Phương Pháp Học Vak / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 9/2022 ❣️ Top View | Channuoithuy.edu.vn

Phương Pháp Học Tập Thông Minh Vak

Phương Pháp Học Tập Bộ Môn Vật Lý

Phương Pháp Học Tập Bộ Môn Vật Lý

Phương Pháp Học Tốt Môn Tiếng Anh

5 Điều Cần Lưu Ý Để Có Phương Pháp Học Tốt Tất Cả Các Môn

5 Bí Quyết Học Giỏi Tất Cả Các Môn

ĐTC – Phương pháp học tập thông minh VAK

“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu.” – Hồ Chí Minh

Theo nghiên cứu của các giáo sư và các chuyên gia về NLP ( Neuro-linguistic programming – Lập trình ngôn ngữ tư duy) tại Mỹ thì con người chúng ta học hỏi và tiếp nhận thông tin qua 05 giác quan gồm: thị giác (nhìn), thính giác (nghe), xúc giác (vận động, sờ chạm), vị giác (nếm) và khứu giác (ngửi). Trong 5 giác quan đó, có 3 cách tiếp nhận thông tin chính là:

Tương ứng với 3 cách tiếp nhận này, quy định cách học của mỗi cá nhân. Khi hiểu được xu hướng tiếp nhận thông tin của bản thân là gì, chúng ta sẽ tìm ra được cách học phù hợp cho mình.

1. Phương cách học V – Visual (Hình ảnh)

Có hai xu hướng nhỏ hơn là: Ngôn ngữ và không gian.

– Người theo hướng Hình ảnh – Ngôn ngữ thích học qua ngôn ngữ viết như đọc và viết. Họ nhớ dễ dàng những gì đã viết ra, thậm chí dù họ không đọc lại nó. Họ cũng dễ tập trung vào người nói hơn nếu người đó nhìn họ.

– Người học theo kiểu Hình ảnh – Không gian thường gặp khó khăn hơn với ngôn ngữ viết và làm việc tốt hơn với biểu đồ, phim ảnh và các loại hình ảnh khác. Họ dễ dàng hình dung ra khuôn mặt và địa điểm bằng cách sử dụng trí tưởng tượng và ít khi bị sai lạc.

Gợi ý: Với những người học theo phương cách Visual, họ nên phát huy những hoạt động sau:

Sử dụng dàn ý, sơ đồ tư duy, khung chương trình,… hỗ trợ cho việc đọc và viết các ghi chú.

Sau buổi học đọc lại các nội dung trong các tài liệu đã được phát ra.

Ghi chú trong khi nghe giảng, đọc sách.

Chủ động đặt câu hỏi để giúp tập trung hơn trong môi trường ồn ào, sôi động.

Vẽ tranh ảnh bên lề sách, vở hoặc ghi chú.

2. Phương cách học A – Auditory (Âm thanh)

Những người có khuynh hướng âm thanh thường thích truyền tải kiến thức thông qua nói và nghe và thường làm một công việc mới tốt nhất sau khi nghe hướng dẫn từ một chuyên gia. Đây là những người rất thoải mái với việc được nhận hướng dẫn bằng lời qua điện thoại và có thể nhớ được từ hoặc bài hát họ nghe.

Gợi ý: Người học theo phương cách Auditory cần áp dụng những điều sau để có kết quả tốt:

Bắt đầu với việc xem qua mình sẽ học gì? Rút ra kết luận hoặc tóm tắt những gì vừa học.

Diễn đạt thành các câu hỏi.

Đặt ra các câu hỏi để xem xét càng nhiều khía cạnh của vấn đề càng tốt.

Tập nghe, luyện nghe thật nhiều.

3. Phương cách học K – Kinesthetic (Cảm xúc vận động)

Những người này có khuynh hướng thích các hoạt động: Sờ, cảm giác, cầm, nắm, di chuyển và những hoạt động vận động khác. Họ dễ mất tập trung nếu có ít hoặc không có các kích thích bên ngoài hoặc vận động. Những người này có thể làm một công việc mới tốt nhất khi tự tay thực hiện và học trong quá trình làm. Đây là những người thích thử nghiệm những cái mới và không bao giờ xem hướng dẫn trước.

Gợi ý: Người học theo hướng Kinesthetic nên áp dụng những hoạt động sau:

Sử dụng các động tác di chuyển lúc học.

Sử dụng các bút đánh dấu nhiều màu sắc để làm nổi bật từ khóa học trong bài học.

Có thứ gì đó để chơi với đôi tay. Ví dụ như các quả bóng nhỏ, cây bút.

