Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Tự Nhiên Xã Hội Lớp 3 / Top 4 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Channuoithuy.edu.vn

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Sử Dụng Linh Hoạt Phương Pháp “Bàn Tay Nặn Bột” Vào Dạy Môn Tự Nhiên Và Xã Hội Lớp 3

TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 2 PHÚ BÀI Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Phú Bài, ngày 18 tháng 05 năm 2012 SÁNG KIẾN CẢI TIẾN KĨ THUẬT (Đề nghị tặng thưởng Chiến sĩ thi đua cấp Cơ sở) Đề tài: Sử dụng linh hoạt phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào dạy môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 I. Mục đích yêu cầu của sáng kiến cải tiến kĩ thuật: Tự nhiên và xã hội là một môn học cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản ban đầu về các sự vật, sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội với mối quan hệ trong đời sống thực tế của con người. Đồng thời, nó góp phần bồi dưỡng phẩm chất, nhân cách toàn diện của con người. Để thực hiện tốt mục tiêu đổi mới của môn Tự nhiên và Xã hội, giáo viên phải thực hiện đổi mới các phương pháp dạy học sao cho học sinh là người chủ động, nắm bắt kiến thức của môn học một cách tích cực, sáng tạo góp phần hình thành nhu cầu tự học, tự phát hiện, tự giải quyết các tình huống có vấn đề đặt ra trong bài học từ đó chiếm lĩnh tri thức. Năm học 2011 – 2012 tôi được phân công phụ trách lớp 3A Trường Tiểu học Số 2 Phú Bài. Đây là lớp chất lượng cao nên các em có sức học khá đều, nhanh nhẹn, linh loạt nên bản thân luôn tìm cách đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất luợng dạy học. Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là một phương pháp hay có thể sử dụng trong quá trình dạy học nhằm khích thích tính sáng tạo, kĩ năng tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức cũng như kĩ năng diễn đạt của học sinh. Nhưng để sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” thì thời gian cần cho một tiết dạy là tương đối nhiều. Trong khi đó, thời lượng cho một tiết dạy môn Tự nhiên và Xã hội chỉ khoảng 35 phút. Do đó, tôi đã tìm hiểu kĩ chương trình môn TNXH 3, phương pháp BTNB và đưa ra một số biện pháp có thể Sử dụng linh hoạt phương pháp “Bàn tay nặn bột” vào dạy môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 trong quá trình dạy học của mình. II. Những giải pháp chính của sáng kiến cải tiến kĩ thuật: 1. Biện pháp 1: Tìm hiểu nội dung chương trình Tự nhiên và Xã hội lớp 3 có những bài nào có thể áp dụng phương pháp BTNB. * Con người và sức khoẻ: có 11 bài, đó là những bài: bài 1, bài 2, bài 4, bài 5, bài 6, bài 7, bài 8, bài 9, bài 11, bài 12, bài 13, bài 14. * Tự nhiên: có 23 bài, đó là những bài: bài 40, bài 41, bài 42, bài 43, bài 45, bài 46, bài 47, bài 48, bài 49, bài 50, bài 51, bài 52, bài 53, bài 54, bài 55, bài 58, bài 59, bài 60, bài 61, bài 62, bài 63, bài 64, bài 65 bài 66, bài 67, bài 68. 2. Biện pháp 2: Hiểu rõ nguyên lí từng bước dạy trong phương pháp BTNB. Việc hiểu rõ nguyên lí của từng bước dạy trong phương pháp BTNB là rất quan trọng, nó giúp cho chúng ta vận dụng các bước dạy vào từng bài dạy dễ dàng và hiệu quả. Chẳng hạn: Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề: Thực chất đây là bước kích thích tính tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của học sinh. Vì vậy, tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi dễ hiểu đối với học sinh, câu hỏi nêu vấn đề phải dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không sử dụng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không). Tình huống xuất phát nhằm lồng ghép câu hỏi nêu vấn đề. Có những trường hợp không nhất thiết phải có tình huống xuất phát mới đề xuất câu hỏi nêu vấn đề (tuỳ vào từng kiến thức và từng trường hợp cụ thể). Bước 2: Hình thành biểu tượng ban đầu. Hình thành biểu tượng ban đầu là bước quan trọng, đặc trưng của phương pháp dạy học BTNB. Bước này khuyến khích học sinh trình bày quan niệm ban đầu, ‎ ý kiến ban đầu của mình về sự vật, hiện tượng trước khi được tìm hiểu về bản chất sự vật, hiện tượng. Đây là những quan niệm được hình thành trong vốn sống của học sinh, là các ý tưởng giải thích sự vật, hiện tượng theo suy nghĩ của học sinh. Khi yêu cầu học sinh trình bày biểu tượng ban đầu, giáo viên có thể yêu cầu nhiều hình thức biểu hiện