Xu Hướng 2/2024 # Tổng Quan Về Mô Hình Tố Tụng Hình Sự Việt Nam Thực Trạng Và Phương Hướng Hoàn Thiện # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Tổng Quan Về Mô Hình Tố Tụng Hình Sự Việt Nam Thực Trạng Và Phương Hướng Hoàn Thiện được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

GS. TSKH. Đào Trí Úc  Đại học Quốc gia Hà Nội

Phần thứ Nhất: Khái niệm, thực trạng của tố tụng hình sự Việt Nam

1. Tố tụng hình sự và mô hình tố tụng hình sự

1.1. Khái niệm tố tụng hình sự

Một trong những lĩnh vực được công chúng đặc biệt quan tâm trong những năm đổi mới và cải cách ở Việt Nam là lĩnh vực hoạt động của các cơ quan tư pháp, trước hết là hoạt động của các cơ quan tư pháp hình sự. Như một phản ửng tự nhiên, ban đầu người ta quan tâm đến năng lực của Nhà nước, của xã hội trong việc ngăn chặn và đẩy lùi tội phạm, vì đó là một trong những điều kiện quan trọng cho việc bảo vệ các thành quả cách mạng, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự và nhân phẩm của công dân, các lợi ích của quốc gia và xã hội và là điều kiện bảo đảm ổn định và sự phát triển của đất nước. Về sau, trọng tâm của dư luận xã hội đã dịch chuyển theo hướng bảo đảm sự công bằng, dân chủ, sự nghiêm minh của pháp luật, chất lượng và hiệu quả của các hoạt động tư pháp, yêu cầu về phòng chống oan sai, tôn trọng và bảo đảm quyền con người trong các hoạt động tư pháp, bảo đảm quyền tiếp cận công lý bình đẳng của công dân. Đó cũng chính là những định hướng và yêu cầu cơ bản đối với các hoạt động tư pháp được đặt ra trong các văn kiện chính trị có tính chỉ đạo chiến lược của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong những năm gần đây ([1]).

Đó trước hết là lĩnh vực hoạt động của các cơ quan với vị trí, vai trò, chức năng và phạm vi thẩm quyền tương ứng được Hiến pháp và pháp luật quy định chặt chẽ, bao gồm:

– Các Tòa án, là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp (Điều 127) và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân.

– Các Cơ quan điều tra, được tổ chức và hoạt động theo Pháp lệnh tổ chức các Cơ quan điều tra

– Viện kiểm sát nhân dân, tổ chức và hoạt động theo quy định của Hiến pháp (các điều 137 – 140 Hiến pháp) và Luật Tổ chức VKSND với hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.

– Các cơ quan thi hành án hình sự.

Toàn bộ các hoạt động đó phải được diễn ra theo một trình tự với sự tuân thủ nghiêm ngặt các thủ tục pháp lý. Yêu cầu về sự tuân thủ trình tự và thủ tục chặt chẽ là một trong những yêu cầu quan trọng đối với các hoạt động tố tụng và có thể nói không sai rằng, nếu đứng ở giác độ của yêu cầu bảo vệ phẩm giá con người trong Nhà nước pháp quyền thì đây là yêu cầu quan trọng nhất.

Cuối cùng, những chức năng, thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ cũng như tính hệ thống của các trình tự, thủ tục được phản ánh nhất quán qua các giai đoạn theo sự diễn biến của các sự kiện.

Như vậy, trong lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm có một phạm vi hay lĩnh vực có những mục đích nhất định với sự hiện diện của những cơ quan, cá nhân mà pháp luật xác định cho những mức độ thẩm quyền, địa vị pháp lý; với những mối quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện các chức năng, thẩm quyền, quyền và nghĩa vụ đó và theo một trình tự, với những thủ tục pháp lý chặt chẽ nhằm hướng tới sự xác định các yếu tố về tội phạm và hình phạt trong hành vi của cá nhân con người. Lĩnh vực hay phạm vi đó được gọi là tố tụng hình sự.

1.2. Khái niệm mô hình tố tụng hình sự và cấu trúc của nó

Từ khái niệm tổng quát về tố tụng hình sự có thể thấy rằng, bất kỳ một hệ thống tố tụng hình sự nào cũng bao gồm những yếu tố chủ đạo sau đây:

– Mục đích của tố tụng hình sự;

– Các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự;

– Các chức năng chủ yếu trong tố tụng hình sự;

– Vị trí pháp lý của các chủ thể hoạt động tố tụng hình sự và quan hệ giữa các chủ thể đó trong tố tụng hình sự;

– Các giai đoạn tố tụng hình sự;

– Phương thức đạt được mục đích của tố tụng hình sự hay là vấn đề chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự.

Các yếu tố này trong tổng thể là xương sống của tố tụng hình sự. Những yếu tố đó hợp thành một hệ thống tố tụng hình sự thống nhất, nhất quán với nhau, trong đó mục đích của tố tụng hình sự là yếu tố quan trọng nhất, chi phối các yếu tố khác. Mục đích nào thì sẽ đặt ra những yêu cầu đòi hỏi như vậy cho các hoạt động tố tụng hình sự, tức là các nguyên tắc của tố tụng hình sự. Đến lượt chúng, cùng với mục đích, các nguyên tắc của tố tụng hình sự là điểm xuất phát để xác định chức năng, vị trí và các mối quan hệ giữa các chủ thể tố tụng hình sự, phương thức của việc bảo đảm chứng cứ và của quá trình chứng minh trong vụ án hình sự.

Tính chất và đặc điểm của các yếu tố hợp thành tố tụng hình sự đều được quyết định bởi mục đích của tố tụng hình sự. Cũng căn cứ vào đó mà người ta phân biệt sự khác nhau căn bản của các mô hình tố tụng hình sự. Còn trong khuôn khố của một mô hình thì tính chất và đặc điểm của các yếu tố đó của TTHS có thể có những sự khác nhau bắt nguồn từ đặc điểm phát triển của TTHS, đặc điểm của hệ thống pháp luật cũng như của hệ thống tư pháp của mỗi quốc gia, trong từng thời đại lịch sử nhất định.

Trên tinh thần đó, có thể nêu những tính chất, đặc điểm của hệ thống tố tụng hình sự Việt Nam như sau:

2. Mục đích của tố tụng hình sự Việt Nam

2.1. Hiện trạng

Bộ luật TTHS Việt Nam hiện hành (2003) tại Điều 1, mặc dù không sử dụng khái niệm “mục đích” nhưng đã dùng từ “nhằm”. Trong tiếng Việt “nhằm” cũng có thể được hiểu là mục đích cần đạt được. Theo đó, TTHS có mục đích “phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội”.

TTHS Việt Nam cũng có mục đích “bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”.

2.2. Nhận xét

Để làm rõ tính chất và đặc điểm của TTHS Việt Nam thông qua phạm trù “mục đích” của TTHS, có lẽ cần lấy thêm một yếu tố khác là thực chất của TTHS, nói khác đi, cần bắt đầu từ câu hỏi: Vì sao cần đến TTHS? Hoặc “Từ khi nào nảy sinh một vụ án hình sự và nó phải kết thúc khi nào và bằng cách nào?”.

Nếu nhìn nhận TTHS từ góc độ một vụ kiện thì sẽ thấy TTHS thực chất là sự tranh chấp hình sự về vấn đề có tội hay vô tội, tội nặng hay tội nhẹ giữa Nhà nước – người đưa ra điều cấm và bị can, bị cáo – người bị coi là vi phạm điều cấm đó. Lịch sử của nhân loại đã chứng kiến nhiều kiểu giải quyết tranh chấp đó bằng những cách không dính dáng gì đến tố tụng như đền nợ máu, hòa giải các bên trong vụ kiện, kiểu hành xử của chủ nô đối với nô lệ, chặt chân tay của kẻ trộm, cạo trọc bôi vôi với kẻ chửa hoang v.v. . . Khi con người đã trở nên văn minh hơn, sự tranh chấp như trên đã được giải quyết bằng con đường tố tụng và vì vậy phương thức giải quyết phải có điểm dừng nhất định. Điểm dừng thứ nhất: Hoặc là các bên tìm ra giải pháp chung và đều thỏa mãn với nó hoặc là bên này thừa nhận đòi hỏi của bên kia. Điểm dừng thứ hai: Đó là việc tìm ra chân lý, sự thật đã xảy ra, các bên buộc phải tìm ra chân lý, sự thật của vụ án. Tố tụng hình sự Việt Nam chọn con đường thứ hai.

– Thứ nhất, những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành đang ở trạng thái tạo ra sự chủ quan cho chủ thể đi tìm sự thật của vụ án hình sự. Mặc dù pháp luật có xác định phải xử lý công minh, không làm oan người vô tội, nhưng đứng ở vị thế độc quyền chân lý, sự chủ quan là không tránh khỏi.

– Thứ hai, các mục đích được đặt ra cho TTHS mà thực chất là mục đích hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nặng về bảo vệ lợi ích công và coi nhẹ lợi ích của cá nhân những con người cụ thể trong vụ án hình sự. Bộ luật TTHS chỉ nhắc đến mục đích “bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” một cách chung chung mà không chỉ rõ là bảo vệ quyền và lợi ích của những người ở vào vị thế bị động và yếu hơn so với bộ máy công quyền hiện diện trong TTHS, vả lại, cũng chỉ được nhắc đến sau cùng. Vì vậy, ai sẽ là người quan tâm nhiều hơn đến họ: Luật sư? Bản thân những cá nhân đó (bị can, bị cáo, bị đơn dân sự)? Chắc chắn là như vậy! Thế nhưng ở đây họ chỉ là những người không có quyền chủ động trong tiến trình TTHS, họ được xếp vào thể loại “người tham gia tố tụng” vì đúng là tố tụng này không phải của họ. Mặt khác, giả sử họ là chủ thể đi tìm sự thật thì liệu họ có đi tìm và tìm ra những gì chống lại họ (nếu là bị can, bị cáo), hay thân chủ của họ (nếu là luật sư)? Trong trường hợp này, mục đích hợp pháp của những chủ thể này chỉ có thể là đi tìm những gì chống lại cái không phải là sự thật đang có nguy cơ được thừa nhận là sự thật. Muốn vậy, cần tạo cho bị can, bị cáo, người bào chữa của họ có được khả năng và vị thế ngang với khả năng và vị thế của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong việc đi tìm sự thật cũng như chống lại những gì phi sự thật, phản sự thật. Cách duy nhất để thỏa mãn được yêu cầu đó là đổi mới cách nhìn về mục đích của TTHS theo hướng bình đẳng đối với các giá trị, lợi ích cần đạt được của TTHS, lợi ích của trật tự pháp luật và lợi ích của cá nhân những con người nằm trong vòng tố tụng. Từ đó, hai mục đích khác nhau của TTHS cần được đặt ở vị trí ngang bằng nhau là: 1) xác định sự thật của vụ án và 2) loại trừ những gì không phải là sự thật trong vụ án. Với logic đó, việc xác định mục đích của TTHS cần được thực hiện theo hướng bảo đảm lợi ích của trật tự pháp luật và lợi ích, quyền và tự do của công dân.

3. Các nguyên tắc của tố tụng hình sự

3.1. Hiện trạng

Khi bàn về các nguyên tắc của tố tụng hình sự, ở Việt Nam có hai luồng ý kiến khác nhau. Loại quan niệm thứ nhất cho rằng, nguyên tắc pháp lý đòi hỏi phải được pháp luật ghi nhận. Nhờ sự ghi nhận của pháp luật mà nguyên tắc mang tính quy phạm và được bảo đảm thực hiện bởi sức mạnh của quyền lực Nhà nước. Kết quả là một nguyên tắc được pháp luật quy định sẽ có hiệu lực điều chỉnh mà không còn là yêu cầu, đòi hỏi chung chung.

Loại ý kiến thứ hai cho rằng, nguyên tắc là những tư tưởng chủ đạo chung phản ánh các quy luật khách quan của quá trình phát triển xã hội, có mức độ phổ quát hơn nhiều so với những gì được pháp luật quy định, nhiều khi phải đi trước một bước so với pháp luật và có khả năng chỉ đạo cả hoạt động xây dựng pháp luật, định hướng nhận thức pháp luật và hoạt động áp dụng pháp luật.

Theo quan điểm và hiểu biết của chúng tôi, đây thực chất là hai mức độ khác nhau trong sự thể hiện của khái niệm nguyên tắc pháp lý. (Do đó, chúng tôi chủ ý không dùng khái niệm: “Nguyên tắc pháp luật” mà dùng “khái niệm nguyên tắc pháp lý”). Nguyên tắc pháp lý có hai mức độ biểu hiện: Mức độ nằm trong ý thức pháp luật và tư tưởng pháp lý; mức độ nằm trong các quy định của pháp luật. Ớ mức độ thứ nhất, các nguyên tắc pháp lý có khả năng là nhân tố chỉ đạo hoạt động xây dựng pháp luật, nó có trước pháp luật thực định. Ở mức độ thứ hai, khi được ghi nhận thông qua các quy phạm và chế định của pháp luật thực định, các nguyên tắc sẽ có năng lực điều chỉnh cao hơn, cụ thể hơn. Thiếu sự điều chỉnh của pháp luật hoặc điều chỉnh không đầy đủ, không đồng bộ, thiếu rõ ràng sẽ làm cho việc áp dụng các nguyên tắc thiếu nhất quán và dễ dẫn đến sự vi phạm các nguyên tắc đó. Đương nhiên, phương pháp ghi nhận bởi pháp luật đối với các nguyên tắc là rất đa dạng và cũng là vấn đề cần được bàn đến.

Đồng thời với việc xác nhận hai mức độ thể hiện của nguyên tắc pháp lý, cần khẳng định rằng hai mức độ đó phải nhất quán với nhau, mức độ mang tính quy phạm phải là sự biểu hiện tốt nhất mức độ lý tưởng của các nguyên tắc. Pháp luật thực định của bất kỳ một Nhà nước nào cũng không thể hoàn thiện ngay được theo đúng nhận thức của giai cấp cầm quyền nói riêng và của nhân dân nói chung và luôn luôn được đặt trước yêu cầu ngày càng hoàn thiện theo những lý tưởng, quan điểm chủ đạo (tức là nguyên tắc đã được đặt ở trạng thái đã được nhận thức khoa học). Có thể thấy rõ điều đó qua những bất cập hoặc khoảng cách giữa hệ thống pháp luật đã được đổi mới nhiều năm ở nước ta so với những tư tưởng và quan điểm chỉ đạo trong “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, tầm nhìn 2024″.

Nguyên tắc pháp lý còn là kim chỉ nam định hướng cho việc hiểu biết về pháp luật. Do vậy, để hiểu đúng nội dung và ý nghĩa của một quy phạm pháp luật hay chế định pháp luật thì vai trò của nguyên tắc pháp lý là rất quan trọng. Chỉ có nắm vững nguyên tắc thì mới hiểu được lời văn và tinh thần của pháp luật.

Trong tố tụng hình sự Việt Nam, nguyên tắc của tố tụng hình sự là những tư tưởng và quan điểm chủ đạo được thể chế hóa bằng pháp luật, có ý nghĩa quyết định đối với việc xác định và thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự và các quan hệ tố tụng hình sự, đối với các hình thức và phương pháp thực hiện những hoạt động và quan hệ đó. Cũng như các nguyên tắc pháp lý khác, các nguyên tắc của tố tụng hình sự có những đặc điểm sau đây:

a) Nguyên tắc của tố tụng hình sự phải là những tư tưởng, quan điểm phù hợp với yêu cầu phát triển khách quan của đời sống xã hội. Nguyên tắc của tố tụng hình sự là những quan điểm chủ đạo, những tư tưởng xuất phát điểm quyết định cấu trúc và nội dung tổ chức và các hoạt động trong tố tụng hình sự.

b) Nguyên tắc của tố tụng hình sự phản ánh những đòi hỏi khách quan và nhận thức tư tưởng của xã hội trong quá trình phát triển về nền tư pháp nói chung và về Tố tụng hình sự nói riêng.

Nguyên tắc của tố tụng hình sự gắn liền với nhiệm vụ và mục đích của tố tụng hình sự và do vậy, tuân thủ các nguyên tắc của tố tụng hình sự là bảo đảm quan trọng hàng đầu cho việc thực hiện có hiệu quả mục đích và nhiệm vụ của tố tụng hình sự.

c) Nguyên tắc của tố tụng hình sự được thể hiện trong những hình thức đặc trưng dưới dạng tư tưởng, quan điểm và dưới dạng quy phạm pháp luật. Ở dạng những tư tưởng và quan điểm, các nguyên tắc có tác dụng dẫn dắt nhận thức, định hướng ý thức xã hội và ý thức chuyên nghiệp dưới dạng các quy phạm, các nguyên tắc là những quy định pháp lý có tính chất chỉ đạo bắt buộc đối với mọi quyết định tố tụng và hành vi tố tụng.

