Xu Hướng 3/2024 # Tổng Quan Về Hội Chứng Thận Hư # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Tổng Quan Về Hội Chứng Thận Hư được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Các nguyên nhân nguyên phát phổ biến nhất là:

Thoái hóa bột, một nguyên nhân còn chưa được thừa nhận hoàn toàn, chiếm 4% số trường hợp.

Bệnh thận do HIV có tổn thương xơ hóa cầu thận ổ cục bộ xuất hiện ở bệnh nhân AIDS.

Nguyên nhân của hội chứng thận hư

Protein niệu xuất hiện do thay đổi các tế bào nội mô mao mạch, màng đáy cầu thận (GBM) hoặc tế bào chân lồi biểu mô, thường cho phép lọc protein huyết thanh chọn lọc theo kích thước và theo điện tích.

Cơ chế gây tổn thương cho các cấu trúc này hiện chưa được biết rõ trong bệnh cầu thận nguyên phát và thứ phát, nhưng các bằng chứng cho thấy các tế bào T có thể kích thích yếu tố tính thấm trong tuần hoàn hoặc làm giảm hoạt động của yếu tố ức chế tính thấm đáp ứng với các kháng nguyên miễn dịch và các cytokine chưa được xác định. Các yếu tố có thể khác bao gồm các khiếm khuyết di truyền tại các protein gắn với màng lọc cầu thận, hoạt hóa bổ thể dẫn tới tổn thương các tế bào biểu mô cầu thận và mất các nhóm điện tích âm gắn với các protein của màng đáy cầu thận và các tế bào biểu mô cầu thận.

Hội chứng này gây mất các protein phân tử lớn ra nước tiểu, chủ yếu là albumin cũng như các opsonins, globulin miễn dịch, erythropoietin, transferrin, các protein liên kết hormon (bao gồm globulin liên kết hormon tuyến giáp và protein liên kết vitamin D) và antithrombin III. Sự thiếu hụt các protein này và các protein khác góp phần gây ra một số biến chứng (xem Bảng: Các biến chứng của hội chứng thận hư); các yếu tố sinh lý khác cũng có vai trò gây ra các biến chứng.

Các biến chứng của hội chứng thận hư

Mất erythropoietin và transferrin

Tăng tổng hợp các yếu tố đông máu ở gan

Tăng độ nhớt máu do giảm thể tích tuần hoàn

Đôi khi giảm hấp thu đường miệng thứ phát do phù nề mạc treo

Rối loạn lipid máu và xơ vữa động mạch

Triệu chứng cơ năng và triệu chứng thực thể

Các triệu chứng ban đầu bao gồm chán ăn, mệt mỏi và nước tiểu sủi bọt (do nồng độ protein cao).

Các triệu chứng tương ứng có thể xuất hiện, bao gồm phù ngoại biên và cổ trướng. Phù có thể làm mờ các dấu hiệu của triệu chứng teo yếu cơ và gây ra dấu hiệu đường trắng song song ở nền móng (đường Muehrcke).

Tỷ lệ protein / creatinine nước tiểu cắt ngang ≥ 3 hoặc protein niệu ≥ 3 g / 24 giờ

Chẩn đoán được nghĩ đến ở những bệnh nhân có phù và protein niệu. Chẩn đoán xác định dựa vào tỉ lệ protein/creatinin nước tiểu cắt ngang hoặc dựa vào lượng protein niệu 24 giờ. Nguyên nhân có thể được gợi ý thông qua các biểu hiện lâm sàng (ví dụ như SLE, tiền sản giật, ung thư); khi nguyên nhân không được rõ ràng, các xét nghiệm bổ sung (ví dụ, huyết thanh học) và sinh thiết thận sẽ được chỉ định.

Chẩn đoán HCTH khi có protein niệu tăng có ý nghĩa (protein niệu 3g/24 giờ) ( lượng bài tiết thông thường là < 150 mg / ngày). Ngoài ra, tỷ lệ protein / creatinine trong mẫu nước tiểu ngẫu nhiên có thể ước tính một cách khá chính xác lượng protein niệu 24h/ 1,73 m 2 da (ví dụ, với giá trị 40 mg / dL protein và creatinine 10 mg / dL trong mẫu nước tiểu ngẫu nhiên tương đương với lượng protein 4 g / 1,73 m 2 trong mẫu nước tiểu 24 giờ).

