Nguyên Nhân Bùng Nổ Dân Số Lớp 11 / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top View | Channuoithuy.edu.vn

Bùng Nổ Dân Số Trên Thế Giới

Gdcd 10 Bài 15: Công Dân Với Một Số Vấn Đề Cấp Thiết Của Nhân Loại

Bùng Nổ Dân Số Và Vấn Đề Toàn Cầu

Tiểu Luận Bùng Nổ Dân Số Và Vấn Đề Toàn Cầu

Già Hóa Dân Số Khủng Khiếp, Nhưng Liệu Có Thể Thờ Ơ Với Bùng Nổ Dân Số?

Nước Âu Lạc: Hoàn Cảnh Ra Đời Và Tổ Chức Nhà Nước

Tiểu luận

Bùng nổ dân số trên thế giới

1

MỞ ĐẦU

Ngày nay, khái niệm “con quái vật dân số” hay “quả bom dân số” đã trở lên

không còn xa lạ gì với mỗi chúng ta. Gọi như vậy phần nào đã cho chúng ta một

cái nhìn khái quát nhất về tính nguy hại và cấp thiết, cũng như những áp lực mà

vấn đề dân số gây ra cho chúng ta. Trong vòng bốn thập niên trở lại đây, nhân loại

đã có cái nhìn khác về vấn đề dân số, đã không còn quan niệm “trời sinh voi trời

sinh cỏ” nữa mà thay vào đó, con người đã có cái nhìn nghiêm túc hơn trước thực

trạng diễn biễn ngày càng phức tạp của vấn đề dân số. Trong bài tiểu luận này,

chúng tôi chỉ muốn đề cập tới nguyên nhân và thực trạng của vấn đề bùng nổ dân

số- vấn đề đang làm đau đầu lãnh đạo nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có

Việt Nam- để từ đó làm sang tỏ vấn đề bùng nổ dân số hiện đã vượt ra ngoài biên

giới của một quốc gia, một khu vực và đã trở thành một vấn đề toàn cầu.

Bài tiểu luận của nhóm chúng tôi được chia làm 3 phần

I. Khái niệm và thực trạng của vấn đề bùng nổ dân số

II. Nguyên nhân bùng nổ dân số

III. Tại sao vấn đề dân số lại được coi là vấn đề toàn cầu

2

I. Khái niệm và thực trạng vấn đề bùng nổ dân số trên thế giới

1. Khái niệm

– Dân số là tập hợp những người sinh sống trong cùng một quốc gia, khu

vực, vùng địa lí kinh tế hoặc một đơn vị hành chính.

– Bùng nổ dân số là sự gia tăng dân số quá nhanh trong một thời gian

ngắn,gây ảnh hưởng tiêu cực đến mọi mặt của đời sống xã hội1.

Như vậy bản chất của bùng nổ dân số chính là sự tăng lên nhanh chóng một

cách đột biến của số lượng người sinh sống trong phạm vi của một quốc gia, khu

vực, vùng địa lí, hay nói rộng ra đó là sự gia tăng trên phạm vi toàn cầu.

2. Thực trạng vấn đề bùng nổ dân số

Chúng tôi sẽ xem xét vấn đề bùng nổ dân số trên hai cấp độ: cấp độ quốc tế

và cấp độ quốc gia.

a. Cấp độ quốc tế

Dân số phát triển với tốc độ chóng mặt. Xét trong toàn bộ tiến trình lịch sử

xã hội cho đến nay,tỉ lệ phát triển dân số trên phạm vi toàn thế giới ngày càng cao.

Vào những năm công nguyên,dân số thế giới chỉ vào khoảng 250 triệu

người .Cách đó 1.600 năm, dân số thế giới tăng trưởng rất chậm, đến năm 1650

dân số thế giới chỉ tăng gấp đôi con số trên.

Năm 1825,dân số thế giới lên đến 1 tỉ người.

1

Từ điển bách khoa toàn thư

3

Năm 1925 dân số thế giới là 2 tỉ người. 50 năm tiếp theo dân số thề giới

tăng gấp đôi,tức là vào năm 1975 đạt tới 4 tỉ người.

Năm 1987,vào ngày 11 tháng 7,dân số thế giới tròn 5 tỉ người,tức là chỉ cần

12 năm để tăng thêm 1 tỉ người.1

Dân số thế giới đã vượt qua ngưỡng 6 tỉ người vào cuối thập kỷ XX, đạt

6,616 tỉ người vào năm 2007, với tỷ lệ tăng dân số hằng năm 1,2% (so với 2% của

những năm thập kỷ 60 của thế kỷ XX). Chỉ trong vòng 12 năm, thế giới đã tăng

thêm 1 tỉ dân (từ 1987 – 1999), là giai đoạn ngắn nhất trong lịch sử loài người để

có thêm 1 tỉ dân và 1 tỉ tiếp theo sẽ đạt được sau 13 năm. Theo dự báo, dân số thế

giới sẽ tăng thêm 2,6 tỉ trong vòng 45 năm tới, tức đến năm 2050 dân số thế giới

sẽ đạt 9,1 tỉ người . Như vậy có thể thấy thời gian để dân số thế giới tăng thêm gấp

đôi, cũng như thời gian để Trái Đất đón thêm 1 tỉ công dân mới ngày càng được

rút ngắn một cách nhanh chóng. Người ta tính rằng cứ 6 tháng dân số thế giới lại

tăng thêm bằng số dân của nước Pháp (50 triệu) và cứ sau 10 năm lại có một nước

Trung Quốc ra đời ở những vùng nghèo nàn nhất trên Trái Đất2. Đó quả thật là

những con số khủng khiếp.

Tuy nhiên tốc độ tăng dân số ở các khu vực khác nhau trên thế giới là

không giống nhau. Có một nghịch lí là khu vực các nước nghèo và kém phát triển

nhất lại là những khu vực có tốc độ tăng dân số nhanh nhất. Theo điều tra của Cục

Điều tra dân số Mỹ, tốc độ tăng dân số nhanh nhất lại là ở các khu vực nghèo khổ

nhất tại châu Phi, Trung Đông và tiểu lục địa Ấn Độ, nơi trung bình một phụ nữ đẻ

7 con. Trong tương lai gần, tốc độ phát triển dân số nhanh nhất vẫn là khu vực

châu Phi và Nam Á. Trong vòng nửa đầu thế kỉ XXI, dân số châu Phi sẽ tăng

khoảng 2,4- 3 lần, cao hơn tốc độ tăng dân số toàn cầu khoảng 1,7-1,8 lần. Cũng

Nguyễn Trần Quế, Những vấn đề toàn cầu hóa ngày nay, tr.71

Nguyễn Trần Quế, những vấn đề toàn cầu hóa ngày nay, tr 23

4

như vậy tốc độ tăng dân số ở khu vực Nam Á cũng cao hơn tốc độ tăng dân số

toàn cầu 10-15%.

Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2000 – 2005, theo thống kê của Liên hợp

quốc, hằng năm dân số thế giới tăng thêm khoảng 76 triệu người, trong đó 6 nước

có số dân tăng thêm chiếm 45% là Ấn Độ (số dân tăng thêm chiếm 22%), Trung

Quốc (11%), Pa-ki-xtan, Ni-giê-ri-a, Mỹ, Băng-la-đét (mỗi nước 4%). Ngoài ra,

16 nước khác có số dân tăng thêm chiếm 25%, trong đó In-đô-nê-xi-a (số dân tăng

hằng năm 2,7 triệu), Băng-la-đét (2,6 triệu), Bra-xin (2,5 triệu), Ê-ti-ô-pi-a (1,8

triệu), Cộng hòa Công-gô (1,5 triệu), Phi-líp-pin (1,5 triệu), Mê-hi-cô (1,4 triệu),

Ai-cập (1,3 triệu), Áp-ga-ni-xtan (1,2 triệu), Việt Nam (1,1 triệu), Thổ Nhĩ Kỳ (1

triệu), U-gan-đa (0,9 triệu), I-rắc (0,7 triệu), Kê-ni-a (0,7 triệu), Cộng hòa Tan-dani-a (0,7 triệu), Cô-lôm-bi-a (0,7 triệu) và Xu-đăng (0,7 triệu). Trong khi dân số

của nhiều nước, đặc biệt là ở châu Phi và châu Á tiếp tục gia tăng trong vài thập

niên tới, thì ở một số nước phát triển đạt dưới mức sinh thay thế lại có xu thế suy

thoái dân số trong vòng 50 năm (2000 – 2050) như CHLB Nga (số dân giảm 35

triệu), U-crai-na (23 triệu), Nhật (15 triệu), Ba-lan (7 triệu), Ru-ma-ni (5 triệu),

CHLB Đức (4 triệu), Bê-la-rút và Bun-ga-ri (3 triệu)1. Như vậy, sức ép dân số đối

với đa số các nước đang phát triển, trong đó có nước ta do số dân tăng thêm hằng

năm còn rất lớn trước đời sống kinh tế, chính trị và xã hội, hạn chế đến khả năng

cải thiện, phát triển và tiềm ẩn nguy cơ tụt hậu.Dân số tăng nhanh nằm ở khu vực

những nước đang phát triển, với hơn 95% sự gia tăng dân số nằm ở khu vực này:

Hiện nay, dân số thế giới đang gia tăng với tỷ lệ trung bình là 1,2%/năm.

