Nhược Điểm Của Phương Pháp Chiết Cành Là / 2023 / Top 16 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | Channuoithuy.edu.vn

So Sánh Phương Pháp Giâm Cành Chiết Cành Và Ghép Cành / 2023

Cơ sở khoa học của phương pháp là sau khi ta tiến hành khoanh vỏ, dưới ảnh hưởng của các chất nội sinh trong tế bào như auxin, cytokinin khi gặp những điều kiện nhiệt độ, độ ẩm thích hợp thì dễ được hình thành và chọc thủng biểu bì đâm ra ngoài.

* Những ưu điểm của phương pháp chiết cành

– Cây giống giữ nguyên được đặc tính di truyền của cây mẹ.

– Cây sớm ra hoa kết quả, rút ngắn được thời gian kiến thiết cơ bản.

– Thời gian nhân giống nhanh.

– Cây trồng bằng cành chiết thường thấp, phân cành cân đối, thuận lợi cho chăm sóc và thu hoạch.

* Những nhược điểm của phương pháp chiết cành

– Hệ số nhân giống không cao, chiết nhiều cành trên cây sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây mẹ.

– Đối với một số giống cây ăn quả, dùng phương pháp chiết cành cho tỷ lệ ra rễ thấp.

* Phương pháp tiến hành

– Cành chiết được lấy trên các cây giống đã được chọn lọc ở thời kỳ sinh trưởng khoẻ, cây có năng suất cao, ổn định và không có sâu bệnh nguy hiểm gây hại. Chọn những cành có đường kính từ 1 – 2 cm ở tầng tán giữa và phơi ra ngoài ánh sáng, không chọn cành na, cành dưới tán và các cành vượt.

– Dùng dao cắt khoanh vỏ với chiều dài khoanh vỏ bằng 1,5 – 2 lần đường kính gốc cành. Sau khi bóc lớp vỏ ngoài, dùng dao cạo sạch phần tượng tầng đến lớp gỗ.

Sau khi khoanh vỏ1 – 2 ngàythì tiến hành bó bầu. Đất bó bầu gồm 2/3 là đất vườn hoặc đất bùn ao phơi khô, đập nhỏ + 1/3 là mùn cưa, rơm rác mục, xơ dừa… tưới ẩm, bọc bầu bằng giấy potyêtylen và buộc kín hai đầu bằng lạt mềm.

Sau 60 – 90 ngày, tuỳ thuộc vào thời vụ chiết, cành chiết rễ. Khi cành chiết có rễ ngắn chuyển từ màu trắng sang màu vàng ngà là có thể cắt cành chiết đưa vào vườn ươm.

Thời vụ chiết thích hợp cho đa số các chủng loại cây ăn quả là vụ xuân và vụ thu.

Giâm cành là phương pháp nhân giống cây trồng bằng cơ quan sinh dưỡng. Cơ sở khoa học của phương pháp tương tự như nhân giống bằng phương pháp chiết cành.

* Những ưu điểm của phương pháp giâm cành.

– Giữ nguyên được đặc tính di truyền của cây mẹ.

– Tạo ra cây giống sau trồng sớm ra hoa kết quả.

– Thời gian nhân giống nhanh.

– Có thể nhân nhiều giống mới từ một nguồn vật liệu giới hạn ban đầu.

* Những nhược điểm.

Đối với những giống cây ăn quả, nhất là những giống kho ra rễ, sử dụng phương pháp này đòi hỏi phải có những trang thiết bị cần thiết để có thể khống chế được điều kiện nhiệt độ, ẩm độ và ánh sáng trong nhà giâm.

* Phương pháp tiến hành.

Đối với các cây ăn quả dạng gỗ cứng, có rụng lá mùa đông, thường lấy cành giâm khi cây bước vào thời kỳ ngủ nghỉ. Đối với các cây ăn quả gỗ mềm, không rụng lá thường lấy cành giâm vào mùa sinh trưởng.

Nền giâm được sử dụng là cát khô, than bùn, xơ dừa hoặc là nền đất tuỳ thuộc vào điều kiện giâm cành, thời vụ giâm, chủng loại giống và loại cành giâm khác nhau.

Cành giâm được chọn ở giữa tầng tán tương tự chọn cành chiết, chiều dài hom giâm thích hợp từ 15 – 20 cm. Đối với những cành giâm lấy vào mùa sinh trưởng nên để lại trên hom giâm từ 2 – 4 lá.

Để tăng khả năng ra rễ của cành giâm, có thể nhúng phần gốc hom giâm vào dung dịch chất điều tiết sinh trưởng như: a NAA, IBA, IAA ở nồng độ 2000 – 4000 ppm trong vài giây hoặc ngâm phần gốc hom giâm vào các dung dịch trên ở nồng độ 20 – 40 ppm trong thời gian 10 – 20 phút.

Sau khi giâm cần tưới ướt bề mặt lá thường xuyên ở dạng phun sương để tránh thoát hơi nước gây rụng lá. Khi cành giâm có một đợt lộc mới ổn định sinh trưởng và có đầy đủ rễ thì tiến hành ra ngôi và chăm sóc cây cho đến khi đạt tiêu chuẩn xuất vườn.

Giai đoạn từ giâm cho tới khi có rễ và lộc mới ổn định cần được tiến hành trong nhà giâm, khi ra ngôi cần chọn thời điểm có điều kiện thời tiết thuận lợi hoặc ra ngôi trong điều kiện có mái che.

Nhân giống cây ăn quả bằng phương pháp ghép

Cơ sở khoa học của phương pháp là khi ghép, bằng những phương pháp nhất định làm cho tượng tầng của gốc ghép và thân ghép tiếp xúc với nhau, nhờ sự hoạt động và khả năng tái sinh của tượng tầng làm cho mắt ghép và gốc ghép gắn liền với nhau.

* Những ưu điểm của phương pháp ghép

– Cây ghép sinh trưởng phát triển tốt nhờ sự phát triển, hoạt động tốt của bộ rễ gốc ghép và khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai của cây gốc ghép.

– Cây ghép giữ được các đặc tính của giống muốn nhân.

– Hệ số nhân giống cao, trong thời gian ngắn có thể sản xuất được nhiều cây giống đáp ứng yêu cầu của sản xuất.