Việc tính toán dựa trên mẫu nước tiểu ngẫu nhiên có thể ít tin cậy hơn khi sự bài tiết creatinine ở mức cao (ví dụ như trong khi luyện tập thể dục thể thao) hoặc ở mức thấp (ví dụ như trong hội chứng suy mòn). Tuy nhiên, tính toán dựa trên các mẫu nước tiểu ngẫu nhiên thường được áp dụng hơn mẫu nước tiểu 24 giờ vì việc thu thập nước tiểu thuận tiện hơn và ít bị sai sót hơn (ví dụ do thiếu tuân thủ); thuận tiện hơn trong việc đánh giá sự thay đổi xét nghiệm trong quá trình điều trị.

Ngoài protein niệu, xét nghiệm nước tiểu có thể phát hiện các trụ niệu (trụ hyalin, trụ hạt, trụ mỡ, trụ sáp hoặc trụ tế bào biểu mô). Lipid niệu, sự hiện diện của lipid tự do hoặc lipid trong các tế bào ống thận (thể mỡ tròn), trong các trụ ( trụ mỡ) hoặc dưới dạng các globulin tự do, gợi ý có bệnh cầu thận gây ra hội chứng thận hư. Có thể phát hiện cholesterol trong nước tiểu dưới kính hiển vi quang học và biểu hiện dưới dạng hình chữ thập Maltese dưới ánh sáng phân cực chữ thập, có thể phải sử dụng nhuộm Sudan để hiển thị triglycerides.

Xét nghiệm hỗ trợ giúp đánh giá mức độ nặng và biến chứng.

Albumin huyết thanh thường < 2,5 g / dL.

Không cần thiết phải định lượng nồng độ alpha- và gammaglobulin, globulin miễn dịch, ceruloplasmin, transferrin và các thành phần bổ thể, nhưng nồng độ các chỉ số này có thể cũng thấp.

Vai trò của xét nghiệm tìm các nguyên nhân thứ phát của hội chứng thận hư (xem Bảng: Nguyên nhân của hội chứng thận hư) còn đang tranh cãi vì bằng chứng còn thấp. Các xét nghiệm được chỉ định dựa trên tình trạng lâm sàng. Các xét nghiệm có thể bao gồm:

Glucose huyết thanh hoặc Hb glycosyl hóa (HbA 1c)

Sinh thiết thận được chỉ định ở người lớn để chẩn đoán các thể tổn thương gây hội chứng thận hư nguyên phát. Hội chứng thận hư ở trẻ em hầu hết là bệnh cầu thận thay đổi tối thiểu và thường được quy ước chẩn đoán mà không cần sinh thiết trừ khi bệnh nhân không cải thiện với điều trị corticosteroids. Dấu hiệu đặc trưng trên sinh thiết sẽ được bàn luận ở từng tổn thương cụ thể.

Tiên lượng thay đổi theo nguyên nhân. Đáp ứng hoàn toàn có thể đạt được một cách tự nhiên hoặc với điều trị. Tiên lượng nói chung là tốt ở các tổn thương đáp ứng với điều trị corticoid.

Trong mọi trường hợp, tiên lượng có thể không tốt nếu xuất hiện các dấu hiệu sau đây:

Điều trị các bệnh lý nền có thể bao gồm điều trị nhiễm trùng kịp thời (ví dụ viêm nội tâm mạc do tụ cầu, sốt rét, giang mai, sán máng), giải mẫn cảm dị ứng (ví dụ như ngộ độc lá sồi hoặc lá cây thường xuân và phơi nhiễm kháng nguyên côn trùng), ngừng một số loại thuốc (ví dụ: vàng, penicillamine, NSAIDs ); các biện pháp này có thể điều trị hội chứng thận hư trong một số trường hợp cụ thể.

Ức chế Angiotensin (sử dụng ức chế men chuyển hoặc các thuốc chẹn thụ thể angiotensin II) được chỉ định để làm giảm áp lực trong cầu thận và huyết áp hệ thống và protein niệu. Các thuốc này có thể gây ra hoặc làm tăng kali máu ở những bệnh nhân suy thận vừa đến nặng.

Hạn chế protein không còn được khuyến cáo vì thiếu hiệu quả được chứng minh trên sự tiến triển của bệnh.

