Phương Pháp Học Văn Bản Nhật Dụng / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top View | Channuoithuy.edu.vn

Phương Pháp Dạy Học Văn Bản Nhật Dụng Lớp 8

Skkn Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Văn Bản Nhật Dụng Lớp 8

Giới Thiệu Sơ Lược Về Webquest

Phương Pháp Dạy Văn Của Thầy Cô Xưa Và Nay

Phương Pháp Dạy Học Môn Tự Nhiên Xã Hội

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Vận Dụng Phương Pháp Dạy Học Theo Góc Trong Dạy Học Môn Tự Nhiên & Xã Hội Lớp 3

phần một: đặt vấn đề Xuất phát từ thực tế đó, là một giáo viên trực tiếp dạy Ngữ văn trong quá trình giảng dạy từ sự tìm tòi học hỏi của bản thân và sự giúp đỡ của đồng nghiệp, tôi nhận thấy khi tổ chức hướng dẫn cho học sinh chiếm lĩnh tác phẩm văn chương, giáo viên cần chú ý đến phương pháp giảng dạy mới như đảm bảo nguyên tắc tính tích hợp, sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở, đưa học sinh vào tình huống có vấn đề, tình huống tự bộc lộ ... Vai trò của người thầy trong phương pháp mới này sẽ là sức hút kỳ diệu biến giờ học văn đơn điệu trước đây trở nên thi vị hứng thú, phong phú, sâu sắc hơn, khép lại cánh cửa chán học văn của học sinh ngày nay. Trong môn Ngữ văn phần văn bản luôn chiếm số tiết nhiều hơn cả (2 tiết một tuần). Phần văn bản thường là những tiết học đầu tiên của mỗi tuần nên thực sự có ý nghĩa. Nó không chỉ là cơ sở cung cấp ngôn ngữ mới cho phân môn Tiếng Việt, Tập làm văn mà còn rèn cho học sinh năng lực tổng hợp: nghe, nói, đọc, viết. Từ năm 2002 - 2003 đến nay trong nội dung thay sách đã đưa vào loại văn bản mới có ý nghĩa và vị trí quan trọng trong việc giáo dục học sinh đó là văn bản nhật dụng. Vậy có cần phương pháp dạy kiểu văn bản mới như thế nào (đặc biệt là phần văn bản nhật dụng lớp 8) để đạt hiệu quả cao là vấn đề nhiều giáo viên còn băn khoăn, trăn trở. Từ thực tế giảng dạy tôi chọn đề tài "Phương pháp giảng dạy phần văn bản nhật dụng lớp 8" làm vấn đề để các đồng nghiệp nghiên cứu trao đổi. phần hai: giải quyết vấn đề I- Cơ sở lý luận: Nghị quyết số 02/NQ-HNTW khoá VIII của Đảng đã nêu bật yêu cầu: "Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học". Luật giáo dục của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng nêu rõ: "phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tạo tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý thức vươn lên". Những năm gần đây định hướng đổi mới phương pháp đã được thống nhất theo tư tưởng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên. Như thế một giáo án giờ văn bản kiểu mới không chỉ là bản đề cương nội dung chi tiết về cái hay, cái đẹp của áng văn thấy tâm đắc mà còn là bản thiết kế việc làm của học sinh. Để có sự đổi mới về phương pháp giảng dạy trước hết phải nói đến cấu trúc nội dung văn bản của sách giáo khoa. Qua các văn bản các em không chỉ cảm thụ nội dung nghệ thuật của những hình ảnh cao đẹp, của con người, cuộc sống mà còn giúp các em đến với những vấn đề vừa hiển nhiên vừa bức thiết trong thực tiễn đời sống. Kiểu văn bản nhật dụng lần đầu tiên được đưa vào chương trình Ngữ văn 6, 7, 8 đã thực hiện được sứ mệnh của nó trong con đường tiếp nhận tri thức của học sinh. Không chỉ khoán vấn đề giáo dục môi trường cho môn sinh học, giáo dục truyền thống cho môn lịch sử, giáo dục pháp luật cho môn giáo dục công dân ... môn Ngữ văn không thể đứng ngoài cuộc. II- Cơ sở thực tiễn. Trong chuẩn học môn tiếng Anh nghệ thuật của bang Niu Óc (Mỹ) công bố tháng 3 năm 1996, người ta có nêu một hồi ký viết về vụ thảm sát Mỹ Lai ở Việt Nam. ở Anh trong "Quy định mới" của chương trình quốc gia công bố năm 1995 có ghi rõ: "yêu cầu cho học sinh tiếp xúc với các kiểu văn bản gần gũi với thực tế cuộc sống. ở Pháp chương trình Ngữ văn chủ trương dạy văn bản thuộc thể loại báo chí, các loại văn bản trên các phương tiện thông tin đại chúng. ở Trung Quốc, trong văn thơ cổ, có mặt cả những bài nặng màu sắc khoa học tự nhiên của Thẩm Quát (đời Tống); trong văn thơ hi ện đại có mặt cả những bài đề cập đến phương pháp toán học của Hoa La Canh. Trong phần cuối của cuốn "Việt Nam văn học sử yếu" xuất bản trước năm 1945, giáo sư Dương Quảng Hàm cũng đã dựa vào trên mười văn bản giống như văn bản nhật dụng theo như quan niệm hiện nay. Nêu những dẫn chứng trên để thấy được việc đưa văn bản nhật dụng vào chương trình Ngữ văn quả là một việc làm cấp thiết và hợp lý không chỉ riêng đối với nền giáo dục nước ta mà còn đối với nền giáo dục của các nước trên thế giới. Trở lại với thực tế giảng dạy môn Ngữ văn, nhiều giáo viên chỉ khai thác các văn bản ở giá trị nội dung, nghệ thuật còn các giá trị về liên hệ thực tế cuộc sống thì hạn chế, hoặc bị bỏ qua. Một số còn vận dụng phương pháp giảng dạy mới một cách máy móc, hoặc chưa được thường xuyên, hoặc trở lại với thói quen dạy học cũ: thầy nói, trò nghe, ghi chép. Về phía học sinh: vẫn còn thói quen thụ động quen nghe chép ghi nhớ những gì giáo viên nói chưa có thói quen chủ động tìm hiểu khám phá bài học. Đa số học sinh chưa chủ động v ận dụng kiến thức kỹ năng của văn học vào