Thỉnh thoảng nghỉ ngơi bằng các bài tập kéo giãn như vươn vai, hít thở…

Chuyển thông tin từ dạng văn bản sang phương tiện khác như bàn phím, vẽ…

Thực hành những gì đã học

Trong thực tế, phương pháp học thông minh và hiệu quả là sự kết hợp giữa cả ba phương cách trên. Tuy nhiên, sẽ phụ thuộc từng cá nhân mà có thể có những người có xu hướng rất mạnh về một phương pháp V hoặc A hoặc K, ngược lại có những người có phương pháp học là sự kết hợp giữa 2 và thậm chí 3 (rất ít) phương pháp.

Một khi bạn biết và lựa chọn đúng phương pháp của mình, bạn sẽ hiểu cách học phù hợp nhất cho bạn. Điều này giúp cho bạn nâng hiệu quả học tập của mình lên cao nhất.

“Không có cách học đúng hay sai chỉ có cách học phù hợp với phương cách học của bạn nhất.”

Xác định VAK như thế nào?

1. Khi tôi sử dụng một thiết bị mới, tôi thường:

a. Đọc hướng dẫn sử dụng trước.

b. Nghe hướng dẫn từ một ai đó đã từng sử dụng rồi.

c. Cứ thử sử dụng, tôi sẽ biết cách sử dụng nó như thế nào.

2. Khi cần tìm đường đi, tôi thường:

b. Hỏi ai đó đường đi.

c. Đi theo linh cảm của bản thân, hay có thể sử dụng một cái la bàn.

3. Khi thử nấu một món ăn mới, tôi thường:

a. Làm theo công thức nấu đã được viết sẵn.

b. Gọi cho một người bạn nào đó và nhờ hướng dẫn.

c. Làm theo bản năng và tự thử nghiệm trong lúc nấu.

4. Nếu tôi phải dạy người khác một cái gì đó mới, tôi thường:

a. Ghi rõ hướng dẫn cho họ.

b. Hướng dẫn họ bằng lời nói.

c. Làm mẫu cho họ trước, sau đó để họ làm theo.

b. “Hãy nghe tôi hướng dẫn”.

6. Khi có thời gian rảnh rỗi, tôi thường:

a. Đi đến viện bảo tàng hay phòng tranh.

b. Nghe nhạc hay nói chuyện phiếm với bạn bè.

c. Chơi thể thao hay tự tay sửa chữa đồ đạc trong nhà.

7. Khi đi mua sắm, tôi thường:

a. Tưởng tượng bộ quần áo mình muốn mua sẽ trông như thế nào.

b. Tham khảo ý kiến với người bán hàng.

c. Mặc thử xem như thế nào.

8. Khi tôi lựa chọn cho kỳ nghỉ, tôi thường:

b. Nghe những gợi ý của bạn bè.

c. Tưởng tượng khi mình tới những nơi đó sẽ như thế nào.

9. Khi tôi muốn mua một chiếc xe mới, tôi thường:

a. Đọc nhận xét trên các báo và tạp chí.

b. Trao đổi những yêu cầu của mình với bạn bè.

c. Thử chạy nhiều loại xe khác nhau trước khi quyết định mua.

10. Khi tôi học một kỹ năng mới, tôi thường:

a. Quan sát những gì giáo viên làm.

c. Tự mình làm thử và học hỏi trong quá trình làm.

11. Khi chọn một món ăn từ thực đơn, tôi thường:

a. Tưởng tượng thức ăn khi mang ra sẽ trông như thế nào.

b. Tự trao đổi với bản thân (hoặc với người bạn nếu đang đi cùng) nên chọn món ăn nào.

c. Tưởng tượng thức ăn khi mang ra sẽ có mùi vị như thế nào.

12. Trong quá trình học, tôi thích giáo viên:

b. Giải thích kỹ càng bằng nhiều cách khác nhau.

c. Hướng dẫn cho các học viên tự làm để rút ra bài học.

13. Khi tôi nghe một ban nhạc chơi, tôi thường:

a. Quan sát các thành viên trong ban nhạc cũng như các khán giả.

b. Lắng nghe lời bài hát và điệu nhạc.

c. Thả mình và nhảy múa theo điệu nhạc.

14. Khi tôi tập trung, tôi thường:

a. Tập trung vào các từ ngữ và hình ảnh trước mắt mình.

c. Đi tới đi lui, quay bút hay bấm đầu bút, nhịp chân, hay làm một cái gì đó.

15. Tôi thường chọn sản phẩm nội thất hoặc gia dụng dựa trên:

a. Màu sắc và vóc dáng của chúng.

b. Những thông tin mà người bán hàng đưa.

c. Chất liệu của sản phẩm và cảm giác khi sờ vào.