Hạn chế natri (< 2 g natri, hoặc khoảng 100 mmol / ngày) được khuyến cáo cho bệnh nhân có phù trên lâm sàng.

Các thuốc lợi tiểu quai thường được dùng để kiểm soát phù nhưng có thể làm xấu thêm tình trạng suy thận trước đó và tình trạng giảm thể tích, tăng độ nhớt máu, tăng đông và do đó nên được sử dụng chỉ khi chế độ ăn hạn chế natri không hiệu quả hoặc có bằng chứng về tình trạng quá tải dịch trong lòng mạch. Trong trường hợp nặng của hội chứng thận hư, truyền albumin tĩnh mạch sau đó dùng lợi tiểu quai có thể được chỉ định để kiếm soát phù.

Statin được chỉ định để điều trị rối loạn lipid máu.

Hạn chế cholesterol và chất béo bão hòa được khuyến cáo giúp kiểm soát rối loạn lipid máu.

Thuốc chống đông được chỉ định để điều trị tình trạng huyết khối, nhưng có rất ít dữ liệu hỗ trợ cho việc sử dụng chúng như biện pháp phòng ngừa ban đầu.

Tất cả các bệnh nhân cần được tiêm phòng phế cầu nếu không có chống chỉ định khác

Phẫu thuật cắt hai thận trong hội chứng thận hư nặng do giảm albumin máu dai dẳng hiếm khi là chỉ định cần thiết. Kết quả tương tự đôi khi có thể đạt được bằng cách nút động mạch thận bằng coil, do đó tránh được phẫu thuật ở những bệnh nhân có nguy cơ cao. Lọc máu được chỉ định khi cần thiết.

Hội Chứng Thận Hư – Family Hospital

Tính phổ biến của bệnh

Đối với trẻ em dưới 16 tuổi, tần suất mới mắc hội chứng thận hư là 20-50/1000000 trẻ em mỗi năm.Tần suất mắc bệnh chung khoảng 155/1000000 người. Tỷ lệ tử vong và biến chứng tuỳ thuộc vào loại tổn thương mô bệnh học, giao động từ 15 đến trên 50 % sau thời điểm khởi phát 20 năm.

Ở người trưởng thành, tần suất mới mắc hội chứng thận hư hàng năm tại Mỹ là khoảng 3/1000000 người. Tần suất mắc bệnh chung khó xác định chính xác vì bệnh có thể do một số bệnh lý khác gây ra. Tại Việt Nam, chưa có số liệu thống kê chính xác và đầy đủ về tình trạng bệnh lý này.

Cơ chế bệnh sinh hội chứng thận hư

Bệnh sinh của hội chứng thận hư chưa được hiểu biết đầy đủ. Do hiệu quả của việc điều trị corticoid và các thuốc ức chế miễn dịch, người ta cho rằng cơ chế sinh bệnh học của hội chứng thận hư là sự rối loạn về đáp ứng miễn dịch, gây tăng tính thấm của màng đáy cầu thận.

Trong điều kiện bình thường, thành mao mạch cầu thận làm nhiệm vụ của một màng lọc và còn có vai trò như một hàng rào ngăn các phân tử lớn từ huyết tương thoát ra ngoài nước tiểu. Trong hội chứng thận hư có hiện tượng tăng tính thấm mao mạch cầu thận đối với albumin và có tổn thương màng đáy cầu thận là chủ yếu. Bình thường màng đáy không cho các phân tử lớn như protein đi qua. Khi có một nguyên nhân nào đó làm cho màng đáy bị tổn thương, thay đổi kích thước lỗ lọc và thay đổi điện thế màng làm protein thoát qua được. Khi có thoát protein ra nước tiểu làm giảm albumin máu sẽ gây giảm áp lực keo huyết tương, dẫn đến giảm thể tích tuần hoàn trong lòng mạch. Nước thoát khỏi lòng mạch gây phù. Giảm tưới máu đến thận sẽ gây giảm mức lọc cầu thận, giảm khả năng đào thải muối – nước cũng như kích thích sản xuất các aldosteron gây giữ muối nước và hậu quả cuối cùng là gây phù.