thực tế cuộc sống, ít biết liên hệ giữa thực tế cuộc sống với văn học. Từ đó dẫn đến việc học sinh ít nắm bắt, quan tâm hoặc thờ ơ với những vấn đề nóng hổi bức thiết của đời sống xã hội trong và ngoài nước. Từ thực tiễn trên có thể nói rằng việc tìm ra phương pháp tốt nhất để dạy phần văn bản nhật dụng lớp 8 nói riêng và kiểu văn bản khác nói chung là một việc làm cần thiết trong xu thế phát triển ở môn Ngữ văn và trong nền giáo dục Việt Nam. III- Phương pháp nghiên cứu đề tài. 1. Thống kê, phân loại. Với phương pháp này tôi chia phần văn bản Ngữ văn lớp 8 thành kiểu bài tự sự, biểu cảm nghị luận, nhật dụng từ đó có cái nhìn toàn diện về kiến thức phần văn lớp 8 và xác định được vị trí nhiệm vụ kiểu văn bản nhật dụng căn cứ vào đó nghiên cứu vấn đề cụ thể của đề tài. 2. Miêu tả và phân tích. Dùng phương pháp này để chỉ rõ những phương pháp cơ bản, cấu trúc tiến hành dạy kiểu văn bản nhật dụng lớp 8. Trên cơ sở miêu tả nội dung của một bài văn bản nhật dụng lớp 8, đề xuất những nhiệm vụ, yêu cầu cùng với biện pháp thực hiện cho phù hợp. IV- Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài. Trong đề tài này, tôi dựa trên phương pháp dạy văn bản nói chung để nghiên cứu phương pháp dạy kiểu văn bản nhật dụng lớp 8. Minh hoạ cụ thể qua bài 10; tiết 39 "thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000". V- Nội dung đề tài. A. Cấu trúc chương trình Ngữ văn lớp 8. - Văn bản tự sự: 8 bài - Văn bản nhật dụng: 3 bài * Thông tin về Ngày Trái Đất năm 2000 * Ôn dịch, thuốc lá * Bài toán dân số - Văn bản biểu cảm: 11 bài - Văn bản nghị luận: 6 bài Nhìn chung hệ thống văn bản Ngữ văn lớp 8 rất phong phú, nhiều thể loại, nhiều bài với nội dung sâu sắc rất có ý nghĩa cho việc giảng dạy hiện nay. Từ sự kế thừa và phát triển nâng cao hơn so với hệ thống văn bản nhật dụng lớp 6, lớp 7 phần văn bản nhật dụng lớp 8 đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa rộng hơn, thiết thực hơn trong cuộc sống. Mặc dù chỉ có 3 tiết, không nhiều so với các kiểu văn bản biểu cảm, tự sự, nghị luận song nó lại có vị trí quan trọng thiết yếu trong việc giáo dục nhân cách cho học sinh. * Sách giáo khoa và sách giáo viên. - Sách giáo viên: Giáo viên dạy phải hiểu rằng, sách giáo viên không thể áp dụng máy móc cho bất kỳ đối tượng nào. Giáo viên sử dụng như một tài liệu tham khảo, hướng dẫn, cần cân nhắc, chọn lọc kiến thức cho phù hợp với học sinh của lớp mình dạy. B. Phương pháp dạy phần văn bản nhật dụng lớp 8. 1. Mục đích, yêu cầu, ý nghĩa của việc dạy và học văn bản nhật dụng. - Trước hết phải hiểu được thế nào là văn bản nhật dụng; Văn bản nhật dụng không phải là một khái niệm chỉ thể loại. Nói đến văn bản nhật dụng trước hết nói đến tính chất của nội dung văn bản. Đó là những bài viết có nội dung gần gũi bức thiết đối với đời sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như thiên nhiên, môi trường, dân số v.v... - Mục đích dạy văn bản này là tạo điều kiện tích cực để thực hiện nguyên tắc giúp học sinh hoà nhập với xã hội, quan tâm đến những vấn đề xã hội có ý nghĩa lâu dài, đưa học sinh trở lại với những vấn đề vừa quen thuộc, vừa gần gũi hàng ngày, gắn kết với đời sống thực tế (vấn đề môi trường, dân số, tệ nạn xã hội). Mỗi văn bản nhật dụng là một cánh cửa mở ra giúp các em có thêm hiểu biết về thế giới xung quanh, từ đó nâng cao làm phong phú thêm tâm hồn, tình cảm và nhận thức của các em. Ví dụ: ở văn bản "Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000". Từ việc giúp các em nhận rõ tác hại của bao bì nilông giúp các em có hành động và ý thức bảo vệ môi trường, có suy nghĩ tích cực về các việc tương tự trong vấn đề xử lý rác thải sinh hoạt, một vấn đề vào loại khó giải quyết nhất trong nhiệm vụ bảo vệ môi trường. - ở văn bản "Ôn dịch, thuốc lá" từ việc giúp các em nhận thức được tác hại to lớn, nhiều mặt của thuốc lá đối với đời sống cá nhân, cộng đồng đến việc tạo ra cho các em có ý thức quyết tâm phòng chống thuốc lá ở mọi nơi, mọi lúc. 2. Mục giới thiệu bài. Khi dạy bài "Ôn dịch, thuốc lá" giáo viên có thể trích dẫn câu "Thuốc lá còn đe doạ tính mạng, sức khoẻ con người còn mạnh hơn cả AIDS" vậy vì sao lại có thông tin đó chúng ta sẽ đi tìm hiểu tác hại của việc hút thuốc lá trong văn bản "Ôn dịch, thuốc lá". 3. Mục đọc hiểu văn bản. Trong dạy và học văn, đọc là một khâu rất quan trọng trong hoạt động tiếp nhận văn bản, bao gồm nhiều cách đọc khác nhau: đọc đúng, đọc thần, đọc thành tiếng, cơ bản là đọc diễn cảm. Trong chương trình Ngữ văn mới đọc là một trong bốn kỹ năng mà học sinh phải tương đối thành thạo, cần hướng dẫn cho học sinh đọc có vận dụng của tư duy, tình cảm, góp phần tái hiện nội dung văn bản. Điều cốt tử với mọi giờ học văn là từ đọc văn bản giúp học sinh hiểu - cảm thụ đúng văn bản thấm thía mối liên hệ khăng khít giữa văn bản với cuộc sống. Từ khâu đọc cũng có thể hình thành cho học sinh các kỹ năng phân tích, bình giá, cảm thụ và nghe tốt, nói tốt, viết tốt. Với văn bản nhật dụng khi đọc không cần nhiều ngữ điều như các văn bản tự sự, biểu cảm, yêu cầu đọc rõ ràng