16. Khi bồn chồn lo lắng, tôi thường:

a. Tưởng tượng tình huống xấu nhất có thể xảy ra.

b. Tự nói với mình về điều khiến mình lo nhất.

c. Không ngồi yên được, phải đứng ngồi hoặc di chuyển liên tục.

17. Tôi thường có cảm tình với người khác bởi:

b. Những lời họ nói với mình.

c. Họ làm mình cảm thấy ra sao.

18. Khi phải ôn tập cho một kỳ thi, tôi thường:

a. Viết ra nhiều giấy nháp ôn bài, hoặc vẽ biểu đồ tóm tắt.

b. Tự trao đổi với bản thân hoặc học theo nhóm, trao đổi với bạn bè.

c. Đi tới đi lui, liên tưởng đến các công thức qua các cử chỉ tay chân.

19. Trong lớp học, tôi hay bị mất tập trung khi:

a. Thấy một cái gì đó ngoài cửa sổ.

b. Nghe thấy một tiếng động gì đó.

c. Ngồi yên quá lâu.

20. Khi giải thích cho ai một điều gì đó, tôi thường:

a. Cho người đó xem ý của mình là gì.

b. Giải thích nhiều cách khác nhau cho đến khi họ hiểu.

c. Khuyến khích họ thử và giải thích trong lúc họ đang làm.

a. Xem phim, chụp ảnh, ngắm các tác phẩm nghệ thuật hoặc ngắm người đẹp.

b. Nghe nhạc, radio hay nói chuyện với bạn bè.

c. Tham gia các hoạt động thể thao, khiêu vũ hoặc thưởng thức món ăn, thức uống ngon.

22. Trong một hành trình dài, tôi thường:

a. Ngắm cảnh ngoài cửa sổ hay đọc sách, báo, tạp chí.

b. Nghe nhạc hoặc nói chuyện với những người ngồi cùng chuyến.

c. Mong đợi được tới các trạm dừng để có thể đi lại cho thoải mái.

23. Trong những lúc rãnh rỗi, tôi thích:

b. Trò chuyện với bạn bè.

c. Tham gia các hoạt động hoặc có việc gì đó để làm.

24. Khi tôi làm quen với một người, tôi thường:

a. Sắp xếp gặp mặt trực tiếp.

b. Nói chuyện với họ qua điện thoại.

c. Sắp xếp tham gia chung một hoạt động gì đó để làm quen nhau.

25. Tôi thường để ý người khác:

a. Qua cách họ ăn mặc và vẻ bề ngoài như thế nào.

b. Qua cách họ nói chuyện như thế nào.

c. Qua cách họ đi đứng như thế nào.

26. Khi tức giận, tôi thường:

a. Liên tục hồi tưởng lại trong đầu điều gì đã khiến mình không vui.

b. Lên tiếng cho mọi người biết mình cảm thấy như thế nào.

c. Đạp bàn ghế, đạp cửa hoặc các hành động khác để trút cơn giận.

27. Tôi thấy mình có khả năng nhớ tốt:

a. Khuôn mặt người khác.

b. Tên người khác.

c. Những việc tôi đã làm.

28. Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể biết ai đó đang nói dối khi:

a. Họ tránh nhìn mình.

b. Họ thay đổi giọng nói.

c. Họ biểu lộ những cử chỉ lạ.

29. Khi tôi gặp lại một người bạn cũ:

a. Tôi thường nói: “Lâu rồi không gặp bạn!”

b. Tôi thường nói: “Lâu rồi không nghe tin gì của bạn!”

c. Tôi thường ôm, bắt tay hay khoác vai người đó.

30. Tôi có khả năng nhớ tốt nhất khi:

a. Viết ghi chú, hoặc giữ lại những tài liệu đã được in ra hay ghi chép cẩn thận.

b. Đọc to hoặc lặp đi lặp lại từ ngữ, các ý chính trong đầu mình.

c. Làm và luyện tập các hoạt động, hoặc tưởng tượng những điều đó được làm như thế nào.

31. Nếu phải phản ánh về những sản phẩm có lỗi, tôi sẽ làm bằng cách:

a. Viết một lá thư phản ánh.

b. Phản ánh qua điện thoại.

c. Gửi trả sản phẩm lại công ty.

a. Tôi thấy ý của bạn là gì rồi.

b. Tôi nghe bạn nói gì rồi.

c. Tôi biết bạn cảm thấy như thế nào.

Hãy thời gian để trả lời các câu hỏi trên, sau đó kiểm tra Kết quả trắc nghiệm VAK của bạn.

Nếu bạn chọn nhiều kết quả A nhất, nghĩa là bạn có phương pháp học bằng “Hình ảnh” (Visual) nổi trội nhất.