Nguyên nhân hội chứng thận hư

Hội chứng thận hư được chia làm hai nhóm theo nguyên nhân gây bệnh, đó là hội chứng thận hư nguyên phát – có nguyên nhân là các bệnh lý cầu thận nguyên phát; và hội chứng thận hư thứ phát- có nguyên nhân là các bệnh lý khác như bệnh chuyển hoá (đái tháo đường), bệnh tự miễn (lupus ban đỏ hệ thống, viêm mạch..), bệnh lý ác tính, các nguyên nhân gây nhiễm trùng, ký sinh trùng hoặc sau dùng một số thuốc hay hoá chất độc.

Ở người lớn, khoảng 80% viêm cầu thận chưa rõ nguyên nhân và hầu hết còn lại kết hợp với bệnh hệ thống, đặc biệt lupus ban đỏ, đái tháo đường và thận dạng bột.

Các dấu hiệu nhận biết hội chứng thận hư

Triệu chứng lâm sàng

Phù: Ở thể điển hình thì triệu chứng lâm sàng chủ yếu là phù. Phù tăng nhanh trong vài ngày hoặc vài tuần. Phát hiện bằng thay đổi cân nặng. Bệnh nhân có thể phù mặt, đặc biệt là mi mắt rồi xuống chi dưới, bụng và bộ phận sinh dục. Ở người lớn cân nặng có thể lên tới 20-30kg. Phù thường biểu hiện rõ ở vùng thấp của cơ thể, ấn vào vùng phù có cảm giác mềm, lõm và không đau.

Có thể có dịch trong ổ bụng, màng phổi một bên hoặc hai bên. Trường hợp phù nhiều có thể có cả dịch ở màng ngoài tim.

Đái ít: Nước tiểu thường dưới 500ml/ngày, có khi chỉ còn 200-300ml khi phù to.

Người bênh thấy mệt mỏi, kém ăn hoặc có tăng huyết áp kèm theo.

Xét nghiệm

– Protein cao (lượng đạm trong nước tiểu) ≥ 3,5 g/24 giờ. Có khi lên đến 30-40g/24giờ.

– Ngoài ra trong nước tiểu còn có thể mỡ lưỡng chiết, trụ mỡ, trụ hạt, hồng cầu niệu và bạch cầu niệu mặc dù không có nhiễm khuẩn tiết niệu.

– Protein máu giảm: Do một lượng lớn albumin bị mất qua đường nước tiểu, kết quả dẫn đến albumin huyết tương giảm, thường dưới 30 g/L.

– Số lượng hồng cầu, hemoglobin và hematocrit bình thường hoặc có thể giảm nhẹ do suy dinh dưỡng và suy giảm chức năng thận. Đặc biệt trong trường hợp cô đặc máu, hồng cầu, hemoglobin và hematocrit tăng.

– Mức lọc của cầu thận có thể bình thường hoặc giảm khi có suy thận.

Chẩn đoán hội chứng thận hư

Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng thận hư:

Trong đó tiêu chuẩn 2 và 3 là bắt buộc, các tiêu chuẩn khác có thể không đầy đủ.

Một số biến chứng chính của hội chứng thận hư

– Suy thận cấp.

– Nhiễm khuẩn.

– Suy dinh dưỡng do mất protein trong máu.

– Rối loạn các chất điện giải.

Điều trị hội chứng thận hư

Điều trị triệu chứng

Mục tiêu là bù lại khối lượng tuần hoàn bằng cách tăng protein trong thức ăn , tăng calorie, hạn chế muối và nước. Trường hợp nặng có thể truyền plasma, các dung dịch keo và albumin.

Chỉ sử dụng lợi tiểu khi đã có bù protein và bệnh nhân không còn nguy cơ giảm thể tích tuần hoàn. Đặc biệt phải hạn chế muối và nước khi có phù nhiều.

Điều trị đặc hiệu ở hội chứng thận hư nguyên phát

– Corticoid ( prednisolon, prednisone, methyprednisolone).

– Thuốc giảm miễn dịch khác: Trong trường hợp đáp ứng kém với corticoid, kháng corticoid hoặc chống chỉ định dùng corticoid thì dùng các loại thuốc ức chế miễn dịch khác như cyclophosphamid, chlorambucil, azathiprin, cycloporine A hoặc mycoophenolate mofetil và theo dõi các tác dụng phụ của thuốc.

– Cần phối hợp điều trị các triệu chứng và biến chứng khác nếu có.

Điều trị hội chứng thận hư thứ phát: Theo nguyên nhân gây bệnh

Phòng hội chứng thận hư

– Bệnh diễn biến có thể lâu dài cần theo dõi định kỳ bởi các bác sĩ chuyên khoa.