của học sinh, có thể là bằng lời nói (thông qua phát biểu cá nhân), bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ. Đối với học sinh chúng ta thường mỗi lần phát biểu rất ngại nói vì sợ sai và sợ bị chê cười. Do đó giáo viên cần khuyến khích học sinh trình bày ý kiến của mình, biết lắng nghe và tôn trọng những quan niệm sai hoặc chưa thực sự chính xác của học sinh khi trình bày biểu tượng ban đầu. Bước 3: Đề xuất câu hỏi và thí nghiệm – Đề xuất câu hỏi: – Đề xuất thí nghiệm nghiên cứu: Từ các câu hỏi được đề xuất, giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh đề nghị các em đề xuất thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu để tìm câu trả lời cho câu hỏi đó. Bước 4: Tiến hành thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu. Từ các phương án thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu mà học nêu ra, giáo viên khéo léo nhận xét và lựa chọn thí nghiệm để học sinh tiến hành. Ưu tiên thực hiện thí nghiệm trực tiếp trên vật thật. Một số trường hợp không thể tiến hành thí nghiệm trên vật thật có thể làm mô hình, hoặc cho học sinh quan sát tranh vẽ. Đối với phương pháp quan sát, giáo viên cho học sinh quan sát vật thật trược, sau đó mới cho học sinh quan sát tranh vẽ khoa học hay mô hình để phóng to những đặc điểm không thể quan sát rõ trên vật thật. Bước 5: Kết luận kiến thức. Sau khi thực hiện thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, các câu trả lời dần dần được giải qu‎yết, kiến thức được hình thành tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học. Giáo viên có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghi và vở coi như là kiến thức bài học. Trước khi kết luận chung, giáo viên nên yêu cầu một vài ‎ kiến của học sinh cho kết luận sau khi thực hiện thí nghiệm (rút ra kiến thức bài học). Giáo viên khắc sâu kiến thức cho học sinh bằng cách cho học sinh nhìn lại, đối chiếu lại với các ‎ý kiến ban đầu (biểu tượng ban đầu) trước khi học kiến thức. Như vậy những quan niệm ban đầu sai lệch, sau quá trình nghiên cứu – tìm tòi, chính học sinh tự phát hiện ra mình sai hay đúng mà không phải do giáo viên nhận xét một cách áp đặt. Chính học sinh tự phát hiện những sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổi một cách chủ động. Những thay đổi này sẽ giúp học sinh ghi nhớ lâu hơn, khắc sâu kiến thức. 3. Biện pháp 3: Vận dụng các bước dạy trong phương pháp BTNB phù hợp với nội dung từng bài dạy. Chẳng hạn: Bài: Côn trùng Trong quá trình dạy chúng ta thường cho học sinh quan sát tranh ảnh về côn trùng trước, sau đó hỏi học sinh : Cũng là hoạt động và thời gian đó chúng ta có thể vận dụng các bước dạy trong phương pháp BTNB đó là: Bước 2: Hình thành biểu tượng ban đầu: Theo em, côn trùng có những bộ phận chính nào? (Học sinh tự do phát biểu – giáo viên ghi nhanh những ‎ kiến đó lên bảng) Bước 3: Đề xuất thí nghiệm: Để biết được chính xác côn trùng có những bộ phận chính nào, ta phải làm gì? (Học sinh tự đề xuất: Quan sát côn trùng thật, tranh, ảnh,..) Bước 4 và 5: Tiến hành quan sát – Kết luận: Học sinh quan sát – Tự đều chỉnh và rút ra kiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên. Bài: Động vật Cách dạy tương tự với bài Côn trùng, chúng ta cũng có thể vận dụng các bước dạy trong phương pháp BTNB như sau: Bước 2: Hình thành biểu tượng ban đầu: Theo em, động vật có những bộ phận nào? (Học sinh ghi ý‎ kiến cá nhân sau đó thống nhất vào bảng nhóm – trình bày) Bước 3: Đề xuất thí nghiệm: Để biết được chính xác động vật có những bộ phận chính nào, ta phải làm gì? (HS tự đề xuất: Quan sát tranh, ảnh,.. động vật) Bước 4 và 5: Tiến hành quan sát – Kết luận: Học sinh quan sát – Tự đều chỉnh và rút ra kiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên. 4. Biện pháp 4. Sử dụng đồ dùng dạy học phù hợp và hiệu quả Đối với phương pháp BTNB, việc sử dụng đồ dùng dạy học phù hợp và hiệu quả quyết định sự thành công của một tiết dạy. Vì vậy, trước mỗi tiết dạy người giáo viên cần chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng phục vụ cho tiết dạy. Giáo viên phải biết lựa chọn đồ dùng nào là phù hợp với tiết dạy của mình. Chẳng hạn: – Đối với những bài: Lá cây, Quả, Hoa, Thân cây, Rễ cây, Cá,. giáo viên có thể lựa chọn đồ dùng dạy học là vật thật. – Đối với những bài như: Côn trùng, Động vật, Thú,thì giáo viên lại chọn đồ dùng dạy học