Phương Pháp Dạy Học Lớp 1 / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Channuoithuy.edu.vn

Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Vần Lớp 1

1THAM LUẬN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌCPHÂN MÔN HỌC VẦN LỚP 1PHẦN 1

THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC VẦN LỚP 12I/VAI TRÒ CỦA PHÂN MÔN HỌC VẦN TRONG MÔN TIẾNG VIỆT Ở TIỂU HỌC Phân môn Học Vần nằm trong hệ thống các phân môn của môn Tiếng Việt, nó đóng vai trò then chốt và nền tảng cho các phân môn khác và kể cả các môn học khác. Nhiệm vụ của phân môn Học Vần là cung cấp cho học sinh kiến thức về ngữ âm và chữ viết, từ vựng, ngữ pháp và văn học. Về kĩ năng, Học Vần rèn cho HS các kĩ năng đọc, viết, nghe, nói. 3 Với đặc thù về kiến thức và kĩ năng như thế cho nên trong dạy học phân môn Học Vần, người dạy không những trang bị cho mình một kiến thức vững chắc về câu từ, về chữ viết mà còn cả về khả năng xữ lí tình huống trong tiết dạy. Đối với HS lớp 1 mọi hoạt động trong lớp đều mới mẻ đối với các em. Do vậy tính kiên trì và tỉ mỉ của GV sẽ giúp HS nâng cao được hiệu quả học tập.4Những khó khăn trong việc dạy học vần – Tình trạng học sinh chưa qua mẫu giáo nên tiếp thu bài kém. – Phụ huynh lơ là trong việc giúp đỡ con em học ở nhà. – Do đặc thù của HS tiểu học nói chung, đặc biệt là học sinh lớp 1, các em rất ham thích theo dõi bài khi GV sử dụng tranh ảnh hay đồ dùng dạy học khác trong tiết dạy. Ở lớp 1 Đồ dùng dạy học được cấp trên cấp là rất ít so với nhu cầu cần sử dụng của GV dạy lớp 1. Mặc khác, tranh ảnh, trang thiết bị dạy học đã qua nhiều năm sử dụng đã hư hỏng nhiều mà chưa được cấp trên bổ sung.5 – Việc lồng ghép cho HS sử dụng bộ đồ dùng học vần còn gặp nhiều khó khăn, một số GV còn bỏ qua việc thực hành của HS trên đồ dùng. – GV thường sa đà, mất thời gian nhiều ở tiết 1 (dạy không đủ thời gian). – Tổ chức phần luyện nói cho học sinh gặp nhiều khó khăn (Do học sinh ngại nói, các em còn nhút nhát trong những ngày đầu…). Hơn nữa, GV không có tranh ảnh trực quan nên gặp nhiều khó khăn khi cho HS nói trước lớp nhất là ở các tiết ôn tập. – GV gặp khó khăn trong giải nghĩa từ (những từ ở SGV không giải nghĩa).6 – Một số GV chưa nắm vững cấu tạo nét của từng con chữ nên việc hướng dẫn học sinh đôi khi chưa rõ và thiếu chính xác. Mặc khác do chữ viết trên bảng của GV không đẹp nên không tạo được hứng thú cho HS. – Trong tiết dạy GV chưa đa dạng các hình thức tổ chức đọc cho học sinh nên tiết học rất khô khan, HS tham gia trong tiết học rất thụ động. – Tình trạng HS đọc vẹt cũng là điều đáng lo cho các GV chủ nhiệm.7 – Do ảnh hưởng phương ngữ một số GV gặp nhiều khó khăn trong việc phát âm mẫu để HS đọc theo, đặc biệt là những vần học ở các bài cuối học kì 1 và đầu học kì 2. Về phía học sinh các em thường phát âm sai ở những vần có tr, r, v … ở đầu và t, n … ở cuối nhưng GV chưa quan tâm chỉnh sửa dẫn đến dần dần trở thành thói quen cho HS. – Một số GV chưa có tính mền dẽo đối với HS, hay quát tháo trong giờ học làm cho các em không tự tin, không mạnh dạn phát biểu trong giờ học. 8I/ NỘI DUNG PHÂN MÔN HỌC VẦN – Gồm 103 bài, trong đó : +Tập 1 : 83 bài (Học kì 1 đến bài 76). +Tập 2 : 20 bài (Học kì 2 đến tuần 24).PHẦN 2

