết quả khảo sát các học sinh trong trường qua ba năm học Toán trải nghiệm cho thấy đa số các con học sinh hào hứng, thích thú trong mỗi giờ học Toán.

Các kiến thức được hình thành thông qua việc trải nghiệm trước đó được ghi nhớ rất lâu và sâu, tránh tình trạng học sinh học vẹt, học không hiểu bản chất. Và đặc biệt, chính việc dạy học thông qua trải nghiệm như vậy còn giúp cho các con học sinh phát triển được nhiều năng lực khác nhau, trong đó có năng lực giải quyết vấn đề. Năng lực này nếu được hình thành và rèn luyện từ sớm sẽ giúp ích rất nhiều cho các con trong chính cuộc sống sau này.

(Tác giả: Cô Vũ Thu Thủy)

Giáo Dục Trải Nghiệm Là Gì? – Hill

Học Qua Trải Nghiệm Là Gì?

Bàn Về Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Tiểu Học : Phòng Gd&đt Thị Xã Ba Đồn

Phương Pháp Dạy Học « Địa Lý Và Cuộc Sống

Khái Niệm Phương Pháp Dạy Học

Phương Pháp Tổ Chức Hoạt Động Trải Nghiệm

75 Năm Thành Lập Đội Tntp Hcm 75 Năm Thành Lập Đội Tntp Hcm

Một Số Kết Quả Nghiên Cứu Y Học Cổ Truyền Bằng Phương Pháp Thực Nghiệm (1971

Xử Lý Số Liệu Thực Nghiệm Trong Kỹ Thuật

Kiểm Nghiệm Thực Phẩm Chức Năng

Bảng Giá Kiểm Nghiệm Thực Phẩm

Có 4 phương pháp chính, đó là:

1. Phương pháp giải quyết vấn đề (GQVĐ)

GQVĐ là một phương pháp giáo dục nhằm phát triển năng lực tư duy, sáng tạo, GQVĐ của HS. Các em được đặt trong tình huống có vấn đề, thông qua việc GQVĐ giúp HS lĩnh hội tri thức, kĩ năng (KN) và phương pháp.

Trong tổ chức HĐTN, phương pháp GQVĐ thường được vận dụng khi HS phân tích, xem xét và đề xuất những giải pháp trước một hiện tượng, sự việc nảy sinh trong quá trình hoạt động.

Phương pháp GQVĐ có ý nghĩa quan trọng, phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS, giúp các em có cách nhìn toàn diện hơn trước các hiện tượng, sự việc nảy sinh trong hoạt động, cuộc sống hàng ngày. Để phương pháp này thành công thì vấn đề đưa ra phải sát với mục tiêu hoạt động, kích thích HS tích cực tìm tòi cách giải quyết. Đối với tập thể lớp, khi GQVĐ giắo viên (GV) phải coi trọng nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng, tránh gây ra căng thẳng không có lợi khi giáo dục HS.

Phương pháp trên được tiến hành theo các bước cụ thể như sau:

Trong bước này GV cần phân tích tình huống đặt ra giúp HS nhận biết được vấn đề để đạt yêu cầu, mục đích đặt ra. Do đó, vấn đề ở đây cần được trình bày rõ ràng, dễ hiểu đối với HS.

Bước 2: Tìm phương án giải quyết

Để tìm ra các phương án GQVĐ, HS cần so sánh, liên hệ với cách GQVĐ tương tự hay kinh nghiệm đã có cũng như tìm phương án giải quyết mới. Các phương án giải quyết đã tìm ra cần được sắp xếp, hệ thống hóa để xử lí ở giai đoạn tiếp theo. Khi có khó khăn hoặc không tìm được phương án giải quyết thì cần quay trở lại việc nhận biết vấn đề để kiểm tra lại và hiểu vấn đề.

Bước 3: Quyết định phương án giải quyết

GV cần quyết định phương án GQVĐ, khi tìm được phải phân tích, so sánh, đánh giá xem có thực hiện được việc GQVĐ hay không. Nếu có nhiều phương án giải quyết thì cần so sánh để xác định phương án tối ưu. Nếu các phương án đã đề xuất mà không giải quyết được vấn đề thì tìm kiếm phương án giải quyết khác. Khi quyết định được phương án thích hợp là đã kết thúc việc GQVĐ.

2. Phương pháp sắm vai

Sắm vai có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành và phát triển các KN giao tiếp cho HS. Thông qua sắm vai, HS được rèn luyện, thực hành những KN ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn, tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo của các em, khích lệ thay đổi thái độ và hành vi theo hướng tích cực trước một vấn đề hay đối tượng nào đó.