Cục điều tra dân số Mỹ dự báo, tốc độ này sẽ giảm xuống còn 0,5% năm 2050.

Khi đó, Ấn Độ sẽ vượt Trung Quốc trở thành nước đông dân nhất thế giới.

b. Cấp độ quốc gia

1

Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam

5

Trong tiến trình toàn cầu hóa hiện nay, có một vấn đề nan giải đó là sự tăng

nhanh dân số ở khu vực các thành phố lớn. Tỷ lệ dân cư tại các thành phố, đặc biệt

là các thành phố lớn ngày càng cao. Năm 1955, dân số đô thị là 872 triệu người

(chiếm 32% dân số toàn cầu), năm 1975 là 1,5 tỉ người (chiếm 38%), năm 1995 là

2,6 tỉ người (chiếm 45%). Theo dự báo của Liên Hợp Quốc, tới năm 2025 số dân

sống ở các đô thị sẽ chiếm 60% dân số toàn cầu. Số thành phố có trên 10 triệu dân

cũng tăng lên nhanh chóng. Nếu như năm 1975 mới chỉ có 5 thành phố như vậy thì

tới năm 1995 đã có 14 thành phố, theo dự đoán thì tới năm 2025 chỉ riêng châu Á

sẽ có tới 20 thành phố trên 10 triệu dân.1 Khi dân số đô thị toàn cầu bùng nổ (cứ

38 năm lại tăng gấp đôi) các thành phố lớn nhất thế giới ngoại trừ Tokyo sẽ bị tuột

xuống cuối danh sách vào năm 2022 và thay thế chúng là các đô thị nhỏ hơn mà ở

đó đang có sự bùng nổ dân cư, cũng theo dự đoán này, Bombay và New Delhi sẽ

trở thành các thành phố lớn thứ hai và thứ ba trên thế giới thay thế cho Mexico

city và New York hiện nay.

II. Nguyên nhân bùng nổ dân số

Sự chênh lệch lớn về tỷ lệ sinh tử: trong giai đoạnđầu phát triển lịch sử

phát triển của nhân loại, tỷ lệ sinh tương đối cao do nhu cầu duy trì nòi giống và

nhu cầu lực lượng sản xuất phục vụ phát triển xã hội, trong khi đó tỉ lệ tử cũng

tương đối cao do điều kiện sống hạn chế, thiên tai, dịch bệnh nhiều… Do đó, trong

giai đoạn này tỷ lệ sinh và tử tương đối cân bằng. Ngược lại, trong giai đoạn

“bùng nổ dân số” tỷ lệ sinh vẫn tiếp tục được duy trì trong khi đó tỷ lệ tử có xu

hướng giảm do điều kiện sống được nâng cao, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của

khoa học kỹ thuật, các nhu cầu cơ bản của con người được chú trọng đặc biệt là

trong công tác vệ sinh và y tế dẫn tới tỉ lệ tử giảm xuống. Thêm vào đó, tuổi thọ

của con người được nâng cao dần, năm 1975 tuổi trung bình của dân cư thế giới là

21,9 tuổi, tới năm 2000 là 26,6 tuổi. Quá trình toàn cầu hóa đã mang lại cho các

1

Nguyễn Trọng Chuẩn, Những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỉ XXI, tr.195

6

quốc gia kém phát triển khả năng tiếp cận với những tiến bộ khoa học kĩ thuật.

Những căn bệnh trước kia được coi là nan y đã tìm ra phương pháp chữa trị, người

dân đã biết sử dụng rộng rãi các loại thuốc văc-xin, thuốc kháng sinh.. Mặt khác

khoa học kĩ thuật cũng góp phần làm giảm tỉ lệ tử ở trẻ sơ sinh, mang lại nhiều cơ

hội cho các cặp vợ chồng hiếm muộn… Chính những yếu tố trên đã làm nảy sinh

tình trạng mất cân bằng giữa sinh và tử, dẫn đến tình trạng tăng dân số một cách

chóng mặt.

Nhu cầu về lực lượng sản xuất: ở các quốc gia kém phát triển, những nơi

mà khoa học kỹ thuật chưa mấy phát triển và việc áp dụng khoa học và sản xuất

còn rất hạn chế, lực lượng sản xuất vẫn chỉ mới ở trình độ cơ khí thủ công, sử

dụng lao động cơ bắp, lao động chân tay là chủ yếu, cộng với những nguồn năng

lượng có sẵn trong tự nhiên để sản xuât, trong xã hội như vậy thì dân số càng tăng,

sức lao động càng nhiều, càng đẩy mạnh sức sản xuất xã hội. Do đó mà dân số thế

giới của chúng ta không ngừng tăng lên một cách nhanh chóng, để đáp ứng nhu

cầu phát triển kinh tế của từng quốc gia .

Quan niệm lạc hậu: ở một số nước đặc biệt là các nước phương đông

vẫn còn một số quan niệm lạc hậu: sinh nhiều con, tư tưởng trọng nam khinh nữ,

muôn sinh con trai… Điều này có thể thấy rất rõ ở Việt Nam, tại các vùng dân tộc

thiểu số hoặc các vùng nông thôn thường có tư tưởng sinh càng nhiều càng tốt và

nhất thiết phải có con trai, do đó mà ở các vùng này gia đình nào cũng có 3 con trở

lên. Ở các nước này vai trò và địa vị của người phụ nữ vẫn còn rất thấp, phụ nữ

nhiều nơi vẫn chưa được giải phóng hoàn toàn. Ngược lại có thể thấy ở các quốc

gia phát triển phương Tây, nơi mà người phụ nữ khá bình đẳng với nam giới và

tham gia ngày càng nhiều vào lực lượng lao động của xã hội thì tỉ lệ sinh rất thấp,

chính quyền nhiều nước còn phải đề ra các chính sách khuyến khích tăng tỉ lệ sinh.

Ở một số nước nghèo và các nước đang phát triển thì vấn đề tiếp cận, và nhận

thức về dân số còn rất hạn chế, đặc biệt là châu phi và một số nước ở châu Á, kinh

tế nghèo đói, lương thực không đủ ăn chua nói đến vấn đề tiếp cận đến vấn đề giáo

dục dân số và kế hoạch hóa gia đình. Họ thiếu những kiến thức và phương tiện cơ

7

bản về phòng tránh thai. Thậm chí nhiều khi chính các nhà lãnh đạo cũng có nhận

thức chưa đầy đử về vấn đề này, ví dụ cách đây 8 năm thị trưởng thành phố

Mannila đã ra lệnh cấm các trung tâm y tế cung cấp các biện pháp ngừa thai hiện

đại như bao cao su, thuốc tránh thai và triệt sản nhằm mục đích bảo vệ các giá trị

cuộc sống??

III. Tại sao “Bùng nổ dân số” lại là vấn đề toàn cầu

Cũng như mọi vấn đề toàn cầu khác, vấn đề bùng nổ dân số cũng sẽ được

chúng tôi nhìn nhận dưới 3 góc độ là :phạm vi tác động, hậu quả tác động và việc

đòi hỏi sự chung sức của toàn nhân loại.

1. Phạm vi tác động của vấn đề:

Vấn đề bùng nổ dân số có thể được nhìn nhận từ hai góc độ. Trên phạm trù

quốc tế, có một thực tế là hiện nay vấn đề bùng nổ dân số chỉ diễn ra chủ yếu ở các

nước đang phát triển và chậm phát triển, có thể thấy 60% dân số tập trung tại các

nước châu Á và châu Phi, các khu vực còn lại như châu Âu và châu Mỹ dân số chỉ

chiếm 40% dân số thế giới. Điều đáng lo ngại hơn là các khu vực kém phát triển

này tốc độ tăng dân số luôn ở mức cao hơn rất nhiều so với các nước phát triển.