mạch lạc chính xác chú ý đến các thuật ngữ chuyên môn cần phát âm chuẩn xác. Nhấn mạnh, dừng lại lâu hơn ở những cấu tạo hình thức đặc biệt ví dụ như là dòng chữ in đậm trong "Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000": Một ngày không sử dụng bao bì nilông hay ở bài "Ôn dịch, thuốc lá" "nếu giặc đánh như vũ bão thì không đáng sợ, đáng sợ là giặc gặm nhấm như tằm ăn dâu" những câu cảm có dấu chấm than cần đọc với giọng phù hợp. Có thể nêu các câu hỏi đểư học sinh tự tìm ra yêu cầu của mỗi văn bản. Ví dụ: Theo em văn bản "Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000" chúng ta cần phải đọc với giọng như thế nào ? Hãy nêu yêu cầu đọc của văn bản "Ôn dịch, thuốc lá" ? ở phần chú thích, bên cạnh việc giải nghĩa, ở đây còn có những thông tin khác về lịch sử, xã hội, chính trị ... cần lưu ý học sinh đọc kỹ cả những phần chú thích đó mới hiểu một cách đầy đủ sâu sắc, ý nghĩa của văn bản. Ngoài các từ trong phần chú thích sách giáo khoa giáo viên cần giảng thêm các từ ngữ khó khác. - Ví dụ trong văn bản "Bài toán dân số": giải thích "chàng Ađam và nàng Eva" theo kinh thánh của đạo Thiên chúa, đó là cặp vợ chồng đầu tiên trên trái đất được chúa tạo ra và sai xuống trần gian để hình thành và phát triển loài người. - Tồn tại hay không tồn tại: là câu nói nổi tiếng của nhà văn HămLet trong vở kịch "HămLet" của U.Sêcxpia (Anh). Trong bài "Ôn dịch, thuốc lá" giải thích: - Vi trùng: vi khuẩn gây bệnh - Ký sinh trùng: động vật bậc thấp sống bám vào, nhờ vào một sinh vật chủ nào đó. 4. Mục phân tích. Theo tôi ở phần này cần chú ý những điểm chính sau: a- Đảm bảo nguyên tắc tích hợp. Ngay từ khâu viết sách các nhà biên soạn đã có sự tích hợp, đó là việc thiết kế bài và hệ thống tiết dạy theo hướng đồng quy. ở lớp 6 nội dung chính của các văn bản nhật dụng viết về các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh và thiên nhiên môi trường. ở lớp 7 nội dung chính là những vấn đề về quyền trẻ em, nhà trường, phụ nữ, văn hoá, giáo dục. ở lớp 8 tập trung vào các nội dung cơ bản như vấn đề dân số, môi truờng tệ nạn xã hội. Nguyên tắc tích hợp thể hiện cụ thể ở nội dung từng bài. Ví dụ: ở văn bản "Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000" thực chất là một văn bản thuyết minh về một vấn đề khoa học hiểu được nó một cách cặn kẽ lại không phải đơn giản muốn dạy đạt kết quả cần tích hợp với những kiến thức đang và sẽ học về văn bản thuyết minh ở phần tập làm văn, tích hợp với một số kiến thức khoa học tự nhiên đang và sẽ học như: hoá học, sinh học, địa lý, giáo dục công dân. Ví dụ: nhận xét về cách trình bày bố cục của văn bản ? (Bố cục theo 3 phần: nêu vấn đề, phân tích trình bày cho vấn đề sáng tỏ, kêu gọi mọi người hành động theo vấn đề đã nêu ị cách trình bày rõ ràng chặt chẽ hợp lý, logíc khoa học: tích hợp với bố cục đặc điểm của kiểu văn bản thuyết minh. - Em hiểu gì về đặc điểm tính chất của plastic ? (là chất dẻo nhựa, vật liệu gồm phân tử pôlime, không tự phân huỷ được). - Các chất NH2, CH4 (mêtan), H2S (sunphurơ) là những chất như thế nào? Trong văn bản "Ôn dịch, thuốc lá", "Dân số thế giới", tích hợp với môn lịch sử, địa lý, giáo dục công dân, phương pháp cách làm của văn bản thuyết minh nghị luận, tích hợp với phân môn tiếng Việt ở các yếu tố nghệ thuật. Ví dụ: - Khi nêu tác hại của thuốc lá đối với con người tác giả sử dụng những phương pháp thuyết minh nào ? (liệt kê, phân tích, giải thích). - Ngoài ra còn sử dụng phương thức biểu đạt nào khác ? (biểu đạt trực tiếp, gián tiếp). - Tác dụng của các phương thức biểu đạt đó ? - Trong văn bản "Bài toán dân số" có mấy luận điểm chính ? - Vấn đề nghị luận được đặt ra trong văn bản này là gì ? - Em rút ra kinh nghiệm gì về cách viết văn thuyết minh sau khi học văn bản này ? Dù có đề cập vấn đề thời sự bức thiết đến đâu, văn bản nhật dụng đưa vào sách giáo khoa phải đạt đến giá trị nghệ thuật nhất định. Bởi vậy, hoàn toàn có thể dạy văn bản ấy như một văn bản văn học (xét về phương diện phân tích từ ngữ, thủ pháp nghệ thuật). Một văn bản nhật dụng có thể sử dụng nhiều phương thức biểu đạt khác nhau. Giáo viên có thể căn cứ vào các nội dung đang học, đã học và sẽ học ở hai phần Tiếng Việt, Tập làm văn để xác định trọng điểm phân tích về mặt giá trị nghệ thuật cho phù hợp. Ví dụ: Trong văn bản "Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000". - Để trình bày tác hại của việc sử dụng bao bì nilông tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật nào ? (liệt kê) - Dùng biện pháp liệt kê đó có tác dụng gì ? (nêu được tác hại về mọi mặt của việc sử dụng bao bì nilông). - Nhận xét về cách sử dụng từ ngữ của văn bản trên ? (ngắn gọn, rõ ràng, khoa học, chính xác, dễ nhớ dễ hiểu) ị Đặc điểm từ ngữ của kiểu văn bản thuyết minh. - Các trình bày câu, trừ ở đoạn cuối của văn bản có gì đặc biệt ? (chữ in to, sử dụng câu cầu khiến, điệp ngữ). - Có tác dụng gì ? (nhằm khuyên bảo, yêu cầu đề nghị mọi người hạn chế sử dụng bao bì nilông giữ gìn sự trong sạch của môi trường trái đất). Trong văn bản "Ôn dịch, thuốc lá". - Cách trình