Về mặt tâm lý học, thông qua các hành vi, cá nhân nhận thức và giải quyết tốt hơn vấn đề của bản thân, vai trò lĩnh hội được trong quá trình sắm vai cho phép HS thích ứng với cuộc sống tốt hơn. Trong trò chơi cũng như trong cuộc sống, các em mong muốn có được một vai yêu thích, khi sắm một vai HS bước ra từ chính bản thân mình.

Điều này trở thành phương tiện để thể hiện niềm vui, nỗi buồn, mối quan tâm, băn khoăn, mong muốn được chia sẻ, sự do dự, ngập ngừng,… của chính các em. Thông qua các vai được sắm trong trò chơi, HS thể hiện các khía cạnh khác nhau trong tính cách như: sự ưa thích, tình cảm, sự hiểu biết về nhân vật mà các em đang sắm vai đó và những người bạn đang chơi cùng với hành động của chúng là điều đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa nhiều mặt đối với HS.

Phương pháp sắm vai được tiến hành theo các bước nhất định bao gồm:

3. Phương pháp trò chơi

Trò chơi là tổ chức cho HS tìm hiểu một vấn đề hay thực hiện những hành động, việc làm hoặc hình thành thái độ thông qua một trò chơi nào đó.

Đặc thù của trò chơi:

Trò chơi không phải là thật mà là giả vờ như làm một cái gì đó nhưng mang tính chân thật (nhập các vai chơi một cách chân thật, thể hiện động tác, hành vi phù hợp…). Hơn nữa, đây là một hoạt động tự do, tự nguyện không thể gò ép hoặc bắt buộc chơi khi các em không thích, không đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của chúng.

Trò chơi được giới hạn bởi không gian và thời gian, có qui tắc tổ chức (luật chơi do nội dung chơi quy định). Đặc thù này sẽ quy định quy mô, số lượng người chơi, điều kiện, vật chất, cũng như xác định tính chất, phương pháp hành động, tổ chức và điều khiển hành vi cũng như những mối quan hệ lẫn nhau của người chơi.

Trò chơi là phương tiện giáo dục và phát triển toàn diện HS, giúp các em nâng cao hiểu biết về thế giới hiện thực xung quanh, kích thích trí thông minh, lòng ham hiểu biết, học cách giải quyết nhiệm vụ.

Ngoài ra, trò chơi là phương tiện giáo dục phẩm chất nhân cách cho HS. Các phẩm chất nhân cách được hình thành thông qua chơi như tính hợp tác, tính đồng đội, tính tập thể, tính kỷ luật, tự chủ, tích cực, độc lập, sáng tạo, sự quan tâm lo lắng đến người khác, thật thà, dũng cảm, kiên nhẫn,…Trò chơi còn là phương tiện giáo dục thể lực cho HS, giáo dục thẩm mỹ, hình thành các KN giao tiếp, KN xã hội,…

Trò chơi là một phương thức giải trí tích cực, hiệu quả, mang lại niềm vui, sự hứng khởi, hồn nhiên, yêu đời cho HS,…. để các em tiếp tục học tập và rèn luyện tốt hơn.

Về mặt tâm lý học, trong quá trình diễn ra trò chơi tất cả các thành viên của nhóm đều tham gia hết mình và từ đó các em sẽ được trải nghiệm, bởi vì mỗi cá nhân cũng như cả nhóm đang sống trong một tình huống khác với những gì các em đã sống trong cuộc sống thực.

Việc tổ chức trò chơi được GV tiến hành theo các bước sau:

– Xác định đối tượng và mục đích của trò chơi: thông thường, trò chơi nào cũng có tính giáo dục, phụ thuộc vào các góc độ tiếp cận khác nhau đối với loại, dạng trò chơi và người sử dụng, tổ chức trò chơi. Vì thế xác định đối tượng và mục đích trò chơi phù hợp là công việc cần thiết khi tổ chức trò chơi.

– Cử người hướng dẫn chơi (GV).

– Thông báo kế hoạch, thời gian, nội dung trò chơi đến HS.

– Phân công nhiệm vụ cho các lớp, tổ nhóm, đội chơi để chuẩn bị điều kiện phương tiện (lực lượng; phục trang như quần áo, khăn, cờ; còi; phần thưởng) cho cuộc chơi.

Bước 2: Tiến hành trò chơi

– Ổn định tổ chức, bố trí đội hình: tùy từng trò chơi, địa điểm tổ chức, số lượng người chơi mà GV bố trí đội hình, phương tiện cho phù hợp, có thể theo hàng dọc, hàng ngang, vòng tròn hay chữ U,….

– GV xác định vị trí cố định hoặc di động sao cho mọi khẩu lệnh các em đều nghe thấy, các động tác HS quan sát, thực hiện được, ngược lại bản thân GV phải phát hiện được đúng, sai khi các em chơi.

Sau đó HS bắt đầu chơi thật.

