Phương Pháp Biện Chứng Và Phép Biện Chứng / 2023 / Top 12 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | Channuoithuy.edu.vn

Phép Biện Chứng Và Tư Duy Biện Chứng / 2023

I. ĐẶT VẤN ĐỀ Biện chứng và siêu hình là hai phạm trù trong triết học, nó là hai phương pháp tư duy trái ngược nhau. Phương pháp siêu hình là phương pháp xem xét sẹ vật hiện tượng trong trạng thái tĩnh tại không trong mối quan hệ phố biến trong quá trình vận động và phát triển. Do vậy phương pháp này sẽ dẫn đến sai lầm phủ nhận sự phát triển không nhận thấy mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng. Trái lại với phương pháp tư duy siêu hình, phương pháp biện chứng là phương pháp nhận thức thế giới lý giải thế giới, giải quyết vấn đề thực hiện theo nguyên tắc biện chứng xem xét sự vật hiện tượng trong quá trình không ngừng vận động phát triển đồng thời thấy được mối quan hệ cá thể và đoàn thể. Trong lịch sử triết học có những thời điểm, tư duy siêu hình chiếm ưu thế so với tư duy biện chứng. Nhưng xét trong toàn bộ lịch sử triết học thì phép biện chứng luôn giữ vai trò đặc biệt trong đồi số tinh thần triết học. Phép biện chứng là một khoa học của triết học. Vì vậy nó cũng phát triển trì thấp tối cao và có những thăng trầm đỉnh cao của phép biện chứng duy vật là phép biện chứng Mác-xít của triết học Mác – Lê nin. Chủ nghĩa Mác luôn đánh giá cao phép biện chứng nhất là phép biện chứng duy vật, và coi đó là một công cụ tư duy đắc lực, sắc bén để đấu tranh với thuyết không thể biến tư duy siêu hình giúp cho trong nhận thức và cải tạo thế giới. Để thấy rõ bản chất của phép biện chứng và sự phát triển của tư duy biện chứng của nhân loại thì chúng ta phải nghiên cứu lịch sử phát triển của phép biện chứng. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Các phép biện chứng trước triết học Mác – Lênin a) Phép biện chứng thời cổ đại Phép biện chứng thời cổ đại là phép biện chứng tự phát, ngây thơ và mang tính trực quan được hình thành trên cơ sở những quan sát tự nhiên, xã hội hoặc là kinh nghiệm của bản thân. Trung tâm lớn của triết học thời bấy giờ là triết học trung hoa cổ đại. Do đặc điểm văn hoá cũng như hoàn cảnh lịch sử khác nhau nên sự thể hiện tư tưởng biện chứng. Trong học thuyết triết học cũng có những đặc điểm. Không giống nhau, nhưng nói chung cả 3 nên triết học lớn đều có những đặc điểm nêu trên. Đầu tiên phải nói đến là nền triết học Ấn Độ cổ đại. Đây là hệ thống triết học có sự đan xen hoà đồng giữa triết học và tôn giáo và giữa các trường phái khác nhau. Các tư tưởng triết học được thể hiện dưới hình thức là một tôn giáo. Theo cách phân chia truyền thống triết học Ấn Độ cổ đại có 9 trường phái, trong đó có 6 trường phái là chính thống và 3 trường phái phi chính thống. Trong tất cả các trường phái đó thì trường phái đạo phật là có học thuyết mang tính duy vật biện chứng sâu sắc tiêu biểu của nền triết học Ấn Độ cổ đại. Phật giáo hình thành từ thế kỷ VI trước công nguyên do Tất Đạt Đa tên hiệu là thích ca Mẫu Ni sáng tạo. Phật giáo cho rằng vạn vật trong thế giới không do một đấng thần linh nào sáng tạo ra mà được tạo ra từ hai nguyên tố là sắc và danh. Trong đó “danh” bao gồm tân và thức, còn “sắc” bao gồm 4 đại là đại địa, đại thuỷ, đại hoả, đại phong. Chính nhừo từ trườngnày mà phật giáo được coi là tôn giáo duy vật duy nhất chống lại các tôn giáo thần học đương thời. Đồng thời phật giáo đưa ra tư tưởng “vô ngã”, “vô biến” nghĩa là không có cái gì là trường tồn bất biến, là vĩnh hằng, không có cái gì tồn tại biệt lập, mà nó tồn tại trong một mối liên hệ. Đây là tư tưởng biện chứng sâu sắc chống lại đạo Bà La môn về sự tồn tại của cái tôi bất biến “vô thường” tức là biến, biến ở đây là sự biến đổi của vạn vật theo chu kỳ. Sinh – tri – di – diệt đối với sinh vật và thành – trụ – hoại không đối với con người. Phật giáo cho rằng sự tương tác giữa 2 mặt đối lập nhân giả hay nhân duyên chính là động lực làm cho thế giới vận động chứ không phải là một thế lực siêu nhân nào đó nằm ngoài con người, thế giới là vòng nhân quả vô cùng vô tận. Nói khác một sự vật hiện tượng tồn tại được là nhờ hội tụ đủ 2 giới …. nhân duyên. Tuy đạo phật đã có những bước phát triển lớn vì biện chứng nhưng nó vẫn còn mang tính vô thần không triệt để, bi quan … Triết học trung hoa cổ đại là một nền triết học lớn của nhân loại có tới 103 trường phái triết học lớn nhỏ. Do những đặc điểm của hoàn cảnh lịch sử của cơ cực đạo đức suy đồi nên triết học trung hoa chỉ tập trung vào việc giải quyết các vấn đề về chính trị – xã hội, những tư tưởng biện chứng thời này rất ít và chỉ xuất hiện khi các nhà triết học giải những vấn đề về vũ trụ quan. Học thuyết triết học mang tư tưởng biện chứng sâu sắc của triết học trung hoa là học thuyết âm – dương. Đây là một học thuyết triết học được phát triển trên cơ sở một bộ sách có tên là kinh dịch. Nguyên lý triết học cơ bản nhất là nhìn nhận mọi tồn tại không trong tính đồng nhất tuyệt đối, mà cũng không phải trong sự loại trừ biệt lập không thể tương đồng.Trái lại tất cả đều bao hàm sự thống nhất của các mặt đối lập đó là âm và dương. Âm dương không loại trừ, không biệt lập, mà bao hàm lẫn nhau, liên hệ tương tác lẫn nhau. Điều này thể hiện rất rõ trong kinh dịch “cũngnhư tương tương thôi nhu sinh biến hái”. Sinh sinh chi vi dịch”Học thuyết này có hai quan điểm thể hiện sâu sắc tư tưởng biện chứng. Một là sự tương tác lẫn nhau giữa âm và dương, giữa các mặt đối lập làm cho vũ trụ biến đổi không ngừng; hai là học thuyết này cũng cho rằng chu trình vận động, biến dịch của vạn vật trong vũ trụ diễn ra theo nguyên lý phân đôi cái thống nhất như thái cực (thể thống nhất) phân đôi thành lưỡng nghi (âm dương). Sau đó âm dương lại tiến hành phân thành tự tượng là thái âm – thiếu, âm, thái dương – thiếu dương, từ tượng lại sinh ra bát quái, và trì đã bát quái sinh ra vạn vật. Tuy vậy, học thuyết âm dương vẫn còn những hạn chế Một là, học thuyết âm – dương phủ nhận sự phát triển biện chứng theo hướng đi lên vì học thuyết âm dương cho rằng sự vận động của vạn vật diễn ra theo chu kỳ lặp đi lặp lại và được đảm bảo bởi nguyên tắc cân bằng âm – dương cho rằng sự vận động của các hiện tượng chỉ dừng lại khi đạt được trạng thái cân bằng âm dương. Hai là trong học thuyết âm – dương còn nhiều yếu tố duy tân thần bí như quan điểm “thiên tôn địa lý” cho rằng trật tự sang hèn trong xã hội bắt nguồn từ trật tự của trời đất, học đem trật tự của xã hội gán cho giới tự nheien, rõ lại dựng hình thức bịa đặt để chứng minh cho sự hợp lý vĩnh viễn của chế độ đẳng cấp xã hội. Điều này phản khoa học. Tóm lại, học thuyết âm dương đã phản ánh rõ khuynh hướng duy vật và biện chứng à ra chỉ là tự phát. Nhưng thiếu số hạn chỉ của nó chỉ là do ở thời kỳ này khoa học vì tự nhiên chưa có và triết học chỉ là kết quả của quá trình khái quát hoá những kinh nghiệm thực tiễn lâu dài của nhân dân trung hoa. Trong thời cổ đại thì nền triết học Hy lạp là nền triết học có những phát hiện mới đối với phép biện chứng. Chính thời kỳnày của triết học Hy lạp thuật ngữ “biện chứng” ra đời. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ Hi lạp cổ đại là những thành tựu to lớn trong khoa học tự nhiên, văn hoá, nghệ thuật. Đặc biệt là khoa học tự nhiên như thiên văn học, vật lý cổ điển, toán học đã làm cơ sở cho sự phát triển và là nền tảng cho sự phát triển của triết học phương tây sau này. Nhà triết học điển hình cho nền triết học Hi lạp có tư tưởng biện chứng là: Heraclit (540-980 TCN). Theo sự đánh giá của Mác, Lênin thì Heraclit là người đã sáng tạo ra phép biện chứng. Ông cũng là người đầu tiên xây dựng phép biện chứng trên lập trường duy vật. Phép biện chứng của ông chưa được trình bày dưới dạng một hệ thống các luận điểm khoa học mà hai như các luận điểm quan trọng của ông về phép biện chứng được đề cập dưới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca và triết lý. Tư tưởng biện chứng của Heraclic thể thiếu trong 3 vấn đề sau: Một là quan niệm về sự vận động vĩnh cửu của vật chất. Theo ông thì khiông có sự vật, hiện tượng nào của thế giới đứng yên tuyệt đối, mà trái lại tất cả đều trong trạng thái biến đổi về chuyển hoá không ngừng. Tư tưởng này được thể hiện rõ trong hai câu danh ngôn. Chúng ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông vì nước mới không ngừng chảy”. và “ngay cả mặt trời cũng mỗi ngày một mốt” (Heraclit – giáo trình triết học Mác-Lênin – NXB CTQG) Heraclit lại đưa ra quan điểm là lửa chính là bản nguyên của thế giới, là cơ sở duy nhất và phổ biến nhất của tất cả mọi sự vật hiện tượng. Đồng thời cũng chính là gốc của vận động, tất cả các dạng khác nhau của vật chất chỉ là trạng thái chuyển hoá của lửa mà thôi. Đây là một hạn chế của Heraclit và bản chất của vật chất và vận động nhưng cũng chính nhờ quan điểm ấy mà Heraclit đã nhấn mạnh được tính vĩnh viễn và bất diệt của thế giới. Hai là, Heraclit nêu lên tư tưởng về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong mọi sự vật, hiện tượng. Điều đó thể hiện trong phỏng đoán về vai trò của những mặt đối lập trong biến đổi phổ biến của tự nhiên và “sự trao đổi của những mặt đối lập” về “sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập. Điều này thể hiện rõ qua câu nói của ông: “cùng một cái ở trong chúng ta sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già vì rằng cái này biến đổi thành cái kia và ngược lại, cái kia và ngược lại, cái kia biến đổi thành cái này….” Heraclit cũng đã có những phỏng đoán đúng về sự đấu tranh và thống nhất của những mặt đối lập. Đánh giá về quan điểm thứ hai của Heraclit Lênin đã từng viết “phân đôi cái thống nhất của phép biện chứng. Điều này chúng ta đã thấy xuất hiện ngay từ nhà biện chứng Heraclit. Ba là theo Heraclit thì sự vận động phát biến không ngừng của thế giới do quy luật khách quan quy định, quy luật khách quan là trật tự khách quan là mọi cái đang diễn ra trong vũ trị, quy luật chủ quan là từ ngữ học thuyết của con người quy luật chủ quan phải phù hợp với quy luật khách quan. Người nào càng tiếp cận được quy luật khách quan bao nhiêu thì càng thông thái bấy nhiêu. Lý luận nhận thức của Heraclit mang tính biện chứng và duy vật sơ khai như cơ bản là đúng đắn. Trong suốt thời kỳ cổ đại ta thấy rằng không có hệ thống triết học nào có tư tưởng biến chứng sau như của Heraclit. Do vậy mà tư tưởng triết học của ông được nhà biện chứng cơ Điêu Đức và các nhà sáng lập nên chủ nghĩa Mác-Lênin đánh giá cao, như Các Mác và Ph Ăng ghen đã nói “Quan niệm về thế giới mới của nguyên thuỷ, ngây thơ nhưng căn bản đó cũng là quan điệm của các nhà Hy Lạp thời cổ và người trên diễn đạt được rằng quan niệm ấy là Heraclit. Các nhà triết học sau Heraclit tiếp tục kế thừa tư tưởng biện chứng của ông và phát triển nó nhưng thực sự chưa giải quyết được vấn đề bản chất của sự vận động và của vận động và của vật chất. Tóm lại, phép biện chứng thời cổ đại về căn bản là đúng nhưng chủ yếu mới dựa trên những phỏng đoán những trực kiến thiên tài. Phép biện chứng tự pháp thời cổ đại đã nhìn thấy bức tranh chung của thế giới trong sự tác động của nó. Vì vậy không thể tránh khỏi bị phủ định bởi các nền triết học về sau. b) Biện chứng thời trung đại Biện chứng thời trung đại hầu như không cố, đây là 1 lưu trần các sự phát triển phép biện chứng. Ở phương đông vẫn chỉ duy trì phép biện chứng có được thời cổ đại thậm chí tại Ấn Độ phận giá còn bị sụp đổ. Còn ở phương tây là sự bao trùm của lệnh viện phán khoa học. c) Phép biện chứng tây Âu thế kỷ XV – XVIII Suốt trong 4 thế kỷ (từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII) sự trưởng thành của tư tưởng biện chứng Tây Âu mang ý nghĩa độc đáo. Phép biện chứng trong thời kỳ kỳ phát triển dưới sự thống trị của tư duy siêu hình máy móc. Nói chung các nhà triết học thời kỳ này mang đậm tư duy siêu hình nhưng cũng có những tư tưởng biện chứng như tư tưởng về “sự phù hợp của các mặt đối lập” của Gioocdanơ Brunô (1548 -1600). Theo G.Brunô mọi cái đều liên hệ với nhau và đều vận động, kể từ các hạt vật chất nhỏ nhất – nguyên tử đến vô số thế giới của vũ trụ vô tận, cái này tiêu diệt cái kia ra đời. Ông cũng khẳng định rằng nếu không theo nguyên tắc “các mặt đối lập phù hợp với nhau” thì mọi nhà khoa học từ tự nhiên đến xã hội đều không làm việc được. Ngoài ra Brunô còn có những tư tưởng biện chứng của Ph.Bêcơn khẳng định vật chất không tách rời vận động, nhận thức bản chất của sự vật là nhận thức sự vận động của chúng. Ông là người đầu tiên nhận thấy tính bảo toàn vật chất của thế giới. d) Phép biện chứng cổ điển Đức Đánh giá về nền triết học cổ điển Đức Lênin đã viết: Dù có sự thần bí hoá duy tâm, nhưng phép biện chứng cổ điển Đức đã đặt ra sự thống nhất giữa phép biện chứng và logic học và lý luận nhận thức. Trong các nền triết học trước C. Mác thì triết học cổ điển Đức có trình độ khái quát hoá và trừu tượng hoá cao với kết cấu hệ thống chặt chẽ, logic. Đây là tiến bộ của nền triết học Đức so với các nền triết học khác. Nền triết học cổ điển Đức bắt đầu từ Kantơ, đạt đỉnh cao ở Hêghen sau đó suy tàn ở triết học Phoiơbắc. Hêghen (1770 -1831) là nhà triết học cổ điển Đức là nhà biện chứng lỗi lạc. Phép biện chứng của ông là một tiền đề lý luận quan trọng của triết học Mácxit. Triết học của ông có ảnh hưởng rất mạnh đến tư tưởng của nước Đức và cả Châu Âu đương thời, triết học của ông được gọi là “tinh thần Phổ”. Phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm tức là phép biện chứng về sự vận động và phát triển của các khái niệm được ông đồng nhất với biện chứng sự vật. Ông viết: “phép biện chứng nói chúng là nguyên tắc của mọi vận động, mọi sự sống và mọi hoạt động trong phạm vi hiện thực. Cái biện chứng là linh hồn của mọi nhận thức khoa học chân chính “(1(. Luận điểm xuyên suốt trong hệ thống triết học của Hêghen là: “Tất cả cái gì là hiện thực đều là hợp lý và tất cả những gì hợp lý đều là tồn tại”(2(. (Các Mác – Ănghen tuyển tập). Không những Hêghen là người đã có công trong việc phê phán tư duy siêu hình và là người đầu tiên trình bày toàn bộ giới tự nhiên, xã hội và tư duy một cách biện chứng, có nghĩa là trong sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng. Trong logic học, Hêghen không chỉ trình bày các phạm trù triết học như lượng – chất, vật chất – vận động mà còn đề cập đến các quy luật khác như lượng đổi dẫn đến chất đổi, quy luật phủ định biện chứng. Nhưng tất cả chỉ là những quy luật vận động, phạm trù của tư duy hoặc chỉ là những khái niệm. Khi nghiên cứu xã hội, Hêghen đã rút ra những khẳng định đúng đắn như: một là sự phát triển cuả xã hội là sự đi lên, hai là quá trình phát triển của lịch sử có tính kế thừa, lịch sử là tính thống nhất giữa tính khách quan và chủ quan trong hoạt động của con người. Có thể khẳng định rằng Hêghen đã có công xây dựng một hệ thống các phạm trù và quy luật của phép biện chứng như là những công cụ của tư duy biện chứng. Mặc dù trong hệ thống triết học của Hêghen chứa đựng những tư tưởng biện chứng sâu sắc thì cách trình bày của ông lại mang tính duy tâm bảo thủ, thể hiện ở: Sự vận động của xã hội là do sự vận động của tư duy (ý niệm tuyệt đối) sinh ra. Do đó mà C.Mác gọi phép biện chứng của Hêghen là: “Phép biện chứng đi lộn đầu xuống đất”. Do vậy, đặt nó đứng bằng hai chân trên mảnh đất hiện thực, nghĩa là trên quan điểm duy vật. 2. Phép biện chứng Mác – xit a) Điều kiện ra đời của phép biện chứng duy vật Sự ra đời của phép biện chứng duy vật gắn liền với sự ra đời của chủ nghãi Mác. Nó ra đời trong điều kiện phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đang phát triển, dựa trên các tiền đề sau: Tiền đề thực tiễn rất quan trọng cho sự ra đời của phép biện chứng duy vật là sự phát triển của khoa học tự nhiên, cuộc đấu tranh giai cấp giữa vô sản và tư sản. Tiền đề của phép biện chứng Mác xít là phép biện chứng duy tâm của Hêghen. Mác, Ănghen đã tách ra cái hạt nhân hợp lý vốn có của phép biện chứng Hêghen là phép biện chứng và vứt bỏ cái vỏ ngoài là cách giải thích hiện tượng tự nhiên xã hội và tư duy một cách thần thánh hoá khoác lên cho nó vỏ ngoài duy vật giải thích các hiện tượng tự nhiên theo thực tiễn và những quy luật khách quan hay nói cách khác là Mác – Ănghen đã cải tạo một cách duy vật phép biện chứng duy tâm của Hêghen. Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng, trong khi đó các học thuyết triết học trước đây duy vật nhưng siêu hình (Triết học cận đại) hoặc biện chứng nhưng duy tâm (cổ điển Đức). Phép biện chứng duy vật không chỉ duy vật trong tự nhiên mà đi đến cùng trong lĩnh vực xã hội, do đó các ông đã xây dựng sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử. b) Nội dung chính của phép biện chứng duy vật Theo C.Mác: Biện chứng khách quan là cái có trước, còn biện chứng chủ quan (tư duy biện chứng) là cái có sau và là phản ánh của biện chứng khách quan, đây là sự khác nhau giữa phép biện chứng duy vật của ông với phép biện chứng duy tâm của Hêghen. C.Mác cho rằng ông chỉ làm cái công việc là đặt phép biện chứng duy tâm của Hêghen “đứng trên hai chân của mình” tức là đứng trên nền tảng duy vật. Theo C.Mác thì phép biện chứng chính là “khoa học về mối liên hệ phổ biến trong tự nhiên xã hội và tự nhiên, trong tư duy”. Theo Lênin thì phép biện chứng là “học thuyết về sự phát triển đầy đủ, sâu sắc và toàn diện nhất, học thuyết về tính tương đối của sự vật”. Phép biện chứng duy vật đã đưa ra ba mối liên hệ chủ yếu trong phép biện chứng duy vật là: Thứ nhất là: Mối liên hệ cùng tồn tại và phát triển; Thứ hai là: Mối liên hệ thâm nhập lẫn nhau tuy có sự khác nhau nhưng vẫn có sự giống nhau; Thứ ba là: Mối liên hệ về sự chuyển hoá vận động và phát triển. Các mối liên hệ được cụ thể hoá bằng hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển. Nó còn được cụ thể hoá thành 3 quy luật căn bản là: Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi và lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại, quy luật thứ hai là quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập và quy luật thứ ba là quy luật phủ định của phủ định. Các nguyên lý và quy luật trên của thế giới khách quan không chỉ được khái niệm khái quát hoá mà nó còn được các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác tìm ra tiền đề lý luận, các tính chất và rút ra các phương pháp luật. Ngoài các nguyên lý về quy luật trên được rút ra từ 3 mối liên hệ thì từ 3 mối liên hệ này các nhà triết học còn đưa ra 6 cặp phạm trù đó là: cặp phạm trù nguyên nhân – kết quả; cái riêng – cái chung; cặp phạm trù tất nhiên và ngẫu nhiên; nội dung – hình thức; bản chất – hiện tượng và cặp phạm trù khả năng và hiện thực. Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, Mác đã công khai tính giai cấp của để bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động. Trong khi đó các nền triết học trước Mác che dấu lợi ích của nó, bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, của một nhóm người thiểu số trong xã hội. Hơn thế nữa triết học C.Mác là một hệ thống sáng tạo, là một hệ thống mở, không ngừng được bổ sung, được làm phong phú thêm bởi chính thực tiễn và phát triển. Cùng với chính sự phát triển thực tiễn, học thuyết của C.Mác là kim chỉ nam cho người lao động. Tóm lại, phép biện chứng duy vật Mác – xít là kết quả của sự chín muồi về mặt lịch sử của nhận thức khoa học và của thực tiễn xã hội. Sự ra đời của nó đáp ứng nhu cầu về mặt lý luận của giai cấp công nhân. Giai đoạn mới trong sự phát triển của phép biện chứng gắn với tên tuổi của V.I.Lênin đã vận dụng thành công phép biện chứng Mác-xít trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917. Sự phát triển của V.I.Lênin về phép biện chứng duy vật thể hiện trong lý luận cách mạng xã hội chủ nghĩa như là một công cụ sắc bén để cải tạo thế giới một cách cách mạng nhất. III. KẾT LUẬN Bằng việc trình bày lịch sử phát triển của phép biện chứng trong triết học, có thể khẳng định: Xuyên suốt chiều dài lịch sử nhiều thế kỷ hình thành và phát triển từ phép biện chứng tự phát, thô sơ cổ đại cho đến phép biện chứng duy tâm Hêghen của triết học cổ điển Đức và đạt đến đỉnh cao là phép biện chứng duy vật mác – xít thì phép biện chứng luôn là công cụ sắc bén, là chìa khoá giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới để phục vụ nhu cầu chính bản thân con người. Hiện nay, đất nước ta đang tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá – hiện đại hoá, thì việc nghiên cứu phép biện chứng một cách có hệ thống, nhất là việc nắm vững các nguyên tắc và vận dụng n