bày ở tiêu đề văn bản có gì đặc biệt ? (Dấu phẩy được dùng theo lối tu từ để nhấn mạnh sắc thái biểu cảm - thái độ của tác giả: rất căm ghét thuốc lá, gây được sự chú ý với người đọc thấy được nghiện thuốc lá là một bệnh nguy hiểm). - Nhận xét về cách trình bày và nghệ thuật của câu: "Ôn dịch, thuốc lá đe doạ tính mạng, sức khoẻ con người còn mạnh hơn cả AIDS ?" (dòng chữ in nghiêng, biện pháp nghệ thuật so sánh). - Tác dụng của biện pháp nghệ thuật này ? (nhấn mạnh hiểm hoạ to lớn của việc hút thuốc lá). b- Sử dụng câu hỏi phát huy tính tích cực của học sinh. Muốn phát triển trí sáng tạo của học sinh phải chú ý đặc biệt đến phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh. Tốt nhất là tổ chức những tình huống có vấn đề, đòi hỏi dự đoán, nêu giả thiết, tranh luận giữa những ý kiến trái ngược nhau, đưa học sinh vào tình huống tự bộc lộ. Ví dụ trong văn bản "Ôn dịch, thuốc lá" có thể sử dụng một số câu hỏi như: - Trước thông tin: "Ôn dịch, thuốc lá còn nặng hơn cả AIDS" em có thái độ như thế nào ? (Ngạc nhiên, bất ngờ hay không ngạc nhiên? ) - Trong số những thông tin về chiến dịch chống thuốc lá, em chú ý nhất thông tin nào ? Vì sao ? (Học sinh tự bộc lộ theo nhận thức của từng cá nhân). - Em dự định sẽ làm gì trong chiến dịch chống thuốc lá rộng khắp hiện nay? Để phát huy tính tích cực của học sinh theo tôi giáo viên nên sử dụng cả những câu trắc nghiệm trong giờ học. Ngoài những câu hỏi quen thuộc như phát hiện, gợi tìm, suy luận ... việc đưa những câu hỏi trắc nghiệm trong khi giảng dạy là cần thiết (không nhất thiết cứ phải giờ kiểm tra, đánh giá mới sử dụng). Câu hỏi trắc nghiệm được xây dựng theo các dạng câu hỏi lựa chọn đúng sai, câu hỏi nhiều lựa chọn (thường là 4 lựa chọn) câu hỏi điền khuyết, câu hỏi đối chiếu, cặp đôi ... Những câu hỏi này sẽ góp phần rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, năng lực đọc hiểu văn bản, nắm vững và sử dụng các kiến thức kỹ năng từ ngữ ngữ pháp cho học sinh; hạn chế được thói quen học tư học lệch của học sinh, học sinh phải bỏ nhiều thời gian đọc và suy nghĩ trước khi trả lời. Ví dụ: ở bài "Bài toán dân số" - Theo em nguyên nhân chính của sự gia tăng dân số là gì ? A. Do khả năng sinh con trong thực tế của người phụ nữ rất lớn B. Do kinh tế thấp kém C. Do không có biện pháp kế hoạch hoá gia đình D. Do con người, nhất là phụ nữ chưa được hưởng quyền lợi giáo dục. - Theo em trong thực tế đâu là con đường tốt nhất để hạn chế sự gia tăng dân số ? A. Đẩy mạnh sự phát triển kinh tế của quốc gia châu lục B. Đẩy mạnh sự phát triển giáo dục đối với phụ nữ C. Tạo nên sự ổn định về chính trị của quốc gia, châu lục ... D. Đẩy mạnh sự phát triển văn hoá, xã hội của quốc gia châu lục ... Tóm lại: có rất nhiều phương pháp giảng dạy để phát huy tính tích cực của học sinh, song giờ dạy chỉ dừng lại ở những câu hỏi gợi tìm, suy luận, khái quát đánh giá thì chưa đủ. Để có không khí học tập sôi nổi, huy động được nhiều học sinh tham gia theo tôi giáo viên cần đặc biệt chú ý đến cách đưa học sinh vào những tình huống có vấn đề để học sinh tự bộc lộc. Ví dụ: Em dự định sẽ làm gì để "Thông tin Ngày Trái Đất năm 2000" đi vào đời sống biến thành hành động cụ thể ?. - Chỉ sử dụng bao bì nilông khi thật cần thiết - Đề nghị mọi người trong gia đình hãy hạn chế sử dụng bao bì nilông - Gom nhặt bao bì nilông vào nơi quy định - Vẽ những bức tranh thể hiện tác hại của việc sử dụng bao bì nlông Đứng trước thực trạng môi trường đang bị huỷ hoại dần em có suy nghĩ như thế nào ? ở văn bản "Bài toán dân số" có thể liên hệ: Em có hiểu biết gì về sự gia tăng dân số ở địa phương em ? Nó có tác động gì tới đời sống kinh tế xã hội ? (Vẫn còn nhiều gia đình sinh con thứ ba, có gia đình sinh con thứ năm đời sống vật chất khó khăn, nhiều người trong họ trong khu đân cư phải trợ giúp, đến nhà trường phải miễn giảm học phí, không có điều kiện cho con ăn ngon mặc đẹp, nuôi dạy chúng trưởng thành cũng rất khó khăn). Theo em tại sao ở địa phương em vẫn có người sinh con thứ ba ? (Vì muốn có con trai có nhiều con cháu mới có nhiều phúc, tư tưởng thích đông con nhiều cháu ...) - Giả sử gia đình em bố mẹ chỉ sinh được 2 con gái, bây giờ có ý định sinh con thứ ba em sẽ làm gì để khuyên bố mẹ đừng sinh đẻ nữa ? Ví dụ: Trong văn bản "Ôn dịch, thuốc lá". - Em sẽ làm gì nếu trong gia đình em có người nghiện hút thuốc lá ? (Dẫn chứng những tác hại của thuốc lá mà em biết sau khi học xong văn bản, khuyên người đó bỏ thuốc bằng nhiều cách, có thể hút ít dần rồi bỏ hẳn, dùng kẹo cai nghiện ...) - Giải thích tại sao trên bao bì thuốc lá lại ghi: "Hút thuốc lá có hại cho sức khoẻ"? Có rất nhiều cách đưa ra những câu hỏi giúp học sinh liên hệ với thực tế cuộc sống, có thể đưa ra những tình huống giả định hoặc những câu hỏi chứa đựng những thông tin nhận thức về thực tế cuộc sống của các em. Có liên hệ với thực tế có đưa học sinh trở về với những vấn đề bức thiết của cuộc sống, khẳng định vai trò vị trí của các em trong hiện tại, tương lai mới thể hiện được giá trị của văn bản nhật dụng. c. Sử dụng tr