– Dùng khẩu lệnh bằng lời, còi, kẻng, chuông, trống để điều khiển cuộc chơi.

– GV hay nhóm trọng tài cần quan sát, theo dõi kỹ, chính xác để đánh giá thắng thua và rút kinh nghiệm….

– Đánh giá kết quả trò chơi: GV công bố kết quả cuộc chơi khách quan, công bằng, chính xác giúp HS nhận thức được ưu điểm và tồn tại để cố gắng ở những trò chơi tiếp theo.

– Động viên, khích lệ ý thức, tinh thần cố gắng của các em, tuyên dương, khen ngợi hay khen thưởng bằng vật chất, tạo không khí vui vẻ, phấn khởi và để lại những ấn tượng tốt đẹp trong tập thể HS về cuộc chơi.

– Dặn dò các em những điều cần thiết (thu dọn phương tiện, vệ sinh nơi chơi,…)

4. Phương pháp làm việc nhóm

Làm việc theo nhóm nhỏ là phương pháp tổ chức dạy học – giáo dục, trong đó, GV sắp xếp HS thành những nhóm nhỏ theo hướng tạo ra sự tương tác trực tiếp giữa các thành viên, từ đó HS trong nhóm trao đổi, giúp đỡ và cùng nhau phối hợp làm việc để hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm.

Làm việc nhóm có ý nghĩa rất lớn trong việc:

– Phát huy cao độ vai trò chủ thể, tính tự giác, tích cực, sáng tạo, năng động, tinh thần trách nhiệm của HS, tạo cơ hội cho các em tự thể hiện, tự khẳng định khả năng, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao.

– Thể hiện mối quan hệ bình đẳng, dân chủ và nhân văn: tạo cơ hội bình đẳng cho mỗi cá nhân người học được khẳng định và phát triển. Nhóm làm việc sẽ khuyến khích HS giao tiếp với nhau và như vậy sẽ giúp cho những em nhút nhát, thiếu tự tin có nhiều cơ hội hòa nhập với lớp học,….

Để phương pháp làm việc nhóm thực sự phát huy hiệu quả, GV cần lưu ý một số vấn đề sau:

a) Thiết kế các nhiệm vụ đòi hỏi sự phụ thuộc lẫn nhau

Có một số cách sau đây để tạo ra sự phụ thuộc giữa HS trong nhóm với nhau như:

– Yêu cầu HS chia sẻ tài liệu; – Tạo ra mục tiêu nhóm; – Cho điểm chung cả nhóm;

– Cấu trúc nhiệm vụ như thế nào để HS phụ thuộc vào thông tin của nhau;

b) Tạo ra những nhiệm vụ phù hợp với KN và khả năng làm việc nhóm của HS

Khi thiết kế nhiệm vụ cho nhóm GV cần lưu ý các vấn đề sau:

– Đưa ra nhiệm vụ phù hợp với khả năng và đảm bảo thời gian cho HS tham gia đầy đủ nhưng không bắt chúng chờ đợi quá lâu để được khuyến khích hay nhiệm vụ quá nặng nhọc; điều tiết sự đi lại của HS xung quanh lớp học.

c) Phân công nhiệm vụ công bằng giữa các nhóm và các thành viên

GV cố gắng xây dựng nhiệm vụ như thế nào để mỗi thành viên trong nhóm đều có công việc và trách nhiệm cụ thể, từ đó tạo ra vị thế của họ trong nhóm, lớp. Muốn vậy, các nhiệm vụ phải được thiết kế cụ thể, giao việc rõ ràng và mỗi thành viên phải tiếp nhận nhiệm vụ đó, có trách nhiệm giải quyết vì tập thể, nhóm.

d) Đảm bảo trách nhiệm của cá nhân

Để cá nhân có trách nhiệm với công việc của mình GV cần:

– Giao nhiệm vụ rõ ràng cho từng thành viên trong nhóm;

– Thường xuyên thay đổi nhóm trưởng cũng như người đại diện nhóm báo cáo;

– Sử dụng quy mô nhóm nhỏ, đặc biệt với nhiệm vụ chung có tính chất tìm hiểu, thu thập tư liệu hoặc các nhiệm vụ thực hành, thí nghiệm;

– Phân công HS trong nhóm đảm nhận các vai trò khác nhau như phân tích ở trên;

– Đánh giá mức độ tham gia của cá nhân đối với kết quả công việc của nhóm hoặc yêu cầu mỗi HS hoàn thành công việc trước khi làm việc nhóm.

e) Sử dụng nhiều cách sắp xếp nhóm làm việc khác nhau

Có nhiều cách sắp xếp nhóm làm việc như:

– Hình thành nhóm theo nhiệm vụ;