Trong giai đoạn 2000 – 2005, theo thống kê của Liên hợp quốc, hằng năm dân số

thế giới tăng thêm khoảng 76 triệu người, trong đó 6 nước có số dân tăng thêm

chiếm 45% và 16 nước khác có số dân tăng thêm chiếm 25% thì ngoài 4 nước là

Mỹ, Côlômbia, Mêhicô và Braxin ra thì còn lại đều là các quốc gia châu Á và châu

Phi, và ngoài trừ Mỹ, Ấn Độ, Braxin, Trung Quốc ra thì các nước còn lại đều là

các nước đang và kém phát triển. Trong khi đó thì ở một số nước phát triển như

Nga, Nhật hay CHLB Đức đạt dưới mức sinh thay thế lại có xu thế suy thoái dân

số trong vòng 50 năm (2000 – 2050). Như vậy nhìn vào bề mặt của vấn đề có thể

nhiều người sẽ nghĩ vấn đề bùng nổ dân số chỉ là vấn đề của các nước đang phát

8

triển, và quả thật những hậu quả mà vấn đề bùng nổ dân số mang lại cho các nước

này là không phải bàn cãi. Nhưng trong thời đại ngày nay không một vấn đề nào

có thể tách ra riêng lẻ mà nó luôn có liên hệ chặt chẽ với các vấn đề khác. Vân đề

bùng nổ dân số cũng vậy. Có thể có người sẽ suy nghĩ rằng Việt Nam sinh nhiều

thì ảnh hưởng gì tới Mỹ? Đúng là không ảnh hưởng nhiều thật nếu chỉ có Việt

Nam nhưng trên thực tế, ngoài Việt Nam ra còn có rất nhiều các nước thế giới thứ

3 khác cũng đang trong tình trạng như vậy,điều đó sẽ mang lại những ảnh hưởng

không nhỏ tới các quốc gia khác, đặc biệt là các nước phát triển. Một điều tất yếu

là khi dân số trong nước quá đông thì người ta sẽ phải tìm đường sang các nước

khác, chủ yếu là các nước phát triển. Điều mà chúng tôi muốn nói tới là vấn đề

người nhập cư và di dân. Mặc dù trong chiến tranh thế giới II đã từng xuất hiện

một làn sóng di cư ồ ạt từ các nước, các khu vực có chiến sự sang nước Mỹ, nguồn

nhập cư này đã góp phần không nhỏ vào thành công của nước Mỹ sau này, tuy

nhiên vấn đề hiện nay là mặc dù nhiều nước đã thắt chặt chính sách người nhập cư

nhưng số lượng người nhập cư vẫn không giảm, chủ yếu là qua con đường nhập

cư bất hợp pháp. Nhập cư bất hợp pháp sẽ dẫn tới những hậu quả không nhỏ cho

các nước phát triển cả về an ninh và xã hội. Đó là tình trạng tội phạm gia tăng, xã

hội bất ổn, xung đột giữa các nhóm sắc tộc.

Ngoài ra xét trên phạm trù quốc gia, trong từng nước đều đang phải đối mặt

với tình trạng bùng nổ dân số ở khu vực thành thị. Và trong những thành phố có

tốc độ tăng dân số nhanh nhất thì có cả những thành phố rất phát triển như Tokyo

hay New york. Do đó có thể thấy ngay cả trong các quốc gia phát triển nhất vẫn

phải đối mặt với vấn đề bùng nổ dân số trong phạm vi cục bộ.

2. Hậu quả tác động của Bùng nổ dân số

Có thể khẳng định vấn đề này có ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn vong của

nhân loại. Có thể nhiều người sẽ cho rằng việc có nhiều người thì sao có thể khiến

cho nhân loại diệt vong được, bởi nếu nhìn vào giới tự nhiên thì có thể thấy những

9

loài động vật bị tuyệt chủng hoặc đe dọa tuyệt chủng đều là những loài có số

lượng ít ỏi. Phải chăng nếu số lượng người trên Trái Đất càng nhiều thì càng đảm

bảo chắc chắn hơn cho sự tồn tại của nhân loại chứ? Tuy nhiên thực tế không phải

như vậy, các nhà khoa học đã tính toán rằng các tài nguyên trên Trái Đất chỉ có thể

nuôi sống tối đa được khoảng 11 tỉ người mà thôi. Nếu dân số không được kiểm

soát mà vẫn tiếp tục tăng trưởng một cách vô hạn như hiện nay thì viễn cảnh về

một ngày tận thế sẽ không còn là quá xa vời, và nguyên nhân của điều đó chính là

nằm ở chúng ta. Nếu để ý có thể thấy rất nhiều vấn đề toàn cầu khác chính là xuất

phát từ vấn đề bùng nổ dân sô.

a. Dân số và vấn đề nghèo đói, lạc hậu

Ở phương Tây, có tác giả cho rằng: nếu dân số tăng lên 1% thì thu nhập

quốc dân tăng khoảng 4%. Ở nhiều nước kém phát triển thuộc châu Phi, tỉ lệ tăng

dân số hàng năm rất cao lên đến 3%, nếu muốn đảm bảo nhu cầu cho số dân mới

tăng đó thì thu nhập quốc dân bình quân mỗi năm phải tăng khoảng 13%, điều đó

là vô cùng khó khăn ngay cả với một quốc gia phát triển chứ đừng nói là một quốc

gia kém phát triển. Trong phạm vi một quốc gia, việc bùng nổ dân số sẽ khiến cho

mức sống của người dân trong nước bị hạ xuống,mức sống của người dân giảm

dẫn tới các dịch vụ chăm sóc tối thiểu không được đáp ứng, dịch bệnh gia tăng.

Trên phạm vi quốc tế, bùng nổ dân số sẽ dẫn tới sự chênh lệch trong phân phối của

cải giữa các khu vực, khiến cho những nước giàu vẫn cứ giàu, những nước nghèo

vẫn cứ nghèo, mặt bằng chất lượng dân số của thế giới bị kéo tuột xuống.

b. Dân số và vấn đề bệnh tật

Mặc dù chưa có nhà khoa học nào khẳng định được mối liên hệ giữa vấn đề

bùng nổ dân số và bệnh tật, tuy nhiên trên thực tế, tại các quốc gia đang và kém

phát triển, những nước có tốc độ bùng nổ dân số cao nhất thế giới cũng là những

nước mà ở đó vấn đề dịch bệnh đang trở nên rất nghiêm trọng. Có thể lấy ví dụ

10

sau để thấy được điều đó: theo thống kê năm 2000, thế giới có khoảng 40 triệu

người bị nhiễm AIDS, trong đó 90% là ở các nước đang phát triển, chủ yếu là ở

các quốc gia châu Phi (chiếm tới 2/3 số người mắc bệnh). 1 Bùng nổ dân số dẫn tới

điều liện sống nghèo khổ, chiến tranh xung đột triền miên khiến cho các dịch vụ

chăm sóc sức khỏe cho người dân không được đảm bảo chính là nguyên nhân

chính dẫn tới bệnh tật tràn lan ở châu lục này.

c. Dân số và vấn đề tài nguyên thiếu hụt

Trong xã hội công nghiệp hiện đại, để đảm bảo cho cuộc sống của mỗi

nguời, mỗi năm phải đào lên được 25 loại khoáng sản trong lòng đất. Tài nguyên

dầu lửa, nếu tiếp tục được khai thác với tốc độ như trong thập niên 90 của thế kỉ

trước thì sẽ cạn kiệt đến năm 2022. Tài nguyên than trên thế giới cũng chỉ còn

dùng được 1500 năm nữa, và ước tính 12 loại tài nguyên khác chỉ duy trì đựoc 50

năm nữa là cùng. Trong đó nghiêm trọng nhất là phải kể tới vấn đề thiếu nước

ngọt. Vào đầu thế kỉ XXI, một số vùng Nam Á, Trung Mỹ, nhất là Bắc Phi, Đông

Phi, Tây Phi đã xuất hiện tình trạng thiếu nước ngọt hoàn toàn.

d. Dân số và vấn đề thiếu đất canh tác, lương thực căng thẳng

Với sự tăng trưởng cùa dân số trên toàn thế giới, bình quann ruộng đất canh

tác theo đầu người ngày một giảm đi. Năm 1950 bình quân ruộng đất theo đầu

người trên thế giới là 8,5 mẫu, năm 1960 giảm xuống chỉ còn 7,1 mẫu, năm 1968

là 6,1 mẫu, năm 1974 còn 5,6 mẫu và tới năm 1960 chỉ là 3,9 mẫu. Ruộng đất

canh tác giảm đi tất nhiên không chỉ vì lí do dân số bùng nổ mà còn do nhiều

nguyên nhân khác như quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, tuy nhiên nguyên

nhân dân số tăng lên vẫn là nguyên nhân chủ yếu. Ruộng đất giảm, dân số tăng

nhanh làm cho vấn đề lương thực trên phạm vi toàn cầu ngày càng trở lên căng

thẳng. Đầu năm 2008 vừa qua đã xảy ra cuộc khủng hoảng lương thực lớn và chưa

1

Nguyễn Trọng Chuẩn, những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỉ XXI, tr 226-227

11

bao giờ vấn đề an ninh lương thực lại được đặt ra cấp thiết như lúc này. Hiện nay

đại đa số các đang phát triển tại châu Á, châu Phi và Mỹ La-tinh đã phải nhập

lương thực, đó là một minh chứng rõ ràng cho hậu quả của việc bùng nổ dân số tại

các nước này.

e. Dân số và vấn đề ô nhiễm môi trường

Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đang diễn ra

trên khắp thế giới, sự bùng nổ dân số đã khiến cho tình hình ô nhiễm môi trường

ngày càng trở lên nghiêm trọng. Tại các nước đang phát triển, do sức ép của việc

phát triển kinh tế, cho đến nay vẫn tiếp tục sử dụng sử dụng một cách rộng rãi các

loại thuốc trừ sâu, khai thác đất quá mức…khiến cho sự phá hoại môi trường sinh

thái ngày càng tăng lên.

g. Dân số và vấn đề an ninh, xã hội

Dân số tăng nhanh gây ra nhiều bất ổn trong xã hội, đó là nạn cướp bóc,

khủng bố,…Dễ thấy khi dân số tăng cao, việc kiếm được miếng ăn sẽ ngày càng

trở lên khó khăn hơn, và để đảm bảo sinh tồn cho mình người ta có thể sẵn sàng

làm mọi việc, kể cả phạm tội. Nghiêm trọng hơn, xuất phát từ vấn đề dân số quá

nhiều dẫn tới việc thiếu đất sống, thiếu “không gian sinh tồn” có thể dẫn tới các

cuộc xung đột, chiến tranh giữa các nhóm người, gây nên những hậu quả to lớn.