Nếu bạn chọn nhiều kết quả B nhất, nghĩa là bạn có phương pháp học bằng “Âm thanh” (Auditory) nổi trội nhất.

Nếu bạn chọn nhiều kết quả C nhất, nghĩa là bạn có phương pháp học bằng “Vận động” (Kinesthetic) nổi trội nhất.

Tất Cả Những Điều Bạn Cần Biết Về Phương Pháp Học Tập Vak!

Bốn Phương Pháp Học Tập Siêu Đẳng Nhất Trên Thế Giới

Học Tập Phục Vụ Cộng Đồng Là Gì?

Phương Pháp Học Tập Hiệu Quả Phù Hợp Nhất Cho Bạn

Cách Nhận Biết Phương Pháp Học Tập Phù Hợp Với Bạn

Học Tập Tiếng Anh Thông Minh Với Phương Pháp Vak

Phương Pháp Học Vật Lý Lớp 11 Hiệu Quả

Cách Học Giỏi Môn Lý

Tự Học Ielts Writing Task 2 Từ A Đến Z

Phương Pháp Học Word 2010 Chuẩn Nhất

Cách Học Tốt Word Và Excel Nhanh Chóng

Theo nghiên cứu của các giáo sư và các chuyên gia về NLP (Neuro Linguistic Programming – Lập trình ngôn ngữ tư duy) tại Mỹ thì con người chúng tra học hỏi và tiếp nhận thông tin qua 5 giác quan gồm: thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác và khứu giác.

Trong đó, 3 giác quan chính trong việc tiếp nhận thông tin là thị giác (nhìn), thính giác (nghe) và xúc giác (vận động, sờ chạm). Ba cách tiếp cận đó đã quy định cách học của mỗi cá nhân trong việc tiếp nhận thông tin, và việc học tập tiếng Anh cũng không là ngoại lệ. Khi hiểu được xu hướng hoạt động của 3 giác quan này, chúng ta sẽ học tập tiếng Anh thông minh và hiệu quả hơn.

1. Phương pháp học V – Visual (Hình ảnh)

Những người theo hướng Hình ảnh – Ngôn ngữ thích học ngôn ngữ qua 2 hình thức đọc và Họ nhớ dễ dàng những gì đã viết ra. Nếu không đọc lại nó, họ cũng không có khăn gì trong việc nhớ lại.

Đôi mắt là một vũ khí mang tính quyết định trong việc tiếp nhận thông tin (Nguồn: Stats Insights)Nếu bạn thấy mình thích hợp với phương pháp V, bạn nên phát huy những hoạt động:

Sử dụng dàn ý, sơ đồ tư duy, biểu đồ… hỗ trợ cho việc đọc và viết.

Ghi chú trong khi học tiếng Anh.

Chủ động đặt câu hỏi khi có bất kỳ thắc mắc và nhờ thầy cô, bạn bè, người bản ngữ giải đáp.

Vẽ tranh ảnh bên lề, ghi chú.

2. Phương pháp học A – Auditory (Âm thanh)

Những người có khuynh hướng này thường làm một công việc mới tốt nhất sau khi nghe hướng dẫn từ người khác. Vì nghe tốt, họ có khả năng nhận biết giọng nói của người quen trên điện thoại trước khi đối phương xưng danh.

Đây là những người rất nhạy cảm, dễ bị phân tâm bằng âm thanh. Nhưng thường là những người dẫn dắt câu chuyện. Tuy nhiên, mẫu người này hay phát biểu ngẫu hứng và không thể dừng nói chuyện trong lớp.

Âm thanh có tác động tích cực đến não bộ trong việc tiếp nhận thông tin (Nguồn: Clobe Healer)Nếu bạn học tập theo phương pháp A, bạn cần áp dụng:

Giao tiếp nhiều với mọi người để tăng khă năng nói tiếng Anh.

Tập nghe, luyện nghe thật nhiều.

Tự ghi âm các nội dung quan trọng và học theo ghi âm của chính mình.

3. Phương pháp K – Kinesthetic (Cảm xúc vận động)

Khuynh hướng của người theo phương pháp K là thích các hoạt động: sờ, cảm giác, nắm, di chuyển… Họ có thể làm công việc mới tốt nhất khi tự tay thực hiện và học trong quá trình làm. Đây là những người thích thử nghiệm những cái mới và không bao giờ xem hướng dẫn trước, thường đi lòng vòng khi nghe điện thoại.