Phép Biện Chứng Trong Triết Học Phương Đông / 2023

PHÉP BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNGwww.themegallery.comPHẦN ITÌM HIỂU VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG PHẦN IIPHÉP BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC TQ – ẤN ĐỘPHẦN IIITÍCH CỰC – HẠN CHẾ VÀ LIÊN HỆ THỰC TẾ VNPHẦN 1: PHÉP BIỆN CHỨNG1. PHÉP BIỆN CHỨNG LÀ GÌ ?Phương pháp biện chứng là phương pháp tư duy triết học xem xét thế giới trong mối liên hệ phổ biến, trong sự vận động và phát triển vô cùng – Trong lịch sử triết học phương pháp biện chứng đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển cao thấp khác nhau trong đó phép biện chứng duy vật là thành quả cao nhất và khoa học nhất của tư duy biện chứng.Giai đoạn cổ đại ở phương đông thì có triết học cổ đại Trung quốc, Ấn độ và ở phương tây thì có Hy Lạpwww.themegallery.com Thời kỳ phục hưng thì có một số tư tưởng biện chứng nổi bật như: – Triết học Kudan – Triết học của BrunôThời kỳ cận đại có các tư tưởng biện chứng nổi bật như: – Triết học của Phrăngxi Bêcơn – Triết học của Barút Xpinôda – Triết học của Rơnê ĐêcáctơTriết học tồn tại 2 trường phái đối lập duy tâm và duy vật thì phương pháp biện chứng cũng có phương pháp biện chứng duy tâm và biện chứng duy vật.www.themegallery.comPhép biện chứng duy tâm cổ điển Đức: – Phép biện chứng của Imanuen Cantơ – Phép biện chứng của HêghenPhép biện chứng duy vật Macxit – Phép biện chứng duy vật Mác – Ăngghen – Lê nin phát triển phép biện chứng Mác – Ăngghen www.themegallery.com2. PHÂN BIỆT BIỆN CHỨNG VỚI SIÊU HÌNHBIỆN CHỨNGSIÊU HÌNHLà xem xét sự vật trong mối liên hệ phổ biến, trong sự vận động biến đổi không ngừng.Là phương pháp xem xét sự vật một cách cô lập tách rời – Vừa thấy sự tồn tại phát triển và tiêu vong- Chỉ thấy tồn tại mà không thấy phát triển và tiêu vong- Xem xét sự vật ở cả trạng thái tĩnh và động- Chỉ thấy trạng thái tĩnh mà không thấy động Vừa thấy cây vừa thấy rừng, vừa thấy bộ phận vừa thấy toàn thể- Chỉ thấy cây mà không thấy rừng, chỉ thấy bộ phận mà không thấy toàn thể- Vừa thấy sự riêng biệt vừa thấy mối liên hệ qua lại- Chỉ thấy sự riêng biệt không thấy mối quan hệ qua lạiwww.themegallery.comPHẦN2. PHÉP BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC TQ – ẤN ĐỘ1. Tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc. Các trường phái triết học chủ yếu tập trung vào các vấn đề chính trị – xã hội, các vấn đề về con người, nhân, lễ, nghĩa, đạo, tư tưởng biện chứng trong thời này khá ít và chỉ xuất hiện khi con người lý giải về vũ trụ quan.1.1. Thuyết Âm dương, ngũ hànhwww.themegallery.com1.1.1. Thuyết Âm dương.- Tư tưởng biện chứng sâu sắc nhất của triết học Trung Hoa cổ đại phải kể đến thuyết Âm – Dương gia. Đây là 1 học thuyết được phát triển trên cơ sở của Kinh Dịch. chúng tôi Nguyên lý triết học cơ bản nhất là nhìn nhận mọi tồn tại không trong tính đồng nhất tuyệt đối mà tất cả đều bao hàm sự thống nhất của các mặt đối lập đó là âm và dương. Âm dương không loại trừ, không tách biệt mà bao hàm lẫn nhau và có quan hệ tương tác lẫn nhau.www.themegallery.comNội Dung: – Âm dương là 2 mặt đối lập nhau nhưng lại thống nhất với nhau, cùng tồn tại phổ biến trong các sự vật, hiện tượng của giới tự nhiên tạo lên vũ trụ và vạn vật.+ Ví dụ: sáng – tối, nóng – lạnh, nhẹ – nặng, cứng – mềm, mạnh – yếu, sáng – tối, ngày – đêm, sống – chết, Nam – Nữ, Dương lịch – Âm lịch . chúng tôi Quy luật tiêu trưởng và thăng bằng của âm dương nhằm nói lên sự vận động không ngừng, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai mặt âm dương để duy trì tình trạng thăng bằng tương đối của sự vật. Nếu mặt này phát triển thái quá sẽ làm cho mặt khác suy kém và ngược lại. www.themegallery.com1.1.2. Thuyết ngũ hànhwww.themegallery.com* Ngũ hành là cơ sở của thế giới, tính chất của sự vật đều thể hiện tính năng của năm loại vật chất: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.Trong thuyết Ngũ hành có 2 quy luật mang tính biện chứng sâu sắc là Ngũ hành tương sinh và tương khắc.www.themegallery.comTương sinhTương khắcMộc sinh hoảMộc khắc thổHoả sinh thổThổ khắc thuỷThổ sinh KimThuỷ khắc hoảKim sinh ThuỷHoả khắc kimThuỷ Sinh MộcKim khắc Mộc1.2. Đạo gia – Lão TửNgười sáng lập ra Đạo gia là Lão Tử (khoảng thế kỷ VI tr. CN). Những tư tưởng triết học của Đạo gia được nghiên cứu chủ yếu qua Đạo đức kinh và Nam hoa kinh.Nội dung của ĐẠO GIA chủ yếu được biến dịch theo nguyên tắc “bình quân” và “phản phục” (cân bằng và quay trở lại cái ban đầu).www.themegallery.comLuật bình quân là luôn giữ cho sự vật được thăng bằng theo một trật tự điều hòa tự nhiên, không có cái gì thái quá, bất cập. Cái gì khuyết ắt được tròn đầy, cái gì cong sẽ được thẳng, cái gì cũ thì lại mới, cái gì ít sẽ được, nhiều sẽ mấtCó lẽ để diễn đạt luật bình quân trong Đạo, không có ví dụ nào, không có hình ảnh nào hơn Nước. Trong bất cứ trường hợp nào dù nghiêng ngả, chao đảo đến đâu đi chăng nữa thì nước vẫn mau chóng tìm được thế quân bình của mình, tạo ra mặt phẳng, san lấp mọi lồi lõm. www.themegallery.comA,Quy luật bình quânB,Quy luật phản phụcQuy luật phản phục là sự phát triển đến cực điểm thì chuyển quay trở lại phương hướng cũ: Phản phục trong vũ trụ: – Quy luật phản phục thể hiện rất rõ trong nhịp sinh học ngày đêm, hay bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Sao hôm rồi đến sao mai, mặt trời lặn rồi mặt trời mọc, trăng non rồi đến trăng già, và ngược lại, cứ thế liên miên bất tận. – Cây sinh nụ, nụ sinh hoa, hoa sinh quả, quả lại sinh cây. Nước bốc thành hơi, hơi đọng thành mây, mây lại biến thành mưa. www.themegallery.comPhản phục trên con người: – Người nam và người nữ là hai thực thể (bất dịch). Nam nữ giao hợp (giao dịch) sinh con. Con là kết quả của biến dịch. Và con cũng là người, tức quay về khởi điểm. Chính nhờ thế mà người tồn tại. – Sau cùng kiếp nhân sinh là một điển hình qua quy luật phản phục. Dù có giao dịch, biến dịch đến mức nào đi nữa, dù có chọc trời khuấy nước đến đâu thì cũng trở về với cái bất dịch là Âm-Dương, là nguyên tố. Rồi một lúc nào đó, Âm-Dương lại phối hợp, các nguyên tố lại kết hợp để hình thành một kiếp nhân sinh khác, theo chu trình mà nhà Phật gọi là luân hồiwww.themegallery.com2. Tư