Phương Pháp Dạy Học Theo Mô Hình Vnen

Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Môn Ngữ Văn

Chuyên Đề Phương Pháp Dạy Học Phân Môn Học Vần Lớp 1

Chuyên Đề Phương Pháp Dạy Học

Skkn. Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Thí Nghiệm Vật Lí Thcs

Văn Bản Nhật Dụng Là Gì ? Tổng Kết Văn Bản Nhật Dụng Lớp 9

Bài Giảng Môn Học Ngữ Văn Lớp 7

Dạy Văn Bản Nhật Dụng Ở Lớp 7

Tìm Hiểu Chi Phí Du Học Nhật Bản

Tìm Hiểu Du Học Nhật Bản Ngành Mỹ Thuật

Tìm Hiểu Về Du Lịch Nhật Bản, Đất Nước Của Hoa Anh Đào

Văn bản nhật dụng là gì ?

Văn bản nhật dụng được đưa vào đề Văn thi vào 10 năm học 2022-2017 đề bài viết: Trong bài Phong cách Hồ Chí Minh sau khi nhắc lại việc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với văn hóa, nhiều nước, nhiều vùng trên thế giới, Tác giả Lê Anh Trà viết: “…Những điều kỳ lạ là tất cả những ảnh hưởng quốc tế đó đã nhào nặn với cái gốc văn hóa dân tộc không gì lay chuyển được ở Người, để trở thành một nhân cách rất Việt Nam, một lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất Phương Đông nhưng cũng đồng thời rất mới, rất hiện đại”.

1. Ở phần trích trên tác giả đã cho thấy vẻ đẹp của phong cách Hồ Chí Minh được kết hợp hài hòa bởi những yếu tố nào? Em hiểu điều gì về tình cảm của tác giả dành cho Người?

2. Xác định hai danh từ được sử dụng như tính từ trong phần trích dẫn và cho biết hiệu quả nghệ thuật của cách dùng từ ấy.

3. Em hãy trình bày suy nghĩ (khoảng 2/3 trang giấy thi) về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập và phát triển”.

Khái niệm Văn bản nhật dụng

Văn bản nhật dụng là loại văn bản đề cập, bàn luận, thuyết minh, tường thuật, miêu tả, đánh giá,… về những vấn để, những hiện tượng gần gũi, bức xúc với cuộc sống con người và cộng đồng.

Văn bản nhật dụng không phải là khái niệm thể loại văn học, cũng không chỉ kiểu văn bản. Nó chỉ để cập tới chức năng, đề tài và tính cập nhật của văn bản nhật dụng (Nghĩa là văn bản nhật dụng có thể sự dụng mọi thể loại, mọi kiểu văn bản)

Tính cập nhật của văn bản: kịp thời đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của cuộc sống hằng ngày, cuộc sống hiện đại thể hiện rõ ở chức năng, để tài (đề tại có tính chất cập nhật). Văn bản nhật dụng tạo điều kiện tích cực để thực hiện nguyên tắc giúp học sinh hòa nhập với xã hội.

Văn bản nhật dụng có thế mạnh riêng giúp học sinh thâm nhập cuộc sống thực tế.

Tính văn chương của văn bản nhật dụng: không phải là yêu cầu cao, nhưng là yêu cầu quan trọng mới chuyển tải một cách cao nhất – sâu sắc – thấm thía tới người đọc về tính chất thời sự nóng hổi của vấn để văn bản đề cập

Đặc điểm của văn bản nhật dụng

Nội dung Đề tài của văn bản có tính cập nhật, gắn với cuộc sống bức thiết hằng ngày, gắn với những vấn để cơ bản của cộng đồng. Cái thường nhật gắn với những vấn để lâu dài của sự phát triển lịch sử xã hội.

Tất cả các vấn đề luôn được các phương tiện thông tin đại chúng nhắc đến, được xã hội và địa phương quan tâm.

Nội dung của Văn bản nhật dụng còn là nhật dụng chủ yếu của nhiều nghị quyết, chỉ thị của đảng và nhà nước, của nhiều thông báo, công bố của các tổ chức quốc tế

Hình thức Phương thức biểu đạt của văn bản nhật khá phong phú, đa dạng (kết hợp nhiều phương thức biểu đạt trong một văn bản)

Giống như tác phẩm văn chương, văn bản nhật dụng thường không chỉ dùng một phương thức biểu đạt mà kết hớp nhiều phương thức biểu đạt để tăng tính thuyết phục

Kết luận: Khi làm việc trong một đơn vị, doanh nghiệp, hay một cơ quan… nào đó, sẽ có những loại văn bản, hay những báo cáo, phải sử dụng hằng ngày. Gọi là văn bản nhật dụng!

Soạn bài tổng kết phần văn bản nhật dụng lớp 9

văn bản nhật dụng lớp 6

văn bản nhật dụng lớp 7

văn bản nhật dụng lớp 8

TỔNG KẾT PHẦN VĂN BẢN NHẬT DỤNG

Ngay sau khi vin dẫn như thế, NBS chuyển ý trình bày: “Như vậy, điểm đầu tiên và chủ yếu cần nhấn mạnh là “chức năng, đề tài và tính cập nhật của nội dung văn bản.””. Có thể thấy liên hệ logic (kết nối-thừa chuyển về ý văn) giữa đoạn vin dẫn phía trên (đoạn để trong dấu “”) và đoạn tiếp theo với từ “như vậy” là không rõ ràng. Tại sao với bản thân đoạn vin dẫn đó, NBS lại đã có thể dùng được từ “như vậy”? Tiếp theo, nếu ta hiểu “điểm đầu tiên” ở đây là một sự liệt kê thì đây là một sự liệt kê duy nhất (không thấy/không biết có điểm thứ hai cần nhấn mạnh nào nữa). Vả chăng việc “cần nhấn mạnh” tới “điểm đầu tiên và chủ yếu” – “chức năng, đề tài và tính cập nhật của nội dung văn bản” này cũng đơn thuần là yêu cầu chủ quan của NBS mà thôi (NBS bảo “cần nhấn mạnh”). Câu chuyện không thể là: do chỗ nói văn bản nhật dụng là chỉ nói tới chức năng, đề tài và tính cập nhật của nội dung văn bản mà khiến cho điều đó trở thành “điểm đầu tiên và chủ yếu cần nhấn mạnh” (khi tìm hiểu về VBND).