Có thể thấy vấn đề bùng nổ dân số đối với vấn đề nghèo đói, dịch bệnh, ô

nhiễm môi trường, khan hiếm tài nguyên đều có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp.

Bản thân các vấn đề đó đã là các vấn đề mang tính toàn cầu, có ảnh hưởng tới sự

tôn vong của nhân loại, chính vì vậy, không còn gí nghi ngờ nữa, vấn đề bùng nổ

dân số cũng là một vấn đề có tầm ảnh hưởng sâu sắc, rộng lớn tới tương lai của

nhân loại.

12

13

Nguyễn Trọng Chuẩn: Những vấn đề toàn cầu trong hai thập

niên đầu của thế kỉ XXI. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.

2.

Nguyễn Trần Quế: Những vấn đề toàn cầu hóa hiện nay.

NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006.

3.

http://www.tapchicongsan.org.vn

4.

http://www.vietnamnet.vn

14

Nhóm thực hiện

1.

Phạm Ngọc Thắng I33

2.

Nguyễn Thu Hằng I33

3.

Hoàng Như Yến I33

4.

Nguyễn Văn Quý I33

5.

Quyền Tú Anh I33

6.

Lattaphong Phanmachan K33

7.

Pakitkeo Senhom K33

15

16

Giải Bài Tập Địa Lí 7

Giải Địa Lí 11 Bài 3: Một Số Vấn Đề Mang Tính Toàn Cầu

Bùng Nổ Dân Số, Suy Thoái Môi Trường, Đói Nghèo Tiếp Tục Gia Tăng

Trào Ngược Dạ Dày Gây Ho Đờm

Cách Điều Trị Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản

Tiểu Luận Bùng Nổ Dân Số Và Vấn Đề Toàn Cầu

Già Hóa Dân Số Khủng Khiếp, Nhưng Liệu Có Thể Thờ Ơ Với Bùng Nổ Dân Số?

Nước Âu Lạc: Hoàn Cảnh Ra Đời Và Tổ Chức Nhà Nước

Brexit: 6 Lý Do Người Anh Muốn Rời Bỏ Eu?

Tám Lý Do Chính Anh Rời Khỏi Eu

Nguyên Nhân Của Những Vi Phạm Hành Chính Về Trật Tự An Toàn Giao Thông Đường Bộ Hiện Nay