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẦN LỚP 19 – Từ bài 1 đến bài 27 là các bài học về âm. – Từ bài 29 đến 90 là các bài học về vần. – Từ bài 90 đến bài 103 là các bài ôn về vần có âm đầu là u hoặc o.10II/ Một số phương pháp thường sử dụng trong phân môn học vần lớp 1

14 Đặc biệt nên tránh câu hỏi để trả lời “Có” hoặc “Không”. GV cần dành thời gian cho HS suy nghĩ, trao đổi rồi mới trả lời câu hỏi.5- Phương pháp Trò chơi: Giúp HS hứng thú, tham gia tích cực vào bài học.

15 *Cần chú ý : – GV dễ sa đà vào việc chơi mà không đút kết được nội dung của bài học. – Hình thức chơi cần đa dạng, giúp cho HS phối hợp các hoạt động trí tuệ với các hoạt động vận động. – Luật chơi cần đơn giản để các em dễ nhớ, dễ thực hiện. – Khi tổng kết trò chơi GV dùng biện pháp tuyên dương và động viên là chủ yếu.16QUY TRÌNH DẠY HỌC VẦN LỚP 1Dạng 1: Làm quen với âm và dấu thanh(6 Bài đầu)1) Kiểm tra bài cũ:2) Dạy học bài mới: a/ Giới thiệu bài: b/Dạy chữ ghi âm và dấu ghi thanh mới (trọng tâm).17 – Hướng dẫn học sinh ghép chữ ghi âm, dấu ghi thanh mới để đọc thành tiếng. – Hướng dẫn học sinh tập phát âm âm, dấu thanh, tiếng vừa ghép.NGHỈ GIỮA TIẾT – Giáo viên hướng dẫn học sinh tập viết chữ ghi âm, dấu ghi thanh mới vào bảng con.TIẾT 2 c/ Luyện tập: Luyện đọc lại nội dung tiết 1.

18 d/ Luyện viết chữ ghi âm , dấu ghi thanh mới (trong vở tập tô). NGHỈ GIỮA TIẾT e/ Luyện nghe – nói (chủ yếu là giúp học sinh làm quen với không khí học tập mới, không rụt rè, nhút nhát) 3) Củng cố , dặn dò19Dạng 2: Dạy chữ ghi âm, vần mới

TIẾT 11) Kiểm tra bài cũ:2) Dạy học bài mới: a/ Giới thiệu bài: b/ Dạy âm (vần) mới: – Dạy phát âm hoặc đánh vần vần mới. – Hướng dẫn học sinh ghép âm, vần, đánh vần và đọc trơn tiếng khóa và từ khóa.NGHỈ GIỮA TIẾT20 – Giáo viên viết mẫu, hướng dẫn HS viết bảng con. – Hướng dẫn HS đọc từ (từ ngữ) ứng dụng.TIẾT 2 c/ Luyện tập: – Luyện đọc (Bằng nhiều hình thức: cá nhân, nhóm, cả lớp, đọc tiếp nối, đọc đồng thanh). + Đọc lại nội dung tiết 1. + Đọc câu ứng dụng.NGHỈ GIỮA TIẾT21 – Luyện viết chữ ghi âm, vần, tiếng mới: Tùy theo đối tượng HS và thời gian cho phép, GV có thể quy định thời gian, dung lượng viết tại lớp từ 1 đến 3 dòng. – Luyện nghe – nói: Không yêu cầu học sinh nói những câu chứa âm, vần mới học để đảm bảo phát triển lời nói tự nhiên, phong phú cho các em. Giáo viên cần chú ý đến những học sinh yếu, rụt rè, nhút nhát. Có thể định hướng bằng những câu hỏi gợi mở để các em nói được những câu đơn giản.22 Căn cứ vào khả năng hoàn thành 2 kĩ năng đọc, viết vần, tiếng, từ ngữ mới của đa số học sinh trong lớp mà giáo viên cân nhắc để dành thời gian cho luyện nói khoảng từ 3 đến 7 phút.3) Củng cố – dặn dò:23Dạng 3: Dạy bài ôn tập

1) Kiểm tra bài cũ: 2) Dạy học bài ôn: (TIẾT 1) a/ Ôn tập theo bảng – sơ đồ trong sách giáo khoa. *Bài ôn về âm 2 bảng. *Bài ôn về vần 1 bảng.Nghỉ giữa tiết b/ Luyện đọc : Đọc từ ứng dụng. c/ Luyện viết bảng con.