Thực ra kiểu văn bản hay thể loại rốt cuộc đều là một sự khái quát hóa từ tập hợp nhất định các văn bản với hình thức cụ thể nhất định. Vậy vì lí gì mà văn bản nhật dụng lại không phải là một sự khái quát hóa trên cơ sở tập hợp nhất định các văn bản theo tiêu chí giúp ta khu biệt, nhận diện chúng giữa thực tiễn tạo lập và tiếp nhận văn bản nói chung? Câu hỏi quan trọng ở đây là tại sao lại có thể nêu được vấn đề văn bản nhật dụng chỉ như một khái niệm – một khái niệm được giới thuyết là chỉ “đề cập tới chức năng, đề tài và tính cập nhật của nội dung văn bản”? Làm sao ta có thể nói tới nội dung, đề tài, chức năng, cập nhật của văn bản ở bên ngoài hình thức văn bản cụ thể được? Văn bản nào chẳng có hình thức cụ thể nhất định và hình thức cụ thể nhất định đó sẽ quy được về dạng/loại/thể văn bản khái quát nhất định? Làm sao mà có thể dựng lên khái niệm loại VBND chỉ dựa mỗi trên cái gọi là thuộc tính bản chất là “đặc điểm về đề tài-chủ đề” trong khi mỗi thuộc tính đó cũng không đủ để khu biệt VBND (các tác phẩm văn học, các văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm hay nghị luận cũng viết về đề tài-chủ đề tương tự)? Thật khó mà hình dung được một lập luận nói rằng “văn bản nhật dụng” không là “thể loại văn học” cũng không là “kiểu văn bản” mà chỉ là loại văn bản viết về những vấn đề cập nhật-bức thiết nhưng để có thể “thể hiện-trình bày” được điều đó thì VBND lại có thể là thiên truyện, thiên bút kí, bài tùy bút, áng văn nghị luận viết ra bằng các phương thức tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận hoặc kết hợp các phương thức ấy với nhau (xem diễn giải ở mục Hình thức văn bản nhật dụng)? Một lập luận như thế sẽ khiến người dạy-người học cảm thấy khá là “quanh quất”.

Hiện nay, nhiều bạn học xong cấp 2, cấp 3 không muốn học nữa và muốn đi làm kiếm tiền thì xuất khẩu lao động đang là con đường tốt nhất, lương cao nhât. Nếu bạn có nguyện vọng đi làm việc tại Nhật nên đọc xuất khẩu lao động nhật bản

tin tổng hợp

Tỉnh Kagoshima Nhật Bản Ví Trí Địa Lý, Khí Hậu

Tìm Hiểu Về Tỉnh Chiba Ở Nhật Bản

Tìm Hiểu Chung Về Cuộc Sống Ở Nhật Bản

Bộ Sách Học Tiếng Nhật Cơ Bản

Tìm Hiểu Bệnh Viêm Não Nhật Bản B

Văn Hóa Nhật Bản

Cẩm Nang Văn Hóa, Phong Tục Của Người Nhật Đi Xklđ Nên Biết

Đặc Điểm Của Văn Hóa Nhật Bản Là Gì? Giải Thích Quan Điểm Độc Đáo Về Thiên Nhiên Và Sự Khác Biệt So Với Văn Hóa Phương Tây! │Karuta

Núi Phú Sĩ: Hơn Cả Một Ngọn Núi

Một Số Phong Tục, Tập Quán Của Nhật Bản

Phong Tục, Tập Quán, Thói Quen Của Người Nhật Bản

Kimono không chỉ là phục trang mang giá trị truyền thống mà còn là linh hồn của nền văn hóa Nhật Bản. Trải qua hàng ngàn năm thay đổi và phát triển, Kimono vẫn luôn giữ được nét riêng và mang giá trị này đến toàn thế giới.

Kimono Nhật Bản với thiết kế đầy màu sắc (Nguồn: Internet)

1. Sơ lược nguồn gốc và sự phát triển Kimono

Vào đầu thế kỉ thứ 7 dưới triều đại Heian, đường phố Nhật xuất hiện một bộ quần áo có thiết kế giống với Kimono ngày nay. Người dân nơi đây truyền tai nhau về bộ trang phục được gia công tỉ mỉ, sử dụng chất vải mềm mại thay vì cotton thời điểm đó. Tuy nhiên ít ai biết rằng, mẫu quần áo nổi tiếng này có xuất xứ từ Trung Hoa. Vì thế, vị vua đương thời không chấp nhận trang phục xuất thân ngoại quốc trở thành quốc phục của Nhật Bản.

Mỗi bộ trang phục Kimono thể hiện tài năng và sự tinh tế của người thiết kế (Nguồn: Internet)

Đến năm 984, các thợ dệt vải bắt đầu thiết kế một bộ trang phục tương đồng nhưng lại mang cốt cách của văn hóa Nhật Bản. Từ một bộ quần áo cotton, người Nhật đã chắt lọc những tinh túy, thổi hồn vào trang phục và sớm biến nó trở thành quốc phục của xứ Phù Tang. 

Phục trang Kimono thay đổi hoàn toàn nền thời trang Nhật từ nghìn năm trước (Nguồn: Internet)

Nhiều năm sau, khi thời đại Samurai phát triển và có sức lan tỏa, các võ sĩ samurai thường diện kimono khi thi đấu. Đó cũng là lúc Kimono trở nên thân thuộc hơn đối với người dân Nhật. Vào thời kỳ Edo (1603 – 1868), Kimono có sự thay đổi và cải cách lớn trong thiết kế. Những chiếc thắt lưng obi làm từ vải được thêm vào giúp bộ quốc phục thêm gọn gàng, đẹp mắt, tạo điểm nhấn cho quốc phục.