1 Tiểu luận Bùng nổ dân số và vấn đề toàn cầu 2 MỞ ĐẦU Ngày nay, khái niệm “con quái vật dân số” hay “quả bom dân số” đã trở lên không còn xa lạ gì với mỗi chúng ta. Gọi như vậy phần nào đã cho chúng ta một cái nhìn khái quát nhất về tính nguy hại và cấp thiết, cũng như những áp lực mà vấn đề dân số gây ra cho chúng ta. Trong vòng bốn thập niên trở lại đây, nhân loại đã có cái nhìn khác về vấn đề dân số, đã không còn quan niệm “trời sinh voi trời sinh cỏ” nữa mà thay vào đó, con người đã có cái nhìn nghiêm túc hơn trước thực trạng diễn biễn ngày càng phức tạp của vấn đề dân số. Trong bài tiểu luận này, chúng tôi chỉ muốn đề cập tới nguyên nhân và thực trạng của vấn đề bùng nổ dân số- vấn đề đang làm đau đầu lãnh đạo nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam- để từ đó làm sang tỏ vấn đề bùng nổ dân số hiện đã vượt ra ngoài biên giới của một quốc gia, một khu vực và đã trở thành một vấn đề toàn cầu. Bài tiểu luận của nhóm chúng tôi được chia làm 3 phần I. Khái niệm và thực trạng của vấn đề bùng nổ dân số II. Nguyên nhân bùng nổ dân số III. Tại sao vấn đề dân số lại được coi là vấn đề toàn cầu 3 I. Khái niệm và thực trạng vấn đề bùng nổ dân số trên thế giới 1. Khái niệm – Dân số là tập hợp những người sinh sống trong cùng một quốc gia, khu vực, vùng địa lí kinh tế hoặc một đơn vị hành chính. – Bùng nổ dân số là sự gia tăng dân số quá nhanh trong một thời gian ngắn,gây ảnh hưởng tiêu cực đến mọi mặt của đời sống xã hội1. Như vậy bản chất của bùng nổ dân số chính là sự tăng lên nhanh chóng một cách đột biến của số lượng người sinh sống trong phạm vi của một quốc gia, khu vực, vùng địa lí, hay nói rộng ra đó là sự gia tăng trên phạm vi toàn cầu. 2. Thực trạng vấn đề bùng nổ dân số Chúng tôi sẽ xem xét vấn đề bùng nổ dân số trên hai cấp độ: cấp độ quốc tế và cấp độ quốc gia. a. Cấp độ quốc tế Dân số phát triển với tốc độ chóng mặt. Xét trong toàn bộ tiến trình lịch sử xã hội cho đến nay,tỉ lệ phát triển dân số trên phạm vi toàn thế giới ngày càng cao. Vào những năm công nguyên,dân số thế giới chỉ vào khoảng 250 triệu người .Cách đó 1.600 năm, dân số thế giới tăng trưởng rất chậm, đến năm 1650 dân số thế giới chỉ tăng gấp đôi con số trên. Năm 1825,dân số thế giới lên đến 1 tỉ người. 1 Từ điển bách khoa toàn thư 4 Năm 1925 dân số thế giới là 2 tỉ người. 50 năm tiếp theo dân số thề giới tăng gấp đôi,tức là vào năm 1975 đạt tới 4 tỉ người. Năm 1987,vào ngày 11 tháng 7,dân số thế giới tròn 5 tỉ người,tức là chỉ cần 12 năm để tăng thêm 1 tỉ người.1 Dân số thế giới đã vượt qua ngưỡng 6 tỉ người vào cuối thập kỷ XX, đạt 6,616 tỉ người vào năm 2007, với tỷ lệ tăng dân số hằng năm 1,2% (so với 2% của những năm thập kỷ 60 của thế kỷ XX). Chỉ trong vòng 12 năm, thế giới đã tăng thêm 1 tỉ dân (từ 1987 – 1999), là giai đoạn ngắn nhất trong lịch sử loài người để có thêm 1 tỉ dân và 1 tỉ tiếp theo sẽ đạt được sau 13 năm. Theo dự báo, dân số thế giới sẽ tăng thêm 2,6 tỉ trong vòng 45 năm tới, tức đến năm 2050 dân số thế giới sẽ đạt 9,1 tỉ người . Như vậy có thể thấy thời gian để dân số thế giới tăng thêm gấp đôi, cũng như thời gian để Trái Đất đón thêm 1 tỉ công dân mới ngày càng được rút ngắn một cách nhanh chóng. Người ta tính rằng cứ 6 tháng dân số thế giới lại tăng thêm bằng số dân của nước Pháp (50 triệu) và cứ sau 10 năm lại có một nước Trung Quốc ra đời ở những vùng nghèo nàn nhất trên Trái Đất2. Đó quả thật là những con số khủng khiếp. Tuy nhiên tốc độ tăng dân số ở các khu vực khác nhau trên thế giới là không giống nhau. Có một nghịch lí là khu vực các nước nghèo và kém phát triển nhất lại là những khu vực có tốc độ tăng dân số nhanh nhất. Theo điều tra của Cục Điều tra dân số Mỹ, tốc độ tăng dân số nhanh nhất lại là ở các khu vực nghèo khổ nhất tại châu Phi, Trung Đông và tiểu lục địa Ấn Độ, nơi trung bình một phụ nữ đẻ 7 con. Trong tương lai gần, tốc độ phát triển dân số nhanh nhất vẫn là khu vực châu Phi và Nam Á. Trong vòng nửa đầu thế kỉ XXI, dân số châu Phi sẽ tăng khoảng 2,4- 3 lần, cao hơn tốc độ tăng dân số toàn cầu khoảng 1,7-1,8 lần. Cũng 1 Nguyễn Trần Quế, Những vấn đề toàn cầu hóa ngày nay, tr.71 2 Nguyễn Trần Quế, những vấn đề toàn cầu hóa ngày nay, tr 23 5 như vậy tốc độ tăng dân số ở khu vực Nam Á cũng cao hơn tốc độ tăng dân số toàn cầu 10-15%. Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2000 – 2005, theo thống kê của Liên hợp quốc, hằng năm dân số thế giới tăng thêm khoảng 76 triệu người, trong đó 6 nước có số dân tăng thêm chiếm 45% là Ấn Độ (số dân tăng thêm chiếm 22%), Trung Quốc (11%), Pa-ki-xtan, Ni-giê-ri-a, Mỹ, Băng-la-đét (mỗi nước 4%). Ngoài ra, 16 nước khác có số dân tăng thêm chiếm 25%, trong đó In-đô-nê-xi-a (số dân tăng hằng năm 2,7 triệu), Băng-la-đét (2,6 triệu), Bra-xin (2,5 triệu), Ê-ti-ô-pi-a (1,8 triệu), Cộng hòa Công-gô (1,5 triệu), Phi-líp-pin (1,5 triệu), Mê-hi-cô (1,4 triệu), Ai-cập (1,3 triệu), Áp-ga-ni-xtan (1,2 triệu), Việt Nam (1,1 triệu), Thổ Nhĩ Kỳ (1 triệu), U-gan-đa (0,9 triệu), I-rắc (0,7 triệu), Kê-ni-a (0,7 triệu), Cộng hòa Tan-da- ni-a (0,7 triệu), Cô-lôm-bi-a (0,7 triệu) và Xu-đăng (0,7 triệu). Trong khi dân số của nhiều nước, đặc biệt là ở châu Phi và châu Á tiếp tục gia tăng trong vài thập niên tới, thì ở một số nước phát triển đạt dưới mức sinh thay thế lại có xu thế suy thoái dân số trong vòng 50 năm (2000 – 2050) như CHLB Nga (số dân giảm 35 triệu), U-crai-na (23 triệu), Nhật (15 triệu), Ba-lan (7 triệu), Ru-ma-ni (5 triệu), CHLB Đức (4 triệu), Bê-la-rút và Bun-ga-ri (3 triệu)1. Như vậy, sức ép dân số đối với đa số các nước đang phát triển, trong đó có nước ta do số dân tăng thêm hằng năm còn rất lớn trước đời sống kinh tế, chính trị và xã hội, hạn chế đến khả năng cải thiện, phát triển và tiềm ẩn nguy cơ tụt hậu.Dân số tăng nhanh nằm ở khu vực những nước đang phát triển, với hơn 95% sự gia tăng dân số nằm ở khu vực này: Hiện nay, dân số thế giới đang gia tăng với tỷ lệ trung bình là 1,2%/năm. Cục điều tra dân số Mỹ dự báo, tốc độ này sẽ giảm xuống còn 0,5% năm 2050. Khi đó, Ấn Độ sẽ vượt Trung Quốc trở thành nước đông dân nhất thế giới. b. Cấp độ quốc gia 1 Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam 6 Trong tiến trình toàn cầu hóa hiện nay, có một vấn đề nan giải đó là sự tăng nhanh dân số ở khu vực các thành phố lớn. Tỷ lệ dân cư tại các thành phố, đặc biệt là các thành phố lớn ngày càng cao. Năm 1955, dân số đô thị là 872 triệu người (chiếm 32% dân số toàn cầu), năm 1975 là 1,5 tỉ người (chiếm 38%), năm 1995 là 2,6 tỉ người (chiếm 45%). Theo dự báo của Liên Hợp Quốc, tới năm 2025 số dân sống ở các đô thị sẽ chiếm 60% dân số toàn cầu. Số thành phố có trên 10 triệu dân cũng tăng lên nhanh chóng. Nếu như năm 1975 mới chỉ có 5 thành phố như vậy thì tới năm 1995 đã có 14 thành phố, theo dự đoán thì tới năm 2025 chỉ riêng châu Á sẽ có tới 20 thành phố trên 10 triệu dân.1 Khi dân số đô thị toàn cầu bùng nổ (cứ 38 năm lại tăng gấp đôi) các thành phố lớn nhất thế giới ngoại trừ Tokyo sẽ bị tuột xuống cuối danh sách vào năm 2022 và thay thế chúng là các đô thị nhỏ hơn mà ở đó đang có sự bùng nổ dân cư, cũng theo dự đoán này, Bombay và New Delhi sẽ trở thành các thành phố lớn thứ hai và thứ ba trên thế giới thay thế cho Mexico city và New York hiện nay. II. Nguyên nhân bùng nổ dân số Sự chênh lệch lớn về tỷ lệ sinh tử: trong giai đoạnđầu phát triển lịch sử phát triển của nhân loại, tỷ lệ sinh tương đối cao do nhu cầu duy trì nòi giống và nhu cầu lực lượng sản xuất phục vụ phát triển xã hội, trong khi đó tỉ lệ tử cũng tương đối cao do điều kiện sống hạn chế, thiên tai, dịch bệnh nhiều… Do đó, trong giai đoạn này tỷ lệ sinh và tử tương đối cân bằng. Ngược lại, trong giai đoạn “bùng nổ dân số” tỷ lệ sinh vẫn tiếp tục được duy trì trong khi đó tỷ lệ tử có xu hướng giảm do điều kiện sống được nâng cao, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, các nhu cầu cơ bản của con người được chú trọng đặc biệt là trong công tác vệ sinh và y tế dẫn tới tỉ lệ tử giảm xuống. Thêm vào đó, tuổi thọ của con người được nâng cao dần, năm 1975 tuổi trung bình của dân cư thế giới là 21,9 tuổi, tới năm 2000 là 26,6 tuổi. Quá trình toàn cầu hóa đã mang lại cho các 1 Nguyễn Trọng Chuẩn, Những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỉ XXI, tr.195 7 quốc gia kém phát triển khả năng tiếp cận với những tiến bộ khoa học kĩ thuật. Những căn bệnh trước kia được coi là nan y đã tìm ra phương pháp chữa trị, người dân đã biết sử dụng rộng rãi các loại thuốc văc-xin, thuốc kháng sinh.. Mặt khác khoa học kĩ thuật cũng góp phần làm giảm tỉ lệ tử ở trẻ sơ sinh, mang lại nhiều cơ hội cho các cặp vợ chồng hiếm muộn… Chính những yếu tố trên đã làm nảy sinh tình trạng mất cân bằng giữa sinh và tử, dẫn đến tình trạng tăng dân số một cách chóng mặt. Nhu cầu về lực lượng sản xuất: ở các quốc gia kém phát triển, những nơi mà khoa học kỹ thuật chưa mấy phát triển và việc áp dụng khoa học và sản xuất còn rất hạn chế, lực lượng sản xuất vẫn chỉ mới ở trình độ cơ khí thủ công, sử dụng lao động cơ bắp, lao động chân tay là chủ yếu, cộng với những nguồn năng lượng có sẵn trong tự nhiên để sản xuât, trong xã hội như vậy thì dân số càng tăng, sức lao động càng nhiều, càng đẩy mạnh sức sản xuất xã hội. Do đó mà dân số thế giới của chúng ta không ngừng tăng lên một cách nhanh chóng, để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của từng quốc gia . Quan niệm lạc hậu: ở một số nước đặc biệt là các nước phương đông vẫn còn một số quan niệm lạc hậu: sinh nhiều con, tư tưởng trọng nam khinh nữ, muôn sinh con trai… Điều này có thể thấy rất rõ ở Việt Nam, tại các vùng dân tộc thiểu số hoặc các vùng nông thôn thường có tư tưởng sinh càng nhiều càng tốt và nhất thiết phải có con trai, do đó mà ở các vùng này gia đình nào cũng có 3 con trở lên. Ở các nước này vai trò và địa vị của người phụ nữ vẫn còn rất thấp, phụ nữ nhiều nơi vẫn chưa được giải phóng hoàn