là những bức ảnh. – Đối với những bài như: Trái đất – Quả địa cầu, Sự chuyển động của trái đất, Trái đất là một hành tinh trong hệ mặt trời, .giáo viên lại chọn đồ dùng dạy học là những mô hình. Bên cạnh việc lựa chọn đồ dùng dạy học phù hợp với từng tiết dạy thì việc sử dụng hiệu quả đồ dùng dạy trong từng tiết dạy cũng rất quan trọng. Chẳng hạn: – Đối với bài Hoa, nếu chúng ta chỉ cho học sinh quan sát rồi xác định các bộ phận của bông hoa đó thì khó tìm ra được các bộ phận, mà nên cho học sinh lấy từng bộ phận của bông hoa đó ra rồi xác định từng bộ phận một, như vậy học sinh sẽ rất đễ dàng để nhận ra đâu là cuống hoa, cánh hoa, đài hoa và nhị hoa. – Đối với bài Lá cây cũng vậy, nếu chúng ta chỉ cho học sinh quan sát rồi xác định các bộ phận của chiếc là đó thì khó tìm ra các bộ phận chính mà phải cho học sinh xé chiếc lá đó ra rồi xác định từng bộ phận một, như vậy học sinh sẽ rất đễ dàng để nhận ra đâu là cuống lá, phiến lá, gân lá. Tự nhiên và Xã hội 3 là môn học mang trong mình nhiều kiến thức thực tế hết sức phong phú và gần gũi về thế giới Tự nhiên và Xã hội, thế giới con người. Vì vậy, tăng cường bồi dưỡng vốn kiến thức là việc làm quan trọng đóng góp vào thành công trong công việc đổi mới phương pháp dạy học môn Tự nhiên và Xã hội nói chung và dạy học theo phương pháp BTNB nói riêng. Tóm lại, tất cả các biện pháp nêu trên, nhằm đạt tới mục đích cuối cùng là sau khi học xong mỗi tiết Tự nhiên và Xã hội nói riêng và hoàn thành chương trình Tự nhiên và Xã hội bậc Tiểu học nói chung, học sinh tích lũy được vốn hiểu biết về tự nhiên và xã hội, về cấu tạo của các cơ quan trong cơ thể của con người, ý thức được trách nhiệm của mình với bản thân, gia đình và mọi người xung quanh, yêu thiên nhiên đất nước và biết bảo vệ môi trường. III. Kết quả và những ảnh hưởng có sức lan toả trong phạm vi toàn (huyện) tỉnh mà sáng kiến cải tiến kĩ thuật có thể mang lại: Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện chuyên đề sử dụng “linh hoạt” phương pháp BTNB vào dạy học môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3, với những biện pháp trên, cuối năm học, chúng tôi đã thu được kết quả như sau: * Phạm vi toàn trường: – Sau khi bản thân được sự phân công triển khai chuyên đề dạy học theo phương pháp BTNB, các tổ chuyên môn trường đã lần lượt triển khai chuyên đề dạy học theo phương pháp BTNB, sau đó từng cá nhân trong tổ cũng đã vận dụng phương pháp này vào dạy giảng dạy trong lớp của mình. * Phạm vi lớp: – Chất lượng giảng dạy và chất lượng học tập môn Tự nhiên và Xã hội đạt kết quả rõ rệt: 100% học sinh đạt kết quả hoàn thành tốt. – Học sinh học tập tích cực, hứng thú chủ động trong việc lĩnh hội tri thức, không khí lớp học sôi nổi, hào hứng, học sinh hứng thú với môn Tự nhiên và Xã hội. – Môn Tự nhiên và Xã hội thực sự đã trở thành một môn học có tác dụng giáo dục quan trọng, góp phần rất hiệu quả vào việc nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường. IV. Kết luận : Thông qua việc thực hiện, giải quyết vấn đề đã được nêu trên, tôi đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình ứng dụng phương pháp BTNB và dạy môn Tự nhiên và Xã hội lớp 3 như sau: – Hiểu rõ nguyên lí từng bước dạy trong phương pháp BTNB để vận dụng vào dạy học một cách hiệu quả. – Biết sử dụng linh hoạt các bước dạy trong phương pháp BTNB vào các tiết dạy hợp lí nhằm khích thích tính tò mò, sáng tạo của học sinh, đồng thời học sinh sẽ là người tìm ra kiến thức. Khi các em tự tìm ra được kiến thức trong quá trình thực hành thì các kiến thức đó các em sẽ nhớ rất lâu và cũng có thể là không bao giờ quên. – Đối với phương pháp BTNB, việc sử dụng đồ dùng dạy học phù hợp và hiệu quả quyết định sự thành công của một tiết dạy. Vì vậy, trước mỗi tiết dạy người giáo viên phải biết lựa chọn và chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng phục vụ cho tiết dạy của mình. – Giáo viên cũng cần phải có kiến thức tích hợp trong từng bài, từng chủ điểm trong từng khối lớp, để thuận lợi trong việc thiết kế bài học, định hướng các phương pháp dạy học trong từng chủ điểm của môn học cho phù hợp. – Tăng cường bồi dưỡng vốn kiến thức là việc làm quan trọng đóng góp vào thành công trong công việc đổi mới phương pháp dạy học môn Tự nhiên và Xã hội nói chung và dạy học theo phương pháp BTNB nói riêng. Người viết SKKN Hoàng Thị Thanh Nga