– Giống làm gốc ghép sớm cho ra hoa kết quả vì mắt ghép chỉ tiếp tục giai đoạn phát dục của cây mẹ.

– Tăng cường khả năng chống chịu của cây với điều kiện bất thuận như: chịu hạn, chịu úng, chịu rét và sâu bệnh.

– Thông qua gốc ghép có thể điều tiết được sự sinh trưởng của cây ghép.

– Cókhả năng phục hồi sinh trưởng của cây, duy trì giống quý thông qua các phương pháp ghép như: ghép nối cầu hay ghép tiếp rễ.

* Yêu cầu của giống gốc ghép

– Giống làm gốc ghép phải sinh trưởng khoẻ có khả năng thích ứng rộng với điều kiện địa phương.

– Giống làm gốc ghép phải có khả năng tiếp hợp tốt với thân cành ghép.

– Giống làm gốc ghép phải có khả năng chống chịu sâu bệnh và có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh bất thuận.

– Giống làm gốc ghép phải sinh trưởng nhanh, dễ gây giống, ít mọc mầm phụ ở gốc cây con.

* Những yêu cầu kỹ thuật để nâng cao tỷ lệ ghép sống và tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn

– Chăm sóc cây con trước khi ghép: sau khi ra ngôi cần áp dụng đầy đủ các quy trình khác của kỹ thuật chăm sóc để cây gốc ghép sớm đạt tiêu chuẩn ghép. Trước khi ghép 1 – 2 tuần cần tiến hành vệ sinh vườn cây gốc ghép và tăng cường chăm sóc để cây có nhiều nhựa, tượng tầng hoạt động tốt.

– Chọn cành, mắt ghép tốt: cành ghép được lấy từ vườn chuyên lấy cành ghép hoặc trên vườn sản xuất với những cây mang đầy đủ các đặc tính của giống muốn nhân. Cành ghép được chọn ở giữa tầng tán, không có các đối tượng sâu bệnh nguy hiểm gây hại. Tuổi cành ghép chọn phù hợp tuỳ thuộc vào thời vụ ghép khác nhau. Trong điều kiện cần vận chuyển đi xa, cần bảo quản trong điều kiện đủ ẩm, tránh nhiệt độ cao.

– Chọn thời vụ ghép tốt: trong điều kiện khí hậu miền Bắc nước ta, đa số các giống cây ăn quả được tập trung ghép vào vụ xuân và vụ thu.

– Thao tác kỹ thuật ghép: đây là khâu kỹ thuật có tính chất quyết định, phụ thuộc vào sự thành thạo của người ghép. Các thao tác ghép cần được tiến hành nhanh và chính xác.

– Chăm sóc cây con sau khi ghép: tất cả các khâu kỹ thuật từ mở dây sau ghép, xử lý ngọn gốc ghép, tỉa mầm dại, tưới nước làm cỏ, bón phân, tạo hình cây ghép cho tới công tác phòng trừ sâu bệnh hại cần được tuân thủ một cách nghiêm ngặt, đúng kỹ thuật.

* Các phương pháp ghép:

+ Tuỳ thuộc vào mục đích áp dụng, từng đối tượng cây ăn quả mà có thể sử dụng các phương pháp khác nhau. Một số phương pháp ghép chủ yếu đang được áp dụng để nhân giống cây ăn quả được chia thành hai nhóm là ghép mắt và ghép cành.

+ Nhóm các phương pháp ghép mắt.

– Phương pháp ghép mắt cửa sổ.

Phương pháp ghép mắt cửa sổ thường được áp dụng với các chủng loại cây ăn quả dễ bóc vỏ, có thân cành dễ lấy mắt, mắt ghép lớn.

Trên gốc ghép, cách mặt đất 25 – 30 cm, chọn vị trí không có nhánh hoặc mầm ngủ, tiến hành mở vết ghép có dạng cửa sổ và bóc bỏ phần vỏ. Trên cành ghép, chọn vị trí có mầm ngủ, cắt một phần khoanh vỏ có chứa mầm ngủ với kích thước tương tự hoặc nhỏ hơn vết mở trên gốc ghép. Đặt mắt ghép vào gốc ghép và dùng dây nilon cuốn lại, lưu ý cuốn kín dây từ dưới lên trên một lượt để tránh nước mưa thấm vào và cố định dây ghép.

Sau ghép 15 – 20 ngày tuỳ thuộc vào chủng loại cây ăn quả, tiến hành cởi dây ghép. Nếu mắt ghép còn xanh thì sau 2 – 3 ngày tiến hành cắt ngọn gốc ghép, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây con sau khi ghép.

– Phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ

Phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ được áp dụng để nhân giống hồng, các cây ăn quả có múi và một số chủng loại cây ăn quả khác.

Trên gốc ghép, ở độ cao cách mặt đất 25 – 30 cm, chọn vị trí không có nhánh hoặc mầm ngủ, tiến hành mở gốc ghép có dạng hình lưỡi của gốc ghép. Trên cành ghép, chọn vị trí có mầm ngủ, cắt lấy mắt ghép dạng hình lưỡi có một phần gỗ tương tự như trên gốc ghép. Đặt mắt ghép vào gốc ghép và dùng dây nilon cuốn lại, lưu ý cuốn kín dây từ dưới lên trên một lượt để tránh nước mưa thấm vào và cố định dây ghép. Trường hợp mắt ghép nhỏ hơn so với vết mở trên gốc ghép thì đặt mắt ghép lệch về một bên để có ít nhất một phía tượng tầng được trùng khớp.

Sau ghép 20 – 25 ngày tuỳ thuộc vào chủng loại cây ăn quả, tiến hành cởi dây ghép. Nếu mắt ghép còn xanh thì sau 2 – 3 ngày tiến hành cắt ngọn gốc ghép, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc cây con sau khi ghép.

+ Nhóm các phương pháp ghép cành

– Phương pháp ghép áp

Phương pháp ghép áp được áp dụng chủ yếu để nhân giống trồng với số lượng nhỏ hoặc áp dụng với những cây ăn quả khó nhân giống bằng các phương pháp khác.