Nguyên tắc của tố tụng hình sự nếu được ghi nhận bởi pháp luật sẽ tạo ra khả năng điều chỉnh và làm tăng hiệu lực thực hiện của các nguyên tắc đó. Mặt khác, các nguyên tắc của tố tụng hình sự là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Tố tụng hình sự. Trong tố tụng hình sự Việt Nam, các nguyên tắc của tố tụng hình sự là đòi hỏi bắt buộc đối với thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự; vi phạm nguyên tắc tố tụng hình sự trong các hoạt động tố tụng dẫn đến hậu quả pháp lý là hủy các quyết định đã vi phạm.

d) Các nguyên tắc của tố tụng hình sự là yếu tố quan trọng và là sản phẩm mô hình của tố tụng hình sự, là những đòi hỏi và phương châm cụ thể bảo đảm đưa nội dung của mô hình tố tụng trở thành hiện thực pháp lý thông qua các chế định, các quy phạm pháp luật Tố tụng hình sự và thông qua tổ chức và hoạt động của chủ thể tham gia tố tụng. Mỗi một mô hình tố tụng hình sự có một hệ thống các nguyên tắc đặc trưng của nó.

e) Nguyên tắc của tố tụng hình sự là điều kiện cho việc thực hiện các mục đích của tố tụng hình sự. Nếu như mục đích của tố tụng là cái mà các hoạt động của tố tụng hình sự cần đạt được thì nguyên tắc chỉ cho chúng ta thấy rằng, cần đạt được kết quả đó như thế nào. Điều đó có nghĩa là, nguyên tắc có vai trò hỗ trợ cho việc thực hiện mục đích của tố tụng hình sự.

Như vậy, nguyên tắc của tố tụng hình sự là cái có trước mô hình cấu trúc của tố tụng hình sự và trước cả các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Nguyên tắc không phải là pháp luật thực định mà là những đòi hỏi pháp lý có tính khái quát cao, mang màu sắc lý tưởng, là những yêu cầu, đòi hỏi, là cái cần có. Trong khi đó, pháp luật tố tụng hình sự là cái tồn tại. Cái tồn tại phải được cải biến cho phù hợp với yêu cầu của cái cần có, nhưng trong hiện thực luôn luôn có một khoảng cách giữa hai phạm trù đó. Có thể lấy ví dụ về nguyên tắc tranh tụng trong cải cách tư pháp hình sự hiện nay ở Việt Nam theo tinh thần của Chiến lược cải cách tư pháp. Thực hiện tranh tụng trong tố tụng hình sự là yêu cầu được đặt ra trong Chiến lược, nhưng yếu tố tranh tụng có được bao nhiêu trong cả hệ thống tố tụng hình sự, được phản ánh như thế nào trong các chế định và quy phạm của pháp luật tố tụng hình sự lại là một vấn đề khác. Tuy nhiên, tư tưởng về việc thực hiện tranh tụng luôn luôn là cơ sở, là thước đo cho việc đánh giá tính hoàn thiện của các chế định pháp luật và của thực tiễn tư pháp hình sự ở Việt Nam hiện nay.

Cùng với các thành tựu đổi mới trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế – xã hội theo hướng cải cách và hội nhập, tố tụng hình sự Việt Nam cũng đã từng bước đổi mới và hoàn thiện, nhận thức về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tư pháp hình sự nói chung và của tố tụng hình sự nói riêng đã có nhiều chuyển biến và theo đó là sự nhận thức lại về hệ thống các nguyên tắc của tố tụng hình sự.

Việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự vào năm 2003 đã ghi nhận những chuyển biến đó. Trong số các sửa đổi, bổ sung căn bản nội dung các quy phạm và chế định của tố tụng hình sự thì sự thay đổi, bổ sung các nguyên tắc của tố tụng hình sự đã cho thấy sự chuyển hướng về chất của tố tụng hình sự nước ta. Điều đó, chắc chắn đã bắt nguồn từ những thay đổi quan trọng trong nhận thức về vai trò, tính chất, mục đích và các chức năng của tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ([3]).

Nếu căn cứ vào tên gọi của các điều luật cũng đồng thời là tiêu đề của các nguyên tắc, có thể xác định được 30 nguyên tắc được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 hiện hành. Tuy nhiên, xem xét kỹ nội dung cụ thể của Điều 10 của Bộ luật Tố tụng hình sự sẽ thấy rằng, bên cạnh việc quy định nguyên tắc về xác định sự thật của vụ án, tại phần thứ hai của điều luật còn có một quy định quan trọng về nguyên tắc trách nhiệm chứng minh, theo đó, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. (Đoạn 2, Điều 10 Bộ luật TTHS) Có thể phân loại các nguyên tắc kể trên theo các nhóm sau đây:

Đó là nội dung của các nguyên tắc được quy định tại Điều 3 của Bộ luật Tố tụng hình sự: “Bảo đảm pháp chế XHCN trong tố tụng hình sự”. Theo đó, mọi hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự

Yêu cầu về pháp chế trong tố tụng hình sự cũng được thể hiện rõ trong nguyên tắc được quy định tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng hình sự về việc xác định sự thật của vụ án. Theo nguyên tắc này, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát và Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và những chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.

Yêu cầu về việc nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của pháp luật trong các hoạt động và quyết định tố tụng cũng là nội dung của nguyên tắc về trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng (Điều 12 Bộ luật Tố tụng hình sự), theo đó, trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về những hành vi, quyết định của mình. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điều tương ứng của Bộ luật hình sự. Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự xác định trách nhiệm của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong việc khởi tố và xử lý vụ án hình sự. Theo nguyên tắc này, khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì các cơ quan nói trên, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp theo luật định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội. Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ đã được quy định tại các điều 100 và 107 của Bộ luật Tố tụng hình sự và ngoài trình tự được quy định tại Chương VIII của Bộ luật này.

Việc giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với bản án và quyết định của Tòa án cấp dưới, của Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án và quyết định của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp (Điều 21 Bộ luật Tố tụng hình sự) cũng là một nguyên tắc bảo đảm pháp chế nhằm làm cho việc áp dụng pháp luật được nghiêm chỉnh và thống nhất. Nội dung những đòi hỏi được quy định tại Điều 22 Bộ luật Tố tụng hình sự về bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của Tòa án; quy định tại Điều 23 và thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật; Điều 27 của Bộ luật Tố tụng hình sự về phát hiện và khắc phục nguyên nhân và điều kiện phạm tội đều hàm chứa yêu cầu về pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự. Như vậy, nhóm “các nguyên tắc pháp chế” có 8 nguyên tắc được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

b) Nhóm các nguyên tắc bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân nói chung và quyền của bị can, bị cáo nói riêng trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự

Trong nhóm này, trước hết đó là nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân được quy định tại Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo đó, khi tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa. Có thể nói rằng, nguyên tắc này có nội dung rất gần với đòi hỏi về pháp chế vì hàm chứa trong đó đòi hỏi về việc xem xét, đánh giá, kiểm tra tính hợp pháp của các biện pháp đã áp dụng. Tuy nhiên, mục đích của việc đặt ra nguyên tắc này là để bảo đảm sự tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân trong các hoạt động tố tụng hình sự mà không chỉ dừng lại ở yêu cầu về việc nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật.

Khách thể ở đây là quyền của công dân. Cùng hướng bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự là nội dung của các nguyên tắc được quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng hình sự “Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật”, theo đó Bộ luật nhấn mạnh đến việc không phân biệt đối xử trong tố tụng hình sự, bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật. Kế đó là các nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân (Điều 7); nguyên tắc về quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín điện thoại, điện tín của công dân (Điều 8); Nguyên tắc “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 9); Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 1l); Nguyên tắc về tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự (Điều 24); Nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan (Điều 29); Nguyên tắc bảo đám quyền được bồi thường của người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự gây ra (Điều 30). Như vậy, nhóm này bao gồm 10 nguyên tắc.

c) Nhóm các nguyên tắc về tính chất của hoạt động tố tụng hình sự

d) Nhóm các nguyên tắc về sự tham gia của nhân dân và sự phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan Nhà nước khác đối với hoạt động tố tụng hình sự

Những nguyên tắc này được coi như là những bảo đảm quan trọng cho hiệu quả hoạt động của tố tụng hình sự. Đó là: Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân dân tham gia, theo đó, việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán (Điều 15, Bộ luật Tố tụng hình sự); Nguyên tắc về trách nhiệm của các tổ chức và công dân trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm (Điều 25). Theo quy định của điều luật này, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm tạo điều kiện để các tổ chức và công dân tham gia tố tụng hình sự; phải trả lời kết quả giải quyết tin báo, tố giác và tội phạm cho tổ chức đã báo tin người đã tố giác tội phạm biết; Nguyên tắc về sự phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước và các cơ quan tiến hành tố tụng (Điều 26 Bộ luật Tố tụng hình sự); Nguyên tắc về sự giám sát của các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng (Điều 32). Nhóm này có 4 nguyên tắc.

3.2. Nhận xét

Thứ nhất, các nguyên tắc của tố tụng hình sự Việt Nam chứa đựng những tư tưởng chỉ đạo chặt chẽ cụ thể, rõ ràng, tạo điều kiện cho sự vận dụng chúng trong các hoạt động tố tụng hình sự. Tính chất đó của các nguyên tắc hoàn toàn phù hợp với yêu cầu và đặc điểm của tố tụng hình sự là một loại hoạt động quyền lực, do đó, khả năng vi phạm các quy định về quyền hạn và nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền là rất lớn. Ở đây không cho phép một sự linh hoạt hoặc sự tùy nghi vượt khỏi yêu cầu của pháp luật tố tụng. Chính vì vậy, những đòi hỏi, những yêu cầu có tính nguyên tắc của pháp luật phải hết sức rõ ràng và cụ thể để tránh sự giải thích tùy tiện.

Thứ hai, cơ cấu về số lượng các nguyên tắc của tố tụng hình sự đã cho thấy sự quan tâm thích đáng của Nhà nước Việt Nam đối với yêu cầu về tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân trong quá trình tố tụng (10/31 nguyên tắc) . Điều đó phản ánh rõ nét quan điểm và tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam cho rằng, các cơ quan tư pháp phải thực sự là chỗ dựa đáng tin cậy của công dân, phải triệt để tôn trọng quyền con người, quyền công dân mà trước hết là tự do, danh dự và nhân phẩm của họ trong các hoạt động tố tụng.

Thứ ba, các nguyên tắc của tố tụng hình sự Việt Nam phản ánh quan điểm của về mục đích, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống tư pháp hình sự nói chung và của tố tụng hình sự nói riêng là bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, duy trì và bảo vệ công lý; xác định trách nhiệm và chức năng của các cơ quan tư pháp là “phụng công thủ pháp”, “chí công vô tư”, thực sự khách quan. Các nguyên tắc của tố tụng hình sự hiện hành Việt Nam phản ánh rõ nét tính chất pha trộn của tố tụng hình sự, trong đó tính chất chủ đạo của nó là tố tụng thẩm vấn với sự tiếp thu một số rất ít các đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng. Có thể nói rằng, đây chính là lĩnh vực của những sự tìm tòi, thể nghiệm vừa nghiêm túc, thận trọng, vừa cầu thị trong quá trình thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới vừa qua.

Các nỗ lực cải cách cũng như hoạt động thực tiễn của các cơ quan tư pháp hình sự ở Việt Nam trong những năm qua đã lấy những mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc làm căn cứ. Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành tố tụng vẫn còn nảy sinh nhiều vướng mắc và bất cập. Có nhiều nguyên nhân khác nhau của những bất cập và vướng mắc đó, trong đó phải kể đến những bất cập trong các quy định của pháp luật tố tụng hình sự mà trước hết là quy định về hệ thống các nguyên tắc của tố tụng hình sự. Có thể nêu ba biểu hiện sau đây:

Thứ nhất, đó là sự thiếu vắng các nguyên tắc đủ khả năng phản ánh những tư tưởng, định hướng chỉ đạo quan trọng về cải cách tư pháp mà trọng tâm là cải cách hoạt động xét xử. Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tố tụng hình sự đã có lý khi đề xuất kiến nghị về việc khẳng định nhận thức và quy định trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam các nguyên tắc quan trọng và phổ biến của tố tụng hình sự như nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc tranh tụng.

Thứ hai, đó là sự quy định tản mạn và trùng lặp về nội dung các nguyên tắc, gây khó khăn cho sự nhận thức mục đích, ý nghĩa, nội dung và cho việc áp dụng các nguyên tắc đó trong thực tiễn. Do đó, cần phải căn cứ vào nội dung của các quy định đó để sắp xếp một cách hợp lý.

Hệ thống tư pháp và hệ thống pháp luật Việt Nam là hệ thống chỉ dựa vào các quy định của pháp luật với nguyên tắc đặc trưng là nguyên tắc pháp chế. Đòi hỏi quan trọng nhất đối với tố tụng hình sự là sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật cả về hình thức và nội dung. Ở đây không có sự lựa chọn, sự tùy nghi suy xét, tùy nghi truy tố, ở đây chứng minh không chỉ là nghĩa vụ bên buộc tội mà còn là của chính Tòa án với mục đích chứng minh sự thật khách quan của vụ án. Những đòi hỏi đó là hòn đá tảng của hệ thống tư pháp thực định, theo đó, mọi kết luận đều phải dựa vào pháp luật, mọi hành vi tố tụng và quyết định tố tụng phải tuân thủ pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng. Giải thích của Tòa án không có giá trị là nguồn pháp lý; các quan điểm, kể cả những quan điểm phổ biến, chính thống của đa số, của các cơ quan lãnh đạo, nếu chưa được “thể chế hóa” thành các quy định của pháp luật, cũng không thể được coi là căn cứ để áp dụng pháp luật.

Việc coi các các nguyên tắc của tố tụng hình sự có tính quy phạm đồng nghĩa với sự thừa nhận có hai loại nguyên tắc: những nguyên tắc “nằm” trong pháp luật và những nguyên tắc “nằm” ngoài pháp luật. Tình trạng đó dẫn đến sự khó khăn không thể tránh khỏi đối với các cơ quan thực tiễn.

Hệ thống các nguyên tắc của tố tụng hình sự được xác lập trên cơ sở những đòi hỏi khác nhau, nhưng thống nhất với nhau về mục tiêu và chức năng của tố tụng hình sự, về hình thức và phương thức tổ chức và hoạt động của tư pháp hình sự. Sự đa dạng, sự khác biệt và sự thống nhất của các chức năng, địa vị pháp lý tố tụng tạo nên sự đa dạng, sự khác biệt và sự thống nhất cửa các nguyên tắc của tố tụng hình sự.

Trước hết nói về sự khác biệt và đa dạng của các nguyên tắc Tố tụng hình sự. Như đã nói ở trên, nguyên tắc của tố tụng hình sự đóng vai trò là phương thức, công cụ để đạt được các mục tiêu và nhiệm vụ của tố tụng hình sự. Trong khi đó, mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể của tố tụng hình sự không thể giống nhau, thậm chí về hình thức có lúc là “trái chiếu” với nhau mà chỉ trong tổng thể, với mục tiêu và nhiệm vụ chung thì chúng mới nhất quán được với nhau. Như đã nêu ở phần trên, Tố tụng hình sự có nhiệm vụ: “(. . .) chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội (. . .), góp phần bảo vệ chế đội xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”. Nội dung của quy định pháp luật này phản ánh những định hướng, mục đích và nhiệm vụ khác nhau của tố tụng hình sự Việt Nam: vừa phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý để “không để lọt” tội phạm, lại vừa phải “không làm oan người vô tội”; vừa bảo vệ chế độ, lợi ích của Nhà nước, trật tự pháp luật, lại vừa bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân (đương nhiên trong đó có cả lợi ích của bị can, bị cáo trong vụ án hình sự).

Thực tế cho thấy rằng, những đòi hỏi về tổ chức và hoạt động của tư pháp hình sự, trong đó có các nguyên tắc Tố tụng hình sự không thể phát huy được hiệu lực và hiệu quả điều chỉnh của nó nếu đặt chúng riêng rẽ. Mỗi nguyên tắc của TTHS phải luôn luôn được kết hợp với các đòi hỏi và nguyên tắc khác. Thực tế cũng cho thấy rằng, những tính chất của tố tụng như tố tụng xét hỏi hay tố tụng tranh tụng chỉ là những đòi hỏi lý thuyết, có tính lý tưởng mà không một hệ thống tố tụng nào có thể theo đuổi được một cách triệt để, mặc dù có thể khẳng định về tính trội của nguyên tắc này so với tính trội của nhóm các nguyên tắc khác trong từng hệ thống tố tụng hình sự.

Vì sao lại có thể có hiện tượng đó trong thực tế? Để hiểu được điều này, chúng ta phải trở lại với vấn đề về bản chất khách quan của các nguyên tắc của tố tụng hình sự. Việc sử dụng nguyên tắc này hay nguyên tắc khác trong tố tụng hình sự không chỉ phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước, hay nói khác đi, đó không chỉ là quan điểm, tư tưởng chính thống của Nhà nước mà còn phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức xã hội. Trong bất kỳ lĩnh vực nào thì nhận thức xã hội cũng đều có những chiều hướng, những mức độ và gam màu khác nhau. Những đòi hỏi về một hệ thống tư pháp nói chung và hệ thống tư pháp hình sự và tố tụng hình sự nói riêng cũng có tình hình này. Chừng nào những đòi hỏi đó được kết hợp với nhau thì chừng đó các đòi hỏi, nguyên tắc đó mới tạo nên được những xung lực cần thiết để vận hành tố tụng hình sự một cách có hiệu quả. Vì vậy, một hệ thống tố tụng hình sự có hiệu quả phải được đặt trên nền tảng những nguyên tắc đa dạng, đa chiều nhưng nhất quán với nhau.