2. Nét đặc trưng trong thiết kế của Kimono 

Thiết kế nguyên thủy của Kimono là loại trang phục được may với cánh tay xẻ tà dài chạm đất. Bên trong là nhiều lớp áo mỏng được phối màu một cách đặc sắc. Thời gian này, chi phí cho một bộ Kimono là cực kỳ đắt đỏ. Vì thế, chỉ có giới thượng lưu tại xứ hoa anh đào sử dụng trong các dịp lễ lớn.

Kimono thể hiện đường may sắc sảo của người thợ (Nguồn: Internet)

Mỗi bộ Kimono là một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc. Kimono được may với các đường nét cắt thẳng, sử dụng vải lụa. Đặc biệt, các nghệ nhân may hoàn toàn bằng tay và thêm các chi tiết hoa văn đẹp mắt vào phục trang. Điều này giúp Kimono thêm phần lộng lẫy, rực rỡ so với quốc phục ở các nước khác. Nhiều tour du lịch Nhật Bản vào mùa hoa anh đào thường kết hợp thưởng thức màn trình diễn Kimono mãn nhãn.

Du lịch Nhật Bản và chụp lại những bộ hình đặc sắc khi diện Kimono (Nguồn: Internet)

3. Một số loại Kimono đặc trưng tại Nhật Bản

Kimono có rất nhiều loại được sử dụng với nhiều ý nghĩa khác nhau. Nếu là người yêu thích văn hóa Nhật Bản, chắc chắn bạn sẽ ngạc nhiên về một số loại Kimono đặc trưng đấy!

Yukata

Yukata là một loại Kimono thường được sử dụng nhất trong thời đại ngày nay. Chúng chỉ có một lớp áo bên ngoài đồ lót, tạo cảm giác thoải mái và không rườm rà so với các phục trang cổ. Yukata thường được mặc vào mùa hè hoặc tại các quán trọ truyền thống. Nếu có dịp du lịch Nhật Bản, bạn nhất định không thể bỏ qua trải nghiệm văn hóa vô cùng độc đáo này. Chắc chắn, cơ hội diện bộ yukata truyền thống và thả bước trên những con phố đẹp mơ mộng sẽ đem lại cho bạn những kỉ niệm tuyệt vời.

Nét trẻ trung, rạng ngời của các cô gái Nhật Bản khi diện trang phục truyền thống (Nguồn: Internet)

Furisode 

Furisode là trang phục dành riêng cho những bạn nữ chưa kết hôn. Nó tôn vinh nét đẹp trong sáng của các bạn nữ và được dùng trong ngày lễ Thành nhân tại Nhật. Hầu hết các thiết kế của Furisode có màu sắc và họa tiết tươi sáng, rực rỡ. Ngày nay, các bậc phụ huynh dành tặng con gái bộ phục trang Furisode trong lễ Thành nhân như món quà cho sự trưởng thành.

Các thiếu nữ Nhật Bản thường mặc Furisode trong Lễ thành nhân (Nguồn: Internet)

Tomesode

Trái ngược với Furisode, Tomesode là phục trang truyền thống của người Nhật sau khi đã lấy chồng. Trang phục này thường được mặc trong các dịp lễ quan trọng, mang tính truyền thống cao.

Thiết kế đặc sắc của bộ phục trang Tomesode trong văn hóa Nhật Bản (Nguồn: Internet)

Shiromuku

Shiromuku là loại trang phục dành riêng cho các cô dâu Nhật vào ngày cưới. Theo truyền thống văn hóa Nhật Bản, các cô dâu sẽ diện trang phục lộng lẫy nhất trong các loại Kimono. Phục trang này mang màu trắng, thể hiện sự thuần khiết của con gái lấy chồng. Ngày nay, người ta thường chỉ thuê Shiromuku chứ không mua, bởi giá thành của một bộ trang phục này thường cao ngất ngưởng!

Kimono cưới lộng lẫy dành cho cô dâu Nhật Bản (Nguồn: Internet)

Mofuku

Mofuku là loại kimono chỉ có duy nhất một màu đen. Đây là trang phục chỉ được mặc trong đám tang với ý nghĩa trang trọng và tôn vinh giá trị của những người đã khuất. 

Mofuku là lễ phục được dùng để dự đám tang của dòng họ thân thiết (Nguồn: Internet)

Có thể nói, sức lan tỏa của Kimono luôn mạnh mẽ, thể hiện được những giá trị đặc sắc trong văn hóa Nhật Bản. Mặc dù ngày nay, người Nhật không mặc Kimono thường xuyên, tuy nhiên Nhật Bản luôn cố gắng gìn giữ nét truyền thống đẹp đẽ này.

Bạn có thể đăng ký tham gia chuyến du lịch Nhật Bản mùa hoa anh đào tại Sông Hàn Tourist để chiêm ngưỡng cảnh đẹp và ngắm nhìn phục trang Kimono với bề dày lịch sử hàng nghìn năm. 

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Công ty TNHH TM Du lịch và Dịch vụ Sông Hàn – Chi nhánh TP.HCM

Địa chỉ: Lửng 01, tầng lửng, Tòa nhà Trung tâm Tài chính Bảo Việt, 233 Đồng Khởi, P.Bến Nghé, Q.1

Hotline: 02873012939

Email: [email protected]

Văn Hóa Hẹn Hò Độc Đáo Của Nhật Bản! Chia Sẻ Của Một Nhà Văn Nữ Nhật Bản Ở Độ Tuổi Đôi Mươi

5 Bí Quyết Làm Đẹp Da Của Phụ Nữ Nhật Bản

Nhật Bản: Phụ Nữ Tiến Bộ Là Nền Tảng Để Phát Triển Toàn Xã Hội

Tổng Quan Về Trường Đại Học Osaka University Tại Nhật Bản

Top 7 Trường Hàng Đầu Tại Osaka Nhật Bản Dành Cho Các Du Học Sinh

Phương Pháp Dạy Học Ở Nhật Bản Như Thế Nào

Phương Pháp Dạy Học Võ Karate Ở Nhật

Phương Pháp Dạy Học Của Khổng Tử Và Ý Nghĩa Của Nó Đối Với Việc Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Việt Nam Hiện Nay

Phương Pháp Giảng Dậy Và Học Tập Của Đại Học Harvard Khiến Chúng Ta Suy Nghẫm.