tưởng biện chứng trong triết học Ấn Độ2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội2.2 Tư tưởng biện chứng trong một số trường phái triết học Ấn Độ2.3 Giá trị và hạn chếwww.themegallery.com2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội Điều kiện về tự nhiên:Thuộc Nam Châu ÁĐiều kiện khí hậu khắc nghiệtĐịa hình tách biệt + sự án ngữ của vòng cung dãy Hy – Mã – Lạp – Sơn  Nền văn minh khép kínwww.themegallery.com Điều kiện kinh tế – xã hội Kết cấu kinh tế – xã hội theo mô hình “Công xã nông thôn” với sự phân biệt hết sức khắc nghiệt và dai dẳng của 4 đẳng cấp:Tăng lữ : đẳng cấp cao quí nhất trong xã hội – bao gồm những người hành nghề tế lễ; Quí tộc : đẳng cấp thứ hai trong xã hội – bao gồm vua chúa, tướng lĩnh;Bình dân tự do : đẳng cấp thứ 3 trong xã hội – bao gồm những người có chút ít tài sản, ruộng đất;Tiện nô hay nô lệ : đẳng cấp thấp nhất và đông đảo nhất – bao gồm những người tận cùng không có quyền lợi gì trong xã hội. Điều kiện về tri thức:Toán họcThiên văn họcKhoa họcLịch pháp nông nghiệp Triết học – tôn giáo Ấn Độ cổ đạiwww.themegallery.comwww.themegallery.comwww.themegallery.comTrường phái triết học Ấn ĐộPHI CHÍNH THỐNGCHÍNH THỐNGTrường phái Samkhya Trường phái YôgaTrường phái NiajaTrường phái VêđantaTrường phái MimansaTrường phái VaisêsikaTrường phái Phật giáoTrường phái JainaTrường phái Lokayatawww.themegallery.comwww.themegallery.comTrường phái triết học Ấn ĐộPHI CHÍNH THỐNGCHÍNH THỐNGTrường phái Samkhya Trường phái YôgaTrường phái NiajaTrường phái VêđantaTrường phái MimansaTrường phái VaisêsikaTrường phái Phật giáoTrường phái JainaTrường phái Lokayata2.1 Trường phái triết học Ấn Độ2.1.1 Trường phái Samkhya Thừa nhận bản nguyên của thế giới là prakriti – vật chất đầu tiên ở dạng tinh tế, trầm ẩn, vô định hình và trong nó chứa đựng khả năng tự biến hoáVạn vật chỉ là thể thống nhất, tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa 3 yếu tố là sativa (nhẹ nhàng, thuần khiết), razas (tích cực, năng động) và tamas (nặng, ỳ). Prakriti không ngừng biến hoá, phát triển trong không gian theo luật nhân quả dẫn tới xuất hiện tính đa dạng của giới tự nhiên.www.themegallery.com2.2.2 Triết học LokayataVạn vật (kể cả con người) đều được tạo thành từ 4 yếu tố là đất, nước, lửa, gió (Tứ đại). Tính đa dạng của vạn vật là do sự kết hợp khác nhau của các yếu tố ấy mà thành. Còn linh hồn (ý thức) chỉ là một thuộc tính của cơ thể, do thể xác (vật chất) sinh raPhủ nhận thần thánh, thiên đường, địa ngục  quan niệm đạo đức khoái lạc Xa lạ với truyền thống tôn giáo  bị công kíchwww.themegallery.com2.2.3 Triết học Jaina Tư tưởng biện chứng của phái Jaina thể hiện ở học thuyết tương đối: Thực thể đầu tiên là bất biến, nhưng vạn vật – các dạng tồn tại cụ thể của nó thì biến chuyển không ngừng. Thế giới, vạn vật là sự thống nhất của cái bất biến và cái biến đổi.www.themegallery.comThế giới, vạn vật là sự thống nhất của cái bất biến và cái biến đổi. Tức là thế giới bao quanh con người vừa vận động lại vừa đứng im, đó là một mâu thuẫn mà con người cần phải chấp nhận.2.2.4 Phật giáo Vô ngãThế giới vạn vật ko có cái tôi cá nhân, không có gì là bản ngã (vô ngã)Mọi sự vật (kể cả con người) chỉ là giả tưởngLuân hồi sinh tử không dứt Vô thườngVòng luân hồi: sinh – trụ – dị – diệtThế giới biết đổi vô thủy vô chung, ko có bắt đầu + kết thúc Nhân – quả Chu trình sinh – trụ – dị – diệt; chúng luôn bị cuốn vào dòng biến hóa hư ảo vô cùng theo luật nhân quả. Nhân nhờ duyên mới sinh ra quả, quả nhờ duyên mà thành nhân mới, nhân mới lại nhờ duyên mà thành quả mới…; cứ như thế, vạn vật biến đổi, hợp – tan, tan – hợp mà không có nguyên nhân đầu tiên và kết quả cuối cùng nào cảwww.themegallery.comGiá trị và hạn chếGiá trị: Phác hoạ bức tranh thống nhất của thế giới trong mối liên hệ phổ biến, trong sự vận động và phát triểnwww.themegallery.com”tư duy biện chứng xuất hiện với tính chất thuần phác tự nhiên của nó”Hạn chế: Các nguyên lý, quy luật còn giản đơn, mộc mạc, chất phác, chưa được khái quát hoá thành một hệ thống chặt chẽ.Xu hướng chú giải và thực hành những vấn đề nhân sinh quan dưới góc độ tâm linh tôn giáo nhằm đạt tới sự “giải thoát”Sự thăng bằng của các yếu tố, sự mất thăng bằng của những xung lực nội tại – sự biến hoá sinh thành của vạn vật từ cái vô hình – siêu vật lý – đến cái hữu hình, đa dạng. Ta có thể thấy nguyên tắc về sự thăng bằng của sự biến động đã được đặc biệt quan tâm. Trong khi đó những nguyên lý và nguyên tắc về sự biến động phát triển về cơ bản chưa được đề cập đếnwww.themegallery.comGIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNGTRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG www.themegallery.com1. GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG Bộc lộ khuynh hướng biện chứng duy vật trong quan điểm về cơ cấu và sự vận động, biến hóa của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội. – Tiêu biểu cho nhận định này là 2 trường phái theo thuyết Âm – Dương và Phật giáo. Hai trường phái này thể hiện tính duy vật và biện chứng sâu sắc khi nhìn nhận sự vật luôn biến đổi. Giải thích sự tồn tại vũ trụ là khách quan và được hình hành bởi các yếu tố thống nhất. – Hình thành và tạo nên tính cánh của con người: rất coi trọng giá trị đạo đức, gia đình. Tạo nên một xã hội trật tự, có trên có dưới. Biện chứng sâu sắc trong mối quan hệ trong đó lấy con người là trung tâm từ đó đó tạo ra một nền văn hóa phong phú, đa dạng, phản ánh tâm hồn đời sống của người dân, tạo điểm tựa về mặt tinh thần cho họ2 – HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG – Giải thích sự vật, hiện tượng dựa trên mối quan hệ bên ngoài (hình thức), chưa đi sâu vào bản chất của sự vật hiện tượng. – Vì mang trong mình tư tưởng này nên người phương đông thường được đánh giá là thiếu động lực để phát triển kinh tế, xã hội, khoa học… www.themegallery.comTư tưởng biện chứng có tính trực quan, chất phác ngây thơ và vẫn tồn tại những quan điểm duy tâm thần bí về xã hội.Mang tính bình quân, dung hòa. Không thấy được sự vận động, phát triển qua những mâu thuẫn, đấu tranh và giải quyết mâu thuẫn trong tự nhiên và xã hội.Chưa xác định rõ vị trí, vai trò của con người trong thế giới quanXin cám ơn