Phương Pháp “Bàn Tay Nặn Bột” 2

Giảng dạy các chủ đề Sinh học trong các môn TN&XH, Khoa học theo PP “Bàn tay nặn bột” BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Giảng viên: Ngô Hải ChiBuổi 1: Trải nghiệm:Cơ – xương cánh tayMục tiêu hoạt động: Hiểu cách cấu tạo và cách sắp xếp của xương và cơ trong cánh tay.Hiểu cơ chế hoạt động của cánh tayLàm việc nhóm 2: Gập, duỗi cẳng tay, sờ nắn và quan sát sự thay đổi của cánh tay của nhau khi gập, duỗiLàm việc cá nhânSuy nghĩ và vẽ mô tả bên trong cánh tay có gì mà giúp cẳng tay có thể chuyển động đượcLàm việc nhóm: Thảo luận và vẽ mô tả những bộ phận của cánh tay giúp cẳng tay có thể chuyển động được và giấy khổ to.TÓM TẮT NỘI DUNG PHÂN TÍCH TIẾN TRÌNH BÀI HỌCBước 1.Đưa tình huống xuất phátBước 2: Làm bộc lộ những hiểu biết ban đầu của HSBước 3: Đề xuất các câu hỏi hay giả thiết, phương án tìm tòiBước 4: Thực hiện phương án tìm tòi khám pháBước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thứcVỞ THỰC HÀNHhttp://www.edumedia-sciences.com/a85_l1-blog-call.htmlCÁC BÀI HỌC CÓ THỂ ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP BTNBCÁC BÀI HỌC CÓ THỂ ÁP DỤNG PP BTNBPhân tích SGK các môn Tự nhiên và xã hội 1,2,3 và Khoa học 4,5 tìm các bài học chủ đề thuộc chủ đề “Con người và sức khỏe” hoặc “Động vật”, “thực vật” có thể áp dụng PP BTNB. Điền vào bảng sauLớp 1

CÁC BÀI HỌC CÓ THỂ ÁP DỤNG PP BTNB2. Lớp 2:

CÁC BÀI HỌC CÓ THỂ ÁP DỤNG PP BTNB3. Lớp 3:

CÁC BÀI HỌC CÓ THỂ ÁP DỤNG PP BTNB3. Lớp 3 (tiếp)

CÁC BÀI HỌC CÓ THỂ ÁP DỤNG PP BTNB4. Lớp 4:

CÁC BÀI HỌC CÓ THỂ ÁP DỤNG PP BTNB5. Lớp 5:

CÁC BÀI HỌC CÓ THỂ ÁP DỤNG PP BTNBTHIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG PP BÀN TAY NẶN BỘTTHIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG VẬN DỤNG PP BÀN TAY NẶN BỘTXây dựng tiết học theo các gợi ýMục tiêu bài họcDự kiến các hoạt động của bài học, hoạt động có thể áp dụng PP BTNBThiết kế hoạt độngMục tiêuChuẩn bị: GV, HSCách tiến hànhVÍ DỤ: BÀI HOA (TN&XH3) Mục tiêu 1. Kiến thứcNêu được chức năng của hoa đối với đời sống thực vật.Ích lợi của hoa đối với đời sống con người.Nhận biết các thành phần,bộ phận của hoa: cuống, đài, cánh và nhị, nhụySự khác nhau về hình dáng, màu sắc và mùi thơm của các loại hoa2. Kĩ năng:Quan sát, so sánh, mô tả3. Thái độ:Bảo vệ, chăm sóc cây có hoa. VÍ DỤ: BÀI HOA (TN&XH3)Dự kiến các hoạt động của bàiHoạt động 1: Sự đa dạng của HoaHoạt động 2: Thành phần cấu tạo của HoaHoạt động 3: Vai trò, ích lợi, chức năng của hoaHĐ 2: Tìm hiểu thành phần cấu tạo của Hoa Mục tiêuNhận biết các thành phần,bộ phận của hoa: cuống, đài, cánh và nhị, nhụy Chuẩn bị: GV: Tranh ảnh về các bộ phận của hoa để KLHS: Mỗi nhóm một số bông hoa, 1 nhíp