– Hình thành nhóm học tập theo quy tắc ngẫu nhiên (đếm theo số thứ tự tương đương với số nhóm muốn hình thành. Có thể thay đổi bằng cách đếm theo tên các loài hoa, con vật,… cho thêm vui nhộn;

– Phân chia nhóm theo bàn hay một số bàn học gần nhau, hoặc dùng đơn vị tổ của HS để làm một hay một số nhóm, theo giới, mức độ, thói quen làm việc, khả năng của HS;

– Một vài người lại thích để HS tự chọn, tuy nhiên, điều này thích hợp nhất đối với những lớp ít HS, những lớp mà các em đã biết rõ về nhau.

g) Hướng dẫn HS phương pháp, KN làm việc nhóm (KNLVN)

KNLVN là yếu tố quyết định thành công của học theo nhóm. Với lợi thế linh hoạt và chủ động về thời gian, nội dung, HĐGD sẽ rất tốt cho việc rèn luyện KNLVN và thực hành các KN xã hội khác. Vì vậy, để rèn luyện KNLVN cho HS có hiệu quả, khi tiến hành làm việc theo nhóm trong HĐTN, GV cần tiến hành theo các bước sau:

Bước 1. Chuẩn bị cho hoạt động:

– GV hướng dẫn HS trao đổi, đề xuất vấn đề, xác định mục tiêu, nhiệm vụ, cách thực hiện và lập kế hoạch; tự lựa chọn nhóm theo từng nội dung; phân công nhóm trưởng và các vai trò khác cho từng thành viên;

– GV quan sát, nắm bắt thông tin ngược từ HS xem các nhóm có hiểu rõ nhiệm vụ không?, có thể hiện KNLVN đúng không?, các vai trò thể hiện như thế nào?;

– Giúp đỡ những nhóm vận hành đúng hướng và duy trì mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực; – Khuyến khích, động viên các nhóm hoặc cá nhân làm việc tốt;

– Can thiệp, điều chỉnh hoạt động của nhóm khi thấy cần thiết,…

Bước 3. Đánh giá hoạt động: Ở bước này GV cần:

– Lôi cuốn HS nhận xét, đánh giá về kết quả hoạt động của nhóm, mức độ tham gia của từng thành viên;

– Gợi mở cho HS phân tích sự phối hợp hoạt động giữa các thành viên trong nhóm, thể hiện các KNLVN;

– Điều chỉnh, bổ sung trên cơ sở đánh giá đúng sự cố gắng của từng nhóm, chú trọng phân tích những KNLVN mà HS đã thể hiện;

– Đưa ra kết luận gồm kết quả hoạt động và mức độ thể hiện các KNLVN (cái gì đã làm tốt, cần rèn luyện thêm và rèn luyện như thế nào).

Tùy theo tính chất và mục đích của từng hoạt động cụ thể cũng như điều kiện, khả năng của các em mà GV có thể lựa chọn một hay nhiều phương pháp phù hợp. Điều quan trọng là phương pháp được lựa chọn cần phát huy cao độ vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của HS và khai thác tối đa kinh nghiệm các em đã có.

– HĐTN hướng đến những phẩm chất và năng lực chung như đã được đưa ra trong Dự thảo Chương trình mới, ngoài ra HĐTN còn có ưu thế trong việc thúc đẩy hình thành ở người học các năng lực đặc thù sau:

+ Năng lực hoạt động và tổ chức hoạt động;

+ Năng lực tổ chức và quản lý cuộc sống;

+ Năng lực tự nhận thức và tích cực hóa bản thân;

+ Năng lực định hướng nghề nghiệp;

+ Năng lực khám phá và sáng tạo;

Chính vì vậy đầu ra của HĐTN khá đa dạng và khó xác định mức độ chung, nhất là khi nó lại luôn gắn với cảm xúc – lĩnh vực mang tính chủ quan cao, cũng là cơ sở quan trọng của sự hình thành sáng tạo và phân hóa.

“Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giữ vai trò rất quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông mới. Hoạt động này giúp cho học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm để vận dụng những kiến thức học được vào thực tiễn từ đó hình thành năng lực thực tiễn cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của bản thân”.

Tác giả: Nguồn tin: http://etep.moet.gov.vn

Giáo Dục Trải Nghiệm Là Gì?

Phương Pháp Giáo Dục Thực Nghiệm

Soi Điểm Chọn Trường, Điểm Chuẩn Tuyển Sinh, Điểm Chuẩn Vào Lớp 10: Skkn Vật Lí 6: Phương Pháp Thực Nghiệm Trong Dạy Học Vật Lí Ở Trường Trung Học Cơ Sở

Mô Hình Nghiên Cứu Thực Nghiệm

Trang Chủ :: I. Sách Tiếng Việt :: Giáo Trình

🌟 Home
🌟 Top