Đại Học Harvard: 2022 Cách Được Nhận Vào Học, Chuyến Thăm Quan Ảo Và Nhiều Hơn Nữa

Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh Tiểu Học

– Nhật Bản là nước nằm trong khu vực Châu Á, với diện tích là 377.815 km2, đứng thứ 60 trên thế giới. Nhật Bảm gồm có 4 đảo lớn: Honshu, Hokkaido, Kyushuy và Shikoku.

– Nhật Bản được gọi là xứ sở hoa anh đào, con người nơi đây mang đậm nét Á Đông, họ là người được xem là chăm chỉ, ham học hỏi, trung thành và thành thật.

Đây là sơ lược về đất nước và con người Nhật Bản, tiếp theo chúng ta cùng nhau tìm hiểu về những phương pháp dạy học ở Nhật Bản, để tìm cho mình những phương pháp bổ ích, giúp cho mình phát triển hơn trong quá trình học tập và dạy học.

Tình đoàn kết “rentai” là một trong những tính mà con người Nhật Bản luôn có. Khi còn nhỏ họ đã được dạy như vậy và trẻ em Nhật Bản hiện nay luôn được cha mẹ, thầy cô giáo dạy là phải đoàn kết. Đoàn kết mới là một sức mạnh. Bởi vì, khi đã được giáo dục khi từ còn nhỏ thì trong bản thân học sinh đã hình thành tính cách đoàn kết, hòa nhập lẫn nhau, tôn trọng nhau và trở thành một tập thể.

Tự lập, đi học không cần ai đưa đón- tạo cơ hội cho học sinh được đi loanh quanh thành phố

Khác với trẻ em, học sinh ở nước ta. Trẻ em ở Nhật Bản ba mẹ chỉ đưa đón đi học một vài lần cho các em quen đường đến trường lớp, sau đấy các em sẽ tự đến đến. trong 3 tuần đầu tiên phụ huynh sẽ cùng các em đến lớp, cùng bắt những chuyến tàu. Nếu trên tàu các em có ngủ thiếp đi thì phụ huy sẽ không kêu các em, hoặc có nhỡ chuyến tàu thì phụ huy cũng không nhắc nhỡ quá nặng lời. Như vậy sẽ giúp các em sau này chủ động, tự giác và có trách nhiệm với việc mình đến lớp.

Với việc tự đi học, các em sẽ không bị ràng buộc với việc cứ đến lớp rồi về nhà. Các em có cơ hội gặp bạn bè khi tan học, đi dạo loanh quanh thành phố, cùng khám phá ra những điều mới lạ trong thành phố mà trước giờ mình chưa được biết. Mỗi lần như vậy sẽ trở thành những chuyến phiêu lưu cho các em. Tạo cho các em những suy nghĩ, những cách ứng phó trong cuộc sống khi các em gặp phải.

Mỗi các nhân học sinh Nhật Bản, các em sẽ tự ghi lại những quá tình học tập, bài tập trên lớp vào tập vở, lập bảng ghi nhớ và sẽ ghi nhớ lại những gì được học và ghi chép vào bộ não của mình.

Đồ dung học tập của các em sẽ được đặt ngay ngắn ở trên bàn bên cạnh là sách vở, đồng phục đi học (đồ thể dục, đồng phục đến lớp). Mỗi tối khi học tập xong, các em sẽ bỏ những món đồ vào cặp sách để chuẩn bị cho ngày mai. Nếu các em có quên một món đồ nào đó thì giáo viên sẽ không nói tên món đồ đó ra, mà các em chính là người tự suy ngẫm và nhớ ra mình đã quên món đồ nào. Như vậy sẽ giúp các em ý thức hơn về việc chuẩn bị những vật dụng, sách vở khi đến lớp. Kỹ năng này sẽ giúp cho các em tự lên kế hoạch cho tương lai một cách tốt hơn.

Các trường học ở Nhật Bản luôn có những khóa học và chương trình học nhằm cải thiện các kỹ năng sống của các em học sinh. Trường học thường xuyên tổ chức các chương trình như trồng củ, tròng lúa, trồng cây. Các em sẽ là người tự đi mua các vật liệu, dụng cụ, cây trồng để phục vụ cho việc trồng cây. Các em là người tính toán mọi thứ.

Điều này giúp cho các em có sự quan sát thực tế, nếu làm việc gì các em có thể tự mình sáng tạo và làm được. Để khi gặp sự cố thì các em đều có thể giải quyết nó được.

Tự dọn lại lớp học thay cho lao công

Trẻ em, học sinh Nhật Bản không chỉ mang tư tưởng đến trường là học, mặc dù trường học đều có lao công và bảo vệ. Học sinh Nhật Bản sẽ tự mình dọn lớp học trước và sau khi bước vào giờ học như lau bảng, quét lớp…. Sau kỳ nghỉ dài thì học sinh đến lớp mang theo những vật dụng để vệ sinh lại trường lớp, sau đấy mới bước vào học tập.

Có như vậy thì sau này lên đại học, việc dọn sạch sẽ ký túc xá sẽ không có gì khó khan đối với các em.

Học sinh Nhật Bản phải ăn hết những thức ăn được phục vụ ở bữa trưa tại trường (tránh những học sinh bị dị ứng). Để thừa thức ăn trên bàn được xem là lãng phí thức ăn. Các em học sinh sẽ được học cách nấu ăn, thái củ, sơ chế rau củ và nấu thức ăn. Những loại rau củ là những thứ được chính các em tự tay trồng. Như vậy sau này các em ai cũng có thể tự làm bữa ăn cho mình.

Ngoài ra, giáo dục ở Nhật Bản dạy các em rất nhiều điều như xử lý xung đột, dạy các em phải có tính nhẫn nại, trung thực trong cuộc sống và thất bại ở đâu thì đứng dậy ở đó… Rất nhiều đúng không nào. Chúng ta nên tìm hiểu, tham khảo và áp dụng chúng vào cách dạy con cái cũng như là bản than mình tự giác học tập.

Ðổi Mới Phương Pháp Dạy Học Ở Trường Mầm Non Ân Ðức

Giới Thiệu 6 Công Cụ Dậy Học Online Và Học Online *** Mùa Dịch Covid19

Tổng Hợp Các Phương Pháp Học Trực Tuyến Hiệu Quả

Những Tiết Học Ngoài Trời Đầy Thú Vị

Dạy Học Theo Định Hướng Nghiên Cứu Bài Học Và Đổi Mới Sinh Hoạt Chuyên Môn Theo Hướng Nghiên Cứu Bài Học

🌟 Home
🌟 Top