Biện Chứng, Phép Biện Chứng Là Gì? Siêu Hình? 2 Nguyên Lý, 3 Quy Luật Và 6 Cặp Phàm Trù Trong Triết Học Duy Vật Biện Chứng Cần Nắm / 2023

Nhiều dạng khác nhau của biện chứng nổi lên ở phương Đông và phương Tây theo những thời kỳ lịch sử khác nhau (biện chứng chất phát – tự phát, duy tâm, duy vật).

CÁC GIAI ĐOẠN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG

Phép biện chứng là một khoa học triết học, vì vậy nó cũng phát triển từ thấp tới cao. Biện chứng là một lý thuyết cho rằng một cái gì đó – cụ thể hơn, tư duy con người – phát triển theo một cách thức được đặc trưng bởi cái gọi là ba đoạn biện chứng:

1. Chính đề: đầu tiên có một ý tưởng, hoặc một lý thuyết, hoặc một xu hướng vận động nào đó được gọi là một “chính đề”; một chính đề như thế thường sẽ tạo ra cái đối lập, do là, giống như hầu hết các sự vật tồn tại trên trời đất, có lẽ nó sẽ có giá trị hạn chế và sẽ có các điểm yếu;

2. Phản đề: ý tưởng hoặc xu hướng vận động đối lập được gọi là “phản đề”, bởi vì nó nhằm phản lại cái trước tiên, tức chính đề. Cuộc tranh đấu giữa chính đề và phản đề diễn ra cho tới khi đạt được một giải pháp nào đó mà, theo một nghĩa nhất định, vượt lên trên cả chính đề và phản đề do nó phát hiện ra được các giá trị riêng của chúng và do nó cố gằng bảo tồn các tinh hoa và tránh các hạn chế của cả hai;

3. Hợp đề: giải pháp đạt được ở bước thứ ba này được gọi là “hợp đề”. Đến khi đạt được, hợp đề đến lượt nó có thể lại trở thành bước thứ nhất trong một của ba đoạn biện chứng mới khác, và quá trình sẽ lại tiếp diễn như thế nếu hợp đề cụ thể vừa đạt được lại trở nên thiếu thuyết phục, hoặc trở nên không thỏa mãn. Trong trường hợp này, mặt đối lập sẽ lại nổi lên, và điều này có nghĩa là cái hợp đề vừa đạt được có thể được mô tả như là một chính đề mới, cái chính đề tạo ra được một phản đề mới. Do đó, ba đoạn biện chứng sẽ lại diễn ra ở một trình độ cao hơn, và nó có thể đạt tới cấp độ thứ ba khi một hợp đề thứ hai đạt được.

PHÂN BIỆT PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ PHÉP SIÊU HÌNH

Biện chứng: là phương pháp xem xét những sự vật hiện tượng và những phản ánh của chúng vào tư duy, chủ yếu là trong mối liên hệ qua lại của chúng, trong sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng.

Siêu hình: là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái đứng im, không vận động, tách rời cô lập và tách biệt nhau. Cách xem xét này cho ta nhìn thấy sự tồn tại của sự vật hiện tượng ở trạng thái đứng im tương đối, nhưng nếu tuyệt đối hóa phương pháp này sẽ dẫn đến sai lầm phủ nhận sự phát triển, không nhận thấy mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng.

I/ Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: là nguyên tắc lý luận xem xét sự vật, hiện tượng khách quan tồn tại trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới. Nguyên lý này biểu hiện thông qua sáu cặp phạm trù cơ bản:

1) Cái chung và cái riêng2) Bản chất và hiện tượng3) Nội dung và hình thứcBiện chứng, phép biện chứng là gì? siêu hình? 2 nguyên lý, 3 quy luật và 6 cặp phàm trù trong triết học duy vật biện chứng… 4) Nguyên nhân và kết quả5) Khả năng và hiện thực6) Tất nhiên và ngẫu nhiên

Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó dựa vào 3 tính chất cơ bản (tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú) theo không gian và thời gian cụ thể.

II/ Nguyên lý về sự phát triển: là nguyên tắc lý luận mà trong trong đó khi xem xét sự vật, hiện tượng khách quan phải luôn đặt chúng vào quá trình luôn luôn vận động và phát triển (vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật). Nguyên lý này biểu hiện thông qua ba quy luật cơ bản:

1) Quy luật mâu thuẫn: chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển2) Quy luật lượng – chất: chỉ ra cách thức, hình thức của sự phát triển3) Quy luật phủ định: chỉ ra khuynh hướng của sự phát triển.