toàn. Ngược lại có thể thấy ở các quốc gia phát triển phương Tây, nơi mà người phụ nữ khá bình đẳng với nam giới và tham gia ngày càng nhiều vào lực lượng lao động của xã hội thì tỉ lệ sinh rất thấp, chính quyền nhiều nước còn phải đề ra các chính sách khuyến khích tăng tỉ lệ sinh. Ở một số nước nghèo và các nước đang phát triển thì vấn đề tiếp cận, và nhận thức về dân số còn rất hạn chế, đặc biệt là châu phi và một số nước ở châu Á, kinh tế nghèo đói, lương thực không đủ ăn chua nói đến vấn đề tiếp cận đến vấn đề giáo dục dân số và kế hoạch hóa gia đình. Họ thiếu những kiến thức và phương tiện cơ 8 bản về phòng tránh thai. Thậm chí nhiều khi chính các nhà lãnh đạo cũng có nhận thức chưa đầy đử về vấn đề này, ví dụ cách đây 8 năm thị trưởng thành phố Mannila đã ra lệnh cấm các trung tâm y tế cung cấp các biện pháp ngừa thai hiện đại như bao cao su, thuốc tránh thai và triệt sản nhằm mục đích bảo vệ các giá trị cuộc sống?? III. Tại sao “Bùng nổ dân số” lại là vấn đề toàn cầu Cũng như mọi vấn đề toàn cầu khác, vấn đề bùng nổ dân số cũng sẽ được chúng tôi nhìn nhận dưới 3 góc độ là :phạm vi tác động, hậu quả tác động và việc đòi hỏi sự chung sức của toàn nhân loại. 1. Phạm vi tác động của vấn đề: Vấn đề bùng nổ dân số có thể được nhìn nhận từ hai góc độ. Trên phạm trù quốc tế, có một thực tế là hiện nay vấn đề bùng nổ dân số chỉ diễn ra chủ yếu ở các nước đang phát triển và chậm phát triển, có thể thấy 60% dân số tập trung tại các nước châu Á và châu Phi, các khu vực còn lại như châu Âu và châu Mỹ dân số chỉ chiếm 40% dân số thế giới. Điều đáng lo ngại hơn là các khu vực kém phát triển này tốc độ tăng dân số luôn ở mức cao hơn rất nhiều so với các nước phát triển. Trong giai đoạn 2000 – 2005, theo thống kê của Liên hợp quốc, hằng năm dân số thế giới tăng thêm khoảng 76 triệu người, trong đó 6 nước có số dân tăng thêm chiếm 45% và 16 nước khác có số dân tăng thêm chiếm 25% thì ngoài 4 nước là Mỹ, Côlômbia, Mêhicô và Braxin ra thì còn lại đều là các quốc gia châu Á và châu Phi, và ngoài trừ Mỹ, Ấn Độ, Braxin, Trung Quốc ra thì các nước còn lại đều là các nước đang và kém phát triển. Trong khi đó thì ở một số nước phát triển như Nga, Nhật hay CHLB Đức đạt dưới mức sinh thay thế lại có xu thế suy thoái dân số trong vòng 50 năm (2000 – 2050). Như vậy nhìn vào bề mặt của vấn đề có thể nhiều người sẽ nghĩ vấn đề bùng nổ dân số chỉ là vấn đề của các nước đang phát 9 triển, và quả thật những hậu quả mà vấn đề bùng nổ dân số mang lại cho các nước này là không phải bàn cãi. Nhưng trong thời đại ngày nay không một vấn đề nào có thể tách ra riêng lẻ mà nó luôn có liên hệ chặt chẽ với các vấn đề khác. Vân đề bùng nổ dân số cũng vậy. Có thể có người sẽ suy nghĩ rằng Việt Nam sinh nhiều thì ảnh hưởng gì tới Mỹ? Đúng là không ảnh hưởng nhiều thật nếu chỉ có Việt Nam nhưng trên thực tế, ngoài Việt Nam ra còn có rất nhiều các nước thế giới thứ 3 khác cũng đang trong tình trạng như vậy,điều đó sẽ mang lại những ảnh hưởng không nhỏ tới các quốc gia khác, đặc biệt là các nước phát triển. Một điều tất yếu là khi dân số trong nước quá đông thì người ta sẽ phải tìm đường sang các nước khác, chủ yếu là các nước phát triển. Điều mà chúng tôi muốn nói tới là vấn đề người nhập cư và di dân. Mặc dù trong chiến tranh thế giới II đã từng xuất hiện một làn sóng di cư ồ ạt từ các nước, các khu vực có chiến sự sang nước Mỹ, nguồn nhập cư này đã góp phần không nhỏ vào thành công của nước Mỹ sau này, tuy nhiên vấn đề hiện nay là mặc dù nhiều nước đã thắt chặt chính sách người nhập cư nhưng số lượng người nhập cư vẫn không giảm, chủ yếu là qua con đường nhập cư bất hợp pháp. Nhập cư bất hợp pháp sẽ dẫn tới những hậu quả không nhỏ cho các nước phát triển cả về an ninh và xã hội. Đó là tình trạng tội phạm gia tăng, xã hội bất ổn, xung đột giữa các nhóm sắc tộc. Ngoài ra xét trên phạm trù quốc gia, trong từng nước đều đang phải đối mặt với tình trạng bùng nổ dân số ở khu vực thành thị. Và trong những thành phố có tốc độ tăng dân số nhanh nhất thì có cả những thành phố rất phát triển như Tokyo hay New york. Do đó có thể thấy ngay cả trong các quốc gia phát triển nhất vẫn phải đối mặt với vấn đề bùng nổ dân số trong phạm vi cục bộ. 2. Hậu quả tác động của Bùng nổ dân số Có thể khẳng định vấn đề này có ảnh hưởng không nhỏ đến sự tồn vong của nhân loại. Có thể nhiều người sẽ cho rằng việc có nhiều người thì sao có thể khiến cho nhân loại diệt vong được, bởi nếu nhìn vào giới tự nhiên thì có thể thấy những 10 loài động vật bị tuyệt chủng hoặc đe dọa tuyệt chủng đều là những loài có số lượng ít ỏi. Phải chăng nếu số lượng người trên Trái Đất càng nhiều thì càng đảm bảo chắc chắn hơn cho sự tồn tại của nhân loại chứ? Tuy nhiên thực tế không phải như vậy, các nhà khoa học đã tính toán rằng các tài nguyên trên Trái Đất chỉ có thể nuôi sống tối đa được khoảng 11 tỉ người mà thôi. Nếu dân số không được kiểm soát mà vẫn tiếp tục tăng trưởng một cách vô hạn như hiện nay thì viễn cảnh về một ngày tận thế sẽ không còn là quá xa vời, và nguyên nhân của điều đó chính là nằm ở chúng ta. Nếu để ý có thể thấy rất nhiều vấn đề toàn cầu khác chính là xuất phát từ vấn đề bùng nổ dân sô. a. Dân số và vấn đề nghèo đói, lạc hậu Ở phương Tây, có tác giả cho rằng: nếu dân số tăng lên 1% thì thu nhập quốc dân tăng khoảng 4%. Ở nhiều nước kém phát triển thuộc châu Phi, tỉ lệ tăng dân số hàng năm rất cao lên đến 3%, nếu muốn đảm bảo nhu cầu cho số dân mới tăng đó thì thu nhập quốc dân bình quân mỗi năm phải tăng khoảng 13%, điều đó là vô cùng khó khăn ngay cả với một quốc gia phát triển chứ đừng nói là một quốc gia kém phát triển. Trong phạm vi một quốc gia, việc bùng nổ dân số sẽ khiến cho mức sống của người dân trong nước bị hạ xuống,mức sống của người dân giảm dẫn tới các dịch vụ chăm sóc tối thiểu không được đáp ứng, dịch bệnh gia tăng. Trên phạm vi quốc tế, bùng nổ dân số sẽ dẫn tới sự chênh lệch trong phân phối của cải giữa các khu vực, khiến cho những nước giàu vẫn cứ giàu, những nước nghèo vẫn cứ nghèo, mặt bằng chất lượng dân số của thế giới bị kéo tuột xuống. b. Dân số và vấn đề bệnh tật Mặc dù chưa có nhà khoa học nào khẳng định được mối liên hệ giữa vấn đề bùng nổ dân số và bệnh tật, tuy nhiên trên thực tế, tại các quốc gia đang và kém phát triển, những nước có tốc độ bùng nổ dân số cao nhất thế giới cũng là những nước mà ở đó vấn đề dịch bệnh đang trở nên rất nghiêm trọng. Có thể lấy ví dụ 11 sau để thấy được điều đó: theo thống kê năm 2000, thế giới có khoảng 40 triệu người bị nhiễm AIDS, trong đó 90% là ở các nước đang phát triển, chủ yếu là ở các quốc gia châu Phi (chiếm tới 2/3 số người mắc bệnh).1 Bùng nổ dân số dẫn tới điều liện sống nghèo khổ, chiến tranh xung đột triền miên khiến cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người dân không được đảm bảo chính là nguyên nhân chính dẫn tới bệnh tật tràn lan ở châu lục này. c. Dân số và vấn đề tài nguyên thiếu hụt Trong xã hội công nghiệp hiện đại, để đảm bảo cho cuộc sống của mỗi nguời, mỗi năm phải đào lên được 25 loại khoáng sản trong lòng đất. Tài nguyên dầu lửa, nếu tiếp tục được khai thác với tốc độ như trong thập niên 90 của thế kỉ trước thì sẽ cạn kiệt đến năm 2022. Tài nguyên than trên thế giới cũng chỉ còn dùng được 1500 năm nữa, và ước tính 12 loại tài nguyên khác chỉ duy trì đựoc 50 năm nữa là cùng. Trong đó nghiêm trọng nhất là phải kể tới vấn đề thiếu nước ngọt. Vào đầu thế kỉ XXI, một số vùng Nam Á, Trung Mỹ, nhất là Bắc Phi, Đông Phi, Tây Phi đã xuất hiện tình trạng thiếu nước ngọt hoàn toàn. d. Dân số và vấn đề thiếu đất canh tác, lương thực căng thẳng Với sự tăng trưởng cùa dân số trên toàn thế giới, bình quann ruộng đất canh tác theo đầu người ngày một giảm đi. Năm 1950 bình quân ruộng đất theo đầu người trên thế giới là 8,5 mẫu, năm 1960 giảm xuống chỉ còn 7,1 mẫu, năm 1968 là 6,1 mẫu, năm 1974 còn 5,6 mẫu và tới năm 1960 chỉ là 3,9 mẫu. Ruộng đất canh tác giảm đi tất nhiên không chỉ vì lí do dân số bùng nổ mà còn do nhiều nguyên nhân khác như quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, tuy nhiên nguyên nhân dân số tăng lên vẫn là nguyên nhân chủ yếu. Ruộng đất giảm, dân số tăng nhanh làm cho vấn đề lương thực trên phạm vi toàn cầu ngày càng trở lên căng thẳng. Đầu năm 2008 vừa qua đã xảy ra cuộc khủng hoảng lương thực lớn và chưa 1 Nguyễn Trọng Chuẩn, những vấn đề toàn cầu trong hai thập niên đầu của thế kỉ XXI, tr 226-227 12 bao giờ vấn đề an ninh lương thực lại được đặt ra cấp thiết như lúc này. Hiện nay đại đa số các đang phát triển tại châu Á, châu Phi và Mỹ La-tinh đã phải nhập lương thực, đó là một minh chứng rõ ràng cho hậu quả của việc bùng nổ dân số tại các nước này. e. Dân số và vấn đề ô nhiễm môi trường Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa đang diễn ra trên khắp thế giới, sự bùng nổ dân số đã khiến cho tình hình ô nhiễm môi trường ngày càng trở lên nghiêm trọng. Tại các nước đang phát triển, do sức ép của việc phát triển kinh tế, cho đến nay vẫn tiếp tục sử dụng sử dụng một cách rộng rãi các loại thuốc trừ sâu, khai thác đất quá mức…khiến cho sự phá hoại môi trường sinh thái ngày càng tăng lên. g. Dân số và vấn đề an ninh, xã hội Dân số tăng nhanh gây ra nhiều bất ổn trong xã hội, đó là nạn cướp bóc, khủng bố,…Dễ thấy khi dân số tăng cao, việc kiếm được miếng ăn sẽ ngày càng trở lên khó khăn hơn, và để đảm bảo sinh tồn cho mình người ta có thể sẵn sàng làm mọi việc, kể cả phạm tội. Nghiêm trọng hơn, xuất phát từ vấn đề dân số quá nhiều dẫn tới việc thiếu đất sống, thiếu “không gian sinh tồn” có thể dẫn tới các cuộc xung đột, chiến tranh giữa các nhóm người, gây nên những hậu quả to lớn. Có thể thấy vấn đề bùng nổ dân số đối với vấn đề nghèo đói, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, khan hiếm tài nguyên đều có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp. Bản thân các vấn đề đó đã là các vấn đề mang tính toàn