Trên cành ghép và gốc ghép, mở vết cắt có kích thước tương tự nhau, dài từ 8 – 10 cm, áp hai vết cắt vào nhau và cuốn kín lại bằng dây nilon, dùng dây buộc cố định của gốc ghép trên thân cây chọn cành ghép. Sau ghép khoảng 1,5 – 2 tháng, tiến hành cởi dây ghép và cắt ngọn của gốc ghép. Sau đó khoảng 7 – 10 ngày, cắt tiếp phần gốc của cành ghép và tạo được cây giống hoàn chỉnh.

– Phương pháp ghép cành bên

Phương pháp ghép cành bên được sử dụng trong trường hợp cây gốc ghép khó bóc vỏ để sử dụng các phương pháp ghép khác hoặc ghép trong mùa khô.

Trên gốc ghép, ở độ cao cách mặt đất 25 – 30 cm, mở vết cắt tương tự như phương pháp ghép mắt nhỏ có gỗ nhưng có kích thước từ 2 – 3 cm. Trên cành ghép, cắt một lát cắt tạo vết cắt dài, có kích thước tương tự như vết mở trên gốc ghép, giữ lại 2 – 3 mầm ngủ. Cài cành ghép vào vết mở của gốc ghép và dùng dây nilon cuốn kín lại. Cuốn dây nilon từ dưới lên trên và cố định dây cuốn lần thứ nhất khi cuốn kín vết cắt, sau đó tiếp tục cuốn dây một lượt lên trên và cố định dây ghép. Sau ghép 20 – 25 ngày, tiến hành cởi dây ghép đến vị trí cố định dây lần 1 và sau 1 – 2 ngày thì cắt ngọn gốc ghép. Khi cây có 1 – 2 đợt lộc ổn định thì cắt tiếp phần còn lại của dây ghép.

– Phương pháp ghép đoạn cành

Phương pháp ghép đoạn cành được sử dụng để nhân giống hầu hết các đối tượng cây ăn quả thân gỗ.

Trên gốc ghép, ở độ cao cách mặt đất 25 – 30 cm, tiến hành cắt ngọn gốc ghép (có giữ lại một vài lá gốc). Chọn cành ghép có đường kính tương tự với đường kính gốc ghép, cắt một lát cắt tạo vết cắt dài 2 – 2,5 cm, có 2 – 3 mầm ngủ. Chẻ một vết trên gốc ghép có chiều rộng và sâu tương tự với kích thước của vết cắt trên cành ghép. Cài cành ghép vào gốc ghép sao cho ít nhất có một phía tượng tầng được trùng khớp và dùng dây nilon mỏng cuốn lại.

Trước hết cuốn nhiều vòng dây để cố định cành ghép vào gốc ghép, sau đó trải rộng dây nilon và cuốn kín một lượt xung quanh cành ghép, đưa dây nilon trở lại cố định dây tại gốc ghép. Sau ghép 15 – 20 ngày, mầm ghép bắt đầu mọc xuyên qua dây cuốn, tiến hành các biện pháp chăm sóc cây con sau khi ghép.

– Phương pháp ghép nêm.

Phương pháp ghép nêm được sử dụng cả nhân giống trong vườn ươm và ghép cải tạo vườn cây ăn quả.

Trên gốc ghép, cắt bỏ toàn bộ thân tán ở vị trí phù hợp, chọn cành ghép và cắt cả hai phía tạo thành hình chiếc nêm. Chẻ đôi gốc ghép và cài cành ghép sao cho phần tượng tầng phía ngoài của gốc ghép và cành ghép được trùng khớp với nhau. Dùng dây nilon cuốn chặt cố định cành ghép với gốc ghép và cuốn kín cành ghép để chống thoát hơi nước. Sau khi cành ghép bật lộc, có 1 – 2 đợt lộc ổn định sinh trưởng thì tiến hành cắt bỏ dây ghép. Sau đó áp dụng các biện pháp chăm sóc cây sau ghép như các phương pháp ghép khác.

– Phương pháp ghép sửa chữa thân và sửa chữa rễ

Các phương pháp ghép này được sử dụng khi cần nối phần vỏ bị tổn thương của cây hoặc cải tạo bộ rễ cây đã bị gây hại.

Đối với phương pháp ghép sửa chữa thân, sử dụng các đoạn cành của cùng giống cây ăn quả ghép nối lại phần vỏ qua vị trí bị tổn thương. Trên cành ghép, cắt tạo vết cắt tương tự như mở vết cắt của phương pháp ghép cành bên nhưng dài từ 3 – 5 cm ở cả hai đầu của đoạn cành. Trên thân cây, bóc vỏ mở vết ghép có kích thước tương tự với vết cắt của cành ghép. Cài cành ghép vào thân cây và cuốn kín lại bằng dây nilon. Khi vết ghép gắn liền, tiến hành cởi dây ghép.

Đối với phương pháp ghép sửa chữa rễ, tiến hành trồng các cây gốc ghép xung quanh gốc cây cần ghép sửa chữa, cắt ngọn gốc ghép tạo vết cắt tương tự như đoạn cành của phương pháp ghép sửa chữa thân, bóc vỏ mở vết ghép có kích thước tương tự với vết cắt của cành ghép. Cài vết cắt của gốc ghép vào thân cây và cuốn kín vết ghép bằng dây nilon khi vết ghép gắn liền, tiến hành cởi dây ghép.

Kanban Là Gì? Ưu Và Nhược Điểm Của Phương Pháp / 2023

Kanban là một thuật ngữ bắt nguồn từ công ty chế tạo xe hơi Toyota. Nơi có phương thức quản lý xí nghiệp thông minh, tạo đòn bẩy phát triển kinh tế của Nhật bản và là tiêu chuẩn quản lý của các tập đoàn sản xuất lớn của Nhật hiện tại.

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, tất cả doanh nghiệp nói chung đều có phương pháp quản lý sản xuất khác nhau sao cho phù hợp với đặc điểm của doanh nghiệp mình. Từ đó mang lại hiệu quả kinh tế tốt nhất cho doanh nghiệp và tạo được sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường, góp phần củng cố và nâng cao vị thế của doanh nghiệp, trong đó Kaban là có thể được coi là một mô hình quản trị riêng, hoặc là một phẩn của Lean Manufacturing.