Phương pháp học tập Kinesthetic (Nguồn: Brighton College)Phương pháp Kinesthetic cần áp dụng những hoạt động:

Sử dụng các động tác di chuyển lúc học

Sử dụng các bút đánh dấu nhiều màu sắc để làm nổi bật từ khóa

Sử dụng thứ gì đó để làm đôi tay không được ngừng nghỉ

Bổ sung các hoạt động nghỉ giữa giờ như vươn vai, vặn mình…

Chuyển thông tin từ dạng văn bản sang phương tiện khác như vẽ, hoạt động…

Trong thực tế, phương pháp học tập hiệu quả là sự kết hợp giữa 3 cách trên. Cũng giống như việc học tiếng Anh hiệu quả bằng cả 4 kỹ năng: nghe – nói – đọc – viết. Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng cá nhân nên có thể học tập theo những cách mà mình thích nhất để đạt được hiệu suất cao.

Đình Nam tổng hợp

Ứng Dụng Phương Pháp Học Vak Để Chọn Cách Học Và Cách Dạy Phù Hợp Cho Việc Phát Triển Năng Lực …

Bí Quyết Học Giỏi Môn Văn 9 Để Thi Đỗ Vào Lớp 10 Dễ Dàng

Phương Pháp Học Tốt Môn Ngữ Văn Lớp 9

Cách Học Vật Lí 12 Hiệu Quả : Tổng Hợp Kiến Thức Vật Lí 12

Cách Học Vật Lí 12 Hiệu Quả: Bí Quyết Học Của Các Thủ Khoa

Phương Thức Tiếp Nhận Thông Tin Vak

Kênh Tiếp Nhận Vak

Nghị Luận Xã Hội Về Mục Đích Học Tập

Phương Pháp Học Tốt Tất Cả Các Môn

3 Cách Học Giỏi Tất Cả Các Môn Bạn Nên Tham Khảo

Hướng Dẫn Học Sinh Phương Pháp Học Tốt Môn Lịch Sử

VAK là từ viết tắt của 3 chữ Visual, Auditory, Kinesthetic – Nhìn, nghe và vận động. Đây 3 kênh tiếp thu thông tin mà mỗi người chúng ta đều có. Tuy nhiên tùy mỗi người sẽ có những kênh tiếp thu này hoạt động tốt hơn những kênh còn lại và đó là điểm để chúng ta hiểu đâu là cách học, tiếp thu thông tin và làm việc hiệu quả nhất của mình là gì.

Phương cách học Visual (Thị giác)

Có hai xu hướng nhỏ hơn là: Ngôn ngữ (chữ viết) và không gian (hình ảnh).

Những người theo hướng Hình ảnh – Ngôn ngữ thích học qua ngôn ngữ viết như đọc và viết. họ nhớ dễ dàng những gì đã viết ra, thậm chí dù họ không đọc lại nó. Họ cũng dễ tập trung và người nói hơn nếu người đó nhìn họ.

Người học theo kiểu Hình ảnh – Không gian thường gặp khó khăn hơn với ngôn ngữ viết và làm việc tốt hơn với biểu đồ, phim ảnh và các loại hình ảnh khác. Họ dễ dàng hình dung ra khuôn mặt và địa điểm bằng cách sử dụng trí tưởng tượng và ít khi bị sai lạc.

Những Tip hay cho người học thông qua thị giác:

Sử dụng các loại bút màu sắc và thường xuyên ghi chú để làm nổi bật các điểm quan trọng trong văn bản

Sử dụng các vật liệu trực quan như: biểu đồ, tranh ảnh, video…trong học tập, làm viêc và nghiên cứu

Giao tiếp hiệu quả hơn khi quan sát được cử chỉ điệu bộ của người đối diện

Nếu chỉ nghe không sẽ rất dễ quên, tập thói quen ghi chú vắn tắt lại những thông tin mới nghe được

Hình ảnh hóa thông tin bằng Sketnote, infographic, biểu đồ, bản đồ tư duy…

Nên ngồi học ở những nơi thông thoáng có thể tương tác và nhìn thấy bảng viết và người truyền đạt

Sử dụng nhiều màu bút và các font chữ khác nhau.

Phương cách học Auditory (Thính giác)

Có hai xu hướng nhỏ hơn là: âm thanh và ngôn ngữ nói

Những người có khuynh hướng âm thanh thường thích truyền tải kiến thức thông qua nói và nghe và thường làm một công việc mới tốt nhất sau khi nghe hướng dẫn từ một chuyên gia.

Đây là những người rất thoải mái với việc được nhận hướng dẫn bằng lời qua điện thoại và có thẻ nhớ được từ hoặc bài hát họ nghe.