36HĐ 2: Tìm hiểu thành phần cấu tạo của Hoa Bước 1.Đưa tình huống xuất phátHĐ1:Cho HS kể tên các loài hoa mà em biết Các loài hoa rất khác nhau, đa dạng về đặc điểm bên ngoài: màu sắc, hình dạng, kích thước, mùi thơm vậy cấu tạo bên trong của hoa như thế nào? Chúng gồm những thành phần gì? Bước 2: Làm bộc lộ những hiểu biết ban đầu của HS: Qua hình vẽ Bước 3: Đề xuất các câu hỏi, phương án tìm tòi: Phân tích điểm giống và khác nhau giữa các hình vẽ đề xuất câu hỏi, phương án tìm tòi37HĐ 2: Tìm hiểu thành phần cấu tạo của Hoa Bước 4: Thực hiện phương án tìm tòi khám pháBước 1: Bóc tách một bông hoaBước 2: Phân loại các thành phần của bông hoaBước 3: Nhận biết đặc điểm và gọi tên các thành phần của bông hoaBước 4: Làm mô hình bông hoa38HĐ 2: Tìm hiểu thành phần cấu tạo của Hoa Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thứcHoa có: cuống, đài, cánh và nhị, nhụy.Cuống hoa: thẳng, dài mang hoa, phần cuối của cuống hoa phình to ra (đế hoa)Đài: màu lục, giống lá, thường nhỏ, ngắnCánh hoa: là một phiến mỏng có nhiều màu sắc khác nhau, có mùi thơm, hoa có số lượng cánh khác nhauNhị, nhụy: nhị thường dài, trên đầu có phấn hoa màu vàng; nhụy có thường hình như lọ lục bình phần trên loe, có chất dính; ở giữa thắt nhỏ; phần dưới phình to. Có hoa chỉ có nhị hoặc nhụy.39

Bóc tách một bông hoa

Học sinh sử dụng các dụng cụ đơn giản như dao, kéo, kẹp nhíp để tách các thành phần của bông hoa40

Phân loại các thành phần của bông hoa

Gọi tên các thành phần của bông hoa

Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Là Gì?

Bàn tay nặn bột là một chiến lược về giáo dục khoa học, được Giáo sư Georger Charpak (người Pháp) sáng tạo ra và phát triển từ năm 1995 dựa trên cơ sở khoa học của sự tìm tòi – nghiên cứu, cho phép đáp ứng những yêu cầu dạy học mới. Phương pháp “Bàn tay nặn bột” đã được vận dụng, phát triển và có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ ở Pháp mà còn ở nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới

Vậy phương pháp Bàn tay nặn bột là gì? Phương pháp Bàn tay nặn bột là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm tìm tòi- nghiên cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên.

Bàn tay nặn bột chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra…

Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác,Bàn tay nặn bột luôn coi học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên.

Mục tiêu của phương pháp Bàn tay nặn bột?

Mục tiêu của phương pháp Bàn tay nặn bột là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá và say mê khoa học của học sinh. Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp BTNB còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh.

Dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu

Dạy học khoa học dựa trên tìm tòi nghiên cứu là một phương pháp dạy và học khoa học xuất phát từ sự hiểu biết về cách thức học tập của học sinh, bản chất của nghiên cứu khoa học và sự xác định các kiến thức cũng như kĩ năng mà học sinh cần nắm vững.

a) Bản chất của nghiên cứu khoa học trong phương pháp BTNB

Tiến trình tìm tòi nghiên cứu khoa học trong phương pháp BTNB là một vấn đề cốt lõi, quan trọng. Tiến trình tìm tòi nghiên cứu của học sinh không phải là một đường thẳng đơn giản mà là một quá trình phức tạp. Học sinh tiếp cận vấn đề đặt ra qua tình huống (câu hỏi lớn của bài học); nêu các giả thuyết, các nhận định ban đầu của mình, đề xuất và tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu; đối chiếu các nhận định (giả thuyết đặt ra ban đầu); đối chiếu cách làm thí nghiệm và kết quả với các nhóm khác; nếu không phù hợp học sinh phải quay lại điểm xuất phát, tiến hành lại các thí nghiệm như đề xuất của các nhóm khác để kiểm chứng; rút ra kết luận và giải thích cho vấn đề đặt ra ban đầu. Trong quá trình này, học sinh luôn luôn phải động não, trao đổi với các học sinh khác trong nhóm, trong lớp, hoạt động tích cực để tìm ra kiến thức.

b) Lựa chọn kiến thức khoa học trong phương pháp BTNB

Việc xác định kiến thức khoa học phù hợp với học sinh theo độ tuổi là một vấn đề quan trọng đối với giáo viên. Giáo viên phải tự đặt ra các câu hỏi như: Có cần thiết giới thiệu kiến thức này không? Giới thiệu vào thời điểm nào? Cần yêu cầu học sinh hiểu ở mức độ nào? Giáo viên có thể tìm câu hỏi này thông qua việc nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa và tài liệu hỗ trợ giáo viên để xác định rõ hàm lượng kiến thức tương đối với trình độ, độ tuổi của học sinh và điều kiện địa phương.

c) Cách thức học tập của học sinh

Phương pháp BTNB dựa trên thực nghiệm và nghiên cứu cho phép giáo viên hiểu rõ hơn cách thức mà học sinh tiếp thu các kiến thức khoa học. Phương pháp BTNB cho thấy cách thức học tập của học sinh là tò mò tự nhiên, giúp các em có thể tiếp cận thế giới xung quanh mình qua việc tham gia các hoạt động nghiên cứu

d) Quan niệm ban đầu của học sinh

Quan niệm ban đầu là những biểu tượng ban đầu, ý kiến ban đầu của học sinh về sự vật, hiện tượng trước khi được tìm hiểu về bản chất sự vật, hiện tượng. Đây là những quan niệm được hình thành trong vốn sống của học sinh, là các ý tưởng giải thích sự vật, hiện tượng theo suy nghĩ của học sinh, còn gọi là các “khái niệm ngây thơ”. Biểu tượng ban đầu không phải là kiến thức cũ, đã được học mà là quan niệm của học sinh về sự vật, hiện tượng mới (kiến thức mới) trước khi học kiến thức đó.

Tạo cơ hội cho học sinh bộc lộ quan niệm ban đầu là một đặc trưng quan trọng của phương pháp dạy học BTNB. Biểu tượng ban đầu của học sinh là rất đa dạng và phong phú. Biểu tượng ban đầu là một chướng ngại trong quá trình nhận thức của học sinh. Chướng ngại chỉ bị phá bỏ khi học sinh tự mình làm thí nghiệm, tự rút ra kết luận, đối chiếu với quan niệm ban đầu để tự đánh giá quan niệm của mình đúng hay sai.

Những nguyên tắc cơ bản của dạy học dựa trên cơ sở tìm tòi – nghiên cứu

Dạy học theo phương pháp BTNB hoàn toàn khác nhau giữa các lớp khác nhau phụ thuộc vào trình độ của học sinh. Giảng dạy theo phương pháp BTNB bắt buộc giáo viên phải năng động, không theo một khuôn mẫu nhất định (một giáo án nhất định). Giáo viên được quyền biên soạn tiến trình giảng dạy của mình phù hợp với từng đối tượng học sinh, từng lớp học. Tuy vậy, để giảng dạy theo phương pháp BTNB cũng cần phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản sau:

a)HScần phải hiểu rõ câu hỏi đặt ra hay vấn đề trọng tâm của bài học. Để đạt được yêu cầu này, bắt buộc học sinh phải tham gia vào bước hình thành các câu hỏi.

b) Tự làm thí nghiệm là cốt lõi của việc tiếp thu kiến thức khoa học

c) Tìm tòi nghiên cứu khoa học đòi hỏihọc sinhnhiều kĩ năng. Một trong các kĩ năng cơ bản đó là thực hiện một quan sát có chủ đích.

d) Học khoa học không chỉ là hành động với các đồ vật, dụng cụ thí nghiệm màhọc sinhcòn cần phải biết lập luận, trao đổi; biết viết cho mình và cho người khác hiểu.

e) Dùng tài liệu khoa học để kết thúc quá trình tìm tòi – nghiên cứu.

f) Khoa học là một công việc cần sự hợp tác.

Một số phương pháp tiến hành thí nghiệm tìm tòi – nghiên cứu

a) Phương pháp quan sát: Quan sát được sử dụng để:

– Giải quyết một vấn đề;

– Miêu tả một sự vật, hiện tượng;

– Xác định đối tượng;

– Kết luận.

b) Phương pháp thí nghiệm trực tiếp

Một thí nghiệm yêu cầu học sinh trình bày nên đảm bảo 4 phần chính:

– Vật liệu thí nghiệm;

– Bố trí thí nghiệm;

– Kết quả thu được

– Kết luận.

c) Phương pháp làm mô hình

d) Phương pháp nghiên cứu tài liệu

10 nguyên tắc cơ bản 2.1. Nguyên tắc về tiến trình sư phạm

a) Học sinh quan sát một sự vật hay một hiện tượng của thế giới thực tại, gần gũi với đời sống, dễ cảm nhận và các em sẽ thực hành trên những cái đó.

c) Những hoạt động do giáo viên đề xuất cho học sinh được tổ chức theo tiến trình sư phạm nhằm nâng cao dần mức độ học tập. Các hoạt động này làm cho các chương trình học tập được nâng cao lên và dành cho học sinh một phần tự chủ khá lớn.

d) Cần một lượng tối thiểu là 2 giờ/tuần trong nhiều tuần liền cho một đề tài. Sự liên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được đảm bảo trong suốt thời gian học tập.

e) Bắt buộc mỗi học sinh phải có một quyển vở thực hành do chính các em ghi chép theo cách thức và ngôn ngữ của các em.

f) Mục tiêu chính là sự chiếm lĩnh dần dần các khái niệm khoa học và kĩ thuật được thực hành, kèm theo là sự củng cố ngôn ngữ viết và nói của học sinh.

2.2. Những đối tượng tham gia

a) Các gia đình, khu phố được khuyến khích thực hiện các công việc của lớp học.

b) Ở địa phương, các cơ sở khoa học (Trường Đại học, Cao đẳng, Viện nghiên cứu…) giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình.

c) Ở địa phương, các viện đào tạo giáo viên (Trường Cao đẳng Sư phạm, Đại học Sư phạm) giúp các giáo viên về kinh nghiệm và phương pháp dạy học.

d) Giáo viên có thể tìm thấy trên internet các website có nội dung về những môđun kiến thức (bài học) đã được thực hiện, những ý tưởng về các hoạt động, những giải pháp thắc mắc. Giáo viên cũng có thể tham gia hoạt động tập thể bằng trao đổi với các đồng nghiệp, với các nhà sư phạm và với các nhà khoa học. Giáo viên là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách.

Trần Nam @ 13:13 26/10/2016 Số lượt xem: 207

Tập Huấn Về Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột

Giảng dạy Sinh học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TS. NGÔ VĂN HƯNG – BỘ GDĐTGiẢNG DẠY KHOA HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNGMme Maryvonne STALLAERTS, professeur agrégé de sciences naturelles, docteur en écologie, formatrice ” La Main à la Pâte “, ” rencontres du Vietnam “

Mme Elizabeth PLE, professeur de sciences physiques à l’Université de Reims /IUFM de Champagne Ardennes, formatrice ” la Main à la pâte “

Phương pháp “Bàn tay nặn bột” Mục tiêu Học viên có khả năng:Phân tích để rút ra được những đặc trưng của Phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học Sinh học.So sánh, tổng hợp để rút ra được những điểm giống nhau và những điểm khác biệt giữa Phương pháp “Bàn tay nặn bột” và một số phương pháp dạy học tích cực khác.Rèn luyện kỹ năng tổ chức tiến trình dạy học theo phương pháp BTNB.Tiến trình hoạt động Hoạt động 1: Khảo sát ban đầu Hoạt động 2 Khởi động Hoạt động 3 : Tìm hiểu đặc trưng của Phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học Sinh họcHoạt động 4: Phân nhóm chuẩn bị bài cho ngày hôm sau Khảo sát ban đầu Mục tiêu : Khảo sát những hiểu biết ban đầu của học viên về Phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Thực hiện:Bước 1: Báo cáo viên chuẩn bị sẵn “Phiếu khảo sát” và phát cho mỗi học viên một bản.Bước 2: Học viên hoàn thành phiếu khảo sát.Bước 3: Báo cáo viên thu phiếu khảo sát, phân tích dữ liệu và chia sẻ kết quả vào ngày hôm sau.Khởi động

Hợp tác quốc tế trong chương trình Bàn tay nặn bột8Các quốc gia tham dự

SénégalAfghanistanHy LạpChiliTrung QuốcCác hình thức hành động khác nhauPhổ biến các kinh nghiệm và đổi mới của khoa học giáo dục, đặc biệt trong chính tổ chức quốc tế (IPA, UNESCO …) và giám hộ của giáo dục quốc dân và nghiên cứu.Đào tạo giảng viên nước ngoàiCung cấp quyền đối với tài nguyên miễn phí cho dịch thuật.Trao đổi các thực hành.Sáng tạo của “Mirrors” Các thực hànhPhát triển các dự án hợp tác quốc tế và những thách thức giữa sinh viên từ các nước khác nhau.9Bàn tay nặn bột tại Việt NamTháng 10 năm 1995 George Charpak tham gia Hội nghị quốc tế Vật lý năng lượng cao tại TP Hồ Chí Minh và hứa hẹn sẽ hỗ trợ việc thành lập các “Hand on” trong trường học Việt NamTháng 6 năm 2000: Khởi động phương pháp “Bàn tay nặn bột” tại Việt Nam dưới sự lãnh đạo của GS. Jean Trần Thanh Vân và “Hội gặp gỡ Việt Nam”.101127 au 31 juillet 2009, Da NangÉcole Hermann Gmeiner – Services d’éducation et de la formation

Các lớp tập huấn phối hợp tổ chức với Hội Gặp gỡ Việt NamCác hội thảo phối hợp tổ chức với Hội Gặp gỡ Việt NamSéminaires sur l’enseignement des sciences à l’école primaire” La Main à la Pâte “Tìm hiểu về phương pháp BTNBMục tiêu hoạt động Học viên phân tích và rút ra được những điểm đặc trưng của Phương pháp “Bàn tay nặn bột”, những điểm giống nhau và những điểm khác biệt giữa Phương pháp “Bàn tay nặn bột” và một số phương pháp dạy học tích cực khác.Một số kĩ thuật dạy học trong triển khai phương pháp bàn tay nặn bột

1718Kỹ thuật “SƠ ĐỒ KWL” để tìm hiểu “PP Bàn tay nặn bột”