24TIẾT 2d)Luyện đọc toàn bài ở tiết 1.e)Đọc câu ứng dụng.Nghỉ giữa tiếtg) Luyện viết ở vở.h) Kể chuyện: Kể theo tranh nhằm rèn luyện và phát triển kĩ năng nghe – nói cho HS, đồng thời giúp cho nội dung học tập thêm phong phú, sinh động, hấp dẫn. Tên truyện kể gắn với những âm, vần HS đã học.3) Củng cố – dặn dò:

Chuyên Đề Phương Pháp Dạy Học Phân Môn Học Vần Lớp 1

CHUYÊN ĐỀ PPDH PHÂN MÔN HỌC VẦN - LỚP 1 1/ Kĩ năng. . Nghe: - Nghe trong hội thoại : + Nhận biết sự khác nhau của các âm, thanh và kết hợp của chúng; nhận biết sự thay đổi về độ cao, ngắt, nghỉ hơi. + Nghe hiểu câu kể, câu hỏi đơn giản. + Nghe hiểu lời hướng dẫn hoặc yêu cầu. - Nghe hiểu văn bản : Nghe hiểu một câu chuyện ngắn có nội dung thích hợp với học sinh lớp 1. . Nói : - Nói trong hội thoại: + Nói đủ to, rõ ràng, thành câu. + Biết đặt và trả lời câu hỏi lựa chọn về đối tượng. + Biết chào hỏi, chia tay trong gia đình, trường học. - Nói thành bài : Kể lại một câu chuyện đơn giản đã được nghe. . Đọc. - Đọc thành tiếng : + Biết cầm sách đọc đúng tư thế. + Đọc đúng và trơn tiếng : đọc liền từ, đọc cụm từ và câu ; tập ngắt , nghỉ (hơi) đúng chỗ. + Đọc hiểu : Hiểu nghĩa các từ thông thường , hiểu ý được diễn đạt trong câu đã đọc ( độ dài câu khoảng 10 tiếng ). - Học thuộc lòng một số bài văn vần ( thơ, ca dao, ) trong SGK. 1.4. Viết : - Viết chữ : Tập viết đúng tư thế, hợp vệ sinh; viết các chữ cái cỡ vừa và nhỏ; tập ghi dấu thanh đúng vị trí; làm quen với chữ hoa cỡ lớn và cỡ vừa theo mẫu chữ quy định; tập viết các số đã học. - Viết chính tả : + Hình thức chính tả : Tập chép, bước đầu tập nghe đọc để viết chính tả. + Luyện viết các vần khó , các chữ mở đầu bằng : g/gh; ng/ngh ; c/k/q, Kiến thức : ( không có tiết học riêng , chỉ trình bày các kiến thức học sinh cần làm quen và nhận biết chúng thông qua các bài thực hành kỹ năng ) 2.1. Ngữ âm và chữ viết : - Bước đầu nhận biết sự tương ứng giữa âm và chữ cái, thanh điệu và dấu ghi thanh. - Chính tả : Bước đầu nhận biết một số quy tắc chính tả. 2.2. Từ vựng : 2.3 . Ngữ pháp : - Nhận biết cách dùng dấu chấm, dấu chấm hỏi. - Ghi nhớ các nghi thức lời nói. 2.4. Văn : Làm quen với các bài dạng văn vần, văn xuôi. Ngữ liệu : 3.1. Giai đoạn học chữ : là những từ ngữ, câu ngắn, đoạn ngắn, các thành ngữ, tục ngữ, ca dao, phù hợp với yêu cầu học chữ và rèn kỹ năng. Ngữ liệu phù hợp với lứa tuổi của HS, có tác dụng giáo dục và mở rộng sự hiểu biết. 3.2. Giai đoạn sau học chữ : Là những câu đoạn nói về thiên nhiên, gia đình, trường học, thiếu nhi. Ngữ liệu có cách diễn đạt trong sáng, dễ hiểu, có tác dụng giáo dục giá trị nhân văn và bước đầu cung cấp cho học sinh những hiểu biết về cuộc sống. Chú ý chính đáng đến các văn bản phản anùh đặc điểm về thiên nhiên , đời sống văn hoá, xã hội,. của các địa phương trên đất nước ta. Chương trình SGK Tiếng Việt 1. 4.1. Phần Học vần : Gồm 103 bài ( 83 bài thuộc tập một và 20 bài thuộc tập 2). Mỗi bài của phần Học vần được trình bày trên 2 trang sách ( trang thứ nhất là trang số chẵn và trang thứ hai là trang số lẻ) . Mỗi bài dạy - học trong 2 tiết. Mỗi tuần có 5 bài dạy - học trong 10 tiết và 1 tiết Tập viết. Nội dung bài Tập viết ở mỗi tuần không trình bày trong SGK mà đưa vào vở Tập viết. Khi dạy loại bài này, GV chú ý hướng dẫn HS tập viết theo các nét tạo ra con chữ. Các bài của phần Học vần có 3 dạng cơ bản, là : Làm quen với âm và chữ. Dạy - học âm , vần mới. Oân tập âm , vần. 4.2. Luyện tập tổng hợp : Bố trí theo tuần ( tính từ tuần 23 trở về sau 0 . Nội dung của phần luyện tập tổng hợp bắt đầu thể hiện theo phân môn, đó là : Tập đọc. Chính tả. Kể chuyện. Tập viết. Thiết kế của mỗi bài được thể hiện qua các nội dung chính sau : Mụcđích , yêu cầu. Đồ dùng dạy - học. I - Kiểm tra bài cũ II - Dạy - học bài mới. giới thiệu bài. Dạy bài mới. Luyện tập. III - Củng cố dặn dò. QUY TRÌNH VÀ PPDH TẬP ĐỌC - LỚP 1. A/ MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU. - Đọc trơn cả bài, phát âm đúng những tiếng có âm, vần các vùng phương ngữ dễ phát âm sai. - Ôn các vần, tìm được tiếng có vần theo yêu cầu của bài học. - Hiểu các từ ngữ và nội dung của bài. - Học thuộc lòng bài thơ hoặc đoạn văn ( nếu có). B/ ĐỒ DÙNG DẠY HỌC. C/ CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY - HỌC. Tiết 1 I/ Kiểm tra bài cũ: II/ Dạy bài mới : 1/ Giới thiệu bài : GV có thể giới thiệu bài theo nhiều cách : Giới thiệu nội dung chính của bài đọc. Nhắc lại vấn đề đặt ra trong bài cũ rồi dẫn vào bài mới. 2/ Hướng dẫn luyện đọc : a/ GV đọc mẫu : Lời đọc mẫu đúng và hay của GV có tác dụng định hướng cách đọc cho HS, giúp HS nhận thức đúng hơn nội dung bài. Với bài đọc là văn bản nghệ thuệt, lời đọc của GV còn có ý nghĩa khơi gợi hứng thú và tưởng tượng của HS. b/ Học sinh luyện đọc : Đọc tiếng, từ khó ( từ khó, từ phát âm dễ lẫn, giải nghĩa từ ). Tuỳ đặc điểm phát âm của HS lớp mình , GV tự tìm những tiếng HS dễ phát âm sai cho các em luyện phát âm đúng. Đọc tiếp nối từng câu ( có thể đọc tiếp nối từng dòng với văn bản thơ ). Đọc đoạn, bài ( thi đọc cá nhân hoặc theo nhóm, lớp ). Chú ý về phương pháp : - Dùng cách đọc nối tiếp để tiết kiệm thời gian, tạo nhịp khẩn trương , làm cho mọi HS trong lớp đều được luyện đọc, đọc nhiều lần. - Yêu cầu HS bắt đầu đọc từ các vị trí khác nhau trong bài để tránh đọc vẹt ( sau khi các em đã đọc bài một vài lần ). - Tổ chức thi đọc giữa các nhóm, các tổ hoặc tổ chức trò chơi đọc tiếp sức , truyền điện,.. c/ Ôn và học một cặp vần mà HS nói, viết dễ lẫn, trong đó có ít nhất một vần trong bài. Các hình thức tổ chức dạy học cần vui, khẩn trương để trong