Bùng Nổ Dân Số Và Vấn Đề Toàn Cầu

Gdcd 10 Bài 15: Công Dân Với Một Số Vấn Đề Cấp Thiết Của Nhân Loại

Bùng Nổ Dân Số Trên Thế Giới

Giải Bài Tập Địa Lí 7

Giải Địa Lí 11 Bài 3: Một Số Vấn Đề Mang Tính Toàn Cầu

Bùng Nổ Dân Số, Suy Thoái Môi Trường, Đói Nghèo Tiếp Tục Gia Tăng

Giải Địa Lí 11 Bài 3: Một Số Vấn Đề Mang Tính Toàn Cầu

Giải Bài Tập Địa Lí 7

Bùng Nổ Dân Số Trên Thế Giới

Gdcd 10 Bài 15: Công Dân Với Một Số Vấn Đề Cấp Thiết Của Nhân Loại

Bùng Nổ Dân Số Và Vấn Đề Toàn Cầu

Sự bùng nổ dân số, suy thoái môi trường, đói nghèo tiếp tục gia tăng đe dọa hàng chục nước đang và chậm phát triển.

Trong những thập kỷ gần đây, dân số trên thế giới tăng với tốc độ nhanh. Càng những năm về sau, dân số thế giới càng tăng nhanh, thời gian dân số tăng thêm 1 tỷ người ngày càng rút ngắn. Năm 1998, dân số thế giới đã đạt 6 tỷ người, năm 2011 dân số thế giới đạt 7 tỷ người, hiện nay trung bình mỗi năm dân số thế giới tăng thêm 100 triệu người. Dự kiến trong những năm tới tốc độ đó sẽ còn nhanh hơn nữa và có thể ổn định vào năm 2025, khi dân số thế giới đạt khoảng 10 tỷ người. Các nước đang phát triển phần lớn là những nước nghèo lại chiếm hơn 90% dân số thế giới và trên 95% dân số tăng hằng năm của thế giới. Vì vậy đã dẫn đến sự bùng nổ dân số ở các nước này. Trong đó, những nước nghèo ở châu Phi và khu vực Nam Á lại là những nước có tỷ lệ gia tăng dân số cao, hiện nay vẫn ở mức 2.53% (năm 2022), nhiều nước nghèo như Uganda, Kenya có mức tăng dân số tới trên 3%.

Dân số đông và tăng nhanh ở các nước đang phát triển được coi là nguyên nhân của mọi vấn đề tiêu cực như: kìm hãm sự phát triển kinh tế, cạn kiệt tài nguyên, suy thoái môi trường, giảm sút chất lượng cuộc sống, đói nghèo. Để bảo đảm đời sống cho số dân đông, tăng nhanh, các nước đang phát triển đã tăng cường khai thác tài nguyên, phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Kết quả đã làm cho nguồn tài nguyên cả tự nhiên và nhân văn của các nước này đang bị cạn kiệt, suy thoái.

Hiện nay, mỗi năm các nước đang phát triển có khoảng 10-20 triệu ha đất canh tác do khai thác và sử dụng không hợp lý đã bị hoang mạc hóa hoặc thoái hóa. Trước năm 1950, diện tích rừng tự nhiên của các nước đang phát triển chiếm khoảng 50% diện tích đất tự nhiên, đến nay ở nhiều nước không còn đến 30% diện tích đất có rừng. Năm 2000, ở châu Phi chỉ còn khoảng 15%, ở Trung Quốc cũng chỉ có 17% diện tích đất tự nhiên có rừng che phủ. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do khai thác rừng bừa bãi để lấy gỗ, đốt nương làm rẫy.

Nhiều nước đang phát triển vẫn tiếp tục khai thác và xuất khẩu khoáng sản thô, các nước OPEC sản xuất và xuất khẩu 40% sản lượng dầu của thế giới.

Ở nhiều nước khác, do nhu cầu về vốn cho phát triển kinh tế – xã hội đã đẩy mạnh việc khai thác các loại tài nguyên khoáng sản và xuất khẩu sang các nước phát triển. Giá nguyên, nhiên liệu trên thế giới ngày càng tăng, có nghĩa là các nước đang phát triển càng xuất khẩu nhiều nguyên, nhiên liệu thì thiệt hại về lợi ích kinh tế càng lớn.

Nhiều nước đang phát triển những năm gần đây coi trọng và đầu tư cho phát triển du lịch. Nhưng do thiếu kinh nghiệm, vốn, nguồn nhân lực có chất lượng cao nên nhiều nước đã phát triển du lịch theo hướng không bền vững. Phát triển du lịch không đi đôi với bảo tồn, tôn tạo tài nguyên, không gắn với xóa đói giảm nghèo. Vì vậy, cả tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn đều bị suy thoái, môi trường bị ô nhiễm, xói mòn truyền thống văn hóa, giảm sút chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư nghèo.

Do dân số đông và tăng nhanh đã dẫn đến chất thải từ sinh hoạt và sản xuất ngày càng nhiều, chi phí cho làm sạch môi trường thấp nên ở các nước đang phát triển tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization – WHO), hiện nay trên thế giới có 40% dân số không được hưởng các điều kiện vệ sinh cơ bản và hơn 1 tỷ người trên thế giới chủ yếu ở các nước đang phát triển phải sử dụng nguồn nước ô nhiễm.

Dân số đông và tăng nhanh trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều hạn chế nên các khoản chi tiêu quốc gia cao hơn mức thu nhập, vì vậy ở các nước đang phát triển có mức lạm phát cao và nợ nước ngoài ngày càng nhiều. Mức lạm phát hằng năm thời kỳ 1996 – 2005 của châu Phi là 12,3% ; Trung Đông là 9,6% ; Mỹ La Tinh là 9,1%. Năm 1970, nợ nước ngoài của các nước đang phát triển mới có 610 tỷ USD, nhưng đến năm 2004 đã lên tới 2.724 tỷ USD.

Dân số tăng nhanh, lạm phát, nợ nước ngoài, tỷ lệ thất nghiệp cao, các dự án đầu tư kém hiệu quả, tài nguyên cạn kiệt là những nguyên nhân chủ yếu làm cho chất lượng cuộc sống của dân cư giảm sút và đói nghèo gia tăng ở các nước đang phát triển.

Theo đánh giá gần đây của Liên Hợp Quốc, hiện nay trên thế giới có khoảng 550 triệu người nghèo có mức thu nhập dưới 1 USD/ngày, trong đó có tới 238 triệu thanh niên. Ngay tại các nước đang phát triển ở châu Á, nơi được đánh giá là điểm sáng trong phát triển kinh tế ở nhóm các nước đang phái triển, số nguời nghèo có mức thu nhập 2 USD/ngày chiếm tới 1,91 tỷ. Ở châu Á cũng chiếm 60% dán số có mức thu nhập 1 USD/ngày trên toàn thế giới, trong đó tại Trung Quốc có tới 203 triệu người, Ân Độ là 357 triệu người và các nước Nam Á là 77 triệu người.

Mỗi năm nạn đói ở châu Phi cướp đi sinh mạng hàng chục triệu người. Số người sống cực nghèo ở châu Phi ước tính tới 60 triệu người. Ở châu Phi và khu vực Nam Á, tỷ lệ dân số trên 10 tuổi không biết chữ khoảng 50%. Báo cáo tình hình nghèo đói trên thế giới của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2004 cho biết : trong 10 năm tới, các nước có nguy cơ không giảm nghèo đói trên thế giới là châu Phi, các nước Nam Á và hầu hết các quốc gia hải đảo Thái Bình Dương.

Tình trạng đói nghèo, thiếu nước sạch và thiếu các điều kiện sinh hoạt, dịch bệnh, tội phạm đang làm xói mòn các thành quả phát triển kinh tế – xã hội ở nhiều nước đang phát triển.

Trong năm 2004, Hội nghị của các nhà lãnh đạo thế giới về chống đói nghèo đã được tổ chức bên lề khóa họp thứ 59 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc với mục tiêu thiên niên kỷ: giảm bớt một nửa số người nghèo trên thế giới, phổ cập giáo dục tiểu học cho trẻ em, tất cả mọi người được dùng nước sạch, chặn đứng đại dịch AIDS… Những cam kết của các nhà lãnh đạo thế giới đang nhằm tạo ra một thế giới hòa đồng và bền vững vào năm 2022.

Tuy nhiên, cuộc chiến chống đói nghèo trên thế giới cần phải tiến hành đồng thời với việc giảm tỷ lệ sinh, phát triển dân số hợp lý, phát triển kinh tế và đang cần nhiều thời gian, tài chính và sự nỗ lực của tất cả các quốc gia trong một thời gian dài.

Trào Ngược Dạ Dày Gây Ho Đờm

Cách Điều Trị Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản

Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị

Bệnh Trào Ngược Dạ Dày: Nguyên Nhân Và Cách Điều Trị

Trào Ngược Dạ Dày Thực Quản: Nguyên Nhân Và Cách Điều Trị

Nguyên Nhân Có Thể Làm Vespa Đề Không Nổ

Chi 240 Triệu Mua Chevrolet Captiva Và Hơn 200 Triệu Đồng Để Sửa, Người Dùng Đưa Ra Lời Khuyên Sau 2 Năm Và 100.000 Km

Làm Chìa Khóa Xe Captiva Tận Nơi, Bh 12 Tháng

Sai Lầm Cần Tránh Khi Định Giá Xe Chevrolet Captiva Cũ

I Love You 3000 Là Gì? Tại Sao Nói I Love You 3000?

Vì Sao Bị Zona Từ 2 Năm Trước Bây Giờ Vẫn Ngứa?

Các loại xe tay ga nói chung và Vespa nói riêng hiện nay đều có chế độ Idling Stop (ngắt động cơ tạm thời), tắt máy khi gạt chân chống. Điều này sẽ giúp tiết kiệm xăng, tránh những nguy hiểm không đáng có.

Nhưng chính hai chế độ này lại là một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến bình ắc quy nhanh hết điện. Lí do là bởi khi gạt chân chống xuống, xe tự tắt sẽ làm bạn quên tắt chìa khóa, khi để lâu hoặc qua đêm sẽ khiến bình ắc quy cạn điện không khởi động được. Lúc này bạn chỉ cần mang xe ra trung tâm uy tín để nạp điện cho bình ắc quy là được.

2. Xe bị hư ổ khóa

Ổ khóa xe bị hư là một nguyên nhân khiến xe Vespa đề không nổ

Ví dụ như ổ khóa bị kẹt, bị vỡ bên trong, hoặc bị trộm cố tình phá khóa lấy xe… Đối với trường hợp này bạn hãy mang xe đến Vespa Chuyên Nghiệp, đội ngũ kỹ thuật viên trung tâm sẽ kiểm tra kỹ càng, nếu khóa còn khắc phục được thì sẽ sửa chữa để tiết kiệm chi phí. Nếu không sẽ thay khóa mới chính hãng cho bạn.

Tìm hiểu thêm: 4 căn bệnh mà bất kỳ chiếc xe Vespa Piaggio nào cũng hay gặp phải

3. Lọc gió bị ướt, nước vào xăng

Trong thời tiết trời mưa thường xuyên, đường ngập, nước rất dễ xâm nhập vào các bộ phận trong xe. Nếu xe bị ngập hết bánh thì chắc chắn nước đã vào lọc gió, ống bô, máy… làm xe bị tắt máy và không đề được.

Khi gặp phải trường hợp này thì bạn chỉ nên dắt bộ, không nên cố gắng đề cho xe nổ. Hãy gọi đến hotline 0933 53 63 83 để được cứu hộ xe tận nơi.

Trường hợp nước vào xăng thì bạn chỉ cần đến trung tâm để vệ sinh, thao rửa nước lẫn xăng ra ngoài, lọc lấy xăng. Nhưng tốt nhất bạn nên đổ xăng mới để xe hoạt động ổn định.

Nếu bộ lọc gió bị ướt bạn có thể ra các trung tâm để vệ sinh

4. Bị hư nút nhấn đề

Trường hợp này hiếm gặp nhưng có thể bạn sẽ mắc phải. Một số trường hợp chỉ bị hư nút nhấn đề nhưng bạn lại phải thay bình ắc quy mới. Thế nên tốt nhất bạn hãy để ý trong quá trình sửa chữa xe, đồng thời lựa chọn những đơn vị Vespa Chuyên Nghiệp, uy tín để sửa chữa, bảo dưỡng xe khi gặp sự cố.

5. Xe bị hết xăng

Có thể nói đây là một lỗi khá ngớ ngẩn khi mà bạn không để ý đến lượng xăng xe khiến bị chết máy. Một sai lầm khá ngớ ngẩn nữa là quên bật chân chống lên mà đã đề xe.

Ngoài những lí do “không đâu” thì nếu xe đề không nổ, bạn hãy liên hệ hotline 090 231 2929 để được tư vấn, giải đáp mọi thắc mắc, được sửa chữa khắc phục sự cố bởi đội ngũ kỹ thuật viên giỏi tay nghề, hơn 10 năm kinh nghiệm.

Đặc biệt Vespa Chuyên Nghiệp có nhiều chính sách ưu đãi cho khách hàng:

– Cam kết phụ tùng Vespa Piaggio chính hãng 100%.

– Bảo hành trách nhiệm từ 3 – 6 tháng.

– Dịch vụ cứu hộ tận nơi, sửa chữa tận nhà, bảo dưỡng – sửa chữa xe, sơn tân trang, sơn airbrush, sơn phong thủy…

– Đội ngũ kỹ thuật viên được đào tạo bởi Piaggio Việt Nam, trên 10 năm kinh nghiệm.

– Phục vụ tận tình, chu đáo, chuyên nghiệp.

Thông tin liên hệ: Vespa Chuyên Nghiệp Địa chỉ: 123 Hoàng Văn Thụ, Phường 8, Quận Phú Nhuận Hotline: 090 231 29 29 Email: cskh@vespachuyennghiep.vn Website: https://vespachuyennghiep.vn/

Tôi Muốn Mua Vespa Nhưng Phân Vân Xe Mất Giá Quá Nhanh

Tại Sao Giá Xe Máy Vespa Đắt Nhưng Vẫn Được Khách Hàng Ưa Chuộng

Tại Sao Công Nghệ Như Nhau, Xe Vespa Của Piaggio Đắt Gấp Đôi Xe Lead Của Honda?

Vì Sao Tỷ Lệ Ung Thư Ngày Càng Gia Tăng Ở Việt Nam?

Vì Sao Bị Ung Thư Vòm Họng Mặc Dù Luôn Duy Trì Lối Sống Lành Mạnh?

🌟 Home
🌟 Top