Kanban là gì ?

Kanban dịch từ tiếng Nhật có nghĩa là “bảng thông tin”. Còn đúng chính xác thuật ngữ chuyên môn kinh tế thì phải là “Phương pháp quản lý Kanban ” (Kanban method ). Đây là một thuật ngữ bắt nguồn từ công ty chế tạo xe hơi Toyota. Nơi có phương thức quản lý xí nghiệp thông minh, tạo đòn bẩy phát triển kinh tế của Nhật bản và là tiêu chuẩn quản lý của các tập đoàn sản xuất lớn của Nhật hiện tại. Phương thức quản lý ở Toyota bao gồm 1 phần rất quan trọng là “Phương thức quản lý KANBAN”.

Kanban là công cụ kiểm soát sản xuất, có thể có nhiều màu sắc để chỉ định nguyên liệu và các công đoạn khác nhau. Đối với trạm công việc này kanban là một phiếu (thẻ) đặt hàng, còn đối với trạm kế tiếp nó trở thành một phiếu vận chuyển – chỉ định rõ phải nhận bộ phận, chi tiết hay nguyên liệu nào từ trạm trước nó với số lượng bao nhiêu.

Thông tin trên kanban:

Tên và mã số các bộ phận chi tiết,

Tên và vị trí nơi sản xuất ra các bộ phận chi tiết đó (ở qui trình trước),

Tên và vị trí nơi các bộ phận chi tiết sẽ đến (qui trình sau),

Vị trí khu vực tồn trữ,

Số lượng các bộ phận chi tiết trong một lô hàng, loại thùng chứa, sức chứa mỗi thùng …

Kaban Kép

Ví dụ 1 thẻ kanban

Các loại Kanban

Kanban vận chuyển (transport kanban): Đây là loại dùng để thông báo cho công đoạn trước cần chuyển chi tiết, sản phẩm cho công đoạn sau.

Kanban sản xuất (production kanban): Đây là loại dùng để báo cho dây chuyền sảnxuất cần sản xuất chi tiết, sản phẩm để bù vào lượng hàng đã giao đi.

Kanban cung ứng (supplier kanban): Đây là loại dùng để thông báo cho nhà cung cấp biết cần phải giao hàng.

Kanban tạm thời (temporary kanban): Kanban được phát hành có thời hạn trong cáctrường hợp bị thiếu hàng.

Kanban tín hiệu (signal kanban): Là loại dùng để thông báo kế hoạch cho các côngđoạn sản xuất theo lô

Nguyên tắc của Kanban

Mỗi thùng hàng phải chứa một thẻ Kanban trên đó ghi tên chi tiết, nơi sản xuất, nơi chuyển đến và số lượng

Chi tiết luôn được “kéo” bởi công đoạn sau

Không bắt đầu sản xuất khi không nhận được kanban

Mỗi khay, thùng phải đựng đúng số lượng được chỉ định

Không được giao chi tiết phế phẩm cho công đoạn sau

Số lượng kanban cần được giảm thiểu

Khoảng thời gian giữa các lần giao cần được giảm thiểu

Kanban là phương pháp quản lý công đoạn sản xuất thực thi bằng các bảng truyền đạt thông tin, các phiếu liên lạc giữa các công đoạn. Trong dây chuyền sản xuất không có chi tiết thiếu hay thừa, toàn xưởng sản xuất không có sản phẩm tồn kho, cũng như không có nguyên vật liệu tồn kho.Đúng chính xác giờ A thì chi tiết,linh kiện được ráp trên dây chuyền đến công đoạn A, ngay tại thời điểm linh kiện đến công đoạn A thì các bộ phận vệ tinh phải đưa chi tiết (hàng) vào đúng ngay giờ khắc và dây chuyền công đoạn đó, đưa đúng đủ số lượng cần thiết, không dư không thiếu và không thể lệch một phút, khi đến công đoạn B ,C,D thì cũng như vậy cho đến khi hoàn thành sản phẩm hoàn chỉnh.Sản phẩm hoàn thành xong sẽ được giao cho khách hàng hoặc đưa xuống cảng tập trung để xuất khẩu ngay lập tức đúng với hợp đồng, vận đơn đặt hàng. Khôngcó sản phẩm tồn kho trong bãi sản xuất.

Ưu điểm của phương pháp Kanban

Độ chính xác giờ giấc

Độ chính xác sản phẩm…

Tiết kiệm tối đa vật tư và nguyên liệu

Vòng đời sản phẩm quay nhanh vì khả năng phân tán lao động cao.

Ví dụ một mẫu xe mới nếu như công GMC của Mỹ với quy trình quản lý cũ là họ ôm hết từ A đến Z thì sẽ mất 10 năm mới đổi model xe được thì với Toyota chỉ cần một hoặc 2 năm là họ có thể thay đổi mẫu mã xe mới toàn bộ vì họ áp dụng phương pháp sản xuất này.

Nhược điểm của phương pháp Kanban

Đòi hỏi phải có một hệ thống cơ sở hạ tầng của xã hội tốt, hoàn hảo.

Đòi hỏi toàn dây chuyền sản xuất phải có một hệ thống nhân viên và kỹ thuậtviên có trình độ và kiến thức cao,ý thức kỷ luật lao động cao, bởi vì chỉ cần một nhân viên của bộ phận vệ tinh vô kỷ luật, kiểm tra một con ốc không kỹ thì cả dây chuyền phải ngưng làm việc.

Đòi hỏi chế độ bảo mật kỹ thuật đối với các bộ phận vệ tinh nghiêm ngặt, nếu không rất dễ bị lộ kỹ thuật ra ngoài.

Kanban là một phương pháp để quản lý công việc rất hữu ích và có thể áp dụng rộng rãi trong nhiều nhóm ngành khác nhau. Để linh hoạt và kết nối trọn vẹn với các phòng ban, cá nhân, từ công việc cho đến các khía cạnh về Khách hàng, Cơ hội… trong doanh nghiệp, có lẽ bạn nên tham khảo các giải pháp quản trị có tính năng quản lý công việc theo mô hình Kanban này.

Theo chúng tôi

Các Phương Pháp Chiết Cành Đơn Giản / 2023

Có nhiều phương pháp nhân giống cây trồng, trong đó nổi bật và phổ biến có phương pháp chiết cành. Chiết cành phương pháp nhân giống cây con vô tính có thể giữ nguyên những đặc tính di chuyển từ cây mẹ.

Ưu điểm của phương pháp chiết cành là dễ thực hiện, cây chiết có tỷ lệ sống cao, khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh khỏe. Những cây thấp, tán gọn sẽ càng dễ dàng chăm sóc, quả ra sớm và thu hoạch nhanh chóng.

Chính vì những điều đó là phương pháp chiết cành rất được các nhà vườn ưu tiên thực hiện. Những hộ làm vườn quy mô nhỏ rất thuận tiện trong việc chuyển giao các giống tốt để phát triển chất lượng vườn.

1. Khái niệm chiết cành là gì? Có nên chiết cành hay không?

Chiết cành là phương pháp nhân giống rất quen thuộc. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ chiết cành là gì. Bạn có thể hiểu đơn giản thì đây là phương pháp nhân giống vô tính, cây con sau khi nhân giống sẽ không làm mất đi những đặc tính truyền từ cây mẹ.

Những cây con nhân giống từ phương pháp chiết cành thường có khả năng sinh trưởng tốt, thân cây không quá cao, tán gọi và rất nhanh cho thu hoạch quả trong thời gian ngắn, chất lượng quả tương đối cao.

Phương pháp nhân giống vô tính này rất dễ thực hiện, yêu cầu kỹ thuật tương đối đơn giản, thuận tiện cho việc chuyển giao và lưu giữ các giống cây tốt, phù hợp với các vườn có quy mô và diện tích nhỏ.

Tuy nhiên phương pháp chiết cành vẫn còn tồn tại một số hạn chế khó giải quyết như cây nhanh bị già cỗi, cây mẹ dễ bị tổn thương và không áp dụng lý tưởng được trên diện tích lớn cho hệ số nhân giống thấp.

Nếu bạn chăm sóc cây chiết khỏe mạnh thì thân vẫn có thể phát triển khỏe mạnh, cho thu hoạch đến 20 – 30 năm. Để kỹ thuật chiết cành thành công bạn cần chú ý đến một vài điểm quan trọng sau:

2. Cần chuẩn bị gì trước khi tiến hành chiết?

Nên thực hiện vào tháng mấy?

Thời tiết và môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sống và phát triển của cây. Chính vì vậy bạn nên chọn thời gian thích hợp trong này và trong năm để chiết cây. Thường thì có 2 vụ chính trong năm để chiết cành. Vụ thứ nhất là vụ xuân hè, diễn ra vào tháng 3 và 4. Vụ thứ hai là vụ thu đồng, tiến hành vào tháng 9.

Để cành chiết tăng tỷ lệ sống trước khi tiến hành chiết cành khoảng 1 – 2 tháng bạn cần chăm sóc cây mẹ khỏe mạnh, phòng tránh sâu bệnh.

Chọn cây tiến hành chiết

Cây mẹ chọn làm cây chiết bạn chọn những cây đã cho quả đều từ 3 – 4 vụ, cây khỏe mạnh, phát triển tốt, không bị nhiễm sâu bệnh, chất lượng quả và năng suất trái cao.

Ngoài ra vỏ cây cũng không được có màu quá thẫm hay quá xanh. Những cành bánh tẻ không quá già lại không quá non thích hợp để chiết cành nhất. Chiều dài mỗi cành chiết trung bình khoảng 50cm, trên mỗi cành như vậy sẽ có 2 nhánh con.

Với phương pháp chiết cành, cành chiết càng nhỏ thì khả năng ra rễ và phát triển lại càng tốt. Tuy nhiên bạn không nên vì thế mà chọn cành nhỏ quả, không tách thân mẹ được, cũng sẽ nhanh chết cho gió, mưa hoặc thể trạng suy yếu.

3. Chi tiết các bước thực hiện chiết cành cho người mới

Đầu tiên bạn dùng con dao thật sắc khoanh tròn 2 đầu cành chiết sao cho khoảng cách giữa 2 vết khoanh khoảng 3 – 5cm, cách gốc cành 1 đoạn dài khoảng 10 – 15cm. Sau đó bạn dùng đầu dao luồn vào tách nhẹ nhàng lớp vỏ trong vùng đã khoanh.

Bạn dùng dao cạo hết chất nhờn trên bề mặt gỗ để loại bỏ lớp tế bào thượng tầng rồi tiếp tục lau sạch vết cắt bằng giẻ sạch. Nếu có kéo khoanh vỏ kéo việc cắt hai đường vỏ cây sẽ dễ dàng hơn bởi đây là phương pháp chiết cành chuyên nghiệp.

Bạn đập nhỏ đất rồi trộn cùng với trấu bổi, phân chuồng hoai mục, rơm rác mục hoặc rễ bèo tây để tăng độ dinh dưỡng cho đất.

Tỷ lệ thích hợp cho bầu là 2 phần đất và 1 phần nguyên liệu bổ sung. Độ ẩm bão hòa ở mức 70%.

Đường kính bầu chiết dao động từ 6 – 8cm, cân nặng khoảng 150 – 300g, chiều cao khoảng 10 – 12cm. Bạn không nên làm bầu quá nhỏ hay quá to sẽ khiến cành khó ra rễ và khó di chuyển.

Bạn chọn ngày có thời tiết tốt, mát mẻ và nắng nhẹ để thực hiện chiết cành. Dùng một con dao sắc cắt khoanh vỏ nhưng không cắt vào phần gỗ. Bạn nên thực hiện cắt vào buổi sáng màu mẻ.

Thời gian bó bầu tùy thuộc vào giống cây trồng khác nhau sẽ không giống nhau. Chẳng hạn những cây nhiều nhựa như hồng xiêm, trứng gà thì bạn nên bó bầu chỉ sau 7 ngày phơi dưới ánh nắng. Còn những cây ít nhựa như nhãn, vải, cây có múi thì chỉ cầu phơi 2 – 3 ngày thì có thể tiến hành bó bầu được rồi.

Nguyên liệu, dụng cụ để bó bầu gồm có đất, giấy nilon, dây bó…Bạn sử dụng đất đã qua xử lý để bó bầu, bạn dàn mỏng đất xung quanh cành rồi dùng giấy nilon bao quanh bầu đất lại, dùng dây cố định lại bầu, buộc chặt 2 đầu túi bầu sao cho bầu chiết không bị xoay tròn là được.

Sau khi chiết cành được 45 – 60 ngày rễ sẽ mọc ra. Tuy nhiên tùy thuộc vào từng loại cây và mùa vụ thời gian mọc rễ sẽ rút ngắn hoặc kéo dài.

Rễ cây từ màu trắng nõn chuyển sang màu hơi xanh hoặc vàng ngày thì bạn có thể cưa cành chiết và giâm vào vườn ươm để tiếp tục chăm sóc.

Bầu chiết trước khi hạ bạn phải xé bỏ lớp nilon bên ngoài, cắt bớt các lá già, sâu bệnh, yếu ớt, chỉ để lại những lá khỏe mạnh. Bạn không nên giâm cành với mật độ quá dày sẽ khiến cho cây sinh trưởng kém, thân lá còi cọc, dễ nhiễm bệnh. Mật độ thích hợp duy trì ở ngưỡng 20×20 cm, hay 30 x 30 cm.

Bạn đào hố rồi đặt bầu cây xuống, lấp đất cách cổ bầu khoảng 3 – 5cm rồi tưới nước đẫm luống. Thời gian đầu cây còn yêu bạn nên che chắn ánh sáng tự nhiên cho cây khoảng 1 nửa, ngoài ra mỗi ngày tưới 2 lần nước cho cây.

Bạn chuyển sang chế độ tươi 1 – 2 ngày / 1 lần sau 5 – 10 ngày trồng tùy thuộc vào độ ẩm của đất.

Sau 15 – 20 ngày hạ bầu bạn bỏ bớt đồ che chắn để cây quen dần với ánh sáng tự nhiên. Bạn tiến hành bón phân từ ngày thứ 30 trở đi. Có thể đem đi trồng những cây con sau khi chiết cành từ 45 – 60 ngày.

Nhân Giống Tre Bằng Phương Pháp Chiết Cành / 2023

Khái niệm nhân giống tre bằng phương pháp chiết cành

Chiết cành là một phương pháp nhân giống vô tính được thực hiện bằng cách sử dụng những cành dinh dưỡng ở trên cây mẹ và thực hiện bằng cách: Dùng cưa sắc cưa gốc củ cành sát phần thân cây mẹ sau đó đắp lên vị trí cưa và gốc cành (đùi gà) một lớp đất rồi lấy nilon bọc lại chờ cho gốc cành ra rễ, cắt cành chiết khỏi cây mẹ, tạo được cây con có khả năng sống độc lập, mang đầy đủ tính di truyền của cây tre mẹ.

Ưu, nhược điểm của phương pháp nhân giống tre bằng phương pháp chiết cành

Ưu điểm

– Tạo được cây con mang đặc tính di truyền của cây mẹ.

– Vừa sử dụng được giống, vừa sử dụng được cây.

– Không ảnh hưởng đến năng xuất (măng) của bụi

Nhược điểm

– Hệ số nhân giống thấp

– Kỹ thuật phức tạp đòi hỏi phải có kinh nghiệm.

Thời vụ chiết cành

– Miền Bắc nên chiết 2 vụ trong năm:

+ Vụ xuân chiết tháng 3 – tháng 4 (dương lịch)

+ Vụ thu chiết tháng 7 – tháng 8 (dương lịch)

– Miền Nam nếu chủ động được nước tưới cho cây mẹ có thể chiết được quanh năm còn không chủ động được nước tưới nên chiết từ đầu đến cuối mùa mưa.

Nếu chiết vào mùa mưa thời gian ra rễ khoảng 20 ngày còn vào mùa khô thời gian ra rễ phải kéo dài trên 1 tháng mà tỉ lệ rễ lại ít, cây yếu, tỉ lệ giâm sống không cao.

Chuẩn bị dụng cụ và vật liệu chiết cành

Chuẩn bị dụng cụ

+ Cưa tay, kéo cắt cành, dao tông phải được mài và dũa sắc.

+ Cuốc, xẻng, sàng đất.

+ Ống đong, que thủy tinh, cân tiểu li

+ Thang chữ A.

Chuẩn bị vật liệu chiết cành

– Cây vật liệu có đủ tiêu chuẩn chiết: 30 cây

– Chuẩn bị đất và chất tạo độ xốp:

+ Chọn đất thịt nhẹ hoặc trung bình.

+ Rơm khô phải được băm nhỏ thành đoạn ≤ 3 cm.

– Chuẩn bị vật liệu để bó bầu chiết:

+ Thuốc NAA, NaOH. Pha thuốc kích thích ra rễ NAA nồng độ 100PPm (100 mg/lít)

+ Nilon trắng có KT (20 x 25cm).

+ Dây lạt buộc (3 lạt/bầu)

+ Phân NPK.

+ Phân chuồng ủ hoai mục.

Chọn cây mẹ lấy cành chiết

– Cây mẹ để lấy cành chiết có tuổi 12 – 14 tháng tuổi, sinh trưởng tốt, không sâu bệnh, không có hoa và cành lá đã phát triển đầy đủ.

– Dùng sơn đỏ đánh dấu tất cả các cây mẹ được tuyển chọn ở vị trí 1, 3m.

Chọn và đánh dấu cành chiết

– Trên cây mẹ đã tuyển chọn, chọn những cành bánh tẻ, cành cấp 1 có đường kính gốc cành ≥ 1cm, đang bong bẹ mo, cành đã toả hết lá, đùi gà to và có nhiều vòng rễ khí sinh, mắt cua to, chắc nổi rõ, không sâu bệnh và dị tật.

– Chọn được cành có đủ tiêu chuẩn nêu trên thì dùng chổi quét và sơn đỏ đánh dấu ngay cành đó.

Chiết cành

Chặt cành nhánh, bóc bẹ mo

– Dùng dao tông lóc bỏ cành nhánh ở 2 bên đùi gà

– Bóc bỏ bẹ mo: Bóc sạch bẹ mo ở đùi gà.

Cắt ngọn cành và cưa gốc cành chiết

– Cắt ngọn cành: Dùng dao sắc hoặc kéo cắt cành, cắt bớt ngọn cành chiết sao cho cành còn độ dài 30 – 40 cm, đoạn cành có từ 2- 3 lóng (nhằm hạn chế gẫy khi gặp mưa to gió lớn) Cắt ngọn cành chiết

– Cưa gốc cành chiết:

Bước 1: Xác định điểm chiết

Điểm chiết tại phần đùi gà cách thân cây mẹ khoảng 1 – 2 cm (để lấy nơi buộc giấy nilon bọc bầu chiết cho chắc sau này) Xác định điểm chiết

Bước 2: Dùng cưa sắc, cưa 4/5 diện tích tiếp giáp giữa đùi gà và thân cây mẹ (hướng cưa từ trên xuống). Cưa cành chiết từ trên xuống

Bước 3: Tại phía dưới của điểm chiết, phần đối đối diện với mạch cưa trên dùng cưa, cưa chớm vào cành 0,3 cm (để sau này dễ bẻ cành chiết) Cưa cành chiết từ dưới lên

Bước 4: Lấy bông chấm vào thuốc kích thích ra rễ NAA (100 mg/l) và bôi vào vết cắt ở gốc củ cành, để ngấm 5- 10 phút rồi mới bó bầu.

Bó bầu chiết

Đất bó bầu chiết phải đảm bảo các yêu cầu sau: Tơi xốp, giữ ẩm tốt, không bị vỡ bầu khi đất khô, đủ dinh dưỡng do vậy nên chọn đất thịt trung bình, đất phù sa, đất bùn ao phơi khô nỏ

Bó bầu chiết được thực hiện theo các bước sau:

– Trộn đất để bó bầu:

Tiến hành trộn đất đã chọn với chất độn (rơm, rác mục cùng với phân chuồng hoai mục) theo tỉ lệ 2/3 đất + 1/3 chất độn tạo độ xốp theo nguyên tắc thành phần nào nhiều đổ trước, ít đổ sau sau đó trộn đều hỗn 2 -3 lần rồi nhào hỗn hợp cùng nước (hoặc có thêm dung dịch NAA mg/l), đảm bảo độ ẩm đạt được là 80 % (khi nắm hỗn hợp vào tay, hỗn hợp không tở ra và nước cũng không chẩy qua kẽ ngón tay là được). Trộn đất với chất độn để bó bầu

– Bó bầu:

+ Vật liệu làm vỏ bầu là nilon trắng không bị thủng, kích thước 20 x 25cm.

Thao tác bó bầu chiết:

+ Đất đã chuẩn bị xong được chia thành từng nắm hình tròn, đường kính chừng 12 -15 cm, trọng lượng 150 – 200 gam. Nắm đất bó bầu

+ Dùng tay bẻ đôi nắm đất ấp vào vết cắt và gốc củ cành, sao cho kín gốc củ cành và vết cắt. Bầu chiết có đường kính khoảng 10 – 12 cm và dài 12 -15cm.

+ Dùng nilon màu trắng, dai, kích thước 20 x 25 cm, gói kín.

+ Buộc ngoài bằng 3 nút lạt giang (giữa và 2 đầu) cho chắc chắn. Thao tác bó bầuBầu chiết bó xong

Cắt cành chiết trên cây mẹ

– Trước khi cắt cành chiết phải kiểm tra xem cành chiết đủ tiêu chuẩn cắt hay chưa.

– Tiêu chuẩn của cành chiết đủ tiêu chuẩn để cắt là những cành có bộ rễ đã phát triển: rễ nhiều, phân bố đều, rễ có màu vàng nâu.

– Chỉ chọn và cắt những cành chiết có đủ tiêu chuẩn.

– Bẻ hoặc cắt cành chiết không làm vỡ bầu và dập xước đùi gà.

– Cành chiết cắt xong phải được đưa vào nơi thoáng mát.

– Bó cành chiết thành từng bó khoảng 5- 6 cành 1 bó.

– Vận chuyển cành chiết về vườn giâm.

– Ngâm nước để diệt kiến và bổ sung nước cho bầu chiết sau cắt.

– Xếp dầy cành chiết cùng chiều, ngọn hướng lên trên ở nơi thoáng mát, không có nắng. Xếp cành chiết

Giâm cành chiết

Vườn giâm cành chiết đất phải được làm nhỏ, lên luống và xử lý mầm bệnh rồi tiến hành căng lưới đen che bớt 50 -75% ánh sáng

– Giâm cành chiết trực tiếp ra luống:

+ Luống giâm cành chiết rộng 1 – 1.2 m, dài 8 – 10 m.

+ Nơi giâm cành chiết phải đủ sáng, không bị ngập úng.

+ Nền giâm cành chiết là đất thịt nhẹ hay thịt nhẹ trung bình, đất phải nhỏ và sạch cỏ.

+ Dùng phân chuồng bón lót trước khi ươm cành từ 10 -15 ngày, lượng bón từ 2- 5 kg phân chuồng/ m2 mặt luống.

+ Giâm cành chiết ra luống được thực hiện theo các thao tác sau:

Rạch đất sâu 13 -15 cm theo hàng trên luống

Bóc bỏ vỏ bầu.

Đặt cành chiết vào rạch nghiêng 1 góc khoảng 60- 70º so với mặt luống, cự ly cây 40 x 25 cm, chú ý đặt mắt củ cành sang hai bên rồi lấp đất và lèn chặt.

Sau khi giâm xong phải tưới nước ngay, lượng nước 10 -15 lít/1 m² mặt luống.

– Giâm cành chiết vào bầu:

+ Sử dụng vỏ bầu nilon kích thước 15 x 22 cm, có đục lỗ.

+ Thành phần hỗn hợp ruột bầu: 69 % đất tầng AB + 30 % pc hoai + 1 % supe lân.

+ Thao tác giâm cành chiết vào bầu:

Tách miệng bầu

Cho hỗn hợp ruột bầu vào 1/3 đáy bầu rồi dùng tay nén chặt.

Đưa cành chiết đã được bóc bỏ bầu, đặt nghiêng cành chiết sau đó tiếp tục cho hỗn hợp đất lèn chặt đầy bầu nhưng không được làm vỡ bầu.

Xếp bầu trong luống đã tạo sẵn, các bầu được xếp theo một hướng so le trên mặt luống, mỗi m² có thể xếp được 120 bầu. Giâm cành chiết vào bầu

Xếp xong phải vun đất cao 2/3 bầu và kín hai bên thành luống rồi tưới nước.

Chăm sóc cành chiết tại vườn

Che râm

– Sau khi ươm đảm bảo độ che bóng 60 %, chiều cao dàn che 2m trên toàn bộ diện tích ươm giống.

– Sau 30 – 40 ngày giảm độ che bóng xuống còn 30 %, sau 60 – 70 ngày còn 15%.

– Trước khi xuất vườn 15 – 20 ngày bỏ toàn bộ dàn che. Che râm cho cây

Tưới nước

Nước là thành phần quan trọng xây dựng nên cơ thể thực vật, cây con cần rất nhiều nước, đặc biệt là thời điểm mới giâm khả năng hút nước của bộ rễ hạn chế, vì vậy chúng ta tăng hay giảm lượng nước tưới cũng làm cho sinh trưởng của cây biến đổi theo hướng con người mong muốn.

Khi cây con sinh trưởng vóng lốp, thân mềm yếu phải giảm lượng nước tưới, ngược lại khi cây con còi cọc chậm lớn do khô hạn thì cung cấp cho cây đủ nước bằng cách tăng lượng nước tưới làm cho cây sinh trưởng nhanh, ở giai đoạn cây sắp xuất vườn, ngừng việc tưới nước làm cho cây con cứng cây, đem trồng đạt tỉ lệ sống cao.

Bón phân

Cành chiết sau giâm quan sát thấy cây đã lên lá mới phải thực hiện bón phân kịp thời để cành chiết sau giâm có đà sinh trưởng.

Xác định loại phân cần bón cho cây con trong giai đoạn vườn ươm

Bón phân cho cành chiết sau giâm vào lần đầu khi quan sát thấy toàn bộ số cây trên diện tích giâm cùng đợt đã lên lá mới.

Dùng loại phân nào để bón cho cây ươm phải thông qua việc quan sát những biểu hiện về sinh trưởng và màu sắc thân cây, cành và lá. Những biểu hiện này do rất nhiều nguyên nhân song trong đó thiếu dinh dưỡng là nguyên nhân chủ yếu, vì vậy tùy theo loại đất, thời tiết khác nhau, tuổi cây mà dùng loại phân bón, lượng phân bón và số lần bón khác nhau.

Loại phân bón cho tre trong giai đoạn vườn ươm thường dùng phân đạm urê để cây phát triển thân cành kết hợp với phân supelân để tăng khả năng ra rễ cho cây.

Chuẩn bị phân bón

– Loại phân: Phân urê, phân supe lân hoặc phân hỗn hợp NPK.

– Tính toán lượng phân cho từng loại trên diện tích cần bón

– Cân từng loại phân bón đã được tính toán cho diện tích cần bón.

– Trộn đều các loại phân bón với nhau trước lúc bón.

Các cách bón phân cho cây con

Lượng phân bón thúc cho cành chiết ươm trong vườn thường bón phân đạm urê và supe lân. Có 3 cách bón:

* Bón phân trực tiếp vào đất trên toàn bộ diện tích cây ươm:

+ Trước khi bón phân phải làm sạch cỏ luống và rãnh luống, thu gom hết cỏ vào 1 nơi. Với loại cỏ có củ phải đào tận gốc (cỏ gấu, cỏ tranh)

+ Rắc phân bón đã hỗn hợp các loại với nhau và rắc đều trên mặt luống sau đó rắc thêm đất trên mặt.

+ Tưới nước đủ ẩm để phân bón phát huy được tác dụng.

* Bón phân trực vào gốc cây trên luống:

+ Làm cỏ trên các gốc cây trước khi bón, vơ cỏ bỏ vào 1 chỗ.

+ Rắc phân bón đã hỗn hợp các loại với nhau vào đất vào đất xung quanh các gốc cây trên luống, dùng cuốc xới đất để đảo đều phân sau đó vun đất vào gốc cây.

+ Tưới nước đủ ẩm để phân bón phát huy tác dụng.

* Pha phân với nước và tưới vào đất

Pha phân với nước và tưới vào đất có nghĩa là pha lượng phân đã tính toán thành dung dịch gồm có nước và phân sau đó tưới lên mặt luống.

Lượng phân tưới: Tưới phân với nồng độ 2% bao gồm 2 loại phân: urê và supelân theo tỉ lệ 1: 1, tưới 1 lít dung dịch phân cho 0, 5 m²

Cách pha: Pha 1 kg phân đạm uê + 1 kg supe lân + 100 lít nước

Tưới vào sáng sớm hoặc vào lúc xế chiều

Tưới 2 lít dung dịch phân đã pha ở trên cho 1 m² luống, Như vậy cứ 1

thùng 10 lít tưới được 5 m² và 1 luống cây có diện tích là 10 m² tưới 2 thùng (thùng 10 lít).

Tưới phân phải đều trên mặt luống, tưới xong chờ cho nước phân ngấm hết dùng nước sạch tưới rửa lại lá để cây khỏi bị sót phân.

Đảo bầu và xén rễ

Đảo bầu và xén rễ là biện pháp gây chấn thương, hạn chế sinh trưởng thân lá, được tiến hành trước khi đem đi trồng khoảng 1 tháng, bằng cách cắt đứt rễ ăn ra khỏi bầu, rễ ăn quá sâu, để chúng ra nhiều rễ mới, khi đem trồng tỉ lệ sống cao hơn.

Đảo bầu và xén rễ thường kết hợp với việc phân loại cây tốt, trung bình và xấu để có biện pháp chăm sóc tiếp giúp cây sinh trưởng đồng đều và nâng cao được tỉ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn. Đảo bầu và xén rễ

Tiêu chuẩn cây giống đem trồng

Cây giống nuôi dưỡng ở vườn ươm từ 4 tháng tuổi trở lên đã có 1 thế hệ cây con tỏa lá, không sâu bệnh, không tổn thương cơ giới. Tiêu chuẩn cành chiết đem trồng