Bàn tay nặn bột là gì?Mười nguyên tắc của phương pháp “Bàn tay nặn bột” Tại sao giảng dạy các môn khoa học?Lịch sử của phương pháp “Bàn tay nặn bột” “Bàn tay nặn bột” tại Việt NamBối cảnh ra đời của phương pháp “Bàn tay nặn bột”Trước năm 1995, tại Pháp, GDTH có một số hạn chế : chỉ chú trọng vào đọc, viết và tính toánrất ít nội dung về khoa học tự nhiên (ít hơn 3%)không có thực nghiệm.khoảng 40% học sinh tốt nghiệp tiểu học không đủ kĩ năng ngôn ngữ (nói, viết, lập luận) để học ở cấp trung học cơ sở.Người Pháp nhận thấy cần tăng cường dạy học khoa học, công nghệ ở tiểu học và cần tìm kiếm phương pháp dạy học để học sinh có thể làm chủ được kĩ năng về ngôn ngữ.Cùng thời điểm đó, phương pháp “Hands-on” gặt hái thành công ở Mĩ với khả năng suy luận, kĩ năng ngôn ngữ (diễn đạt) và hợp tác làm việc nhóm ở học sinh. Năm 1995, giáo sư Georges Charpak đã cùng đồng nghiệp tại viện hàn lâm khoa học Pháp sáng tạo ra phương pháp “Bàn tay nặn bột”.“Bàn tay nặn bột”, tiếng pháp là “La main à la pâte ” (LAMAP), là một phương pháp dạy học tích cực, do giáo sư Georges Charpak (đoạt giải Nobel về vật lý năm 1992), viện hàn lâm khoa học Pháp, sáng tạo và phát triển từ năm 1995.Bàn tay nặn bột là gì?Bàn tay nặn bột là gì?.Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của BTNB: Là một tiến trình sư phạm dựa trên hoạt động tìm tòi khám phá của học sinh Là một sự kết hợp của cộng đồng các nhà khoa học Hình thành một mạng lưới và tương tác giữa các giáo viên Các tài liệu được cung cấp miễn phí trên Internet và mạng lưới những chuyên gia làm việc với phương pháp BTNB Sự cộng tác của các trường đào tạo sư phạm và Bộ Giáo dục. Hoàn toàn miễn phí– Giảng dạy khoa học dựa trên tìm tòi khám pháĐặc trưng của Bàn tay nặn bột

Nhiệm vụ: Chọn lựa tình huống xuất phát Phân biệt: tình huống và tình huống xuất phátKhông phải bất kì tình huống nào cũng là tình huống xuất phát vì phải phù hợp với các mối quan tâm riêng của học sinh.Kinh nghiệm thực hiện: tr. 48Ví dụ: Khi dạy bài 9, Sinh học 8 “Cấu tạo và tính chất của cơ”, GV có thể đặt vấn đề tạo tình huống xuất phát: Bắp thịt được gắn với xương như thế nào?37Bước 2 – Hình thành biểu tượng ban đầu của học sinhNhiệm vụ: Làm bộc lộ các quan niệm ban đầu của học sinh về nội dung khoa học của bài học; Phát biểu các câu hỏi của học sinh; Trình bày các biểu tượng ban đầu của học sinh.Kinh nghiệm thực hiện: tr . 49Ví dụ: Khi dạy bài 9, Sinh học 8 “Cấu tạo và tính chất của cơ”, yêu cầu HS cử động tay (gập, duỗi tay); sờ các bắp cơ rồi sau đó vẽ hình để trả lời câu hỏi: Bắp thịt được gắn với xương như thế nào?38Bước 3 – Đề xuất giả thuyết và phương án kiểm chứng giả thuyết39Nhiệm vụ: Phát biểu bằng lời các giả thuyết ở các nhóm; xây dựng các qui trình để chứng minh hay loại bỏ các giả thuyết; Viết các đoạn mô tả các giả thuyết và các tiến trình (bằng lời và hình vẽ, sơ đồ); Phát biểu bằng lời hay viết mô tả các dự đoán của học sinh: “điều gì sẽ xảy ra?” “vì sao?”;Kinh nghiệm thực hiện: Ví dụ: Khi dạy bài 9, Sinh học 8 “Cấu tạo và tính chất của cơ”, Vì sao tay có thể cử động (gập, duỗi tay) được? Làm mô hình?Bước 4 – Tìm tòi – nghiên cứu (nhằm kiểm chứng các giả thuyết)40Nhiệm vụ: tiến hành quan sát hay thí nghiệm;(học sinh chỉ rõ các điều kiện thí nghiệm). Mô tả thí nghiệm, hay quan sát (bằng các sơ đồ, các đoạn văn mô tả).Kinh nghiệm thực hiệnVí dụ: Khi dạy bài 9, Sinh học 8 “Cấu tạo và tính chất của cơ”, GV yêu cầu HS làm thí nghiệm trên ếch để quan sát “Bắp thịt được gắn với xương như thế nào?”Bước 5 – Kết luận, hệ thống hóa kiến thức41Nhiệm vụ: So sánh và liên hệ các kết quả thu được trong các nhóm khác nhau, trong các lớp khác…Trình bày các kiến thức mới lĩnh hội được cuối bài học bằng lời văn viết của học sinh với sự giúp đỡ của giáo viên. Đặt ra các câu hỏi mới.Kinh nghiệm thực hiệnVí dụ: Khi dạy bài 9, Sinh học 8 “Cấu tạo và tính chất của cơ” (Tr 55)Ví dụ về dạy học sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”Tìm hiểu thành phần của một bông hoa hoạt động 1: bóc tách một bông hoahoạt động 2: phân loại các thành phần của bông hoahoạt động 3: gọi tên các thành phần của bông hoahoạt động 4: vẽ hay cắt dán một bông hoa42

Bóc tách một bông hoa

học sinh sử dụng các dụng cụ đơn giản như dao, kéo, kẹp nhíp để tách các thành phần của bông hoa43

Phân loại các thành phần của bông hoa

Gọi tên các thành phần của bông hoa