thời gian có hạn, mọi HS đều được nói tiếng, từ, câu các em tìm được. Ví dụ : Thi tìm từ chứa tiếng; thi nói câu chứa tiếng; thi ghép âm với vần để tạo thành tiếng; nói câu thuyết minh cho tranh chứa tiếng có vần ôn; trò chơi bằng thẻ từ, bằng nam châm; ghép tiếng trên Bộ chữ học vần thực hành Tiếng việt Tiết 2 3/ Đọc và trả lời các câu hỏi về bài đọc. - Ở khâu tìm hiểu bài, GV hướng dẫn HS đọc ( đọc thành tiếng, đọc thầm )và tìm hiểu bài, tổ chức để mọi HS đều được tham gia trao đổi về nội dung của bài dựa theo các câu hỏi, bài tập trong SGK ( các câu hỏi, bài tập này đơn giản có thể giúp HS tái hiện, nhớ bài, hiểu nội dung chính của bài). - Trước khi hỏi HS về nội dung 1 câu, 1 đoạn trong bài, cần yêu cầu các em đọc đi đọc lại câu, đoạn đó ( đọc thành tiếng, đọc thầm ) cho thông thạo. ( Với lớp HS đọc kém, nên để thời gian dài hơn cho việc luyện đọc ). - Sau khi HS đã hiểu bài, GV mời một vài em đọc lại bài với yêu cầu nâng cao ( đọc vừa đúng , vừa hay ) . Hình thức tổ chức : thi đọc giữa các cá nhân, hoặc đọc theo vai ( với văn bản có nhân vật đối thoại ). Yêu cầu chính là luyện cho HS đọc trôi chảy, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ, đúng mức. GV có thể hướng dẫn HS đọc hay, thể hiện đúng, tự nhiên một vài câu hoặc 1 đoạn trong bài. Ví dụ : Khi HS đọc phân vai các nhân vật trong bài " Mời vào" , GV có thể hướng dẫn các em đọc đúng lời hỏi đáp của từng nhân vật theo giọng của từng nhân vật. - Với các bài Tập đọc là thơ có yêu cầu HTL ( 1 khổ hoặc cả bài thơ ), GV hướng dẫn HS học thuộc lòng ngay tại lớp, về nhà tiếp tục học thuộc. Như vậy khâu luyện đọc luôn được thực hiện trước khâu tìm hiểu nội dung bài. HS được luyện đọc một cách kĩ lưỡng trước khi tìm hiểu bài. Nhờ đọc lĩ bài, các em sẽ hiểu bài tốt hơn. Sau khi đã tìm hiểu bài, HS được luyện đọc lại để hoàn chỉnh kĩ năng đọc toàn bài, nâng cao chất lượng đọc. 4/ Luyện nói theo bài đọc ( kí hiệu N ) Đây là một điểm mới trong SGK, có mục đích giúp phát triển ngôn ngữ trẻ, rèn cho các em nói năng mạnh dạn , tự tin. GV cần biết cách khơi gợi, kích thích HS nói năng, bộc lộ cảm xúc, ý nghĩ của mình. Yêu cầu luyện nói có thể là : Nối các từ ngữ hoặc mệnh đề thể hiện sự hiểu biết nội dung. Trả lời câu hỏi theo tranh. Trả lời câu hỏi. Nói tiếp câu dở dang . Nói một vài câu kể. Nói về những con vật em yêu thích. Hỏi và trả lời. Tập nói lời chào. Hát. III. Củng cố, dặn dò. GV lưu ý HS về nội dung bài, cách đọc; nhận xét tiết học , khen ngợi những HS học tốt. Dặn HS việc cần làm ở nhà. * Giờ học theo hướng đổi mới phương pháp là giờ học mà GV nói ít nhưng biết tổ chức hướng dẫn để HS làm việc và làm việc nhiều. GV không làm hộ, làm thay cho HS. Để giờ học tạo được cảm giác nhẹ nhàng như vậy, GV cần chuẩn bị bài công phu hơn so với việc chuẩn bị bài dạy theo phương pháp cũ. PP DẠY HỌC PHÂN MÔN HỌC VẦN - LỚP 1 Dạng bài thứ nhất LÀM QUEN VỚI ÂM VÀ CHỮ Kiểm tra bài cũ Yêu cầu cơ bản ; HS đọc được âm, thanh và viết được chữ ghi âm, dấu ghi thanh của bài kế trước; HS làm quen với nền nếp học tập, mạnh dạn, tự tin trong môi trường học tập mới. Yêu cầu mở rộng : HS biết và tìm được các tiếng , từ có âm , thanh vừa học Dạy - học bài mới. a/ Giới thiệu bài : GV dựa vào tranh ở SGK hoặc chuẩn bị tranh ảnh, vật mẫu để giới thiệu chữ ghi âm hoặc dấu thanh mới. b/ Dạy chữ ghi âm hoặc dâú ghi thanh mới ( trọng tâm ) : GV tiến hành dạy chữ ghi âm, dấu ghi thanh mới theo nội dung bài học được trình bày trong SGK qua các bước sau : Hướng dẫn HS nhận dạng ( phân tích ) chữ ghi âm, dấu thanh mới. Hướng dẫn HS tập phát âm mới. - GV viết mẫu và hướng dẫn HS quy trình viết. HS tập viết chữ ghi âm và dấu thanh mới vào bảng con. - Đối với 6 bài đầu trong giai đoạn làm quen với âm và chữ, kiến thức trong mỗi bài không nhiều. Ngoài việc dạy kiến thức mới, giai đoạn này , GV cần dành thời gian để ổn định tổ chức lớp và hình thành cho HS nền nếp học tập như : cách cầm vở tập đọc, khoảng cách mắt nhìn, cách ngồi viết, cách đặt vở, cách cầm bút, cách đứng lên đọc bài, giao tiếp với bạn xung quanh Ví dụ : Cho HS nhìn tranh , tập phát âm từ mới, tìm âm, thanh mới hoặc cho HS quan sát tranh, nhận xét chữ giống nhau ghi trên các tranh ; tìm thêm tiếng , từ ngữ tương tự. c/ Luyện tập : GV cho HS luyện tập cả 4 kĩ năng theo nội dung bài học ghi trong SGK như sau: - Luyện đọc âm mới : Luyện đọc theo nhiều hình thức : cá nhân, nhóm , cả lớp ( giai đoạn đầu GV cần hướng dẫn HS cách nhìn chữ, nhìn dấu để đọc lên thành tiếng ). Luyện viết chữ ghi âm, dấu ghi thanh mới. Ở 6 bài đầu, việc rèn kĩ năng viết mới chỉ dừng lại ở yêu cầu tập tô theo nét chữ mới học trong vở Tập viết 1, tập 1, Vở bài tập Tiếng Việt 1 , tập 1 ( nếu có ). GV cần dành thời gian hướng dẫn HS tư thế ngồi, cách giữ vở, cầm bút đưa theo nét chữ in sẵn. Luyện nghe - nói. Củng cố, dăn dò. GV chỉ bảng hoặc SGK cho HS theo dõi và đọc theo. Hướng dẫn HS tìm tiếng có âm mới học. Dặn HS ôn lại bài học ở nhà. PPDH PHÂN MÔN HỌC VẦN - LỚP 1 Dạng bài thứ hai DẠY - HỌC ÂM VẦN MỚI 1/ Kiểm tra bài cũ : - Yêu cầu cơ bản : HS đọc âm , vần và viết được chữ ghi âm, vần; đọc và viết được tiếng ( từ ) ứng dụng; đọc được câu ứng dụng ở bài cũ ( bài trước đó 0. - Yêu cầu mở rộng : GV có thể tuỳ trình độ HS đưa ra một số yêu cầu mở rộng hoặc nâng cao hơn. Ví dụ : Tìm thêm các tiếng ( từ ) mới có âm, vần đã học ( gợi ý qua đồ dùng học tập ở lớp, đồ dùng trong gia đình, các loại hoa quả, cây, co vật quen thuộc). 2/ PHÒNG GIÁO DỤC THỚI BÌNH TRƯỜNG TIỂU HỌC THỚI BÌNH C. CHUYÊN ĐỀ PPDH PHÂN MÔN TẬP ĐỌC LỚP 3 Họ và tên : Trịnh Văn Linh

Phương Pháp Dạy Học Sinh Lớp 1 Nhanh Biết Đọc Tiếng Việt

Bàn về Phương pháp dạy học sinh lớp 1 nhanh biết đọc Tiếng Việt. Hãy giúp các bé nhanh biết đọc hơn bằng các phương pháp đúng đắn.

1. Một số vấn đề hình thành kỹ năng đọc viết cho học sinh lớp 1 theo chương trình sách giáo khoa (SGK) Tiếng Việt lớp 1 hiện nay

Như vậy, muốn trẻ em nhanh biết đọc người dạy cần xác định đúng tầm quan trọng của giai đoạn hình thành kỹ năng đọc và ghép âm tiết, phải tổ chức cho các em làm việc trực tiếp với con chữ thông qua các hình thức cụ thể như hình thành thao tác đọc, thao tác ghép, phải lựa chọn phương pháp tối ưu nhất để đẩy nhanh tốc độ hình thành kỹ năng đọc và ghép âm tiết cho trẻ càng sớm càng tốt, thời gian còn lại trong năm học các em sẽ đủ điều kiện củng cố, tập luyện kỹ năng đọc lên mức kỹ xảo.

2. Đề xuất phương pháp dạy học sinh lớp 1 nhanh biết đọc biết viết tiếng Việt

Để dạy học sinh học cách phát âm và cách ghép âm tiết đồng thời, chúng tôi sử dụng một bảng chữ cái tổng hợp làm phương tiện trực quan, cũng đồng thời là nội dung dạy học. Bảng chữ cái tổng hợp được thiết kế theo một số nguyên tắc nhất định, và người dạy cần phải vận hành đúng tinh thần của những nguyên tắc đó.

Ưu điểm của cách dạy này là cùng một lúc, học sinh phát âm và ghép được rất nhiều âm tiết theo các cấu trúc khác nhau, từ dễ đến khó, hơn thế nữa, học sinh không chỉ dừng lại ở số lượng nắm được bao nhiêu âm, vần, tiếng, mà cái quan trọng là qua cách dạy theo phương pháp ngữ âm trực tiếp – tổng hợp này dựa cơ sở định hướng khái quát, học sinh sẽ nhanh chóng biết được cách phát âm, cách kết hợp các dạng khái quát theo các cấu trúc âm vần.

Như vậy trong một thời gian nhất định, chúng ta không thể cung cấp để học sinh nhớ hết số lượng các âm vần đó để triển khai các thao tác cần thiết đọc chữ, quan trọng hơn là dạy học sinh nắm được phương pháp chung nhất về đọc và ghép âm tiết, sau đó biết cách cụ thể hóa vào các tình huống riêng, cũng như biết triển khai đúng các thao tác của kỹ năng đọc chữ ở tất cả các ngữ âm tiếng Việt. Học sinh đạt được mức độ triển khai thuần thục như vậy thì mới cho là biết đọc chữ.

3. Kết luận: Theo phương pháp đọc tiếng Việt hiện nay có nhiều điểm chưa đẩy nhanh tốc độ đọc chữ thuần thục ở học sinh:

Thứ nhất: cách đọc chữ chủ yếu dạy học sinh ghép xuôi các âm tiết, ít chú ý đến ghép ngược. Vì vậy, ở giai đoạn này học sinh chưa có kỹ năng đọc vần và phân tích cấu trúc các loại âm tiết. Cụ thể: ngay từ bài đầu ( Bài 1 SGK Tiếng Việt 1) các em được giới thiệu lần lượt các âm, vần cụ thể e, b, … cho đến hết bài 26 thì học sinh mới nhận biết được hết 29 chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt in ở trang đầu SGK Tiếng Việt lớp 1, qua bài 29 thì các em mới được học từng vần, cụ thể; Bài 29 học sinh học vần [ ia ]..

Thứ hai: việc sử dùng nhiều tranh ảnh trong giai đoạn phát âm và ghépvần, ở SGK Tiếng Việt 1 như hiện nay, sẽ dẫn đến hiện tượng học sinh nhìn tranh – đọc chữ, đây là tính chất đặc trưng khi dạy trẻ mẫu giáo lớn, chính điểm này dẫn đến tình trạng học vẹt của học sinh Tiểu học ở đầu cấp. Đây cũng là một trong những yếu tố dẫn đến tình trạng phổ biến ở những học sinh đã học xong chương trình lớp một nhưng chậm biết đọc tiếng Việt.

Phương Pháp Dạy Con Khi Vào Lớp 1

Việc giáo dục con trong các gia đình hiện nay đang có nhiều xu hướng khác nhau, người thì cho rằng muốn con ngoan thì phải đe cho con biết sợ ! Phải thật nghiêm ! Có quan điểm ngược lại giáo dục không phải dùng đến biện pháp “đánh” ! V ậy đâu là phương pháp tốt để dạy con khi vào lớp một ?