Mặt khác, như đã nói ở trên, là sản phẩm của ý thức hệ, chắc chắn rằng hệ thống các nguyên tắc luôn luôn có tính lịch sử. Tính lịch sử đó thể hiện ở chỗ, trong những giai đoạn lịch sử nhất định có tính trội của nhóm các nguyên tắc này hay nhóm các nguyên tắc khác trong mối quan hệ tương hỗ của các cặp phạm trù nguyên tắc đối lập nêu trên. Đây là một quá trình của sự phát triển mang tính lịch sử khách quan, phản ánh thực trạng của các quan điểm xã hội về nền tư pháp, đòi hỏi chung của xã hội về tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp. Chẳng hạn, ở Việt Nam trong quá trình đổi mới kinh tế – xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền nhu cầu bức thiết của nhân dân về một nền tư pháp dân chủ, công minh đã thúc đẩy hình thành quan điểm cải cách tư pháp theo hướng nhấn mạnh yêu cầu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra, khẳng định vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp và đề cao nguyên tắc tranh tụng, điều mà trước đây còn là những phạm trù mới mẻ và khá xa lạ với tố tụng hình sự nước ta. Mặt khác cũng cần nhìn nhận rõ hơn rằng, việc thừa nhận và đề cao các nguyên tắc đó mới chỉ. là điểm khởi đầu của sự việc. Thực hiện và khẳng định mạnh mẽ các nguyên tắc đó trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và nhất là trong thực tiễn của tư pháp hình sự mới là bước khó khăn nhất. Điều đó càng khẳng định rõ hơn sự “đấu tranh giữa hai mặt đối lập” trong quá trình nhận thức và áp dụng các nguyên tắc của tố tụng hình sự.

Có thể thấy rằng, một hệ thống tố tụng hình sự muốn có được hiệu quả cao là một hệ thống có khá năng phản ánh và ghi nhận sự giao thoa của các nguyên tắc với sự bắt nhịp nhạy bén với khuynh hướng của nhận thức xã hội tiến bộ, phản ánh tính trội của những nguyên tắc thể hiện bản chất dân chủ và tiến bộ của tố tụng hình sự hiện đại. Tư tưởng về sự tôn trọng quyền và tự do của các bên, về tranh tụng trong tố tụng hình sự, nguyên tắc suy đoán vô tội phản ánh sự triệt để tôn trọng quyền con người là những tư tưởng nhân văn lớn và có tính pháp quyền cao phải được coi là những điểm trội trong hệ thống các nguyên tắc của tố tụng hình sự tiến bộ.

Trên thế giới có hai quan điểm chủ yếu về mục đích của tố tụng hình sự: mục đích xác định sự thật khách quan của vụ án và mục đích công nhận sự thật pháp lý theo cách diễn đạt của các luật gia La Mã “quod non est in actua non in mun do” (“Cái không có trong hồ sơ là cái không tồn tại”). Mục đích nào sẽ đặt ra các nguyên tắc ấy. Nếu vì mục đích thứ nhất, Tố tụng hình sự phải tuân theo các nguyên tắc của mô hình tố tụng thẩm vấn, theo đó mục đích của tố tụng hình sự là đấu tranh chống tội phạm, Tố tụng hình sự thiên về hướng sử dụng quyền lực và uy thế của các cơ quan Nhà nước; coi trọng vai trò chứng minh của Tòa án, nguyên tắc bắt buộc khởi tố và xử lý vụ án hình sự. Nếu vì mục đích thứ hai, Tố tụng hình sự phải tuân theo các nguyên tắc của tố tụng hình sự tranh tụng, theo đó, Tố tụng hình sự không được coi chủ yếu hoạt động quyền lực mà được hình dung như sự giải quyết tranh chấp giữa một bên là Nhà nước – người đặt ra các điều cấm và một bên khác là bị can, bị cáo đã vi phạm các điều cấm đó. Đồng thời, ở đây điều đáng quan tâm nhất không phải là áp dụng luật nội dung mà là thủ tục pháp lý (“dueej process of law”), thủ tục tố tụng hình sự. Nói khác đi, mục đích của Tố tụng tranh tụng đặt ra các nguyên tắc đòi hỏi có vị trí bình đẳng của các bên tranh tụng, xác định trách nhiệm và khả năng chứng minh trong vụ án hình sự, khuyến khích cả hai phía: người buộc tội và bị cáo tìm kiếm những hình thức và khả năng khác nhau để giải quyết vụ án.

4. Các chức năng trong tố tụng hình sự Việt Nam

4.1. Hiện trạng

Theo những quy định hiện nay của Bộ luật TTHS Việt Nam thì các chức năng tố tụng chưa được xác định rõ. Ớ đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh về chức năng tố tụng và có thêm một lưu ý rằng cần phân biệt chức năng tố tụng với chức năng về mặt tổ chức của các cơ quan, thiết chế tương ứng. Chẳng hạn, Tòa án có chức năng xét xử vì đó là cơ quan xét xử duy nhất ở Việt Nam; Viện kiểm sát có hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; Cơ quan điều tra có chức năng điều tra tội phạm; người bào chữa có quyền bào chữa. Chính vì theo cách hiểu về chức năng được đặt ra từ tổ chức và tính chất hoạt động của các chủ thể TTHS mà lâu nay có quan niệm về sự tồn tại trong TTHS các chức năng: Chức năng điều tra, chức năng công tố, chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp, chức năng xét xử, chức năng bào chữa. Trong khi đó, trong bất kỳ một hệ thống TTHS nào cũng đều tồn tại các nhu cầu được đặt ra bởi tính chất của tố tụng là: Truy tố tội phạm và người phạm tội; bào chữa của bị can, bị cáo và luật sư của họ; hoạt động xét xử của Tòa án. Từ đó, ba chức năng: Buộc tội, bào chữa và xét xử luôn luôn tồn tại trong bất kỳ một loại TTHS nào. Do đó, nói chức năng tố tụng là nói đến những định hướng hoạt động trong quá trình TTHS mà không lẫn lộn với chức năng vốn có của các thiết chế tổ chức.

Như đã nêu ở trên, tâm điểm của TTHS Việt Nam là “xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ”. Do đó, toàn bộ cỗ máy các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đều hầu như hoạt động trên cùng một hướng là xác định sự thật của vụ án. Nói khác đi, có một điểm chung quyết định đối với chức năng của các chủ thể TTHS Việt Nam. Điều 10 của Bộ luật TTHS quy định: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và những chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.

Trước đó, Điều 4 của Bộ luật TTHS Việt Nam xác định: “Khi tiến hành tố tụng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa”.

Như vây, có thể thấy rằng, ba chức năng tố tụng nêu trên đều thuộc về tất cả các chủ thể và từng chủ thế đó. Trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành không tồn tại việc khu biệt ba chức năng tố tụng cho từng chủ thể tố tụng. Nếu có, thì đó cũng chỉ là sự phân biệt tương đối. Ngoài ra, Điều 13 của Bộ luật TTHS Việt Nam còn quy định rõ: “Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án hình sự và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội”. Theo quy định này, không chỉ Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mà Tòa án cũng có chức năng khởi tố vụ án hình sự. Điều này được bổ sung bởi một số quy định khác trong Bộ luật TTHS, chẳng hạn như quy định Hội đồng xét xử vẫn phải xét xử toàn bộ vụ án khi tại phiên tòa nếu sau khi xét hỏi, Kiểm sát viên rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn (Điêu 195); quy định Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố (Điều 196).

Trên thực tế, Cơ quan điều tra, VKS chủ yếu thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ theo hướng buộc tội, còn trong trường hợp không phát hiện được thì đình chỉ điều tra, không truy tố. Pháp luật đặt ra yêu cầu chung đối với họ về việc bảo đảm tôn trọng và bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân mà không nêu đích danh là quyền và lợi ích của bị can, bị cáo – những người yếu thế nhất trong quan hệ tố tụng. Chỉ còn lại người bào chữa là chủ thể thực hiện chức năng gỡ tội cho bị can, bị cáo, nhưng vị trí và khả năng tố tụng của chủ thể này lại rất hạn chế. việc không phân biệt thật rõ ràng mục đích của các chủ thể tố tụng dẫn đến sự không rõ ràng chức năng của các chủ thể đó và trong tổng thể điều đó không tạo ra được động cơ và động lực thúc đẩy hiệu quả của tố tụng hình sự, nếu xét tiêu chí của hiệu quả lả xác định chính xác sự thật khách quan của vụ án và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và của công dân.

5. Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam

Theo quy định pháp luật hiện hành đã nêu ở trên (Điều 10 Bộ luật TTHS), chủ thể có quyền chủ động hoàn toàn trong TTHS Việt Nam trong toàn bộ quá trình tố tụng nói chung và trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ là các cơ quan tiến hành tố tụng.

Bởi vậy, bắt đầu từ khi khởi tố vụ án, Cơ quan điều tra tập ra hồ sợ vụ án hình sự” (ĐIỀU 35 Bộ luật TTHS); khi kết thúc điều tra thì hồ sơ đó được chuyển sang VKS để quyết định truy tố (nếu phát hiện tội phạm và người phạm tội); từ khi có quyết định truy tố của VKS thì hồ sơ đó dược chuyển đến Tòa án để xét xử. Và vì mục đích đi tìm sự thật khách quan của vụ án nên việc xét xử ở Tòa án cũng là sự tiếp tục điều tra.

Như vậy, hồ sơ là căn cứ duy nhất và hợp pháp để xét xử.

Các chứng cứ cũng hoàn toàn thuộc về quyền chủ động của các cơ quan tiến hành tố tụng, bởi theo quy định của Bộ luật TTHS thì “chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan diều tra, VKS và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án” (Điều 64). Trong toàn bộ quá trình của vụ án, các cơ quan nói trên và chỉ các cơ quan đó mà thôi mới có quyền thu thập chứng cứ thông qua thẩm quyền triệu tập những người biết về vụ án và nghe họ trình bày, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án (Điều 65). Các vật chứng phải được đưa vào hồ sơ vụ án hoặc chụp ảnh, ghi hình để đưa vào hồ sơ vụ án.

Như vậy, trong tố tụng hình sự hiện hành của Việt Nam, việc xác định chứng cứ cũng như quá trình chứng minh cho thấy vai trò nổi trội và áp đảo của các cơ quan tiến hành tố tụng và vai trò bị động, yếu ớt của bị can, bị cáo, người bào chữa của họ. Hãy so sánh:

Kiểm sát viên được quyền đưa ra danh sách những người được triệu tập để xét hỏi trước Tòa và đề xuất trình xử xét hỏi. Dựa vào đó, Tòa án quyết định về người được triệu tập và trình tự xét hỏi tại phiên tòa. Kiểm sát viên đọc cáo trạng, tiến hành xét hỏi sau xét hỏi của Thẩm phán rồi thực hiện luận tội và đưa ra ý kiến cuối cùng. Việc xét hỏi được bắt đầu bởi Thẩm phán. Người bào chữa được trình bày một lần trong phần tranh luận, bị cáo nói lời cuối cùng, nếu không tính đến những trả lời đối với các câu hỏi được đặt ra. Người bào chữa không được triệu tập nhân chứng của mình, không được xét hỏi nhân chứng của mình mà chỉ có các nhân chứng do Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đưa ra.

6. Về vị trí và quan hệ của các chủ thể trong TTHS Việt Nam

Những quy định của pháp luật TTHS về mục đích của TTHS, về các nguyên tắc TTHS, về các chức năng tố tụng cũng như về chứng cứ và chứng minh đã cho thấy rõ về một loại quan hệ mang tính quyết định và phụ thuộc, quyền lực và đối tượng của quyền lực mà không phải là quan hệ bình đẳng và đối trọng trong quan hệ của các chủ thể tố tụng.

Có thể nói rằng, ở giai đoạn nào cũng có những biểu hiện của đặc trưng chủ đạo đó. Tuy nhiên, biểu hiện rõ nhất là ở giai đoạn điều tra. Ước tính như sau: Khoảng 40% bị cáo trước khi bị đưa ra xét xử đã từng bị tạm giam, đa số trong số đó đã bị tạm giữ. Thời hạn tạm giam để điều tra được quy định là không quá 2 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 3 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 4 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Việc tạm giam đó còn có thể được gia hạn tương ứng là một lần không quá một tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, hai lần đối với tội phạm nghiêm trọng theo công thức không quá 2 tháng trong lần thức nhất, không quá 1 tháng trong lần thứ hai, có nghĩa tối đa là 3 tháng; mức độ tương ứng tiếp theo là 3 tháng + 2 tháng = 5 tháng; 3 lần x 4 tháng = 12 tháng. Nói khác đi, trong một khoảng thời gian dài bị cáo đã phải đối diện song phương với Điều tra viên và vì vậy số phận, việc bảo đảm quyền và lợi ích của họ hoàn toàn phụ thuộc vào Điều tra viên, chưa nói đến tính bí mật khép kín của hoạt động điều tra. Giai đoạn được coi là công bằng, công khai nhất là giai đoạn xét xử thì trừ những vụ án phức tạp, có nhiều bị cáo thông thường chỉ diễn ra từ 1 – 2 ngày. Và ở đó thì, như đã nói ở trên, bị cáo và người bào chữa có vị thế hết sức thụ động với vị thế nổi trội của đại diện VKS và của chính Tòa án.

7. Về các giai đoạn trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tố tụng hình sự Việt Nam được xác định như một hệ thống các giai đoạn thực hiện các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng mà giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn kế sau và giai đoạn kế đó là hệ quả của giai đoạn trước nó. Theo sơ đồ này, ở Việt Nam đã hình thành một quan điểm chung về các giai đoạn tố tụng gồm: Giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự; giai đoạn truy tố; giai đoạn xét xử sơ thẩm; giai đoạn xét xử phúc thẩm, giai đoạn thi hành bản án và quyết định của Tòa án. Việc xét lại bản án và quyết định đã có hiệu lực của pháp luật là những thủ tục có tính chất kiểm tra bao gồm thủ tục giám đốc thẩm: Xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình xử lý vụ án ở các giai đoạn tố tụng; thủ tục tái thẩm được áp dụng đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án đã không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó. Tính thống nhất của các giai đoạn TTHS thể hiện ở hai yếu tố: a) tuy tố tụng được chia thành nhiều giai đoạn, nhưng hồ sơ vụ án chỉ có một và được lập từ giai đoạn điều tra vụ án; b) các giai đoạn tố tụng sau nhất thiết phải xảy ra nếu giai đoạn trước đó không bi chấm dứt bởi lý do không xác định được cơ sở của trách nhiệm hình sự.

Phần thứ Hai: Định hướng đổi mới và hoàn thiện Tố tụng hình sự Việt Nam

Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2024” và gần đây nhất là Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu tăng cường xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, nhấn mạnh nhiệm vụ bảo vệ công lý; tôn trọng và bảo vệ quyền con người, dân chủ hóa các thủ tục tố tụng hình sự theo hướng tăng cường tranh tụng, bảo đảm quyền tố tụng bình đẳng của bị can, bị cáo và người bào chữa.

Kể từ khi có chủ trương cải cách đó đã có nhiều nỗ lực về lý luận và thực tiễn và kết quả của những nỗ lực đó cho thấy những hướng cải cách được đặt ra là đúng đắn, có tính khoa học cao và có tính cách mạng sâu sắc. Tiếp tục các nỗ lực đó việc nghiên cứu để chỉ ra được những hạn chế, bất cập của hệ thống TTHS hiện hành, đề xuất những quan điểm và phương án mới có tính khả thi đối với việc hoàn thiện TTHS Việt Nam là hết sức cần thiết.

Với ý nghĩa đó, sau khi đã xác định trên những nét chung nhất, tính chất và đặc điểm của TTHS hiện hành ở VN, báo cáo này đề xuất những định hướng và giải pháp quan điểm sau đây:

1) Về mục đích của TTHS Việt Nam

Tố tụng hình sự Việt Nam đã có lịch sử phát triển lâu dài, đã hình thành những nhận thức quan điểm tương đối đồng nhất trong lý luận và thực tiễn về mục đích của nó. Với nhận thức rõ ràng rằng, việc xác định mục đích cần đạt được của TTHS sẽ là điểm mấu chốt cho việc cải tổ hệ thống TTHS, chúng tôi cho rằng, bàn về đổi mới và hoàn thiện TTHS Việt Nam cần bắt đầu từ vấn đề mục đích của tố tụng hình sự.

Như đã đánh giá ở phần trên, Bộ luật TTHS Việt Nam xác định mục đích của TTHS quá rộng, quá chung, hầu như trùng với mục đích của cả hệ thống tư pháp hình sự. Cần đánh giá lại một cách cụ thể hơn mục đích của TTHS là xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, bảo vệ quyền con người trong các hoạt động tố tụng trong hệ thống các nguyên tắc dân chủ của TTHS Việt Nam.

2) Về các nguyên tắc của TTHS

Đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp và tính pháp quyền của nó, TTHS VN cần lấy các nguyên tắc tranh tụng, nguyên tắc suy đoán vô tội làm hai nguyên tắc trụ cột. Nguyên tắc tranh tụng dẫn đến sự hình thành các bên trên cơ sở xác định vị trí của các lợi ích tố tụng, từ đó tạo nên sự bình đẳng của các bên trong vị trí tố tụng. Nguyên tắc suy đoán về tội tạo ra bảo đảm cần thiết cho việc bảo vệ quyền con người, là lá chắn quan trọng để khắc phục tình trạng án oan, sai trong TTHS.

3) Về vị trí của các chủ thể tố tụng

Cần từ bỏ cách chia các chủ thể quan hệ tố tụng thành cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng. Tất cả phải đều là chủ thể các quan hệ tố tụng và trên cơ sở xác định rõ rang mục đích và lợi ích của các chủ thể đó mà hình thành các bên trong quan hệ tố tụng. Các bên cần được quyền ngang nhau về khả năng đưa ra chứng cứ, lấy lời khai người làm chứng. Cần tăng cường những bảo đảm cho tính công khai của hoạt động điều tra.

4) Về các chức năng tố tụng

Sự bình đẳng của các chủ thể cùng với sự phân biệt rõ hơn, độc lập hơn các chức năng tố tụng là đảm bảo quan trọng cho tính dân chủ và tính tranh tụng của TTHS. Cần nhận thức sâu hơn rằng, sự phân định chức năng tố tụng có cội nguồn không phải từ nước Anh hay nước Mỹ mà từ định hướng về cơ chế quyền lực nhà nước ở Việt Nam theo Điều 2 của Hiến pháp 1992 sửa đổi năm 2001. Theo đó, Viện kiểm sát, trong vai trò là cơ quan buộc tội, là nhân vật của hành pháp có chức năng buộc tội; Tòa án có vị trí độc lập của cơ quan tư pháp. Tòa án không thể thực hiện bất kỳ một yếu tố nào của chức năng buộc tội mà phải là thiết chế của công lý, chỗ dựa đáng tin cậy của người dân, do đó cần có vị tri vô tư, khách quan, từ bỏ vai trò quá chủ động và tích cực trong việc truy tìm sự thật vốn là công việc của các bên trong tố tụng.

5) Về chứng cứ và chứng minh trong tố tụng hình sự

Như vậy, theo mô hình này, vị trí và các mối quan hệ giữa các chủ thể được xác định như sau:

– Quan hệ giữa bên buộc tội và bên bị can, bị cáo là quan hệ bình đẳng, thể hiện sự bình đẳng giữa Nhà nước và cá nhân kể cả trong tố tụng hình sự (vì chỉ có Tòa án mới có thể coi một người là có tội)

– Quan hệ giữa Tòa án và Cơ quan điều tra, Công tố là quan hệ phân quyền, theo nguyên tắc về sự độc lập của Tòa án. Vì vậy hồ sơ vụ án được lập trong giai đoạn điều tra được coi chỉ là một trong những cơ sở để đánh giá đường đi của vụ án mà không phải là cơ sở duy nhất đối với Tòa án

– Quan hệ giữa Tòa án với bị cáo là quan hệ được xác định theo nguyên tắc suy đoán vô tội. Không có suy đoán vô tội thì mục đích bảo vệ quyền con người mà TTHS đặt ra không thể thực hiện được.

 [2] V.I.Lenin: Bút ký triết học. Toàn tập, T.29, NXB Tiến bộ, Mockha, tr. 179

 [3] Điều 2 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam lần đầu tiên xác định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”.

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp – kinh nghiệm CHLB Đức” do Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Quỹ Hợp tác quốc tế về pháp luật CHLB Đức phối hợp tổ chức ngày 9-10/6/2011 tại Hà Nội,

Mô Hình Tố Tụng Hình Sự Nhật Bản

I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIẺN MÔ HÌNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ NHẬT BẢN

Hệ thống pháp luật Nhật Bản là kết quả học hỏi pháp luật phương Tây về mặt hình thức nhưng vẫn giữ được những nét truyền thống của Nhật Bản. Tùy theo từng thời kỳ, Nhật Bản tiếp nhận pháp luật của Pháp, Đức, Mỹ để sáng tạo ra hệ thống pháp luật của riêng mình. Lịch sử phát triển tố tụng hình sự Nhật bản cho thấy trước khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ hai, luật pháp Nhật Bản thuộc hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa nhưng kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai thì pháp luật Nhật Bản đã du nhập nhiều chế định về quyền và nghĩa vụ của công dân, pháp luật về tố tụng và cách thức tổ chức Tòa án trong pháp luật của Hoa Kỳ. Lịch sử phát triển tố tụng hình sự của Nhật Bản gắn liền với sự phát triển của hệ thống tư pháp hình sự, có thể chia thành 3 giai đoạn chính:

Giai đoạn I. Từ thế kỷ 19, Nhật Bản tiến hành chính sách cách tân đất nước, chuyển từ thể chế quân chủ sang thể chế dân chủ. Vào khoảng năm 1868, để đảm bảo duy trì an ninh trật tự sau khi chính quyền Mạc phủ Edo tan rã, Hoàng đế Minh Trị học hỏi mô hình luật hình sự của Trung Quốc. Sau đó, Nhật Bản áp dụng mô hình pháp lý Châu Âu nhằm tạo vị trí bình đẳng của Nhật trong các Hiệp định ký kết với các nước Châu Âu. Vào thời kỳ này, hệ thống common law (luật bất thành văn) của Anh – Mỹ rất xa lạ với Nhật Bản, do đó Nhật Bản tiếp cận và nghiên cứu hệ thống pháp luật Pháp. Năm 1873, Nhật bản mời giáo sư Boissonade từ Trường Đại học Tổng hợp Paris giúp cho việc soạn thảo các bộ luật nội dung và tố tụng cả dân sự và hình sự và kết quả đã ban hành Bộ luật hướng dẫn hình sự vào năm 1880, có hiệu lực vào tháng 01 năm 1882, theo đó chế định Công tố viên theo mô hình của Pháp du nhập vào Nhật Bản. Công tố viên thực hiện truy tố tội phạm, phù hợp với việc phân loại tội phạm theo quy định của pháp luật, với mục đích chứng minh tội phạm và áp dụng hình phạt thích hợp với kẻ phạm tội (Điều 1). Công tổ viên thực hiện các hoạt động điều tra tội phạm, yêu cầu Thẩm phán kiểm tra tội phạm và áp dụng các điều khoản theo quy định cùa pháp luật, chỉ đạo việc thi hành lệnh hay quyết định của Tòa án và bảo vệ lợi ích công của Tòa án. Thẩm phán được trực tiếp thu thập chứng cứ ban đầu (Điều 34). Trong thời gian sau đó, hệ thống tư pháp Nhật Bản bắt đầu bị ảnh hưởng của Đức. Năm 1890, Luật tổ chức Tòa án được ban hành dựa trên dự thảo của người Đức tên là Rudorff, theo đó xác định, Công tổ viên cũng có quyền giám sát hoạt động của Thẩm phán, đại diện cho quyền lợi công trước Tòa án (độc quyền truy tố), và đây là nền móng để phát triển hệ thống công tố Nhật Bản. Vào năm 1893, Nhật Bản xây dựng Hiến pháp mới dựa trên Hiến pháp Đức và ban hành Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) cũng dựa theo mô hình của Đức. Bộ luật này gần như sao chép toàn bộ nội dung của Luật tố tụng hình sự Pháp, tuy nhiên không quy định chế định Bồi thẩm đoàn như ở Pháp vì cho rằng chế định đó không phù hợp với Nhật Bản lúc bấy giờ. Năm 1913, Nhật ban hành Luật về thủ tục rút gọn, theo đó Công tố viên có thể trực tiếp xử phạt bị can mà không cần đưa ra Tòa xét xử nhằm giảm thời gian và chi phí cho quá trình tố tụng.

Đến năm 1922, BLTTHS sửa đổi được ban hành và có hiệu lực năm 1924. BLTTHS này được áp dụng đến Đại chiến thế giới II với mô hình tố tụng hình sự chuyển từ mô hình của Pháp sang mô hình của Đức, theo đó mô hình tranh tụng được chuyển theo mô hình của Đức, quan tòa là người chủ tọa, dẫn dắt cuộc họp, giải quyết tranh luận. Nhưng điểm khác của mô hình tố tụng hình sự Nhật Bản so với mô hình tố tụng hình sự của Đức là chế định tùy nghi truy tố của Công tố viên Nhật Bản. Theo quy định của BLTTHS này thì Công tố viên có nhiệm vụ điều tra, cảnh sát thực hiện yêu cẩu của Công tố viên; cơ chế xem xét ban đầu trong quá trình tra được giao cho Thẩm phán (đối với một số vụ án cụ thể hoặc một số tội phạm đặc biệt, các biện pháp điều tra đặc biệt do Thẩm phán quyết định). Tuy nhiên, trong thực tiễn, do cơ quan cảnh sát không phải lúc nào cũng tuân thủ đúng quy định của pháp luật, vi phạm quyền con người và để tránh sự độc quyền của Tòa án, nhiều ý kiến đề nghị cơ quan công tố được giám sát hoạt động điều tra và bác bỏ cơ chế xem xét ban đầu của Thẩm phán.

Giai đoạn II: Từ năm 1945, chiến tranh thế giới thứ II, Nhật chuyển sang chính thể quân chủ nghị viện và chịu ảnh hưởng lớn của Hoa Kỳ. Với sự can thiệp của Hoa Kỳ, một loạt cải cách xã hội được tiến hành, trong đó quan trọng nhất là việc ban hành Hiến pháp mới với những quy định tiến bộ về bảo đảm quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự: Khi bắt giữ, khám xét, thu giữ phải có lệnh; bị can, bị cáo có quyền được mời luật sư, quyền giữ im lặng không khai báo. Hiên pháp mới dẫn đến sự ra đời của BLTTHS mới (Luật số 131 ngày 10/7/1948, có hiệu lực từ năm 1949) và được áp dụng cho đến nay. BLTTHS mới trong quá trình soạn thảo có sự giúp đỡ tích cực từ phía Hoa Kỳ và phản ảnh rõ nét quan điểm pháp luật tố tụng Hoa Kỳ, thể hiện trong các quy định về nguyên tắc tranh tụng, điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ, hạn chế trong việc chấp nhận chứng cứ gián tiếp. BLTTHS của Nhật Bản được soạn thảo theo khuôn mẫu của BLTTHS Mỹ ngoại trừ chế định xét xử có Bồi thẩm đoàn. Trong quá trình tố tụng, Thẩm phán chỉ đóng vai trò trọng tài, vai trò chính trong quá trình tố tụng được dành cho đại diện của bên buộc tội và bên bào chữa. Tuy vậy, vai trò của Thẩm phán Nhật Bản cũng khác với vai trò Thẩm phán Mỹ. Nhờ không tiếp thu chế định bồi thẩm của Mỹ mà các thẩm quyền của Thẩm phán Nhật Bản rộng hơn thẩm quyền của các Thẩm phán Mỹ. Trong thủ tục tố tụng, có sự thay đổi phương thức thẩm vấn nhân chứng theo kiểu tố tụng đối kháng.

Kết cấu của Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản cho thấy tố tụng hình sự Nhật Bản theo mô hình tố tụng tranh tụng có nguồn gốc sâu xa từ nguyên tắc tranh tụng của pháp luật Hoa Kỳ, thể hiện rõ qua việc chuyển từ nguyên tắc thẩm quyền sang áp dụng nguyên tắc đương sự, việc thay đổi quan hệ giữa tư pháp và kiểm sát trong vận dụng tư pháp hình sự bằng các quy định: Đảm bảo tính độc lập của Tòa án – Tòa án không được xem tài liệu của cơ quan điều tra. Hoạt động điều tra do cơ quan công tố và cảnh sát tiến hành, việc xem xét quyết định trong quá trình điều tra giao cho Thẩm phán. Vai trò tích cực trong tố tụng thuộc về Thẩm phán trước đây được trao cho Công tố viên và Luật sư bào chữa. Công tố viên chuyển cáo trạng cho Thẩm phán và chuẩn bị tài liệu, chứng cứ tranh luận với luật sư trước Tòa. Luật sư có quyền bình đẳng trong việc đề xuất tài liệu và tranh luận với Công tố viên tại phiên tòa. Hạn chế vai trò của Tòa án, cơ chế xem xét ban đầu của Thẩm phán bị xóa bỏ và quyền này được trao cho cơ quan điều tra. Tòa án đóng vai trò vị trí trung lập, lắng nghe tranh luận và đưa ra kết luận về các chứng cứ rồi tuyên án. Tuy nhiên, có một điểm khác biệt lớn nhất giữa tổ tụng hình sự Nhật Bản với tố tụng hình sự Hoa Kỳ là BLTTHS Nhật Bản không quy định về chế định bồi thẩm. Ở Mỹ, Bồi thẩm đoàn quyết định bị cáo có tội hay không có tội, còn tội danh và hình phạt thuộc thẩm quyền quyết định của Thẩm phán. Tuy nhiên, Bồi thẩm đoàn chỉ tham gia luận tội khi bị cáo chối tội, nếu bị cáo nhận tội thì áp dụng thủ tục rút gọn, Thẩm phán sẽ quyết định hình phạt.

Trong khi đó, theo BLTTHS Nhật Bản thì cho dù bị cáo nhận tội, phiên tòa vẫn diễn ra bình thường theo nguyên tắc tranh tụng và sau đó Thẩm phán quyết định hình phạt. Trước khi xét xử, Công tố viên chỉ chuyển cho Tòa án bản cáo trạng, không chuyển hồ sơ vụ án. Hồ sơ vụ án chỉ chuyển cho Thẩm phán khi bắt đầu phiên tòa. Trong thực tiễn, các bên tranh tụng chuẩn bị tài liệu, chứng cứ rất cẩn thận trước khi đưa ra tòa. Việc xem xét và tranh luận về các chứng cứ, tài liệu một cách công khai trong phiên tòa tạo điều kiện cho Thẩm phán xét xử công bằng và khách quan.

Quan hệ giữa cơ quan tư pháp cảnh sát – công tố – Tòa án đã có sự thay đổi. Theo quy định cũ thì cảnh sát giúp việc cho cơ quan công tố, cơ quan công tố chịu trách nhiệm điều tra. Quan hệ này là quan hệ trên – dưới.

Vai trò Công tố viên được cường theo nguyên tắc tranh tụng. Cơ quan công tố có trách nhiệm lập cáo trạng, đưa ra chứng cứ để chứng minh sự buộc tội. Tòa án chỉ xét xử, không điều tra như trước đây. Công tố viên tiến hành điều tra, giám sát hoạt động và quyền truy tố hoặc không truy tố.

Giai đoạn III. Từ đầu những năm 2000 cho đến nay, Nhật Bản đã có những nỗ lực để cải cách tư pháp về tố tụng hình sự. Chủ trương cải cách tư pháp của Nhật Bản xuất phát từ hiệu quả xét xử trên thực tế kông cao, thời gian nhiều phiên tòa xét xử còn kéo dài do không ít vụ án phức tạp, nghiêm trọng đã không chuẩn bị lập luận được đầy đủ; nội dung xét xử cũng khó hiểu đối với người dân, làm mất niềm tin của người dân đối với tư pháp. Năm 1999, Hội đồng tư vấn cải cách chế độ tư pháp đặt dưới chính phủ được thành lập đã kiến nghị kiện toàn và tăng tốc việc xét xử hình sự và hoàn thiện chế độ người dân tham gia vào thủ tục phiên tòa hình sự (hội thẩm nhân dân), thực hiện xét xử với trọng tâm là lập luận. Năm 2004 ban hành Luật sửa đổi phần 1 Luật tố tụng hình sự và hiện nay đang tiếp tục nghiên cứu sửa đổi BLTTHS với mục đích hoàn thiện các thủ tục tố tụng trước phiên tòa và kiện toàn việc công khai chứng cứ tại phiên tòa trên cơ sở quan điểm cải cách tư pháp và giải quyết các yêu cầu thực tiễn.

II. NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA MÔ HÌNH TỔ TỤNG HÌNH SỰ NHẬT BẢN

1. Mục tiêu và phương pháp của tố tụng hình sự

Điều 1 BLTTHS Nhật Bản quy định: “mục đích của Bộ luật là làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án cũng như áp dụng và thực thi việc trừng trị một cách nhanh chóng đối với vụ án hình sự trong khi vẫn xem xét đầy đủ đến việc duy trì phúc lợi công và đảm bảo nhân quyền đối với từng cá nhân”. Như vậy, mục tiêu tố tụng hình sự Nhật Bản yêu cầu xác định sự thật khách quan, bảo đảm công lý (mục tiêu và phương pháp luận mà hệ tố tụng thẩm vấn hướng tới) đồng thời bảo đảm quyền con người, duy trì phúc lợi công (mục tiêu và phương pháp luận mà hệ tố tụng tranh tụng hướng tới). Từ đó, tố tụng hình sự Nhật Bản sử dụng phương pháp của cả hai hệ thống tố tụng tranh tụng và thẩm vấn, vừa áp dụng nguyên tắc tranh tụng, đồng thời chú trọng phương pháp điều tra, thẩm vấn. Nghiên cứu tố tụng hình sự Nhật Bản cho thấy rõ tính chất tranh tụng qua hàng loạt quy định về yêu cầu và xác định chứng cứ chứng minh, kiểm tra nhân chứng, vị trí bình đẳng như nhau của các bên tranh tụng, nguyên tắc chỉ gửi bản cáo trạng nhằm loại bỏ thành kiến của Tòa án khi xét xử, giới hạn xét xử của Tòa án chỉ trong phạm vi buộc tội mà Công tố viên đưa ra và việc tranh tụng của các bên, vị trí độc lập của Tòa án đối với các bên… Bên cạnh đó, một số nguyên tắc của tố tụng thẩm vấn cũng được sử dụng như việc đương nhiên xác minh chứng cứ của Tòa án, xét xử không có Bồi thẩm đoàn, Tòa án có thể điều hành việc kiểm tra bằng chứng theo thẩm quyền của mình khi xét thấy cần thiết. Trong quá trình xét xử, nếu xét thấy hợp lý Tòa án có thể bổ sung hoặc thay đổi lý do, thay đổi điều khoản áp dụng hình phạt.