Những Tip hay cho người học thông qua thính giác:

Đọc thành tiếng các đoạn văn bản và thể hiện ý bằng lời nói

Rèn luyện kỹ năng tốc ký những thông tin nghe được bằng những ký hiệu riêng

Chọn vị trí không gian yên tĩnh và tránh các tiếng ồn, việc mở nhạc nền không lời sẽ giúp cô lập với các tiếng ồn bên ngoài

Phương cách học Kinesthetic (Vận động)

Có hai xu hướng nhỏ hơn là: Tiếp xúc và thực hành

Những người này có khuynh hướng thích các hoạt động: Sờ, cảm giác, cầm, nắm, di chuyển và những hoạt động vẫn động khác. Họ dễ mất tập trung nếu có ít hoặc không có các kích thích bên ngoài hoặc vận động.

Những người này có thể làm một công việc mới tốt nhất khi tự tay thực hiện và học trong quá trình làm. Đây là những người thích thử nghiệm những cái mới và không bao giờ xem hướng dẫn trước.

Những Tip hay cho người học thông qua Vận động:

Học qua việc quan sát, thực hành và tiếp xúc thực tế

Làm việc nhóm, mô phỏng, giả lập tình huống và kết quả

Cầm sách đi qua đi lại, đọc to các thông tin để tiếp thu tốt nhất

Ôn lại các thông tin khi đang tập thể thao hoặc đang vận động

Phân thời gian học tập, nghỉ ngơi hợp lý, không nên học một chỗ trong thời gian quá dài

Nên có vật dụng và các món đồ chơi nhỏ để giữ tay chân luôn bận rộn, điều này sẽ giúp tăng khả năng tập trung hơn.

Review Sách Phương Pháp Học Tập Thông Minh

4 Phương Pháp Học Tập Siêu Đẳng Nhất Trên Thế Giới…

Sq3R: Phương Pháp Đọc Sách Giúp Ích Cho Công Việc Và Học Tập Của Bạn

Giới Thiệu Phương Pháp Học Tập Và Đọc Tích Cực Sq3R

16 Ý Tưởng Sáng Tạo Để Thay Đổi Phương Pháp Giảng Dạy Của Bạn

Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Văn Học: Phương Pháp Ký Hiệu Học

Phương Pháp Sắc Ký Lỏng

Sắc Ký Lỏng Hiệu Năng Cao (Hplc)

Sắc Ký Hiệu Năng Cao Ly Thuyet Sac Ky Long Hieu Nang Cao Hplc Ppt

Phương Pháp Ký Hiệu Bản Đồ

Phương Pháp Thể Hiện Bản Đồ

Trước khi làm quen với phương pháp ký hiệu học, chúng ta hãy tìm hiểu thế nào là “ký hiệu” và thế nào là “ký hiệu học”?

Theo định nghĩa của từ điển bách khoa Larousse (Pháp) thì, một trong các nghĩa của “ký hiệu” là: “Đơn vị ngôn ngữ học được tạo thành bởi sự kết hợp giữa cái biểu đạt với cái được biểu đạt.” Từ điển bách khoa Microsoft Encarta 99 Encyclopedia (Hoa Kỳ) cũng dành cho nó một nghĩa là: “Một dấu hiệu, một biểu trưng hay một biểu tượng được dùng để biểu thị một sự vật hay để phân biệt cái sự vật mà ký hiệu đó được gán cho nó. “Còn ký hiệu học thì được Encarta định nghĩa là “khoa học về ký hiệu”; và Larousse định nghĩa là “lý thuyết đại cương về ký hiệu”.

Có thể nói đây là một phong trào nghiên cứu có nhiều xu hướng khác nhau, có cái mang tính chủ quan (khía cạnh tâm lý), có cái lại thuần tuý khách quan. Nhà mỹ học Iuri Borey (Liên Xô cũ) đã chỉ ra rằng, trong lĩnh vực ký hiệu học có năm xu hướng cơ bản:

1) Lý thuyết khái niệm cho rằng ý nghĩa là hiện tượng bên trong của ý thức con người;

2) Lý thuyết hình thức quy ý nghĩa của một ký hiệu về quan hệ cú pháp của nó với các ký hiệu khác;

3) Lý thuyết hiện thực chủ nghĩa nhấn mạnh khía cạnh ngữ nghĩa;

4) Lý thuyết thực chứng tìm cội nguồn của ý nghĩa ở trong phản ứng của con người khi sử dụng ký hiệu hay ở hiệu quả thực tiễn của hành động;

5) Lý thuyết ngữ nghĩa khái quát đề xuất phương pháp phân tích ngữ nghĩa để giải quyết các nhiệm vụ của triết học và xã hội.

Gilbert và Kuhn cũng cho thấy rằng các nhà ngữ nghĩa học và ký hiệu học muốn xây dựng cho mình một khoa học thực chứng kết hợp với tâm lý học.