Con gái mới thay đổi môi trường học tập từ trường mầm non sang học lớp 1, một môi trường mới mẻ, có kỷ luật khắt khe hơn so với mầm non. Một kho kiến thức mới và đầy ắp. Với những bài học mới thường có cách học khác so với trước đòi hỏi con gái phải cần tư duy nhiều hơn để làm bài.

Mỗi khi con gái làm bài sai hoặc viết chữ xấu, mẹ lại quát và doạ đánh con nếu như còn viết hoặc làm sai ! Bố thì cho rằng làm điều đó là sai lầm ! Làm bố mẹ, khi dậy con phải đặt địa vị của mình vào chỗ của con, hiểu được tâm lý của con, con đang trong quá trình chuyển giai đoạn từ chỗ vui chơi tự do sang học tập nghiêm túc, đòi hỏi phải có thời gian nhất định để làm quen. Khi dậy con học ở nhà nên hoà cùng với con, hướng dẫn con học bằng nhiều cách như dùng hình ảnh để minh hoạ cho bài học, có phải chăng là do chị H quá mệt mỏi với công việc của mình ở cơ quan ! Hay là chưa thật sự hiểu tâm lý của con trẻ. Chị Hương Ths khoa tiểu học trường Đại học sư phạm cho rằng :

– Chương trình học của các bé là chương trình phổ cập nên không khó, các bé đều có thể tiếp thu dễ dàng. Điều căn bản khó ở chỗ là làm sao để cho các bé có hứng thú lâu dài với việc học tập, hiểu rõ được trách nhiệm của mình, sẵn sàng tiếp nhận kiến thức và chịu trách nhiệm với việc học tập của mình.

– Xác định trách nhiệm cho con ngay từ buổi đầu bằng cách kể chuyện cho con nghe về tuổi thơ, về trường tiểu học của mình. Con trẻ rất thích nghe bố mẹ kể chuyện ngày xưa, nhất là kể về những vấn đề của bố mẹ gặp phải và cách giải quyết vấn đề của bố mẹ. Con sẽ nhanh chóng hiểu ra vai trò và trách nhiệm của mình.

– Luôn bày tỏ sự quan tâm cũng như cảm thông với con bằng việc lắng nghe nghiêm túc những giãi bày của con về chuyện trường lớp. Đưa ra lời khuyên dưới dạng tôn trọng, không áp đặt, kiểu:

– Luôn hỏi con về những khó khăn con gặp phải. Khi con gặp 1 bài toán khó, đừng vội vàng giảng ngay cho con mà sẽ nói. Nào, hai chúng mình cùng nghĩ xem nào. Theo mẹ thì có 1 cách là…. còn theo con thì sao. Hoặc là cách này…., con thấy thế nào.

– Nếu con ngại chia sẻ thì cần phải điều chỉnh ngay bằng cách đặt ra 1 loạt các bài tập gần giống các bài con sẽ phải học ở lớp cả về môn toán, lẫn các môn học khác, rồi đố con. Nếu con ko làm được thì ko nên cuống lên, cần bình tĩnh giúp con giải giống như cách ở trên. Sau đó con sẽ hiểu bài học hơn.

– Không được công khai kiểm tra bài vở con khi con chưa đồng ý. Nếu lo sợ thì có thể kiểm tra khi con đã ngủ say.

– Không làm ầm lên khi phát hiện con có điểm xấu, hoặc đánh mắng con. Cần giúp con tìm hiểu tại sao con lại ko được điểm tốt.

– Tuyệt đối tránh đánh mắng, có thể thay bằng các hình thức phạt khác như ngày nghỉ tới không được đi chơi công viên ….

Để con trẻ học tập tốt hơn và không bị ảnh hưởng đến tâm lý, bố mẹ cần hợp tác với con trong việc dậy con học ở nhà, tìm hiểu tâm lý, khả năng của con tạo ra một môi trường học tập vui vẻ, đạt hiệu quả, lựa chọn những biện pháp phù hợp với lứa tuổi của trẻ đẻ giúp đỡ con trẻ học tập tốt hơn.

http://Thuviengiadinh.com