Vậy kết lại, không nên xem sự vật đứng im một cách cứng nhắc mà luôn vận động và phát triển, trong quá trình này, chúng luôn tự đấu tranh phủ định lẫn nhau, từ đó cái mới ra đời tốt hơn cái cũ…

Những Nội Dung Cơ Bản Của Phép Biện Chứng Duy Vật / 2023

Trong bài viết này cùng với tiểu luận triết học của chúng tôi sẽ là bài nghiên cứu sau đây

A1. Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến

Khái niệm liên hệ:

A2. Nguyên lí về sự phát triển

“Phát triển” là quá trình vận động từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ chất cũ đến chất mới ở trình độ cao hơn. Phát triển là vận động nhưng chỉ vận động nào theo khuynh hướng đi lên thì mới là phát triển. Vận động diễn ra trong không gian và thời gian, nếu thoát ly chúng thì không thể có phát triển. Do vậy, ở phương Tây trước Kant chưa có quan niệm về phát triển, vì trước đó người ta mới chỉ suy tư về không gian mà chưa suy tư gì về thời gian. Còn ở phương Đông với văn hóa coi trọng truyền thống, mà Nho giáo là điển hình, thì quan niệm phát triển không hẳn hướng về tương lai mà thường hướng về quá khứ. Một xã hội lí tưởng không phải là xã hội sẽ có mà là đã có. Như vậy, nếu người phương Tây xem vật chất vận động trong thời gian tuần hoàn. Xét từ cách tiếp cận phương Tây thì phương Đông không có khái niệm “phát triển”, mà chỉ có khái niệm “tăng trưởng”. Bởi lẽ, tăng trưởng là sự mở rộng ngưỡng về số lượng, quy mô theo hướng tích cực, nhưng không đi kèm biến đổi về chất, về cấu trúc. Như đã biết, vận động tuyệt đối và đứng yên tương đối là những thuộc tính cố hữu của các đối tượng vật chất. Vốn là sự thống nhất của bền vững và biến đổi, đối tượng không tồn tại vĩnh hằng. Những biến đổi diễn ra trong nó ở phạm vi một độ bền vững xác định có xu hướng phá vỡ sự bền vững đó và biến nó thành đối tượng khác, rồi đến lượt mình, do những biến đổi diễn ra ở mức độ tích lũy cao hơn, nó lại biến thành đối tượng thứ ba, và cứ thế mãi khiến cho vật chất, trong khi vận động, biến đổi thường xuyên, lại chuyển hóa không ngừng từ trạng thái bền này sang trạng thái bền khác. Nhưng xu hướng của những biến đổi đó là gì, cái gì nảy sinh thay thế các đối tượng đã bị hủy hoại? Một số nhà triết học cho là, vận động diễn ra theo vòng tròn, đời đời lặp lại vẫn những chu kì như cũ; một số khác lại khẳng định rằng, trong tiến trình những biến đổi thường xuyên lại diễn ra sự vận động từ cao xuống thấp, tức là thoái bộ; số thứ ba, ngược lại, giải thích toàn bộ những thay đổi diễn ra trong thế giới bằng sự vận động từ thấp đến cao. Thực tế thì có cả vận động từ thấp đến cao và từ cao xuống thấp, và vận động từ thấp tới cao, đi lên, là xu hướng hàng đầu trong số chúng; chính nó là thuộc tính căn bản cố hữu nội tại của vật chất. Tóm lại, sự vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản tới phức tạp, được gọi là phát triển. Ăngghen cho rằng phát triển là “mối liên hệ nhân quả của sự vận động tiến lên từ thấp đến cao thông qua tất cả những sự vận động chữ chi và những bước thụt lùi tạm thời…” Tính khách quan của sự phát triển Trước khi phép biện chứng duy vật ra đời, Hegel (Hêghen) đã không chỉ nêu ra khái niệm phát triển mà còn xây dựng phép biện chứng khá hoàn chỉnh bao gồm các nguyên lí, phạm trù, quy luật về sự phát triển. Sau này, chính Mác, Ăngghen và Lênin đều coi phép biện chứng của Hegel (Hêghen) là học thuyết toàn diện, sâu sắc, phong phú nhất về sự phát triển. Nhưng, vì Hegel (Hêghen) đã xây dựng phép biện chứng trên cơ sở duy tâm nên Mác, Ăngghen đã đặt ra nhiệm vụ đưa phép biện chứng thoát khỏi cái vỏ thần bí duy tâm, biến nó thành phép biện chứng duy vật, xây dựng khoa học chung nhất về sự phát triển của tự nhiên, của xã hội và của tư duy con người. Phát triển là công việc ở “dưới đất” chứ không phải là của “ý niệm tuyệt đối”, càng không phải là công việc của Thượng đế. Những tài liệu khoa học xưa nay đều chứng tỏ đầy thuyết phục về xu hướng vận động phức tạp khách quan (được gọi là phát triển) đó trong hiện thực. Chẳng hạn, ánh sáng phát ra từ các thiên thể biến thành các hạt chất, mà khi tích lũy ở số lượng lớn, đã tạo thành nguyên tử, sau đó thành phân tử của các chất xác định. Do tương tác mà các hạt vật chất này nóng lên, đậm đặc lại và ở thời điểm xác định đã tạo ra các hành tinh. Trong số đó, có những hạt do nảy sinh các điều kiện thuận lợi phù hợp (ví dụ trên Trái đất), mà các hợp chất hữu cơ phức tạp dần được tạo thành, và trong tiến trình tiếp theo (với những điều kiện đặc biệt) có khả năng biến chuyển thành các cơ thể sống. Sau khi xuất hiện, các sinh thể tiếp tục vận động và tương tác với môi trường rồi dần trở nên hoàn thiện, biến chuyển từ những “thể” chất sống giản đơn dưới mức tế bào, đến các cơ thể đơn bào, rồi từ thể đơn bào đơn giản nhất đến các thể đa bào, từ các sinh thể chỉ có thuộc tính phản xạ đến những sinh thể có thần kinh – tâm lí. Sự vận động từ thấp đến cao còn biểu hiện rõ trong lịch sử xã hội. Nhân loại đã bắt đầu tồn tại từ hình thái đơn giản như xã hội nguyên thủy, sau đó chuyển sang chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, và cuối cùng là xã hội chủ nghĩa, mỗi lần đều chuyển sang kiểu đời sống xã hội mới cao hơn, hoàn thiện hơn. Trong xã hội con người vừa là khách thể, vừa là chủ thể của phát triển chủ yếu bằng thực tiễn sản xuất. Cho nên kinh tế luôn là cơ sở của phát triển xã hội. Học thuyết duy vật biện chứng về phát triển xã hội có nội dung chủ yếu là sự chuyển hóa từ hình thái kinh tế – xã hội thấp lên cao hơn, tiến bộ hơn; từ nền văn minh trình độ thấp lên nền văn minh trình độ cao hơn. Điều nói trên cũng đồng thời khẳng định phát triển là xu hướng phổ biến trong thế giới, cố hữu của vật chất. Song điều đó không có nghĩa là từng hình thức tồn tại cụ thể của vật chất, mỗi đối tượng riêng rẽ đều luôn phát triển. Bên cạnh những đối tượng phát triển, biến đổi từ thấp đến cao, thì vẫn có những đối tượng vận động vòng tròn, chuyển từ một trạng thái này sang trạng thái khác trong phạm vi của một giai đoạn phát triển, hoặc lại biến đổi từ cao xuống thấp. Vai trò hàng đầu của phát triển, tính phổ biến của nó biểu hiện không phải ở chỗ, tất cả các đối tượng nhất định phải phát triển, mà ở chỗ, chúng có khả năng phức tạp hóa, chuyển từ thấp lên cao khi có điều kiện tương ứng. Nơi nào đã có những điều kiện như thế nhất định sẽ có vận động từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp; nơi nào còn thiếu những điều kiện đó thì sẽ chỉ có hoặc là sự vận động theo vòng tròn (sự thay đổi ở cùng cấp độ), hoặc là những biến đổi thụt lùi. Vả lại, những đối tượng đang vận động theo vòng tròn hay thụt lùi, cũng không mất khả năng chuyển từ thấp đến cao ngay khi điều kiện thuận lợi cho điều đó. Phát triển là quá trình đa dạngxzr Chỉ có thông qua một quá trình nhất định thì tất cả các đối tượng mới có thể thực hiện được sự phát triển. Mọi đối tượng tự nhiên, xã hội và tư duy đều trải qua quá trình phát triển, mà nếu xét từ hình thức thì đó là quá trình thay thế liên tục của đối tượng theo thời gian và tính chất không ngừng mở rộng về không gian; còn xét từ nội dung thì đó là sự đổi mới hình thức vận động, hình thái, kết cấu, chức năng và mối quan hệ của đối tượng. Sự phát triển của xã hội loài người thể hiện rõ nhất tính quá trình đó. Từ xã hội nguyên thủy đến xã hội chiếm hữu nô lệ, đến xã hội phong kiến, và xã hội tư sản rồi tiến lên xã hội xã hội chủ nghĩa. Điều đó biểu hiện xu thế phát triển chung của xã hội loài người. Như Việt Nam đang ở vào thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội là quá trình xây dựng lâu dài để hướng tới chủ nghĩa cộng sản. Đây là một xu thế lịch sử không thể thay đổi bằng ý chí. Cần phân biệt hai khái niệm gắn với phát triển là tiến hóa và tiến bộ. Tiến hóa là một dạng của phát triển, diễn ra theo cách từ từ, và thường là sự biến đổi hình thức của tồn tại xã hội từ đơn giản đến phức tạp. Thuyết tiến hóa tập trung giải thích khả năng sống sót và thích ứng của cơ thể xã hội trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Trong khi đó, khái niệm tiến bộ đề cập đến sự phát triển có giá trị tích cực. Tiến bộ là một quá trình biến đổi hướng tới cải thiện thực trạng xã hội từ chỗ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn so với thời điểm ban đầu. Trong tiến bộ, khái niệm phát triển đã được lượng hóa thành tiêu chí cụ thể đánh giá mức độ trưởng thành của các dân tộc, các lĩnh vực của đời sống con người… Từ quan niệm, phát triển là sự vận động theo chiều hướng đi lên, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã vạch rõ, thực chất của phát triển là sự phát sinh đối tượng mới phù hợp với quy luật tiến hóa và sự diệt vong của đối tượng cũ đã trở nên lỗi thời. Đối tượng mới chỉ là cái phù hợp với khuynh hướng tiến bộ của lịch sử, có tiền đồ rộng lớn; đối tượng cũ là cái đã mất vai trò tất yếu lịch sử, ngày càng đi vào xu hướng diệt vong. Không gì có thể chiến thắng được đối tượng mới, bởi vì: Một là, xét từ mối quan hệ giữa đối tượng mới và hoàn cảnh thì, nó sở dĩ là mới vì kết cấu và chức năng của nó thích ứng với điều kiện mới đã biến đổi; đối tượng cũ lại chỉ gồm các loại yếu tố và chức năng không còn phù hợp với hoàn cảnh đã biến đổi, xu thế diệt vong của nó là không thể cứu vãn được. Hai là, xét mối quan hệ giữa đối tượng cũ và đối tượng mới thì đối tượng mới là cái đã manh nha nảy mầm từ trong lòng đối tượng cũ, nó là cái phủ định những tiêu cực mục nát trong đối tượng cũ đồng thời lại bảo lưu được những cái hợp lí, thích hợp với điều kiện mới và bổ sung nội dung mới vốn chưa có ở đối tượng cũ. Hai phương diện đó là nguyên nhân có sức mạnh to lớn làm cho đối tượng mới về bản chất có thể vượt qua đối tượng cũ. Trong lĩnh vực lịch sử xã hội, đối tượng mới là kết quả của hoạt động sáng tạo theo hướng tiên tiến của xã hội; về cơ bản nó phù hợp với lợi ích và nhu cầu của đông đảo nhân dân, có khả năng bảo vệ được họ, do vậy nó tất yếu chiến thắng đối tượng cũ. Đặc biệt là trong thời kì diễn ra những biến động xã hội lớn, sự chiến thắng của đối tượng mới trước đối tượng cũ biểu hiện rất rõ. Nắm vững quy luật này là điều có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự sáng tạo và phát triển của nước ta trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.

2. Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật

2.1. Quan niệm biện chứng duy vật về phạm trù và sự hình thành phạm trù

2.2. Cái chung và cái riêng

2.4. Tất nhiên và ngẫu nhiên

Quan niệm về tất nhiên được hình thành trên cơ sở làm rõ liên hệ nhân quả. Đầu tiên tất nhiên được xem như một đặc trưng của liên hệ nhân quả. Dần dần con người đã nhận ra, tất nhiên vốn có không chỉ ở liên hệ nhân quả, mà còn ở các mối liên hệ khác (như chức năng, cấu trúc…), và cũng không chỉ ở các mối liên hệ, mà còn ở sự tồn tại của các đối tượng và thuộc tính. Khái niệm tất nhiên tách ra khỏi khái niệm nhân quả, có tính độc lập và được xét không cùng cặp với nhân quả, mà với ngẫu nhiên. Sự xuất hiện và tồn tại của đối tượng cùng với các bộ phận, thuộc tính và những mối liên hệ có nguyên nhân trong chính mình và do bản chất nội tại của chúng quy định, được gọi là tất nhiên. Còn sự xuất hiện và tồn tại có nguyên nhân bên ngoài, ở cái khác, tức do ngoại cảnh quy định,được gọi là ngẫu nhiên. Những thuộc tính và liên hệ tất nhiên ở những điều kiện tương ứng tất yếu phải nảy sinh, còn sự xuất hiện của các thuộc tính và liên hệ ngẫu nhiêu không nhất thiết, chúng có thể có mà cũng có thể không. Trong hiện thực khách quan, không có tất nhiên thuần túy, tồn tại cô lập, mà nó liên hệ hữu cơ với ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên cũng tồn tại khách quan, bên ngoài và không phụ thuộc ý thức cũng như hoạt động nhận thức của con người. Sự tồn tại khách quan của cả tất nhiên lẫn ngẫu nhiên đều có nguồn gốc từ tính nhân quả. Nếu cơ sở của tất nhiên là một mối liên hệ nhân quả tuyến tính duy nhất, thì cơ sở của ngẫu nhiên là sự giao thoa của hai (hay một số) liên hệ nhân quả. Các mắt xích của từng dãy gắn với nhau một cách tất yếu, nhưng sự giao thoa của chúng lại tạo ra những nguyên nhân mới, làm xuất hiện những tương tác không bắt nguồn từ bản chất nội tại của các đối tượng tham gia tương tác khiến sinh ra các đối tượng ngẫu nhiên. Tuy là ngẫu nhiên nhưng những tương tác này cũng tất yếu gây ra những biến đổi. Như vậy, tất nhiên và ngẫu nhiên gắn bó hữu cơ, tương tác với nhau, rồi chuyển hóa vào nhau, quy định sự xuất hiện những đối tượng và trạng thái chất mới. Tính quy luật của mối liên hệ tất nhiên và ngẫu nhiên Từng đối tượng trong cùng thời gian vừa là tất nhiên, vừa là ngẫu nhiên. Một số thuộc tính và mối liên hệ của nó do những nguyên nhân bên trong quy định, thể hiện bản chất, một số thuộc tính và mối liên hệ khác của do các nguyên nhân bên ngoài, do sự tương tác của nó với môi trường xung quanh. Các số khác này ngẫu nhiên có mặt, do vậy chỉ là hình thức thể hiện của các thuộc tính và mối liên hệ tất nhiên. Tất nhiên mở đường đi cho mình thông qua vô vàn những ngẫu nhiên. Ngẫu nhiên thường biểu hiện như là các xu hướng của tất nhiên, chúng mang vào quá trình cụ thể những phương án mới không là tất nhiên, mà do những hoàn cảnh bên ngoài quy định. Do vậy, hoạt động thực tiễn không thể hướng vào ngẫu nhiên, mà phải dựa vào cái tất nhiên. Còn trong nhận thức, việc nắm bắt cái tất nhiên là nhiệm vụ cơ bản của khoa học, nhưng vì cái tất nhiên thường biểu hiện thông qua nhiều cái ngẫu nhiên, khiến cho ngẫu nhiên trở thành hình thức của tất nhiên, nên nhận thức nó cần thông qua nghiên cứu cái ngẫu nhiên, vạch ra trong ngẫu nhiên những xu hướng tất nhiên. Là hình thức biểu hiện của tất nhiên, ngẫu nhiên còn là sự bổ sung cho cái tất nhiên, bởi lẽ nội dung của cái tất nhiên không chỉ gồm bản chất đặc thù của đối tượng, mà còn có những điểm đặc thù của đối tượng khác tương tác với nó. Không chỉ lệ thuộc và liên hệ với nhau, trong tiến trình vận động của đối tượng, mà chúng luôn chuyển hóa, thay đổi vị trí cho nhau, ngẫu nhiên trở thành tất nhiên, và ngược lại. Sự chuyển hóa này thể hiện rõ qua ví dụ về sự phát triển các loài sinh vật, và phần nào trong xã hội loài người.