Do có sự tuyệt đối hoá phiến diện, lý thuyết ký hiệu học nghệ thuật xét về khả năng khái quát thì là một lý thuyết khiếm khuyết. Nhưng xét về từng khía cạnh cục bộ thì nó cũng có đóng góp nhất định. Một trong những nguyên nhân thực tế dẫn đến sự cần thiết phải tiến hành phân tích ký hiệu học ngữ nghĩa là tính mơ hồ và đa nghĩa của ngôn từ văn học. Sứ mạng của các nhà ngữ nghĩa học là xác định tính rõ nghĩa lôgic và xác định sự đồng tình của công chúng đối với những định nghĩa của các thuật ngữ lý luận – phê bình trong lĩnh vực nghệ thuật, đặt một định nghĩa vào trong mối quan hệ đúng đắn của nó với dụng ý và vốn từ của người định nghĩa. Họ cho rằng phân tích các yếu tố quy chiếu khác nhau sẽ làm chấm dứt cuộc “chiến tranh” liên miên và vô bổ giữa các từ ngữ.

Giống như phương pháp cấu trúc sau đó, phương pháp ký hiệu học cũng là một trong những phương pháp nghiên cứu cận cảnh đối với tác phẩm văn học nghệ thuật. Trong tinh thần này, người ta có thể áp dụng phương pháp ký hiệu học để nghiên cứu những vấn đề rất đặc thù của văn học – nghệ thuật. Chẳng hạn Roland Barthes (Pháp 1915-1980), một trong những chủ soái của chủ nghĩa cấu trúc và hậu cấu trúc sau này, ban đầu đã dùng phương pháp ký hiệu học để phê bình văn phong của tác phẩm văn học. Năm 1953, trong công trình Độ không của lối viết , chúng tôi xin dịch như sau:

“Hôm nay mà chết. Hoặc có thể hôm qua, tôi không biết nữa. Tôi nhận được một bức điện của trại dưỡng lão: “Mẹ mất. An táng ngày mai. Chào Trân trọng”. Điều đó chẳng có nghĩa gì cả. Trai dưỡng lão nằm ở Marengo, cách Alger tám mươi cây. Tôi sẽ đáp xe buýt vào hai giờ và sẽ tới đó vào buổi chiều. Như vậy, tôi sẽ có thể trực bên linh cữu qua đêm và sẽ trở về vào tối mai. Tôi đã xin ông chủ cho nghỉ hai ngày, và, với một lý do như thế, ông không thể chối từ. Nhưng ông có vẻ không bằng lòng. Tôi đã nói với ông: “Đó không phải lỗi tại tôi”. Ông không trả lời. Tôi bèn nghĩ đáng ra mình không nên nói vậy. Tóm lại, lẽ ra tôi chẳng cần phải biện bạch. Chính ông phải ngỏ lời chia buồn với tôi mới đúng. Nhưng chắc ông sẽ làm thế vào ngày kia, khi thấy tôi để tang. Tạm thời, cứ xem như thể mà chưa chết. Trái lại, sau khi an táng xong thì đó sẽ là một việc đã rồi, và tất cả sẽ mang một dáng vẻ chính thức hơn.”

Đó chính là cách viết theo lối hành vi luận lạnh lùng và trung tính của Camus. Sự dồn nén tích luỹ các sự kiện bao giờ cũng dẫn đến sự bùng nổ và đột biến. Ngay cả trong Dịch hạch (viết sau ) cũng vậy, chúng ta cũng thấy có một giọng văn vô cảm chi phối suốt cả cuốn tiểu thuyết, cho đến trang cuối cùng nó mới đột biến để chuyển hoá thành dòng cảm xúc thống thiết nhưng vẫn tắc nghẹn của nhân vật chính là bác sĩ Rieux. Chúng ta hãy đọc đoạn kết của cuốn tiểu thuyết này: “Quả thực, khi nghe những tiếng reo vui từ trên phố vọng về, Rieux nhớ lại rằng niềm vui sướng này luôn luôn bị đe doạ. Bởi lẽ ông biết một điều mà đám đông đang vui sướng kia không biết và điều đó có thể được đọc thấy trong sách vở, rằng mầm bệnh dịch hạch không chết và không hề mất đi, rằng nó có thể ngủ im hàng chục năm trong những đống đồ đạc và quần áo, rằng nó kiên nhẫn nằm đợi trong các căn phòng, trong tầng ngầm, trong hòm riêng, trong những chiếc khăn tay và những đống giấy lộn, và rằng có thể đến một ngày kia, trong nỗi bất hạnh và là một bài học cho loài người, dịch hạch sẽ đánh thức đàn chuột cống của nó dậy rồi điều chúng đến chết ở một thành phố hạnh phúc.” Lối viết này đã trở thành phong cách riêng của Camus, và bằng phương pháp ký hiệu học, chúng ta có thể chứng minh được nó.

Cũng trong tinh thần của ký hiệu học, Roland Barthes đã tuyên bố trong tập Tiểu luận phê bình: “Văn học chỉ là một phương tiện, không nguyên nhân, không mục đích… Nhà văn cũng như một người thợ thủ công cố sức làm ra một cái đổ gì rất khó, mà không biết nên theo mẫu nào và cuối cùng rồi để làm gì… Bởi vì đặc thù của tác phẩm không phải là ở những cái được biểu đạt mà chỉ là ở hình thức tạo nghĩa Nói một cách khác , so với bản thân những đối tượng phản ánh thì văn học về cơ bản và về cấu tạo mà nói là phi hiện thực; văn học chính là cái phi hiện thực.” Trong tinh thần đó, những người nào chỉ chăm lo cho cách viết như thế nào “mà không quan tâm đến việc viết về cái gì” thì được Barthes gọi là “nhà văn” . Quan điểm “duy hình thức” này cũng chính là quan điểm chung của các nhà ký hiệu học, của các nhà cấu trúc luận và hậu cấu – luận sau này.

Về phương pháp ký hiệu học, người ta còn có thể nghiên cứu các ký hiệu ngữ nghĩa của các nhà thơ để góp phần củng cố thêm cho một kết luận đã được rút ra bằng các phương pháp khác. Cụ thể, nhà nghiên cứu người Rumani Mihai Dinu đã thống kê tần suất các từ vần hiếm trong thơ của một số nhà thơ từ trình độ trung bình đến nổi tiếng để đi đến kết luận rằng những nhà thơ lớn thường sử dụng nhiều từ vần hiếm hơn so với những nhà thơ ít nổi tiếng. Đây là một kết luận khá lý thú đối với người Việt Nam ta. Từ đây liệu ta có thể suy ra rằng, việc sử dụng từ vần hiếm có phải là một trong những tiêu chuẩn làm nên giá trị của thơ ca? Và thế thì liệu những nhà thơ trước đây ta cho là “lớn” nhưng lại ít sử dụng từ vần hiếm thì có phải là những nhà thơ thật sự lớn không? Ở Việt Nam hiện chưa có ai quan tâm đến hướng nghiên cứu này.

Dù thế nào thì trong công việc thực hành nghiên cứu đối với hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học – nghệ thuật, đặc biệt là nghiên cứu thi pháp . Nhưng tôi muốn nói rằng “nghĩa” cũng là một chức năng của kinh nghiệm con người.”

Quan điểm của Scholes là mọi ký hiệu đều có thể có những liên tưởng rất cụ thể đến kinh nghiệm sống của người tiếp nhận chứ không phải là một ký hiệu tự thân. Để minh hoạ cho điểm này, ông lấy ví dụ là khi gặp một biểu ngữ có ghi chữ “Hoà bình” và hình một con chim bồ câu, thì có người có liên tưởng đến sứ giả hoà bình; nhưng người Mỹ trong thời gian diễn ra chiến tranh Việt Nam sẽ liên tưởng đến một tình huống cụ thể hơn. Hay một biểu ngữ khác như “Hãy làm tình chứ không gây chiến” cũng chỉ gợi cho chúng ta nghĩ đến chiến dịch vận động chống gia tăng dân số,… Ở Việt Nam, việc áp dụng ký hiệu học vào nghiên cứu văn học cũng đã bắt đầu được tiến hành. Ví dụ như GS Hoàng Trinh đã dùng phương pháp ký hiệu học kết hợp với lý thuyết thông tin để nghiên cứu độ dư của từ (còn gọi là nghiên cứu từ láy, từ lặp), từ đó rút ra các quy tắc vận dụng độ dư của từ để diễn tả tư tưởng và tình cảm, đặc biệt là trong thơ. Hoặc ông dùng phương pháp ký hiệu học để nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca mà ông gọi là nghiên cứu thi pháp thơ. Nói chung, nhiều nhà khoa học nước ta cũng đã ít nhiều áp dụng phương pháp lý hiệu học trong các công trình nghiên cứu của mình về ngôn ngữ nghệ thuật.

Phương pháp luận nghiên cứu Văn học.

Bài Toán Hình Học Và Những Kí Hiệu Có Tính Hình Thức

Hướng Dẫn Làm Trọng Tài Bóng Đá

Bài 5. Kí Hiệu Bản Đồ. Cách Biểu Hiện Địa Hình Trên Bản Đồ

Đề Cương Địa Lí 10 Năm 2022

Ký Hiệu Chữ Cái ? Chữ Cái, Phông Chữ & Kiểu Chữ

🌟 Home
🌟 Top