2. Vai trò của các chủ thể tham gia tố tụng

Vấn đề xác định mô hình tố tụng hình sự phải trên cơ sở xem xét toàn diện không chỉ ở mục tiêu, phương pháp tố tụng mà còn về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn các chủ thể tham gia tố tụng và mối quan hệ của các chủ thể này trong cả quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Luật tố tụng hình sự Nhật Bản phân chia quá trình tố tụng hình sự thành 4 giai đoạn: Giai đoạn điều tra, giai đoạn xét xử, giai đoạn truy tố và giai đoạn thi hành án, trong mỗi giai đoạn đều xác định rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mỗi chủ thể tham gia tố tụng. Giai đoạn điều tra có sự tham gia của ba cơ quan là cơ quan cảnh sát, Viện công tố và Tòa án. Cơ quan Cảnh sát và Viện công tố tiến hành điều tra phát hiện tội phạm, Tòa án ban hành lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam theo đề nghị của cơ quan điều tra, Viện công tố. Giai đoạn truy tố gắn liền chỉ với vai trò cơ quan công tố và Công tố viên với quyền tùy nghi truy tố. Giai đoạn xét xử được thực hiện theo nguyên tắc tranh tụng, có sự tham gia của Thẩm phán, Công tố viên, luật sư bào chữa. Công tố viên chuyển cáo trạng cho Thẩm phán và chuẩn bị tài liệu, chứng cứ để trình bày trước Tòa, tranh luận với luật sư và luật sư cũng chuẩn bị tài liệu, chứng cứ để tranh luận với Công tố viên. Những hoạt động tố tụng tại phiên tòa do Thẩm phán điều khiển. Sau khi nghe các bên tranh luận, Thẩm phán tự mình đánh giá chứng cứ và rút ra kết luận rồi tuyên án. Giai đoạn thi hành án được bắt đầu khi bản án có hiệu lực (sau 2 tuần kế từ khi tuyên án). Cơ quan công tố có quyền ra quyết định thi hành án và giám sát việc thi hành án. Các trại cải tạo chịu trách tổ chức lao động cải tạo và quản lý phạm nhân.

Như vậy, trong năm chủ thể gia tố tụng thì cảnh sát, luật sư, thi hành án đóng vai trò quan trọng  trong một giai đoạn tố tụng, Tòa án đóng vai trò quan trọng không chỉ ở giai đoạn xét xử mà cả giai đoạn điều tra, chỉ có Viện công tố là cơ quan duy nhất có vai trò quan trọng suốt cả quá trình tố tụng: điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Công tố viên không chỉ có “độc quyền truy tố” mà có thẩm quyền điều tra tội phạm, giám sát việc thi hành các quyết định của Tòa án, yêu cầu Tòa án áp dụng pháp luật trong việc giải quyết vụ án hình sự và thực hiện những công việc theo quy định của pháp luật với tư cách là người đại diện cho lợi ích công.

3. Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của cơ quan tư pháp trong giai đoạn điều tra

Theo quy định của BLTTH, cơ quan có thẩm quyền điều tra chính ở Nhật gồm Cơ quan điều tra của cảnh sát (Cảnh sát tư pháp) và Viện công tố.

3.1. Cảnh sát tư pháp

Cảnh sát tư pháp có nhiệm vụ tiến hành điều tra và thu thập chứng cứ khi có tội phạm xảy ra (Điều 189, Điều 190 BLTTHS). Thẩm quyền điều tra của cảnh sát được phân thành hai loại: Điều tra chung và điều tra đặc biệt. Điều tra chung do lực lượng cảnh sát cấp khu vực tiến hành đối với các loại tội phạm hình sự thông thường như giết người, cướp, trộm cắp tải sản. Điều tra đặc biệt do cơ quan điều tra thuộc các Bộ, ngành tiến hành đối với những vụ án xảy ra trên các lĩnh vực chuyên ngành đó, chẳng hạn như điều tra các tội phạm trên biển, điều tra các tội phạm về rừng, điều tra các tội phạm về ma túy… Theo quy định của Luật tố tụng hình sự có 14 chủ thể có thẩm quyền điều tra đặc biệt gồm: Nhân viên các trại giam, nhân viên cảnh vệ Hoàng gia, nhân viên của cơ quan quản lý rừng, cán bộ địa phương có trách nhiệm kiểm soát việc săn bắn, thanh tra tiêu chuẩn lao động, thanh tra lao động trên biển, thuyền trường và các thủy thủ, nhân viên bảo vệ an ninh biển, nhân viên kiểm soát ma túy, Giám sát viên công tác mỏ, Giám sát viên ngư nghiệp, Quân cảnh của lực lượng phòng vệ, giám sát viên thuế quốc gia, thanh tra bưu điện. Ngoài ra còn có 5 cơ quan có thẩm quyền điều tra hành chính một số loại tội nhất định (ban đầu nhằm xác định chinh xác hành vi vi phạm, sau khi kết thúc các thủ tục điều tra người bị tình nghi phạm tội thì không gửi hồ sơ sang Viện công tố Nhật Bàn mà phải làm thủ tục tố cáo sang Viện công tố. Các thủ tục về tố tụng hình sự chính thức do Viện công tố quyết định). Các cơ quan này bao gồm: Ủy ban giám sát giao dịch chứng khoán, Ủy ban giao dịch lành mạnh, Tổng cục tín dụng, Cục bảo hiểm tiền tiết kiệm,… Ở lĩnh vực điều tra này, ngoài kiến thức pháp luật, nghiệp vụ điều tra đòi hỏi Điều tra viên phải có kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành đó.

Hoạt động điều tra chung của cảnh sát và của cơ quan điều tra đặc biệt đều phải tuân thủ trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định. Nếu có tranh chấp về thẩm quyền điều tra thì cơ quan công tố với tư cách là cơ quan chỉ đạo hoạt động điều tra sẽ quyết định cơ quan nào tiến hành điều tra đối với từng vụ việc cụ thể.

3.2. Công tố viên

Quyền hạn của Công tố viên khi tiến hành các hoạt động điều tra cũng giống như quyền hạn của cảnh sát tư pháp, bao gồm quyền bắt giữ, khám xét và tịch biên, lưu trữ hồ sơ, kiểm tra các đối tượng, kiểm soát việc giao nhận và thu chặn các thông tin đối với các tội phạm có tính chất nghiêm trọng; hỏi đối tượng tình nghi và nhân chứng; đề nghị các tổ chức và cá nhân cung cấp thông tin. Ngoài ra Công tố viên có các quyền hạn đặc biệt riêng gồm: Yêu cầu phê chuẩn việc tạm giam, lệnh thả đối tượng tạm giam, lấy lời khai của nhân chứng.

Mối quan hệ giữa cảnh sát – công tố trong hoạt động điều tra là quan hệ hợp tác và phối hợp với nhau, mỗi bên có quyền năng pháp lý độc lập của mình. Song Công tố viên có vai trò chỉ đạo “điều khiển chung” các hoạt động điều tra của cảnh sát, thậm chí ra chỉ thị cho cảnh sát. Trường hợp Viện công tố trực tiếp điều tra, nếu thấy cần thiết, Công tổ viên ra lệnh cho cảnh sát và yêu cầu họ trợ giúp rong việc điều tra. Cảnh sát phải tuân theo sự chỉ đạo và chi huy của Công tố viên (Điều 193 BLTTHS).

3.3. Thẩm phán

Thẩm phán cũng đóng vai trò quan trọng trong tiến trình điều vụ án thông qua việc ban hành các lệnh bắt, giữ, trả tự do hoặc tạm giam. Để kiểm tra hoạt động điều tra của cảnh sát, hạn chế việc lạm dụng quyền hạn và xâm phạm quyền của công dân trong quá trình điều tra, BLTTHS quy định 2 hệ thống kiểm tra là kiểm tra của Công tố viên và Nguyên tắc lệnh của Thẩm phán trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn: bắt, tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giam, trả tự do cho bị can, truy tố hoặc đình chỉ vụ án. Về nguyên tắc, không ai bị bắt nếu không có lệnh của Thẩm phán ngoại trừ bắt quả tang và bắt khẩn cấp. Việc khám xét, thu giữ, kiểm tra ngoài nơi bắt giữ chỉ thực hiện khi có lệnh của Thẩm phán. Chứng cứ sẽ không được chấp nhận nếu vi phạm nguyên tắc lệnh.

4. Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện công tổ và Công tố viên trong tố tụng hình sự

Hoạt động công tố thể hiện bằng những hoạt động tìm kiếm chứng cứ chứng minh tội phạm, đưa vụ án ra Tòa bằng bản cáo trạng, trình hồ sơ, tài liệu chứng cứ trước Tòa để buộc tội bị cáo. BLTTHS không quy định về tiêu chuẩn thu thập chứng cứ để truy tố. Về mặt lý thuyết, Công tố viên có thể truy tố vụ án khi chưa đầy đủ chứng cứ. Tuy nhiên trong thực tế một Công tố viên không bao giờ truy tố bị can khi chưa có đủ chứng cứ. Công tố viên chi truy tố bị can khi anh ta chắc chắn rằng người bị tình nghi sẽ bị Tòa án kết tội. Tuy nhiên, với quyền “độc quyển truy tố” Công tố viên lại có quyền đình chỉ vụ án, không truy tố thậm chí cả khi vụ án đó có đủ chứng cứ đảm bảo chắc chắn rằng bị can có tội. Việc quyết định truy tố hoặc không truy tố của Công tố viên trên cơ sở cân nhắc các yểu tố về tính chất tội phạm, độ tuổi, môi trường, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết phạm tội, tình huống xảy ra sau khi có sự kiện phạm tội (Điểu 248 BLTTHS).

Việc truy tố phải được quyết định bằng bản cáo trạng và gửi đến Tòa án. Ở giai đoạn trước khi xét xử, Công tố viên chỉ gửi cáo trạng đến Tòa án mà không gửi hồ sơ. Khi bắt đầu vào phiên tòa thì Công tố viên chuyển hồ sơ cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Quy định này nhằm bảo đảm cho Thẩm phán không bị thiên lệch trong việc nghiên cứu, điều tra chứng cứ để kết luận về vụ án.

Như vậy, chức năng, nhiệm vụ và vai trò của Công tố viên Nhật Bản so với các hệ thống tố tụng trên thế giới, có thể thấy rõ 3 điểm khác biệt cơ bản như sau:

Một là, Công tố viên trực tiếp và chủ động tham gia các hoạt động thu thập chứng cứ một cách trực tiếp thể hiện thông qua việc tiến hành thẩm vấn người bị tình nghi và nhân chứng. Thông thường, việc điều tra do các nhân viên cảnh sát tư pháp tiến hành và Công tố viên kiểm tra lại việc điều tra sau khi tiếp nhận vụ án. Công tố viên có thể tự mình tiến hành điều tra khi thấy cần thiết, có quyền chỉ đạo nhân viên cảnh sát trong việc điều tra hoặc hợp tác với nhân viên cảnh sát trong việc điều tra.

Hai là, Công tố viên tiến hành truy tố chỉ khi việc kết án chắc chắn được đưa ra. Công tố viên độc quyền truy tố, cá nhân không được phép thực hiện việc truy tố.

Ba là, Công tố viên có quyền quyết định truy tố hoặc không truy tố theo nguyên tắc tùy nghi truy tố. Ngay cả khi không có nghi ngờ gì về tội phạm thì Công tố viên vẫn có thể lựa chọn việc không truy tố (quy định này đối lập với nguyên tắc bắt buộc truy tố trong hệ tố tụng thẩm vấn).

5. Bị cáo và quyền bào chữa của bị cáo

Quyền bào chữa, quyền được giúp đỡ về pháp lý là quyền cơ bản của người bị tình nghi, bị can, bị cáo. Bị cáo, người bị tình nghi và người đại diện của họ có thể lựa chọn luật sư bào chữa bất cứ lúc nào (Điều 30). Người bào chữa có thể là luật sư hoặc bất kỳ người nào có chuyên môn pháp lý, công tâm, không trái ý bị cáo, được bị cáo nhờ hoặc Công tố viên, Tòa án chỉ định. Đại diện pháp lý, người giám hộ, vợ hoặc chồng, họ hàng trực hệ, anh chị em của bị can, bị cáo có thể độc lập chỉ định người bào chữa hoặc giúp đỡ cho bị cáo vào bất kì thời điểm nào và phải nộp đơn tại mỗi cấp xét xử.

Tòa án bắt buộc phải chỉ định người bào chữa cho bị cáo trong các trường hợp: Bị cáo là người chưa thành niên (người dưới 20 tuổi); bị cáo từ đủ 70 tuổi trở lên; bị cáo là người câm, người điếc hoặc khi nghi ngờ bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc không có khả năng nhận thức và trường hợp cần thiết khác mà bị cáo yêu cầu nhà nước chỉ định người bào chữa, về nguyên tắc trường hợp bị cáo bị truy tố về tội có mức hình phạt tử hình, tù khổ sai, chung thân hoặc tù có thời hạn tối đa từ ba năm trở lên đều phải có luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, nếu bị cáo không có khả năng thuê luật sư thì Công tố viên hoặc Thẩm phán phải chỉ định luật sư cho họ.

Bị cáo có quyền đề nghị thay đổi luật sư nếu có lý do chính đáng. Nhưng nếu lý do bị cáo đưa ra không có căn cứ thì Tòa án vẫn tiếp tục xét xử nhằm tránh việc hạn chế quyền bào chữa của bị cáo nhưng đồng thời cũng ngăn ngừa việc bị cáo lợi dụng quy định được thay đổi luật sư để trì hoãn việc xét xử.

Nhật Bản quy định Công tổ viên, bị cáo và người bào chữa có vị trí bình đẳng trong quá trình tham gia tố tụng. Do bị cáo là người không có chuyên môn pháp lý và không có bất kỳ quyền hạn gì để thu thập bằng chứng trong giai đoạn điều tra nên Luật tố tụng hình sự quy định họ có một số quyền để bảo đảm được bình đẳng về phương diện pháp lý: Quyền có luật sư biện hộ, quyền yêu cầu chỉ định một Luật sư biện hộ chính thức, quyền được liên lạc và phỏng vấn, quyền giữ im lặng… Bên cạnh đó, bị cáo có nghĩa vụ hợp tác như nghĩa vụ có mặt tại Tòa án, ở lại tòa và giữ trật tự tại Tòa (các điều 301, 36, 39, 3111).

Bị cáo và luật sư biện hộ có địa vị bình đẳng với Công tố viên và đưa ra những lập luận chống lại cáo buộc của Công tố viên. Bị cáo có địa vị bình đẳng với Công tố viên trong việc thu thập tài liệu, đưa ra chứng cứ chứng minh, tham gia các hoạt động để thu thập bằng chứng. Bị cáo, người bào chữa có quyền tham gia các hoạt động khám xét, thu giữ, yêu cầu và kiểm tra chứng cứ, chất vấn nhân chứng, tranh luận về bắt buộc chứng minh chứng cứ, phản đối việc kiểm tra chứng cứ. Bị cáo cũng có quyền yêu cầu nhập các vụ án để xét xử, chuyển vụ án, quyền đưa ra quan điểm phản bác, quyền được tiếp nhận các văn bản của Tòa án, yêu cầu thay đổi ngày xét xử (các điều 113-1, 142, 157, 2981, 30411, 308, 3091, 8, 191, 21, 49, 276-lBLTTHS).

6. Mối quan hệ buộc tội – bào chữa – Tòa án và nguyên tắc xét xử tranh tụng

6.1. Mối quan hệ luật sư bào chữa với Công tố viên

Công tố viên và luật sư bình đẳng với nhau về quyền độc lập thu thập chứng cứ và trình bày chứng cứ tại phiên tòa và Tòa án tạo điều kiện cho hai bên thực hiện quyền đó.

6.2. Nguyên tắc xét xử tranh tụng và quan hệ các bên

Thẩm phán có vai trò như một trọng tài, có quyền đưa ra phán quyết công bằng trên cơ sở bằng chứng mà Công tố viên và luật sư bào chữa đưa ra. Điều này được bảo đảm trên nguyên tắc loại trừ định kiến, chỉ đệ trình cáo trạng. Nội dung cáo trạng được trình lên Thẩm phán hết sức ngắn gọn và cô đọng, chỉ bao gồm tên và những thông tin khác về nhân thân của bị cáo, những sự kiện cấu thành tội phạm bị truy tố, tội danh. Việc nắm giữ và xử lý tài liệu điều tra được giao cho Công tố viên nhằm tránh không để Thẩm phán bị tác động bởi kết quả điều tra trong việc ra phán quyết.

Trong giai đoạn xét xử, Công tố viên chịu trách nhiệm chứng minh theo nguyên tắc tranh tụng, chỉ đệ trình cáo trạng. Thẩm phán xét xử công bằng và không định kiến. Trước khi bắt đầu phiên tòa, các Thẩm phán chỉ được đọc cáo trạng. Tất cả các tài liệu và chứng cứ thu thập được trong giai đoạn điều tra do Công tố viên giữ và lựa chọn, trình lên Tòa án với tư cách là bằng chứng theo quyết định của Công tố viên.

Về mặt lý thuyết, Tòa án có quyền xử tội danh nhẹ hơn tội danh mà Viện công tố đã truy tố song trên thực tế, Tòa án vẫn cần có sự đồng ý của Công tố viên. Trong quá trình chứng minh tại phiên tòa, khi xét thấy cần xử bị cáo về tội danh nặng hơn thì Công tố viên thay đổi cáo trạng, nếu không Tòa sẽ yêu cầu Công tố viên làm điều đó. Trong trường hợp này Tòa án phải hoãn phiên tòa để tạo điều kiện cho Công tố viên thay đổi cáo trạng và không gây hại đến quyền bào chữa của bị cáo (Điều 312 BLTTHS).

Thủ tục xét xử được tổ chức theo nguyên tắc tranh tụng. Công tố viên và bị cáo, luật sư có quyền tranh tụng về bằng chứng đưa ra. Bị cáo có quyền giữ im lặng trong toàn bộ quá trình xét xử hoặc từ chối trả lời những câu hỏi có tính chất riêng tư. Các bên có quyền bác bỏ việc kiểm tra bằng chứng, bác bỏ biện pháp do Thẩm phán chủ tọa đưa ra. Công tố viên hoặc bị cáo có thể kháng cáo. Tuy nhiên, việc xét xử không có sự tham gia của Bồi thẩm đoàn, và đây là điểm khác biệt của tố tụng hình sự Nhật Bản so với mô hình tố tụng xét xử tranh tụng (các điều 308, 311, 351).

Việc thẩm vấn các nhân chứng và bị cáo của Thẩm phán chỉ là phụ. Tòa án có thể thay đổi lịch xét xử, thay đổi chủ tọa phiên tòa, hạn chế việc thẩm vấn và lấy lời khai, tạm hoãn và mở phiên tòa mới.

Thủ tục rút gọn chỉ được áp dụng trong giai đoạn truy tố và xét xử do Công tố viên quyết định, không áp dụng trong giai đoạn điều tra. Điều kiện áp dụng thủ tục này là loại tội có hình phạt tiền và mức phạt tiền không quá 5000 Yên, phải có sự đồng ý của bị can, không áp dụng đối với trường hợp bị can phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng hoặc có nhân thân xấu (có nhiều tiền án, tiền sự hoặc sau khi phạm tội không chịu khắc phục hậu quả hay không bồi thường thiệt hại).

7. Vai trò của người bị hại

Nếu người bị hại có yêu cẩu, Tòa án sẽ xét xử vụ án có thể cho phép người bị hại kiểm tra, sao chép biên bản phiên toà nếu việc đó là cần thiết để người bị hại thực hiện quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại. Quyết định của Tòa về việc chấp nhận hoặc từ chối cho người bị hại kiểm tra, sao chép biên bản phiên tòa được giải quyết theo thủ tục hành chính và do vậy không thể bị chống án lên Tòa án cấp trên.

Một số nhận xét

Từ mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp đối tụng mà tố tụng hình sự sử dụng, địa vị pháp lý và mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử,… có thể nói mô hình tố tụng hình sự Nhật Bản mang đặc trưng cơ bản của tố tụng tranh tụng, mặc dù ngay trong nguyên tắc đặc trưng nhất của tố tụng tranh tụng đã có những yếu tố của hệ tố tụng thẩm vấn như xét xử tranh tụng không có Bồi thẩm đoàn, nguyên tắc tùy nghi truy tố, giới hạn xét xử, vai trò của Công tố viên trong giai đoạn điều tra…

Khác với tố tụng hình sự Hoa Kỳ, tố tụng hình sự Nhật Bản vận dụng nguyên tắc điều tra chính xác trên cơ sở áp dụng luật chứng cứ, không truy tố nếu khà năng có được phán quyết có tội không cao và chế độ xét xử không có bồi thẩm. Đây chính là những đặc điểm cơ bản của hệ tố tụng hình sự thẩm vấn mà Nhật Bản đã tiếp thu và thể hiện trong mô hình tố tụng hình sự của mình. Với mô hình tố tụng hình sự vừa có tính chất của hệ tố tụng tranh tụng, vừa mang đặc điểm của hệ tố tụng hình sự thẩm vấn, tố tụng hình sự Nhật Bản đã đạt được mục đích “làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án cũng như áp dụng và thực thi việc trừng trị một cách nhanh chóng tội phạm trong khi vẫn xem xét đầy đủ việc duy trì phúc lợi công và bảo đảm nhân quyên đối với từng cá nhân”.

Theo đánh giá của chuyên gia Nhật Bản thì hệ thống tố tụng hình sự hiện tại của Nhật Bản có sự kết hợp giữa luật lục địa có nguồn gốc từ Pháp, Đức và tư tưởng của thông luật từ Hoa Kỳ. Hệ thống xét xử nhấn mạnh hơn vào nguyên tắc tranh tụng. Các Thẩm phán có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh quy định về chống định kiến nhằm ngăn ngừa bất cứ suy đoán nào trước khi xét xử. Công tố viên chịu trách nhiệm thực hành quyền công tố, đồng thời đại diện cho lợi ích công. Do đó với việc ra đời của các khái niệm về tư pháp mới như nguyên tắc độc quyền truy tố của nhà nước, nguyên tắc độc quyền truy tố của Công tố viên và truy tố tùy nghi, các Công tố viên đã có vai trò tư pháp cao hơn trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự.

Có thể nói pháp luật Nhật Bản đương đại là sự kết hơp đặc biệt của hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa với hệ thống pháp luật Anh – Mỹ. Trong nhiều thế kỷ, Nhật Bản đã khôn khéo trong việc học hỏi kinh nghiệm nước ngoài để xây dựng hệ thống pháp luật nước mình. Trong xu thế hội nhập và phát triển chung của thế giới, không một hệ thống pháp luật nào có thể tồn tại và phát triển tách biệt hoàn toàn với hệ thống pháp luật khác, nhưng cần tìm hiểu, nghiên cứu để xem xét, tiếp thu trên cơ sở đánh giá tính phù hợp của các chế định đó với các điều kiện kinh tế, xã hội và chính trị của đất nước. Mô hình tố tụng hình sự Nhật Bản là kinh nghiệm quý báu cho chúng ta trong việc nghiên cứu, tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài để xây dựng Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) phù hợp với điều kiện thực tiễn và truyền thống pháp lý đất nước, có tính khả thi và có hiệu quả cao trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo chân lý khách quan, bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ luật tố tụng hình sự Nhật Bản.

2. Sổ tay Kiểm sát viên hình sự Nhật Bản.

3. Tố tụng hình sự so sánh – Bản dịch của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp.

4. Các bài giới thiệu của chuyên gia Nhật Bản về hệ thống các cơ quan tư pháp Nhật Bản và mô hình Viện công tố Nhật Bàn tại các cuộc hội thảo do Dự án quốc tế cùa Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức và các nguồn khác.

Bảo Đảm Quyền Khiếu Nại, Tố Cáo Trong Tố Tụng Hình Sự Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự

Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại, công dân có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó.

Cơ quan có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo; thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo biết và có biện pháp khắc phục.

Căn cứ pháp lý của việc đảm bảo quyền khiếu nại , tố cáo

Được quy định tại điều 32 trong Bộ luật Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại, cá nhân có tố tụng hình sự năm 2024 như sau: quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó. Cơ quan, người có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng pháp luật; gửi văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo, cơ quan, tổ chức khiếu nại và có biện pháp khắc phục. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo do Bộ luật này quy định. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống người khác. “

Khiếu nại tố cáo là quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp.

Trong tố tụng hình sự, bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo là nguyên tắc cơ bản. Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại, công dân có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó.

Cơ quan có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo; thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo biết và có biện pháp khắc phục.

Nguyên tắc này là một trong những biểu hiện bản chất dân chủ của tố tụng hình sự nước ta, là phương tiện bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và cũng là một trong những hình thức phát hiện và khắc phục những sai lầm trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự.

Khiếu nại là quyền mà cá nhân, cơ quan, tổ chức, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Tố cáo là việc cá nhân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng vi phạm pháp luật trong khi tiến hành tố tụng vi phạm pháp luật, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của mình và của người khác.

Khi có khiếu nại, tố cáo, thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tố cáo phải có trách nhiệm trả lời khiếu nại , tố cáo.

Thể hiện ở trách nhiệm, tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại, tố cáo và thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo biết, đồng thời phải áp dụng biện pháp khắc phục việc làm trái pháp luật trong tố tụng hình sự.

Thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại tố cáo được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2024.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Oan Và Sai Trong Tố Tụng Hình Sự

Vấn đề “làm oan người vô tội”, “bỏ lọt tội phạm” và “minh oan trong tố tụng hình sự” đã và đang là mối quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt là của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình giải 

1. Khái niệm

“Oan” không phải là một khái niệm phức tạp. Nghĩa thông thường của từ này là “bị quy tội không đúng, phải chịu sự trừng phạt một cách sai trái, vô lý”1. Trên cơ sở này, khái niệm “oan” trong tố tụng hình sự (TTHS) gồm những nội dung sau: Thứ nhất, công dân bị khởi tố, tạm giam, tạm giữ nhưng sau đó cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) ra quyết  định đình chỉ điều tra vụ án, trả tự do vì hết thời hạn tạm giam, tạm giữ mà không chứng minh được người đó đã thực hiện hành vi phạm tội, hoặc người đó chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc chứng minh được hành vi  của người đó không cấu thành tội phạm (CTTP). Thứ hai, công dân đã bị truy tố ra Toà án để xét xử  nhưng Toà án tuyên bố bị cáo không có tội hoặc bản án kết tội của Toà án cấp dưới bị Toà án cấp trên huỷ, tuyên bị cáo không có tội. Thứ ba, công dân bị truy tố, xét xử, kết án theo một tội danh nặng hơn so  với  tội  danh  trên  thực tế đã phạm và bản án đã được Toà án cấp trên sửa theo hướng nhẹ hơn. Pháp luật các quốc  gia trên thế giới đều tiếp cận và ở một chừng mực nhất định quy định các nội dung “oan” trong TTHS. Tại Trung Quốc, các trường hợp sau được coi là oan: 1) Người bị tình nghi phạm tội bị bắt giữ nhưng chưa có dấu hiệu thực tế hoặc chưa có những chứng cứ thực tế là phạm tội. 2) Người chưa thực sự phạm tội nhưng đã bị giam giữ. 3) Người đã chấp hành hình phạt mà Toà án đã tuyên nhưng sau đó được xét xử lại theo trình tự kiểm tra, giám sát xét xử là vô tội2. Theo Bộ luật Hình sự Cộng hoà Liên bang Nga, thì các trường hợp sau  được  coi là oan: 1) Một người rõ ràng là không có tội nhưng đã bị người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự. 2) Một người bị tình nghi phạm tội hoặc bị tố cáo là đã thực hiện hành vi phạm tội bị kiểm sát viên hoặc người  tiến hành điều tra sơ bộ truy cứu trách nhiệm hình sự trái pháp luật. 3) Một người bị bắt giữ trái pháp luật. Nhìn chung, pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều không đưa ra một khái niệm chung về “oan” trong TTHS, chỉ nêu các trường hợp cụ thể  được coi là oan. Thiết nghĩ đây là một cách tiếp cận hợp lý. Vì việc thừa nhận trường hợp

Tử tù Huỳnh Văn Nam không làm đơn xin ân giảm vì một mực cho rằng mình không có tội. Trong ảnh: Huỳnh Văn Nam đang ký vào biên bản lời khai trên giường bệnh khi Đoàn giám sát của Uỷ ban pháp luật, QH khoá X đến làm việc.

2.    Oan và để lọt tội phạm trong TTHS

Không làm oan người vô  tội và không để lọt tội phạm là hai mục đích cơ bản nhất của Luật TTHS Việt Nam, được quy định tại Điều 1ưBLTTHS. Hậu quả của việc làm oan người vô tội cũng nghiêm trọng như bỏ lọt tội phạm, chính vì vậy mà “đối với Toà án việc xử phạt một người không có tội cũng không đáng tha thứ và cũng nguy hiểm như bỏ lọt một kẻ phạm tội”3 Để lọt tội phạm là hiện tượng tội phạm tuy đã được thực hiện nhưng CQTHTT đã không xử lý người có hành vi phạm tội TNHS dù có đủ điều kiện theo luật định hoặc những trường hợp hành chính hoá, dân sự hoá các vụ án hình sự. Để lọt tội phạm là một trong những nguyên nhân làm gia tăng “tình hình tội phạm ẩn”4 mà các CQTHTT  đã gây nên. Hiện tượng làm oan người vô tội cũng như bỏ lọt tội phạm đều để lại những hậu quả vô cùng nặng nề đối với lại. Do đó, muốn khắc phục cả hai hiện tượng trên thì các CQTHTT trước hết phải thực hiện tốt công tác tiếp nhận, quản lý và xử lý tin báo tội phạm để không bỏ lọt tội phạm và hạn chế làm oan người vô tội.

3.    Căn cứ pháp lý xác định một công dân bị oan

Căn cứ pháp lý xác định một công dân bị oan trong TTHS là các quyết định mang tính gỡ tội, hoặc  không  xử  lý một hay một số hành vi phạm tội trong trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi

Nhìn chung, pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều không đưa ra một khái niệm chung về “oan” trong TTHS, chỉ nêu các trường hợp cụ thể được coi là oan

minh oan cho bị can, bị cáo, người bị kết   án.   Việc   xác định căn cứ này có ý nghĩa  rất  to lớn, nó vừa  biểu  hiện  cho phạm  tội  mặc  dù  theo quy định của pháp luật thì người đó phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình. Khi tội phạm xảy ra, người không có hành vi phạm tội mà lại bị truy cứu TNHS thì kẻ phạm tội thực sự sẽ thoát khỏi sự trừng trị của pháp luật. Như vậy, làm oan người vô tội có thể dẫn đến bỏ lọt tội phạm. Tuy nhiên, có những trường hợp bỏ lọt tội phạm không gắn liền với việc làm oan người vô tội, đó là trường hợp tội phạm do nhiều người thực hiện nhưng có  người  không  bị  truy cứu người bị oan và đối với toàn xã hội. Người bị oan phải chịu tổn thất khôn lường về vật chất và tinh thần, còn kẻ có hành vi phạm tội nhưng “được” bỏ lọt thì sau lần phạm tội thứ nhất “trót lọt”, sẽ có niềm tin ở thủ đoạn đã được áp dụng và sẽ tiếp tục thực hiện các hành vi phạm tội và như vậy cả xã hội lại  bị đe doạ bởi sự nguy hiểm của hành vi phạm tội ở dạng tiềm ẩn. Như vậy, làm oan người vô tội có thể gây ra hậu quả là để lọt tội phạm và ngược kết quả của “hành trình” minh oan (dù chưa phải  là  kết quả cuối cùng), vừa là cơ sở pháp lý để các CQTHTT khôi phục lại những thiệt hại mà người bị oan đã phải  gánh chịu. Nhìn chung, các nước đều quy định căn cứ xác định một công dân bị oan là một phán quyết của Toà án. Đây có thể là một phán quyết sơ thẩm hoặc phúc thẩm. Tuy nhiên, một số nước lại chỉ nhấn mạnh việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan khi Toà phúc thẩm tuyên vô tội (hủy bản án kết tội). Theo quy định của pháp luật Cộng hoà Pháp thì một người được coi là oan khi có tuyên bố của  Toà  Phá  án  rằng ngườiđó vô tội (Phòng hình sự Toà Phá án xét xử lại bản án và bản án được đưa ra xét xử đã được  Toà  Phá  án  ra quyết định huỷ bỏ và xác định sự vô tội). Tại Trung Quốc, theo quy  định  của  các  Điều 21, Điều 22 Luật Nhà nước bồi thường thiệt hại và Khoản 3 trong giải thích của Toà án nhân dân tối cao về việc Toà án nhân dân thực hiện Luật Nhà nước bồi  thường  thiệt hại thì căn cứ xác định oan chính là phán quyết của Toà án tuyên bị cáo vô tội. Theo quy định của pháp luật Nhật Bản  thì  căn  cứ  pháp  lý xác định một người bị oan là quyết định của Toà án tuyên vô tội theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm hoặc thủ tục kháng án đặc biệt. Tại Thuỵ Điển,  căn  cứ  pháp  lý  xác định  một  người  bị  oan   l quyết định của cơ quan có thẩm quyền xác định một người bị tạm giữ, tạm giam oan  quá  24  giờ  hoặc quyết định của Toà  án tuyên vô tội. Khác với pháp luật của một số nước trên thế giới, pháp luật Việt Nam thừa nhận một người bị oan trong mọi giai đoạn TTHS. Đây là điểm ưu việt của pháp luật nước ta, có như vậy thì quyền và lợi ích hợp pháp của người bị oan mới được bảo vệ một cách triệt để. Quyết định mang tính minh oan là quyết định tố tụng đặc thù của các CQTHTT, những quyết định chứng tỏ nỗi oan khuất của một người đã được làm sáng tỏ.  Tuỳ  thuộc  vào  các giai đoạn tố tụng, các CQTHTT có thể ra một trong các quyết ịnh như: quyết định đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ vụ án vì lý do hành vi của họ không cấu thành tội phạm hoặc  họ  không  có  hành  vi phạm tội; quyết định của Toàán xác định bị cáo, người bị kết  án  không  có  tội;  quyết định của Toà án giảm nhẹ hình phạt một cách đáng kể hoặc áp dụng điều khoản về tội danh nhẹ hơn.

Quyết định đình chỉ điều tra

Đình chỉ điều tra là việc cơ quan điều tra chấm dứt toàn  bộ  hoạt  động  điều trađối với vụ án cũng như đối với bị can khi có những căn cứ mà Luật TTHS quy định. Khoản 1, Điều 139 của Bộ luật   tố   tụng   hình   sự quyđịnh: “Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra trong  những  trường  hợp sau:

c)      Có một trong những căn cứ quy định tại Điều 89 Bộ luật này.

d)     Đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can thực hiện tội phạm”. Tuy nhiên, không phải quyết định đình chỉđiều   tra   trong   mọi trường tội (hủy bản án kết tội). Theo quy định của pháp luật Cộng hoà Pháp thì một người được coi là oan khi có tuyên bố của  Toà  Phá  án  rằng người đó vô tội (Phòng hình sự Toà Phá án xét xử lại bản án và bản án được đưa ra xét xử đã được  Toà  Phá  án  ra quyết định huỷ bỏ và xác định sự vô tội). Tại Trung Quốc, theo quy  định  của  các  Điều 21, Điều 22 Luật Nhà nước bồi thường thiệt hại và Khoản 3 trong giải thích của Toà án nhân dân tối cao về việc Toà án nhân dân thực hiện Luật Nhà nước bồi  thường  thiệt hại thì căn cứ xác định oan chính là phán quyết của Toà án tuyên bị cáo vô tội. Theo quy định của pháp luật Nhật Bản  thì  căn  cứ  pháp  lý xác định một người bị oan là quyết định của Toà án tuyên vô tội theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm hoặc thủ tục kháng án đặc biệt. Tại Thuỵ Điển,  căn  cứ  pháp  lý  xác định  một  người  bị  oan   là quyết định của cơ quan có thẩm quyền xác định một người bị tạm giữ, tạm giam oan  quá  24  giờ  hoặc quyết định của Toà  án tuyên vô tội. Khác với pháp luật của một số nước trên thế giới, pháp luật Việt Nam thừa nhận một người bị oan trong mọi giai đoạn TTHS. Đây là điểm ưu việt của pháp luật nước ta, có như vậy thì quyền và lợi ích hợp pháp của người bị oan mới được bảo vệ một cách triệt để. Quyết định mang tính minh oan là quyết định tố tụng đặc thù của các CQTHTT, những quyết định chứng tỏ nỗi oan khuất của một người đã được làm sáng tỏ.  Tuỳ  thuộc  vào  các giai đoạn tố tụng, các CQTHTT có thể ra một trong các quyết định như: quyết định đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ vụ án vì lý do hành vi của họ không cấu thành tội phạm hoặc  họ  không  có  hành  vi phạm tội; quyết định của Toà án xác định bị cáo, người bị kết  án  không  có  tội;  quyết định của Toà án giảm nhẹ hình phạt một cách đáng kể hoặc áp dụng điều khoản về tội danh nhẹ hơn.

 Quyết định đình chỉ vụ án

(Vì lý do hành vi của người bị buộc tội không cấu thành tội phạm hoặc  người bị buộc tội không thực hiện hành vi phạm tội). Đây là quyết định mang tính minh oan do Viện kiểm sát ban hành ở giai đoạn truy tố. Theo quy định của Điều 143b của BLTTHS thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong được ban hành vì lý do hành vi không cấu thành tội phạm mới được coi là quyết định mang tính minh oan. Còn trường hợp người bị buộc tội không thực hiện hành vi phạm  tội,  Viện  kiểm  sát có được ra quyết định đình chỉ vụ án hay không thì các điều 89,  142,  143b  của BLTTHS

không quy định rõ. Khoản 1, Điều 89 quy định Viện kiểm sát có quyền ra quyết định đình chỉ vụ án nếu không có sự việc phạm tộiư tức là không có hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện. Trong thực tiễn và khoa học pháp lý thì “không có sự việc phạm tội” và “người bị buộc tội không thực hiện hành vi

phạm  tội”  là  hai người không có năng lực TNHS thực hiện…).

Thứ hai, đã hết thời hạn điều tra

“oan” và “sai” không được đồng nhất với nhau. Ta không nên dùng cụm từ “oan sai” mà chỉ sử dụng cụm từ “oan, sai” hoặc oan, sai độc lập trong những tình huống thích hợp

khái   niệm  hoàn toàn khác nhau, vì có trường hợp kẻ phạm tội đã “được” CQTHTTbỏ lọt và thay vào theo luật định mà không chứng minh được bị can thực hiện tội phạm. Đây là trường hợp không chứng minh được bị can thực hiện hành vi phạm tội. Quyết định đình chỉ được ban hành trong  các  trường hợp khác (đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, tội phạm đã được đại xá…) không được coi là quyết định mang tính minh những căn cứ tại Điều 89ư BLTTHS, tại Điều 19 của BLHS (tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội), Điều 25 của BLHS miễn trách nhiệm hình sự) và Điều 69 của BLHS (miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên). Vẫn theo phân tích ở phần trên, thì quyết định đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát đó là người không thực hiện hành vi phạm tội lại bị truy cứu TNHS. Và như vậy, trong trường hợp này Viện kiểm sát nhân dân sẽ xử lý như thế nào đối với người không  có  hành  vi  phạm tội? Đình chỉ vụ án thì không thể được vì đã có sự việc phạm tội, có lẽ hợp lý nhất là Viện kiểm sát tự mình hoặc yêu cầu cơ quan điều tra huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn đối với bị can và coi quyết định huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn là quyết định mang tính minh oan.

 Bản án của Toà án xác định bị cáo, người bị kết án không có tội Bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử. Người bị kết án là người đã bị xét xử và đã bị Toà án có thẩm quyền tuyên bản án có hiệu lực pháp luật. Chỉ Toà án mới có quyền phán quyết một người có tội hay không có tội. Việc xét xử của Toà án có thể phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Thông thường,  một  vụ  án  hình sự được đưa ra xét xử sơ thẩm là bắt buộc còn xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm,  tái  thẩm thì một trong những căn cứ  quy định tại các điểm 1,2 Điều 89 (không có sự việc phạm tội, hành vi không cấu thành tội phạm) Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không phạm tội và đình chỉ vụ án. Như vậy, điều cần bàn ở đây là, cùng với việc huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị và đình chỉ vụ án khi có căn cứ quy định tại điểm 1,2 Điều 89 thì Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm có đồng thời tuyên người bị  kết án vô tội hay không? Vấn đề này pháp luật TTHS chưa quy định rõ ràng. Điều 255 của BLTTHS quy định: “Hội

đồng giám đốc thẩm huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án nếu có một trong giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm phải đồng thời tuyên  bố người bị kết án vô tội nếu có căn cứ được quy định tại các điểm 1,2 Điều 89ư BLTư THS. Vấn đề này cần được xem xét, bổ sung khi ban hành Bộ luật TTHS mới.

 Quyết định của Toà án giảm nhẹ hình phạt một cách đáng kể hoặc áp dụng điều khoản về tội danh nhẹ hơn Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Việc xác định khung, loại  hình phạt,  loại tội danh có ý nghĩa rất lớn trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn. Theo quy định của BLTTHS thì việc áp dụng hay không áp dụng  biện  pháp ngăn tuỳ thuộc vào các kháng cáo, kháng nghị theo thẩm quyền luật định.

Khác với pháp luật của một số nước trên thế giới, pháp luật Việt Nam thừa nhận một người bị oan trong mọi giai đoạn TTHS

Theo Khoản 3, Điều 198 của BLTTHS thì nếu có đủ chứng cứ xác định bị cáo không phạm tội thì Toà án phải ghi rõ trong bản án những chứng cứ xác định bị cáo vô tội và phải giải quyết việc khôi phục danh dự, quyền lợi, nghĩa  vụ của họ. Khoản  4, Điều 220 và Điều 223 của BLTTHS  quy  định  khi  có những căn cứ quy  định  tại Điều   89   Bộ   luật   này” và Điều 268 của BLTTHS  quy định: Hội đồng tái thẩm có quyền “huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị và đình chỉ vụ án”. Theo chúng tôi, để được coi là quyết định mang tính minh oan thì khi ra quyết định huỷ bản án và đình  chỉ  vụ  án  Hội  đồng loại hình phạt. Vì thế, việc xác định sai tội danh, sai khung, loại hình phạt có thể dẫn đến hậu quả là áp dụng sai biện pháp ngăn chặn và như vậy đã làm oan người vô tội. Vì lẽ đó mà quyết định của Toà án giảm nhẹ hình phạt hoặc áp dụng điều, khoản về tội danh nhẹ hơn cũng phải được coi là quyết định mang tính minh oan. Việc xác định thế nào là tội danh nhẹ hơn không phải là dễ dàng. Thông tư liên tịch số 10/TTLTưTANDTCư VKSNDTCưBNV ngày 2/1/1998; Điểm 5, Khoản II, Mục B quy định: “Tội danh nặng hơn là tội danh có mức hình phạt cao nhất cao hơn. Trong trường hợp tội danh có mức hình phạt cao nhất bằng nhau thì tội danh nặng hơn là tội danh có mức hìnhphạt   khởi   điểm   cao hơn”. phạm đều có hình phạt chính nặng nhất như nhau thì phải xem xét hình phạt chính khác nhẹ hơn. 5) Nếu hình phạt chính và mức hình phạt như nhau, thì phải xem xét quy định về hình phạt bổ sung. Oan, sai là hiện tượng tiêu cực trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, không những nó gây hậu quả nặng nề, trực tiếp đối với người bị oan, sai mà còn dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm, gây tác hại oàn xã hội. Trong quá trình đó, phải có giải pháp đồng bộ, từ việc hoàn thiện pháp luật đến áp dụng pháp luật, từ nhận thức đến hành động của mọi người, đặc biệt là của những người tiến hành tố tụng. 

Tổng Quan Nội Dung Lớn Sửa Đổi, Bổ Sung Trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2024

Thứ năm – 31/03/2024 09:10

​I. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO SỬA ĐỔI, BỔ SUNG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

​Xác định mục tiêu xây dựng BLTTHS thực sự khoa học, tiến bộ và có tính khả thi cao; là công cụ pháp lý sắc bén để đấu tranh hữu hiệu với mọi tội phạm, tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn; tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân đã được Hiến định.

​Thứ nhất, thể chế hóa đầy đủ các chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh, chính xác, kịp thời, chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội.

​Thứ hai, tăng cường hơn nữa trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân; cụ thể hóa các trình tự, thủ tục tố tụng, xác định đầy đủ quyền và trách nhiệm luật định, hạn chế tối đa các quy định chung chung, phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành.

​Thứ ba, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, BLTTHS tiếp tục kế thừa những quy định còn phù hợp, khắc phục căn bản những vướng mắc, bất cập đặt ra.

​Thứ tư, khẳng định tiếp tục duy trì và phát huy những ưu điểm của mô hình tố tụng thẩm vấn; đồng thời, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những hạt nhân hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử.

​II. NHỮNG NỘI DUNG LỚN SỬA ĐỔI, BỔ SUNG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

​1. Phân định mạch lạc, chính xác các giai đoạn tố tụng

​Quá trình giải quyết vụ án hình sự phải trải qua nhiều giai đoạn. Mỗi giai đoạn có những nhiệm vụ riêng với những chủ thể tương ứng; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể cũng khác nhau qua mỗi giai đoạn. Đánh dấu sự bắt đầu và kết thúc của mỗi giai đoạn là các văn bản tố tụng chuyên biệt gắn với giai đoạn đó (ví dụ: Giai đoạn khởi tố kết thúc khi có quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án; giai đoạn điều tra kết thúc khi ban hành kết luận điều tra…). Phân định chính xác, mạch lạc các giai đoạn tố tụng có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở để quy định đầy đủ quyền, nghĩa vụ, trình tự, thủ tục, thời hạn nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu, yêu cầu của tố tụng hình sự.

​Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố chung trong một phần (Phần thứ Hai) và chỉ có 04 điều luật dành cho giai đoạn truy tố được đặt ở cuối cùng. Cách thiết kế cũng như số lượng điều luật như vậy chưa phù hợp với yêu cầu của một giai đoạn của tố tụng. Đồng thời, Bộ luật bố trí trình tự xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm thành 03 phần độc lập (Phần thứ Ba, Phần thứ Tư và Phần thứ Sáu). Quá trình áp dụng BLTTHS năm 2003 có ý kiến cho rằng, với kết cấu của Bộ luật như vậy có thể hiểu mỗi trình tự xét xử là một giai đoạn tố tụng. Thi hành án mặc dù được quy định là một phần trong Bộ luật nhưng luôn là vấn đề gây tranh luận trong thực tiễn áp dụng. Quá trình thi hành và sửa đổi Bộ luật, nhiều chuyên gia, nhà khoa học, nhà thực tiễn đề nghị cân nhắc có nên coi thi hành án là một giai đoạn của tố tụng hình sự hay không.

​Nhằm bảo đảm tính khoa học trong phân chia các giai đoạn tố tụng, khắc phục những hạn chế trong kỹ thuật lập pháp của BLTTHS hiện hành(1), BLTTHS năm 2024 xác định tố tụng hình sự có 05 giai đoạn: Khởi tố; điều tra; truy tố; xét xử; thi hành án. Trên cơ sở đó, đã điều chỉnh khung kết cấu của BLTTHS. Thứ nhất, tách truy tố thành một phần độc lập với 02 chương quy định đầy đủ nội dung của giai đoạn tố tụng quan trọng này (Phần thứ Ba). Thứ hai, bố cục thủ tục xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm điều chỉnh chung trong một phần (Phần thứ Tư). Cách thiết kế này ngoài việc phản ánh chính xác nguyên tắc hai cấp xét xử, còn tạo cơ sở để loại bỏ những quy định trùng lắp, không nhất thiết phải quy định lặp đi lặp lại ở cả sơ thẩm và phúc thẩm. Thứ ba, tiếp tục khẳng định thi hành án là một giai đoạn của tố tụng hình sự; đây là giai đoạn quan trọng, có ý nghĩa đưa kết quả của toàn bộ quá trình tố tụng thực thi trên thực tế, do đó cần phải tiếp tục điều chỉnh (Phần thứ Năm).

​2. Quy định đầy đủ, cụ thể trình tự, thủ tục và các hoạt động tố tụng trong từng giai đoạn nhằm đấu tranh có hiệu quả với tội phạm

​Một trong những mục tiêu quan trọng của việc sửa đổi BLTTHS lần này là phải tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đặt ra trong thực tiễn; xác lập đầy đủ cơ sở pháp lý để quá trình phát hiện, xử lý tội phạm được tiến hành chính xác, kịp thời, góp phần bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân, thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển. Từ yêu cầu đó, BLTTHS năm 2024 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng, cụ thể là:

​Trong giai đoạn khởi tố: Trên cơ sở 10 điều của Bộ luật hiện hành, BLTTHS năm 2024 xây dựng Chương khởi tố vụ án hình sự gồm 20 điều luật với nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung. Thứ nhất, làm rõ các khái niệm “tố giác về tội phạm”, “tin báo về tội phạm”, “kiến nghị khởi tố” nhằm giải quyết những vướng mắc đặt ra trong thực tiễn (Điều 144). Thứ hai, quy định đầy đủ, cụ thể thẩm quyền, trình tự, thủ tục tiếp nhận và giải quyết các nguồn tin về tội phạm nhằm xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi nhất để khuyến khích người dân tham gia đấu tranh chống tội phạm (các điều 146, 147, 151, 152). Thứ ba, điều chỉnh thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố từ 02 tháng lên 04 tháng nhằm tháo gỡ khó khăn trong thực tiễn; đồng thời, để bảo đảm chặt chẽ, Bộ luật quy định việc gia hạn phải do Viện kiểm sát quyết định nhằm tránh lạm dụng, kéo dài thời gian giải quyết (Điều 147). Thứ tư, quy định cụ thể các biện pháp được phép áp dụng trong giai đoạn này nhằm khắc phục khoảng trống của pháp luật hiện hành (Điều 147). Thứ năm, cho phép tạm đình chỉ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm khi thuộc các trường hợp luật định (Điều 148). Thứ sáu, quy định đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội ngay từ giai đoạn đầu của tố tụng (các điều 159, 160, 161).

​Trong giai đoạn điều tra: Thứ nhất, bổ sung đầy đủ các biện pháp điều tra nhằm đáp ứng yêu cầu phát hiện tội phạm, như: Các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp cưỡng chế tố tụng, biện pháp nhận biết giọng nói, định giá tài sản, các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Thứ hai, quy định chặt chẽ căn cứ và thủ tục tiến hành các biện pháp điều tra có ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của con người, của công dân, như: Biện pháp khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu (Chương XIII). Thứ ba, quy định bắt buộc phải ghi âm, ghi hình khi hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra (CQĐT) nhằm phản ánh trung thực quá trình hỏi cung, chống bức cung, nhục hình, đồng thời là căn cứ quan trọng để bảo vệ các cán bộ tư pháp đã tiến hành tố tụng đúng luật (Điều 183). Thứ tư, bổ sung và quy định đầy đủ các trường hợp tách, nhập, chuyển vụ án nhằm bảo đảm việc điều tra đúng thẩm quyền, khách quan, toàn diện (Điều 169 và Điều 170). Thứ năm, bổ sung trường hợp tạm đình chỉ điều tra khi đã hết thời hạn điều tra mà chưa có kết quả định giá tài sản, tương trợ tư pháp (Điều 229).

​Trong giai đoạn truy tố: Thứ nhất, bổ sung và quy định đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng công tố và chức năng kiểm sát trong giai đoạn truy tố (Điều 236 và Điều 237). Thứ hai, quy định Viện kiểm sát cấp trên phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa thay cho quy định “ủy quyền” hiện nay nhằm tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn (Điều 239). Thứ ba, nhằm tăng cường kiểm tra, kiểm soát trong nội bộ, Bộ luật quy định mọi quyết định tố tụng do Viện kiểm sát cấp dưới ban hành phải gửi cho Viện kiểm sát cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền rút, đình chỉ, hủy bỏ các quyết định này nếu thấy trái pháp luật (Điều 240). Thứ tư, bổ sung quy định cho phép nhập, tách vụ án trong giai đoạn truy tố để phù hợp với thực tiễn giải quyết (Điều 242). Thứ năm, quy định chặt chẽ các căn cứ trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung nhằm tránh lạm dụng, kéo dài thời gian giải quyết; đồng thời, quy định trường hợp Tòa án trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả cho CQĐT thì Viện kiểm sát trực tiếp bổ sung chứng cứ để đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án (Điều 245 và Điều 246).

​Trong giai đoạn xét xử: Thứ nhất, nhằm tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn, Bộ luật bổ sung quy định Tòa án yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung chứng cứ nhưng không nhất thiết phải trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát; quy định cụ thể các trường hợp Tòa án trực tiếp xác minh, bổ sung chứng cứ (Điều 252 và Điều 284). Thứ hai, quy định khi xác định vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì Tòa án trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đã truy tố thay vì chuyển trực tiếp cho Tòa án có thẩm quyền xét xử như hiện nay (Điều 274). Thứ ba, quy định chặt chẽ sự có mặt của bị cáo, người bào chữa tại phiên tòa nhằm bảo đảm quyền bào chữa của họ, đồng thời, tránh lợi dụng làm ảnh hưởng đến kế hoạch xét xử của Tòa án (Điều 290 và Điều 291); bổ sung quy định về tạm ngừng phiên tòa với thời hạn tối đa là quá 5 ngày, thay vì mọi trường hợp phải hoãn phiên tòa với thời hạn tối đa 30 ngày như hiện nay (Điều 251). Thứ tư, sửa đổi “giới hạn xét xử” trên cơ sở nguyên tắc việc xét xử được giới hạn trong phạm vi truy tố, truy tố tới đâu – xét xử tới đó; tuy nhiên, trường hợp cần xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại, nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn (Điều 298). Thứ năm, nhằm thể hiện rõ nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, Bộ luật không chia thành thủ tục xét hỏi và thủ tục tranh luận như hiện hành mà nhập chung thành thủ tục tranh tụng tại phiên tòa (từ Điều 306 đến Điều 325). Thứ sáu, quy định Tòa án sẽ không mở phiên tòa nếu có căn cứ xác định việc điều tra, truy tố trước đó vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; tuyên bố bị cáo vô tội nếu không đủ chứng cứ kết tội (các điều 280, 260, 326). Thứ bảy, để bảo đảm nguyên tắc hai cấp xét xử, Bộ luật bổ sung những người có quyền kháng cáo và điều chỉnh phạm vi kháng cáo cho phù hợp (Điều 331). Thứ tám, quy định cụ thể thủ tục tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm nhằm bảo đảm tranh tụng thay vì cách dẫn chiếu sang thủ tục sơ thẩm như hiện nay; bổ sung đầy đủ thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm (các điều 355, 357, 358).

​3. Thực hiện nghiêm túc yêu cầu của Hiến pháp năm 2013 về tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân

​Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân là tư tưởng xuyên suốt trong Hiến pháp năm 2013. Hiến pháp khẳng định nguyên tắc: Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng (Điều 14). Đây là nguyên tắc rất quan trọng, thể hiện tư tưởng pháp quyền, đề cao trách nhiệm của Nhà nước trước nhân dân, đồng thời, là cơ sở pháp lý cao nhất để mọi người và công dân bảo vệ và thực hiện quyền con người, quyền công dân của mình.

​Thấu suốt tư tưởng của Hiến pháp, BLTTHS năm 2024 đã cụ thể hóa thành những quy định, yêu cầu cụ thể đối với quá trình giải quyết vụ án hình sự. Thứ nhất, quy định mọi biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự phải được quy định trong BLTTHS. Thứ hai, quy định từng biện pháp cưỡng chế tố tụng phải bị điều chỉnh chặt chẽ bởi 05 yếu tố: Căn cứ; thẩm quyền; trình tự; thủ tục; thời hạn. Thứ ba, bổ sung các quyền và cơ chế bảo đảm quyền của những người tham gia tố tụng một cách chặt chẽ, khả thi, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhất là cơ chế để bảo đảm cho người bị buộc tội nắm được các chứng cứ buộc tội nhằm thực hiện tốt việc tranh tụng. Thứ tư, bổ sung và quy định đầy đủ nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội; chừng nào chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì người bị buộc tội vẫn chưa bị coi là người phạm tội, nghiêm cấm các cơ quan tố tụng đối xử với họ như người phạm tội; trường hợp đã áp dụng đầy đủ các biện pháp cần thiết mà vẫn không đủ căn cứ để chứng minh tội phạm thì phải kết luận họ không có tội. Thứ năm, rút ngắn hợp lý thời hạn tạm giam để bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân; buộc các cơ quan tố tụng phải tính toán kỹ thời điểm bắt giam, đồng thời tổ chức lực lượng để khẩn trương kết thúc vụ án. Thứ sáu, quy định đầy đủ các cơ chế để người bị buộc tội thực hiện tốt quyền Hiến định “tự bào chữa” và “nhờ người khác bào chữa”. Thứ bảy, bổ sung các quy định để “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” được tổ chức thực thi nghiêm túc trên thực tế; tranh tụng phải trở thành quyền và nghĩa vụ của tất cả các bên; Tòa án phải thực sự khách quan, tôn trọng và lắng nghe đầy đủ các ý kiến; phán quyết của Tòa án chỉ căn cứ vào kết quả tranh tụng và các chứng cứ đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa. Thứ tám, bổ sung và quy định cụ thể các thiết chế bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại để họ an tâm hợp tác với các cơ quan tố tụng phát hiện tội phạm. Thứ chín, sửa đổi, bổ sung các thủ tục tố tụng nhằm bảo đảm nguyên tắc “vì lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên”, phù hợp với chính sách bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của Đảng, Nhà nước ta và các chuẩn mực quốc tế; việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên chỉ tiến hành trong trường hợp cần thiết, với mục đích chủ yếu là giáo dục, giúp đỡ các em sớm nhận ra sai lầm để tích cực sửa chữa, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội, trở thành công dân có ích cho đất nước. Thứ mười, bổ sung các quy định nhằm đề cao trách nhiệm của các cơ quan tố tụng trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, đồng thời quy định nghiêm khắc các chế tài áp dụng nếu cơ quan tố tụng vi phạm quy định của luật.

​4. Phân định hợp lý thẩm quyền giữa các cơ quan tố tụng và giữa các cấp tố tụng

​Nói đến tố tụng hình sự là nói đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ giữa các cơ quan tố tụng trong quá trình đi tìm sự thật của vụ án. Yêu cầu đặt ra là phải tổ chức bộ máy, phân định nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan tố tụng và giữa các cấp tố tụng một cách khoa học, bảo đảm sự chủ động, độc lập và kiểm soát lẫn nhau. Làm được điều đó sẽ giúp cho hoạt động tố tụng hình sự vận hành thông suốt, hiệu quả, đề cao trách nhiệm, tránh sự lạm quyền. Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp và tháo gỡ những vướng mắc qua thực tiễn thi hành, BLTTHS năm 2024 đã sửa đổi, bổ sung theo hướng:

​5. Tăng quyền, tăng trách nhiệm cho các chức danh tư pháp

​Xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, bản lĩnh, trách nhiệm luôn là mong mỏi của Bác Hồ lúc sinh thời. Giao nhiệm vụ theo tư tưởng của Bác là phải dân chủ, rõ nhiệm vụ, đề cao tinh thần trách nhiệm, phát huy tính sáng tạo của cán bộ. Người nói: Khi giao trách nhiệm cho cán bộ phải làm cho họ yên tâm công tác, hứng thú trong công việc. Muốn thế, người lãnh đạo phải làm sao cho cán bộ cả gan dám nói, cả gan đề ra ý kiến, cả gan phụ trách, cả gan làm việc(2). Đây cũng chính là nội dung quan trọng trong các chỉ đạo của Đảng ta về công tác cán bộ(3). Trong lĩnh vực tư pháp, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2024 yêu cầu: “tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình”.

​Tổng kết thực tiễn hơn 10 năm thi hành BLTTHS năm 2003 chỉ rõ, bên cạnh những kết quả đạt được, việc phân định thẩm quyền tố tụng còn bộc lộ một số bất cập. Theo đó, các thẩm quyền chủ yếu tập trung vào thủ trưởng các cơ quan tố tụng; những người trực tiếp tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) có thẩm quyền rất hạn chế. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, tiến độ giải quyết vụ án, thậm chí là nguyên nhân của một số biểu hiện quan liêu, dựa dẫm, thiếu trách nhiệm trong quá trình tố tụng hình sự.

​- Tăng cho Điều tra viên các thẩm quyền: Thứ nhất, yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật; thứ hai, triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; thứ ba, quyết định áp giải người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ; quyết định dẫn giải người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại; thứ tư, quyết định giao người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giám sát; quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội; thứ năm, thi hành lệnh phong tỏa tài khoản (Điều 37).

​- Tăng cho Kiểm sát viên các thẩm quyền: Thứ nhất, trực tiếp giải quyết và lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; thứ hai, triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; thứ ba, yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, đề nghị thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật; thứ tư, bắt buộc có mặt khi CQĐT tiến hành đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra, khám xét; thứ năm, yêu cầu CQĐT truy nã, đình nã bị can; thứ sáu, quyết định áp giải người bị bắt, bị can; quyết định dẫn giải người làm chứng, người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, bị hại; thứ bảy, quyết định giao người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân để giám sát; quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 42).

​- Tăng cho Thẩm phán các thẩm quyền: Thứ nhất, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện biện pháp cưỡng chế; thứ hai, quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám định lại, thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định; yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá tài sản; thứ ba, yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội; thứ tư, yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật; thứ năm, quyết định việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử (Điều 45).

​6. Đổi mới chế định chứng cứ và chứng minh cho phù hợp với tình hình mới

Chứng cứ và chứng minh là một trong những vấn đề quan trọng nhất của tố tụng hình sự. Toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự thực chất là quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, mặc dù cách thức tiến hành ở mỗi giai đoạn có khác nhau. Tổng kết thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003 đã chỉ ra một số hạn chế, bất cập trong các quy định hiện hành về chứng cứ làm ảnh hưởng đến yêu cầu giải quyết vụ án, nhất là chưa đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm trong tình hình mới, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm “mạng”…

Có thể nói, những sửa đổi, bổ sung nêu trên đã góp phần hoàn thiện lý luận về chứng cứ; tạo cơ sở pháp lý vững chắc để đấu tranh hiệu quả hơn với tội phạm trong thời kỳ đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại và hội nhập quốc tế sâu rộng ngày nay.

7. Hoàn thiện chế định giám định tư pháp

Tổng kết thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003 chỉ ra nhiều hạn chế xung quanh chế định này. Bộ luật chỉ dành 05 điều để quy định về giám định là chưa tương xứng với tầm quan trọng và tính chất phức tạp của vấn đề. Việc thiếu quy định về thời hạn đang là một trong những nguyên nhân dẫn đến chậm trễ trong giám định hiện nay; thiếu cơ chế giải quyết xung đột trong trường hợp có nhiều kết luận khác nhau về cùng một đối tượng trưng cầu, làm bó tay các cơ quan tố tụng…

Những sửa đổi, bổ sung nêu trên sẽ tháo gỡ căn bản những vướng mắc trong công tác giám định. Đồng thời, đặt ra trách nhiệm cao hơn cho cơ quan tố tụng và cơ quan giám định phải phối hợp chặt chẽ nhằm bảo đảm nguyên tắc kịp thời, chính xác, tiết kiệm trong tố tụng hình sự.

8. Luật hóa các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

Ở Việt Nam, biện pháp điều tra đặc biệt (biện pháp nghiệp vụ) mới chỉ được đề cập có tính nguyên tắc trong các luật chuyên ngành (Luật An ninh quốc gia, Điều 24; Luật Phòng, chống ma túy (Điều 13) và giao cho Chính phủ quy định cụ thể. Do BLTTHS chưa quy định biện pháp điều tra đặc biệt nên chưa phát huy cao hiệu quả của các biện pháp này, nhiều trường hợp lãng phí nguồn chứng cứ quan trọng có ý nghĩa trực tiếp chứng minh tội phạm. Trên thực tế, các Điều tra viên một mặt phải đối diện với những rủi ro trong quá trình đấu tranh chống tội phạm, nhưng đồng thời cũng gặp không ít khó khăn trong việc chuyển hóa chứng cứ để được pháp luật công nhận. Đặc biệt, trước yêu cầu của Hiến pháp năm 2013: Mọi biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân phải do luật định đã đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu và xử lý nghiêm túc, thấu đáo vấn đề này.

Trên cơ sở cân nhắc các điều kiện cụ thể của nước ta về mọi mặt, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, các cam kết quốc tế của Việt Nam và tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn, BLTTHS năm 2024 đã bổ sung một chương mới để luật hóa biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Thứ nhất, các biện pháp được phép áp dụng bao gồm: Ghi âm, ghi hình bí mật; nghe điện thoại bí mật; thu thập bí mật dữ liệu điện tử (Điều 223). Thứ hai, quy định chặt chẽ các trường hợp áp dụng chỉ đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền.

Phân Tích Khái Niệm Luật Tố Tụng Hình Sự

Phân tích khái niệm luật tố tụng hình sự

Luật tố tụng hình sự là một ngành luật trong hệ thống pháp luật, tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

Quá trình từ khi khởi tố vụ án hình sự đến khi xét xử là một quá trình phức tạp, bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, ưong đó xét xử là hoạt động trung tâm và mang tính quyết định.

Để bảo đảm phát hiện chính xác và xử lí công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội đồng thời góp phần bảo vệ công lí, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, pháp luật cần phải quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự.

Do vậy, Bộ luật tố tụng hình sự quy định thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân và hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự.

Các giai đoạn tố tụng hình sự

Giai đoạn tố tụng hình sự là những bước trong trình tự tố tụng có nhiệm vụ riêng, mang đặc thù về phạm vi chủ thể, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng.

Luật tố tụng hình sự Việt Nam chia quá trình tố tụng thành các giai đoạn sau:

Giai đoạn thứ nhất: Khởi tố vụ án hình sự

Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền xác định sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm hay không để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định khác theo quy định của pháp luật.

Giai đoạn thứ hai: Điều tra vụ án hình sự

Trong giai đoạn điều tra, cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật, tiến hành thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ làm rõ đối tượng chứng minh để ra kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra; quyết định tạm đình chỉ điều traa và các quyết định khác theo quy định của pháp luật.

Giai đoạn thứ ba: Truy tố

Trong giai đoạn truy tố, viện kiểm sát tiến hành các hoạt động cần thiết để truy tố bị can trước toà án bằng bản cáo trạng hoặc ra những quyết định tố tụng khác để giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.

Giai đoạn thứ tư: Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, toà án cấp sơ thẩm (cấp xét xử thứ nhất) tiến hành giải quyết và xét xử vụ án bằng việc ra bản án hoặc các quyết định tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

Giai đoạn thứ năm: Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự

Trong giai đoạn này, toà án cấp trên trực tiếp (cấp xét xử thứ hai) của tòa án đã ra bản án, quyết định sơ thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Giai đoạn thứ sáu: Thi hành án hình sự

Trong giai đoạn này, cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành án tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện bản án và quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật.

Giai đoạn đặc biệt: Đây là giai đoạn xét lại bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật. Trong giai đoạn này, toà án xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án (giám đốc thẩm) hoặc có những tình tiết mới được phát hiện cố thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà toà án không biết được khi ra bản án, quyết định đó (tái thẩm). Ngoài thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, giai đoạn này còn có thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể

Cập nhật thông tin chi tiết về Tổng Quan Về Mô Hình Tố Tụng Hình Sự Việt Nam Thực Trạng Và Phương Hướng Hoàn Thiện trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!