Việc nhận thức những mối liên hệ nhân quả tất nhiên mới buộc phải làm sáng tỏ tổ chức của những mối liên hệ đó. Cùng với việc tích lũy tri thức về đối tượng như là chỉnh thể các bộ phận tương tác liên hệ với nhau, con người cần xây dựng các phạm trù tương ứng là nội dung và hình thức. Nội dung của đối tượng là tổng thể các bộ phận, yếu tố hợp thành nó, những tương tác và biến đổi trong nó. Nội dung không chỉ bao gồm các bộ phận và sự tương tác của chúng với nhau, tức là những tương tác bên trong, mà còn quy định cả những tương tác với những đối tượng bên ngoài khác. Chẳng hạn, nội dung của phương thức sản xuất gồm hai bộ phận là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất mà trong sự thống nhất với nhau chúng cùng quy định đời sống xã hội, chính trị và tinh thần của con người – là những yếu tố nằm ngoài phương thức sản xuất. Hình thức của đối tượng là cách thức tổ chức, sắp xếp, liên hệ các bộ phận của nó. Hình thức của phương thức sản xuất là mối liên hệ được thể hiện trong quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất. Hình thức của tác phẩm nghệ thuật – trước hết là sự phối cảnh, tình tiết và ngôn ngữ… Mọi đối tượng đều luôn có cả nội dung lẫn hình thức. Không ở đâu và không khí nào lại có nội dung thiếu hình thức và hình thức phi nội dung. Trong khi liên hệ hữu cơ với nhau nội dung và hình thức là những mặt đối lập của đối tượng. Biến đổi là xu hướng chủ đạo của nội dung. Còn bền vững lại là xu hướng chủ đạo của hình thức.Mối liên hệ giữa nội dung và hình thức Vì mỗi bộ phận, thuộc tính của đối tượng tất yếu phải có những mối liên hệ với nhau, cho nên, nội dung đã bao chứa cả hình thức. Mặt khác, sự tổ chức các mối liên hệ bền vững đồng thời là sự tổ chức các bộ phận. Do vậy, có thể nói, cả hình thức cũng chứa nội dung, và ngay cả trong tư duy, trong sự trừu tượng cũng không thể tách biệt hoàn toàn hình thức khỏi nội dung và ngược lại. Nội dung và hình thức thống nhất với nhau, nhưng chúng có ý nghĩa không như nhau. Nội dung giữ vai trò quyết định, còn hình thức – bị quyết định. Bản thân sự xuất hiện của hình thức và nhiều đặc điểm của nó bị quy định bởi nội dung. Nhưng hình thức có tính tự trị nhất định, tính độc lập tương đối so với nội dung, và cũng tác động lên nó. Sự tác động thường theo hai kiểu. Thứ nhất, hình thức có thể đẩy nội dung phát triển nhanh, khi nó về cơ bản phù hợp với nội dung. Thứ hai, hình thức có thể làm chậm tốc độ phát triển của nội dung, nếu không còn phù hợp với nó. Ở thời kì đầu tồn tại, hình thức của đối tượng phù hợp với nội dung và do vậy giữ vai trò tích cực trong sự phát triển của nó. Với sự hỗ trợ tích cực của hình thức, nội dung phát triển càng ngày càng xa, còn hình thức về cơ bản vẫn giữ nguyên không đổi. Thời gian qua đi và khuôn khổ chật hẹp của hình thức cũ bắt đầu cản trở nội dung đang biến đổi. Hình thức không còn phù hợp với nội dung nữa, trở nên kìm hãm sự phát triển của nội dung. Sự không tương thích ngày càng lớn dần, giữa chúng xảy ra xung đột. Và cuối cùng nội dung đã đi xa về phía trước vứt bỏ hình thức quá cũ kĩ, thủ tiêu nó. Nhưng thời điểm thủ tiêu hình thức đồng thời cũng là thời điểm biến đổi của nội dung. Sự thủ tiêu những mối liên hệ bền vững đòi hỏi sự biến đổi mạnh các bộ phận của nó và chấm dứt những tương tác lẫn nhau đã tồn tại trước đó. Như vậy, sự phù hợp hình thức và nội dung, sự thống nhất của chúng, cũng như thống nhất chất và lượng, là ranh giới tồn tại của đối tượng. Từ mối quan hệ giữa nội dung và hình thức có thể rút ra kết luận cho thực tiễn. Vì nội dung quyết định hình thức, nên để làm đối tượng biến đổi theo mục đích thì cần gây ra những biến đổi chủ yếu trong nội dung của nó. Vì hình thức chỉ thúc đẩy sự phát triển của nội dung khi phù hợp với nó nên nếu muốn tác động đẩy nhanh sự phát triển của đối tượng, tất yếu phải thường xuyên theo dõi nội dung đang phát triển trong một hình thức tụt hậu, thấy được mức độ xuất hiện sự không tương thích giữa chúng để can thiệp vào tiến trình khách quan, tạo ra những thay đổi tất yếu trong hình thức, làm cho nó trở lại tương thích với nội dung đang phát triển và đảm bảo không cản trở sự phát triển tiếp theo. Việc bỏ qua quy luật đó dẫn đến những hậu quả xấu trong thực tiễn. Thói trì trệ, chậm đổi mới các hình thức và phương pháp quản lí, sự gia tăng tệ quan liệu, tuyệt đối hóa những hình thức tổ chức xã hội được hình thành trước đây trong thực tiễn là một trong những nguyên nhân chính của tình trạng khủng hoảng xã hội và của những xu hướng bất lợi đã bộc lộ ở nước ta những năm gần đây. Xã hội có đạt tới sự phát triển mới về chất hay không phần nhiều phụ thuộc vào việc đổi mới đến đâu những hình thức xã hội già cõi, phong cách và phương pháp làm việc cũ, đưa chúng vào phù hợp đến mức độ nào với những điều kiện đang thay đổi.

2.7. Bản chất và hiện tượng

Khi đã tích lũy các tri thức về thuộc tính và liên hệ tất nhiên riêng rẽ của đối tượng, khám phá những quy luật vận hành và phát triển của nó, thì cũng sẽ xuất hiện nhu cầu kết hợp các tri thức, đưa chúng về một mối. Giai đoạn phát triển này của nhận thức ứng với sự tái tạo lại bản chất như là tổng thể các thuộc tính và các mối liên hệ (quy luật) tất nhiên của đối tượng. Vì bản chất là chỉnh thể được phân tách ra thành tập hợp các mặt liên hệ lẫn nhau, các quan hệ phản ánh cái tất nhiên ở dạng thuần túy, nên nhận thức chỉ có thể tái tạo lại nó thông qua các mô hình tư tưởng, các khái niệm, qua việc xây dựng lí luận. Như vậy, phạm trù bản chất phản ánh cái bên trong, cái tất nhiên của đối tượng. Bản chất là tổng thể tất cả các thuộc tính và mối liên hệ tất nhiên được xét trong sự phụ thuộc lẫn nhau tự nhiên của chúng, các quy luật vận hành và phát triển của đối tượng. Bản chất xuất hiện, định hình và phát triển cùng với hiện tượng là phạm trù chỉ sự bộc lộ cái bên trong của đối tượng ra mặt ngoài, thông qua vô vàn các thuộc tính và mối liên hệ ngẫu nhiêu được vạch ra do kết quả tương tác của nó với các đối tượng khác. Hiện tượng là những biểu hiện bề ngoài của các mặt và mối liên hệ. Mối liên hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng. Bản chất của đối tượng mang tính khách quan, tồn tại không phụ thuộc vào ý thức con người. Trong khi tồn tại thực, nó gắn bó hữu cơ với hiện tượng, chỉ lộ rõ mình trong và thông qua hiện tượng. Hiện tượng cũng gắn liền với bản chất, không thể tồn tại thiếu nó. Lênin nhấn mạnh mối liên hệ đó như sau: “Bản chất hiện ra. Hiện tượng là có tính bản chất”. Là hình thức biểu hiện của bản chất, hiện tượng khác với nó: nhiều khi bản chất hiện ra dưới dạng xuyên tạc như trường hợp giá trị của hàng hóa chẳng hạn. Hiện tượng luôn phong phú hơn bản chất. Điều này thể hiện rõ qua ví dụ về tương quan giữa giá trị và giá cả của hàng hóa. Giá cả của hàng hóa luôn đa dạng (phong phú) hơn giá trị của nó, bởi lẽ trong chúng không chỉ biểu hiện sự phụ thuộc vào lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất một đơn vị hàng hóa, mà còn vào nhiều yếu tố bên ngoài, như tương quan cung cầu, yếu tố đầu cơ hàng hóa đó trên thị trường. Ngược với hiện tượng thường đa dạng và hay biến đổi, thì bản chất lại là cái bền vững, tự bảo toàn trong phần lớn các biến đổi đó. Chẳng hạn, giá cả hàng hóa thường xuyên biến động, nhưng giá trị của nó ở khoảng thời gian nhất định thường không đổi. Thể hiện tính quy luật đó của mối tương quan bản chất và hiện tượng, Lênin viết: “… cái không bản chất, cái bề ngoài, cái trên mặt, thường biến mất, không bám “chắc”, không “ngồi vững” bằng “bản chất”. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là bản chất hoàn toàn không đổi. Sự thay đổi của nó chậm hơn ở hiện tượng. Nó biến đổi do, trong quá trình phát triển của đối tượng một số mặt và mối liên hệ tất nhiên bắt đầu tăng cường, giữ vai trò lớn hơn, những số khác lại bị đẩy xuống hàng dưới hoặc biến mất hẳn. Lênin viết: “Không phải chỉ riêng hiện tượng là tạm thời, chuyển động, lưu động, bị tách rời bởi những giới hạn chỉ có tính chất ước lệ, mà bản chất của sự vật cũng như thế. Tính quy luật của nhận thức bản chất Vì bản chất chỉ thể hiện thông qua hiện tượng và hiện tượng biểu thị nó dưới dạng cải biến, và thường là bị xuyên tạc, cho nên, thứ nhất, trong nhận thức không chỉ tự giới hạn ở việc ghi nhận cái nằm trên bề mặt đối tượng, mà cần phải thâm nhập vào bên trong đối tượng và phải nhìn ra bản chất thực khuất sau hiện tượng; thứ hai, hoạt động thực tiễn cũng không thể xuất phát từ những hiện tượng riêng, mà trước hết cần phải làm theo tri thức về bản chất, các quy luật vận hành và phát triển của đối tượng.

3. Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

3.1. Quan niệm biện chứng duy vật về quy luật

3.2. Quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại

3.3. Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập