Dấu Hiệu Bị Rubella Khi Mang Thai / Top 6 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Channuoithuy.edu.vn

Nhiễm Rubella Khi Mang Thai

Trong thời gian gần đây bệnh sốt phát ban, với một tỷ lệ rất lớn người bệnh nhiễm Rubella đang lây lan và chưa có dấu hiệu chững lại,

Trong thời gian gần đây bệnh sốt phát ban, với một tỷ lệ rất lớn người bệnh nhiễm Rubella đang lây lan và chưa có dấu hiệu chững lại, trong đó có rất nhiều phụ nữ mang thai nhiễm Rubella đã phải bỏ thai do nguy hiểm đối với thai nhi. Tùy thuộc vào thời gian thai nhiễm vi rút, không phải bất cứ trường hợp phụ nữ mang thai nào nhiễm Rubella cũng cần phải đình chỉ thai nghén.Trước khi có thaiNhững người từng bị nhiễm vi rút Rubella và khỏi bệnh trước khi mang thai ít nhất 3 tháng thì không có ảnh hưởng gì. Thường khi khỏi bệnh cũng hết vi rút. Tuy nhiên trước khi quyết định mang thai nên đến cơ sở y tế để khám tổng quát và làm các xét nghiệm đảm bảo không có bệnh lý gì ảnh hưởng tới quá trình mang thai.

Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ cần tiêm phòng Rubella trước khi mang thai 3 tháng. Ảnh: TL

Trong khi mang thai

12 tuần đầu thai kỳ là thời gian nguy hiểm nhất khi nhiễm Rubella ở người mẹ. Vi rút Rubella từ máu của mẹ chuyền qua nhau thai vào thai nhi trong giai đoạn khởi phát và toàn phát của bệnh. Vi rút này có khả năng phá hủy hay làm chậm sự phát triển của phôi thai và đây là nguyên nhân gây ra những dị tật bẩm sinh cho thai nhi. Tùy vào thời điểm nhiễm bệnh, tỷ lệ con bị hội chứng Rubella bẩm sinh thay đổi, càng những giai đoạn đầu mang thai tỉ lệ dị tật càng cao.

Thai phụ bị nhiễm vi rút Rubella trong 3 tháng đầu thai kỳ thì có tới 90% thai nhi bị ảnh hưởng như thai chết lưu, sẩy thai tự nhiên… Trẻ sinh ra sẽ mắc các dị tật như còn ống động mạch, thông liên thất, hẹp động mạch phổi, loét giác mạc, đục thủy tinh thể, viêm võng mạc, nhãn cầu nhỏ, chậm phát triển trí tuệ và điếc. Còn nếu người mẹ mắc bệnh ở tuần thai thứ 16, các biến chứng giảm nhiều, chỉ còn khoảng 10 đến 20% thai nhi có nguy cơ bị dị tật bẩm sinh. Hiếm gặp dị tật sau tuần thứ 20 của thai kỳ.

Trong thời kỳ thai từ 12 – 17 tuần tuổi, nếu được chẩn đoán xác định nhiễm Rubella thì tốt nhất nên đình chỉ thai nghén. Nếu mang thai trên 17 tuần thai phụ cần được khám theo dõi thường xuyên tại cơ sở y tế chuyên khoa.

Tiêm vaccin là biện pháp phòng bệnh tốt nhất

Trước khi có quyết định mang thai, nên đi tiêm vaccin phòng bệnh Rubella, ngay cả khi đã tiêm phòng Rubella từ nhỏ vì khả năng phòng bệnh cũng bị giảm miễn dịch. Việc tiêm phòng phải được thực hiện 3 tháng trước khi có thai. Nhưng thời gian tốt nhất có thai là 4 tháng sau khi tiêm phòng. Tuyệt đối không được tiêm khi đã có thai.

Nếu khi có thai mà vẫn chưa tiêm phòng cần cách ly đặc biệt với người mắc Rubella, nhất là trong 16 tuần đầu của thai kỳ. Khi đi ra ngoài, nhất là trong khu vực lưu hành bệnh cần đeo khẩu trang, hạn chế tiếp xúc nơi đông người… Nếu chẳng may tiếp xúc với người bệnh Rubella hoặc có biểu hiện nghi ngờ nhiễm Rubella cần đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa để được khám, tư vấn và có biện pháp can thiệp kịp thời.

Bác sĩ Thu Vân

Dấu Hiệu Nhận Biết Và Cách Phòng Bệnh Rubella Khi Mang Thai

Bệnh Rubella hay Rubeon còn có tên gọi bệnh sởi Ðức – là bệnh truyền nhiễm gây ra bởi virut thuộc nhóm Rubivirus, đặc trưng bởi sốt và phát ban.

Tuy rubella là bệnh lành tính và sau khi khỏi, người bệnh có miễn dịch bền vững. Nhưng nguy hiểm nhất là phụ nữ mang thai mắc Rubella sẽ gây hội chứng Rubella bẩm sinh là nguyên nhân quan trọng gây ra các khuyết tật trầm trọng cho trẻ sơ sinh Ngoài điếc là dị tật thường gặp, hội chứng Rubella bẩm sinh còn có dị tật ở mắt tim và não. Ước tính hàng năm trên thế giới có 700.000 trẻ em bị chết vì hội chứng Rubella bẩm sinh.

Ðường lây truyền bệnh Rubella

Bệnh hiện diện khắp nơi trên thế giới, hay xảy ra vào mùa đông – xuân. Ổ chứa virut gây bệnh Rubella duy nhất là người và người đang mắc bệnh là nguồn truyền nhiễm duy nhất. Bệnh lây truyền bởi các giọt nước bọt trong không khí khi người mang mầm bệnh hắt hơi hoặc ho Người bệnh trở thành nguồn lây sau 5-7 ngày kể từ khi virut xâm nhập cơ thể người mẹ, nếu người bệnh là phụ nữ có thai trong thời gian này có thể truyền virut sang thai nhi Người bị nhiễm virut có khả năng lây truyền cao nhất trong thời kỳ phát ban.

Tuy nhiên, virut có thể lây truyền trước và sau phát ban 7 ngày. Trẻ bị hội chứng Rubella bẩm sinh có thể lây truyền virut trong khoảng thời gian 1 năm hoặc hơn. Rubella là bệnh lành tính và sau khi khỏi, người bệnh có miễn dịch bền vững.Tổn thương da do hội chứng Rubella.

Tổn thương da do hội chứng Rubella.

Dấu hiệu nhận biết bệnh Rubella

Sau khi virut vào cơ thể 2-3 tuần, bệnh nhân hoàn toàn bình thường. Tiếp theo có 3 triệu chứng chính là sốt, phát ban và nổi hạch.

Sốt: Đau đầu mệt mỏi thường xuất hiện 1-4 ngày, sau khi phát ban thì sốt giảm. Sốt nhẹ 38,5 độ C.

Nổi hạch: Ở vùng xương chẩm, khuỷu tay, bẹn, cổ, sờ hơi đau Hạch thường nổi trước phát ban, tồn tại vài ngày sau khi ban bay hết.

Phát ban: Là dấu hiệu làm người ta để ý tới. Ban mọc lúc đầu ở trên đầu, mặt, rồi mọc khắp toàn thân, thường không tuần tự như sởi. Nốt ban có hình tròn hay bầu dục, đường kính chừng khoảng 1-2mm, các nốt có thể hợp thành từng mảng hay đứng riêng rẽ. Trong vòng 24 giờ ban mọc khắp người. Đặc điểm phát ban do Rubella là chỉ 3 ngày là hết nên còn gọi sởi 3 ngày.

Cần phân biệt với ban của sởi: ban sởi sờ mịn, mọc thứ tự từ trên đầu, mặt xuống, sau khi bay để lại các vẩy như phấn rôm trên da có các vằn màu sẫm.

Những dị tật của thai nhi trong bụng mẹ

Khi người phụ nữ bị nhiễm virut Rubella trong 3 tháng đầu mang thai có tới 90% số trường hợp người mẹ có thể truyền virut sang thai nhi Hậu quả có tới 70-100% trẻ đẻ ra bị Rubella bẩm sinh và 25% trẻ bị dị tật bẩm sinh ở các cơ quan tim, mắt, não. Nếu nhiễm trong thời gian thai 13-16 tuần thì trẻ bị Rubella bẩm sinh với tỷ lệ 17%. Khi thai 17-20 tuần, thì tỷ lệ 5%. Và thai hơn 20 tuần, tỷ lệ đó bằng 0%.

Biến chứng của hội chứng Rubella bẩm sinh

Khi bà mẹ mang thai 3 tháng đầu bị bệnh Rubella thì dễ bị sẩy thai hoặc thai chết lưu trong tử cung; nếu thai tiếp tục được phát triển thì trẻ sinh ra thường thiếu cân, chậm lớn, chậm mọc răng và kèm theo các dị tật bẩm sinh như đục nhân mắt (một hoặc hai bên); đục giác mạc; tim tiên thiên lỗ thông vách tim còn ống động mạch hẹp eo động mạch phổi; trẻ còn có thể bị câm, điếc, chậm phát triển trí tuệ

Ðiều trị bệnh thế nào?

Không có thuốc điều trị đặc hiệu đối với Rubella và hội chứng Rubella bẩm sinh. Cần điều trị triệu chứng như giảm đau hạ nhiệt. Giữ ấm, tránh gió lạnh, trong thời gian phát ban đề phòng bội nhiễm viêm đường hô hấp Ăn uống đủ chất dinh dưỡng để nâng cao sức đề kháng Tăng cường ăn hoa quả như cam chanh và các vitamin Trẻ nhỏ bị hội chứng Rubella bẩm sinh cần được điều trị những biến chứng do bệnh gây ra.

Phương pháp phòng bệnh hiệu quả

Phương pháp phòng bệnh là tiêm phòng vắc-xin và cách ly khi bị bệnh. Phải cách ly 8-10 ngày trước và sau khi phát ban và ban bay hết. Tiêm phòng vắc-xin Rubella giảm độc lực, tạo nên miễn dịch ít nhất là 16 năm, hoặc có thể cả đời. Vì vậy nên tiêm phòng Rubella rộng rãi cho trẻ từ 12-24 tháng tuổi. Để phòng hội chứng Rubella bẩm sinh, phụ nữ đang ở tuổi sinh đẻ (15-40) nếu chưa mắc bệnh bao giờ hoặc chưa tiêm khi nhỏ thì cần tiêm bổ sung vắc-xin này để phòng bệnh Rubella và phòng khi mang thai bị bệnh sẽ gây hội chứng Rubella bẩm sinh cho thai nhi

Lời khuyên của thầy thuốc

Ở độ tuổi sinh đẻ hiện nay nhiều người chưa có kháng thể với bệnh Rubella nên có thể bị mắc bệnh bất cứ lúc nào. Vì vậy, để phòng mắc bệnh khi mang thai chị em nên khám xét nghiệm xem mình đã có kháng thể chưa, nếu chưa thì nên tiêm phòng vắc-xin này trước khi mang thai ít nhất 3 tháng. Trong 3 tháng đầu mang thai chẳng may bị bệnh cần khám thai và tư vấn bác sĩ ngay.

Dấu Hiệu Bị Tiểu Đường Khi Mang Thai

Bệnh tiều đường thai kỳ là một dạng bệnh tiểu đường chia thành hai loại: bệnh tiểu đường tuýp 1 và bệnh tiểu đường tuýp 2. Bệnh tiểu đường thai kỳ sẽ xuất hiện trong suốt thời kỳ mang thai và thường chấm dứt sau khi em bé chào đời.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều rủi ro phát triểnthànhbệnh tiểu đường tuýp 2 ở phụ nữ đã từng mắc chứng bệnh tiểu đường thai kỳ.

Bệnh tiểu đường thai kỳ xuất hiện ở khoảng 5% phụ nữ mang thai và ở các phụ nữ này thì:

Chuyển sang bệnh tiểu đường tuýp 2 trong 5-10 năm sau khi sinh.

10-50% phụ nữ có bệnh tiểu đường thai kỳ sẽ phát triểnthành bệnh tiểu đường tuýp 2.

Sau khi sinh, lượng đường trong máu của người mẹ sẽ ổn định.

Bệnh tiểu đường là khi nội tiết tố insulin của tụy bị thiếu hay giảm tác động cơ thể con người, hoặc cơ thể không chuyển hoá tốt insulin. Glucose là chất dinh dưỡng thiết yếu có vai trò cung cấp năng lượng cho hoạt động của các tế bào trong cơ thể. Tuy nhiên, lượng đường glucose không thể di chuyển một mình từ mạch máu vào tế bào mà phải cần insulin hỗ trợ trong quá trình vận chuyển. Chúng ta bị bệnh tiểu đường là do có quá nhiều lượng đường vào mạch máu và các biến chứng từ đó phát sinh.

Trong suốt quá trình mang thai, nhau tạo ra nội tiết tố đặc biệt để giúp thai nhi lớn và phát triển. Nhưng những nội tiết tố này cũng sẽ gây một số rủi ro đến tính năng hữu ích của insulin của người mẹ. Đây có thể được coi như là “kháng insulin”. Sẽ là điều tốt khi mức insulin và đường huyết cùng đạt chuẩn để duy trì mức độ đường trong máu an toàn. Nhưng trong trường hợp mắc bệnh tiểu đường thai kỳ thì lượng đường máu không còn được insulin kiểm soát, do đó, phải cần hoặc là giảm lượng đường hoặc là tăng lượng insulin hoặc là làm cả hai động tác đó.

Phụ nữ ở lứa tuổi trên 30.

Phụ nữ dân tộc thiểu số bao gồm thổ dân Úc, dân ở các quần đảo trên Thái Bình Dương, người Châu Á, Philiipines, Ấn độ, Trung Quốc, Trung Đông hoặc Việt Nam.

Tiền sử gia đình có người mắc bệnh tiểu đường loại 2.

Phụ nữ bị quá cân, béo phì cả trước và khi đang mang thai.

Đã từng bị bệnh tiểu đường thai kỳ trong lần mang thai trước.

Trong quá trình mang thai, cơ thể người mẹ có nhu cầu tăng lượng đường vì nhu cầu tăng năng lượng. Tình huống lý tưởng là khi việc sản xuất insulin vừa đủ để phù hợp với lượng đường đang cần được gia tăng. Nhưng không phải thai phụ nào nào cũng đạt được trạng thái lý tưởng này.

Quá trình kiểm tra sàng lọc được yêu cầu theo sự hướng dẫn của bác sĩ trong tuần mang thai thứ 26-28.

Công cụ để chẩn đoán thông thường là kiểm tra lượng đường, GCT, hay phương pháp kiểm tra mức độ dung nạp đường glucose, OGTT. Xét nghiệm mẫu máu để kiểm tra lượng đường glucose và sau một tiếng đồng hồ tiếp theo sẽ xét nghiệm lại mẫu máu sau khi uống nước có nhiều đường.

Dựa vào kết quả kiểm tra đầu tiên, để xác nhận lại chẩn đoán bệnh tiểu đường thai kỳ có thể phải cần có thêm xét nghiệm mức độ dung nạp đường glucose (OGTT) trong vòng 2 tiếng đồng hồ. Xét nghiệm mẫu máu cơ bản sau mẫu máu chuẩn 1 hoặc 2 giờ đồng hồ sau khi cho bệnh nhân uống dung dịch đường glucose. Phương pháp đơn giản hơn là có thể qua việc kiểm tra lượng đường từ nước tiểu. Một trong những xét nghiệm trong mỗi lần khám thai là kiểm tra lượng đường bằng que thử.

Lượng đường huyết được đo bằng millimoles trên một lít máu. Lượng đường huyết (BSL) bình thường là ở mức 4-6mmol/L. Hai tiếng sau khi ăn, trung bình sẽ đo được là 4-7mmol/L. Lý tưởng nhất là lượng đường huyết được giữ ở mức bình thường nếu được, nhưng mỗi cá thể đều có mức “chấp nhận được” riêng.

Bạn có thể không biết cho đến khi bạn kiểm tra nước tiểu và lượng đường. Vài phụ nữ có những triệu chứng tương tự như sau khi bị bệnh tiểu đường tuýp 1 hoặc tuýp 2:

Thường xuyên khát nước. Thức giấc giữa đêm để uống nước thật nhiều.

Đi tiểu ra nhiều nước và có nhu cầu nhiều lần hơn so với nhu cầu của các phụ nữ mang thai bình thường khác.

Vùng kín bị nhiễm nấm và không thể làm vệ sinh sạch sẽ bằng các thuốc/kem xức chống khuẩn thông thường.

Các vết thương, trầy xước hoặc vết đau khó lành.

Sụt cân nặng và mệt mỏi, thiếu năng lượng và kiệt sức.

Nếu bệnh tiểu đường thai kỳ được kiểm soát và giám sát bởi người bệnh và bác sĩ thì rủi ro sẽ được giảm rất nhiều. Mục đích chính trong việc điều trị bệnh tiểu đường là giảm lượng đường huyết trong máu đến mức bình thường và sản sinh lượng insulin phù hợpso với nhu cầu cần thiết của từng cá thể. Phải mất thời gian để ước lượng cân bằng lượng insulin cần thiết trong ngày.

Phụ nữ mang thai bi bệnh tiểu đường thai kỳ cần được giám sát suốt quá trình mang thai và sinh đẻ. Biến chứng xảy ra khi cơn đau đẻ bị kéo dài và người mẹ có lượng đường khôngphù hợp.

Nếu không kiểm soát, lượng đường glucose thừa trong máu sẽ làm thai nhi phát triển khá to. Do phải tương thích với lượng đường tăng qua nhau thaiđến nguồn cung cấp máu, thai nhi sẽ tăng tiết lượng insulin để tiêu thụ lượng đường này và dự trữ năng lượng dưới lớp mỡ của thai nhi. Bé của các bà mẹ bị bệnh tiểu đường có thể nặng đến 4kg khi sinh. Đó là lý do khi bé mới sinh màcó cân quá nặng thìbác sĩ phải nghi ngờ đến bệnh tiểu đường thai kỳ ngay cả khi đã được chẩn đoán là không có bệnh trước khi sinh.

Để phòng các vấn đề sức khoẻ có thể xảy ra cho bé, các bác sĩ phải theo dõi bệnh tiểu đường và điều trị để kiểm soát lượng đường huyết. Thông thường lượng đường trong máu của mẹ sẽ tăng cao hơn trước khi sinh con.

Con của các bà mẹ bị tiểu đường không bị bệnh tiểu đường. Thông thường, khi được “cho ăn” thì lượng đường huyết tự cân đối và bé không bị ảnh hưởng xấu.Mối lo ngại lớn nhất là trong 4-6 tiếng đồng đồ sau khi sinh là bé dễ bị chứng hypoglycaemia (hiện tượng giảm đường huyết). Do đó, bé cần phải thường xuyên được xét nghiệm sau khi sinh cho đến khi lượng đường huyết (BSL) được ổn định và tiếp tục đều đặn trong suốt 24 tiếng đầu tiên.

Bạn cần giám sát lượng đường trong cơ thể với thiết bị kiểm tra máu gọi là máy đo đường huyết. Bạn có thể mượn, thuê hoặc mua ở các bệnh viện và nhà thuốc lớn. Vài nhà thuốc chuyên cho thuê hoặc bán các dụng cụ y khoa cho bệnh tiểu đường.

Bạn có thể cần được các chuyên gia hướng dẫn bạn về việc ăn kiêng, những món bạn được ăn và không được ăn. Thông thường các hướng dẫn về ăn uống sẽ gồm:

Ăn 3 bữa trong ngày và một buổi tối nhẹ. Bạn có thể dùng trà và bánh vào buổi sáng và chiều.

Dùng các món ăn ít chất béo và nhiều chất xơ.

Chế độ ăn cân bằng cung cấp đủ chất dinh dưỡng gồm thức ăn giàu chất canxi và chất sắt.

Kiểm soát lượng đường và tránh ăn đồ ngọt.

Ăn các loại thức ăn đa dạng và nhiều nguồn khác nhau để tránh bị biếng ăn.

Duy trì các hoạt động thể chất. Điều này sẽ giúp kiểm soát lượng đường trong máu và duy trì cân nặng.

Tiêm insulin. Đây là việc điều trị áp dụng khi không thể kiểm soát được mức đường máu thông qua chế độ ăn và vận động. Tiêm insulin có thể được sử dụng an toàn trong thời kỳ mang thai bởi nội tiết tố này không truyền qua nhau từ mẹ sang con.

Cảnh Báo: Mang Thai Nhiễm Rubella Ảnh Hưởng Đến Thai Nhi

Dấu hiệu và triệu chứng bệnh Rubella:

Tình trạng lây nhiễm rubella thường bắt đầu bằng:

– Sốt nhẹ trong 1-2 ngày (khoảng 37,2 tới 37,8 độ C)

– Các hạch bạch huyết ở gáy và sau tai sưng và đau khi chạm vào.

Sang đến ngày thứ 2 hoặc 3, hiện tượng phát ban bắt đầu xuất hiện trên mặt và dọc thân. Khi lan xuống phần dưới cơ thể, nó thường biến mất trên mặt. Các nốt mẩn thường là dấu hiệu đầu tiên mà cha mẹ có thể nhận biết. Phát ban rubella trông giống như nhiều loại phát ban do virus khác. Nốt mẩn có màu hồng hoặc đỏ, xuất hiện thành từng mảng, có thể kèm theo ngứa trong vòng 3 ngày. Khi hết phát ban, vùng da bị ảnh hưởng sẽ bong ra.

– Đau đầu.

– Ăn mất ngon.

– Viêm màng kết nhẹ.

– Sổ mũi và nghẹt mũi.

– Hạch bạch huyết sưng ở nhiều phần khác nhau trên cơ thể.

– Đau và sưng khớp (đặc biệt ở thiếu nữ).

– Đau tinh hoàn ở người trẻ tuổi đôi khi được thông báo.

Tuy nhiên, nhiều người bị rubella lại không có hoặc có ít triệu chứng bệnh.

Khi rubella xảy ra ở phụ nữ mang thai, nó có thể gây ra hội chứng rubella bẩm sinh cực kỳ nguy hiểm đối với bào thai. Trẻ bị nhiễm virus rubella trước khi chào đời dễ bị chậm phát triển cả về thể lực và trí tuệ, bị dị tật ở tim và mắt, bị điếc và gặp nhiều sự cố ở gan, lá lách, tuỷ xương.

Mang thai bị nhiễm Rubella ảnh hưởng đến thai nhi

Nhiễm Rubella có thể gây sảy thai, sinh non hay thai chết lưu, cũng như các khuyết tật bẩm sinh khác, nhưng còn phải phụ thuộc vào giai đoạn bạn bị nhiễm virus. Nguy cơ cao nhất là ở giai đoạn sớm trong sự phát triển của thai nhi và nguy cơ giảm dần theo sự tiến triển của thai kỳ.

Nếu bạn bị nhiễm Rubella trong 12 tuần đầu của thai kỳ, nguy cơ cao (tới 85%) con bạn sẽ bị hội chứng Rubella bẩm sinh. Tỉ lệ bị Hội chứng Rubella bẩm sinh ở những đứa trẻ có mẹ bị nhiễm virus từ tuần thứ 13 đến tuần thứ 16 là khoảng 54%, và tỉ lệ tiếp tục giảm đột ngột kể từ giai đoạn này. Sau 20 tuần, nguy cơ dị tật bẩm sinh do nhiễm virus là rất thấp.

Trong khi các hậu quả xảy ra rất nghiêm trọng và khủng khiếp, hãy nhớ rằng khả năng bị phơi nhiễm với Rubella ở Mỹ hiện tại là cực thấp. Nhưng bạn vẫn nên biết tại sao mình cần được kiểm tra, bạn có thể làm gì để giảm nguy cơ cho chính mình và con của mình nếu bạn vẫn chưa có miễn dịch, và bạn có thể bảo vệ bản thân trong tương lai như thế nào.

Có thể làm xét nghiệm huyết thanh, nếu đã có miễn dịch thì không cần tiêm vắc xin trước khi mang thai. Nếu chưa có miễn dịch thì nên tiêm vắc xin, nhất là phụ nữ trong lứa tuổi mang thai.

+ Khi chưa có thai: sau những mũi tiêm đầu lúc còn trẻ, trước khi có ý định mang thai, tốt nhất nên tiêm nhắc lại một mũi. Thời điểm tiêm phòng ít nhất là 1 tháng, tốt nhất trước khi dự kiến có thai khoảng 3 – 4 tháng, đây là biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa hội chứng Rubella bẩm sinh.

+ Khi đã mang thai: chống chỉ định tiêm vaccin ngừa Rubella, vì đây là loại vaccin sống giảm độc lực có khả năng truyền bệnh cho thai nhi.

+ Vệ sinh phòng ở của người bệnh: lau sàn, bàn ghế, giường, tủ… bằng nước javel hoặc cloramin B sau đó lau lại bằng nước sạch. Các đồ vật nhỏ có thể phơi nắng.

+ Trong trường hợp mang thai mà chưa tiêm phòng Rubella, nên cách ly với người mắc Rubella, nhất là trong 16 tuần đầu của thai kỳ. Đảm bảo các thành viên trong gia đình đã có miễn dịch với Rubella. Nên tránh tiếp xúc với đồng nghiệp có dấu hiệu nghi nhiễm Rubella. Nếu phải đi công tác hoặc du lịch, nên hoãn chuyến đi tới những địa điểm đang có dịch Rubella. Nếu chẳng may tiếp xúc với người mắc Rubella, nên đi khám ngay lập tức tại chuyên khoa truyền nhiễm và chuyên khoa phụ sản. Ngoài ra nên tăng cường giữ sức khỏe chung bằng cách ăn uống đủ dinh dưỡng, mặc ấm và sống trong môi trường an toàn, lành mạnh.

Bình Luận

Bình Luận