– Bệnh nhân không tự ý dùng các thuốc ức chế miễn dịch.

– Phòng tránh nhiễm lạnh đường hô hấp trên, viêm da. Nếu có biểu hiện của các bệnh trên cần khám và điều trị kịp thời.

– Không tự ý bỏ thuốc, giảm liều thuốc.

– Không dùng các thuốc không rõ nguồn gốc.

Hội Chứng Thận Hư Tiên Phát Trẻ Em

I. Đại cương

Hội chứng thận hư tiên phát trẻ em (HCTHTPTE) là một tập hợp triệu chứng thể hiện bệnh lý cầu thận mà nguyên nhân phần lớn là vô căn (90%) dù khái niệm thận hư đã được Müller Friedrich Von nói đến từ năm 1905 với một quá trình bệnh lý ở thận có tính chất thoái hoá mà không phải là do viêm .1913, Munk đưa ra thuật ngữ “ thận hư nhiễm mỡ “ vì nhận thấy thoái hoá mỡ ở thận .1928, Govert ở Bỉ và 1929, Bell ở Mỹ cho rằng tổn thương trong bệnh thận hư chủ yếu là cầu thận. Sau này quan điểm trên được khẳng định nhờ những tiến bộ kỹ thuật như sinh thiết thận, kính hiển vi điện tử, miễn dịch huỳnh quang….

II. Định nghĩa về HCTHTPTE

Định nghĩa về HCTHTP chủ yếu theo sinh học-lâm sàng bao gồm tiểu đạm rất nhiều và phù toàn . Nguyên nhân HCTHTP thường không rõ ràng vì thế còn gọi là HCTH vô căn .

III. Dịch tễ học:

HCTHTPTE là một hội chứng thể hiện bệnh lý cầu thận mãn tính thường gặp ở trẻ em. Tỷ lệ mắc bệnh thay đổi theo tuổi, giới, chủng tộc, địa dư, cơ địa…

1. Tỷ lệ mắc bệnh

Tại một số khoa nhi hoặc bệnh viện nhi số trẻ em bị HCTH chiếm khoảng 0,5-1% tổng số bệnh nhi nội trú và chiếm 10-30% tổng số trẻ bị bệnh thận. Tại Khoa Nhi BVTW Huế số trẻ bị HCTH chiếm 0,73% tổng số bệnh nhi nội trú và chiếm 30% tổng số trẻ bị bệnh thận

2. Tuổi

Tuổi mắc bệnh trung bình ở trẻ em Việt Nam là 8,7 ( 3,5 ( tuổi đi học ) trong lúc đó ở nước ngoài tuổi mắc bệnh thấp hơn thường gặp ở trẻ em trước tuổi đi học.

3. Giới

        Trẻ nam gặp nhiều hơn trẻ nữ ( tỷ lệ 2:1 )

4. Chủng tộc

Trẻ em Châu Á bị bệnh nhiều hơn Châu Âu ( tỷ lệ 6:1 ). Trẻ em Châu Phi ít bị HCTHTP, nhưng nếu trẻ em da đen bị bệnh HCTHTP thì thường bị kháng Steroid.

5. Địa dư

Ở Việt Nam , Viện BVSKTE tỷ lệ HCTHTPTE là 1,78% ( 1974-1988 ); BV Nhi đồng I là 0,67% ( 1990-1993 ); Khoa Nhi-BVTW Huế là 0,73% ( 1987-1996 ). Ở Mỹ tỷ lệ mắc bệnh là 16/100.000 trẻ em dưới 16tuổi tức là 0,016% ( Schlesinger, 1986 ).

6. Một số yếu tố thuận lợi

Bệnh thường hay xuất hiện sau nhiễm khuẩn hô hấp cấp và trên cơ địa dị ứng ( chàm, hen..) , người mang HLA (Human Leucocyte Antigen) .

IV. Sinh lý bệnh: Hội chứng thận hư tiên phát trẻ em

HCTHTPTE xãy ra là do tăng tính thấm màng mao mạch cầu thận đối với protein, mao mạch cầu thận bị viêm và có phức hợp kháng nguyên – kháng thể lưu hành ( bệnh tự miễn ). Cơ chế tăng tính thấm này có thể do mất phần sạc điện tích âm của mao mạch màng đáy cầu thận và sự hiện diện một số chất Lymphokines ở đây làm thay đổi lổ lọc của màng đáy cầu thận khiến cho các protein mang điện tích âm và có trọng lượng phân tử nhỏ thoát ra ngoài thành mạch.

1.Tiểu đạm

Mất protein niệu ở đây có tính chọn lọc, chỉ để thoát các loại protein có trọng lượng phân tử nhỏ như Albumin 69.000. Mất albumin qua nước tiểu gây ra giảm Albumin máu, khi Albumin máu giảm xuống dưới 25g/l thì phù sẽ xuất hiện.

2. Phù

 

3. Rối loạn chuyển hóa chất béo tại gan

Gan tăng tổng hợp đạm (nhằm bù trừ protide máu giảm ) trong đó có Lipoprotein và vì vậy sẽ vận chuyển nhiều Triglyceride, Cholesterol ra máu ngoại vi làm tăng Lipide máu, nếu nhiều sẽ gây tổn thương thành mạch, tắc mạch.

4. Hiện tượng tăng đông

5. Một số chất protein khác ( ngoài Albumin ) thoát ra trong nước tiểu

– Lipoprotein lipase: Lipoprotein lipase thoát ra trong nước tiểu làm giảm dị hóa Lipide. Các vật thể lipides qua ống thận tạo thành trụ mỡ.

– Globulin kết hợp Thyroxin: Mất globulin kết hợp Thyroxin làm rối loạn các test chức năng tuyến giáp.

– Protein kết hợp Cholecalciferol: Mất protein kết hợp Cholecalciferol làm thiếu vitamin D và hạ Calci máu.

– Transferrin: Mất Transferrin (trọng lượng phân tử : 80.000) dẫn đến thiếu máu nhược sắc kháng sắt .

– Globulin miễn dịch: Mất IgG miễn dịch (trọng lượng phân tử : 150.000) và các bổ thể làm giảm khả năng opsonin hóa vi khuẩn,dễ bị nhiểm trùng.

– Các loại protein khác: Các loại protein gắn với thuốc làm ảnh hưởng đến dược động học và độc tính của thuốc.

6. Phản ứng viêm  

V. Biểu hiện lâm sàng

1. Phù:

Phù toàn thân với các đặc tính phù trắng, mềm, ấn lõm ( dấu godet dương tính ), không đau. Thường phù bắt đầu đột ngột từ mặt lan xuống toàn thân, ngoài ra có hiện tượng phù đa màng nghĩa là có phù ở màng bụng, màng tinh hoàn ở trẻ trai, có thể ở màng phổi, màng tim, màng não vì vậy khi khám lâm sàng cần chú ý các cơ quan trên.

2. Đau bụng:

Đau bụng là triệu chứng không thường xuyên và không đặc hiệu, có thể do căng màng bụng khi dịch báng quá nhiều gây đau hoặc do tắc mạch mạc treo, do rối loạn tiêu hóa, viêm phúc mạc tiên phát…

VI. Biểu hiện cận lâm sàng

1. Xét nghiệm nước tiểu

Hội chứng thận hư tiên phát trẻ em

        – Tế bào: Hồng cầu hầu như không có hoặc chỉ ở dạng vi thể nhẹ và nhất thời.Trụ thấu quang

2. Xét nghiệm máu

        – Protid toàn phần giảm nhiều, đa số < 40g/l

        – Điện di protid máu thấy: Albumin máu giảm nhiều ( < 25g/l ) alpha2Globulin và bêta

        Globulin tăng, gama Globulin giảm nhiều vào giai đoạn muộn .

        – Điện di miễn dịch: IgM tăng cao và IgG giảm nhiều nhất là khi bệnh nặng .

        – Lipid và Cholesterol máu tăng .

        – Công thức máu : Hồng cầu giảm, bạch cầu và tiểu cầu có thể tăng .

        – Điện giải đồ : Natri, Kali, Calci thường giảm

        – Ure, Creatinin trong giới hạn bình thường

VII. Phân loại  hội chứng thận hư trẻ em

1. Theo nguyên nhân:

        – HCTH bẩm sinh ( hiếm gặp ).

        – HCTH tiên phát (vô căn).

        – HCTH thứ phát( sau các bệnh hệ thống, bệnh chuyển hoá, nhiễm trùng-nhiễm độc.. ).

2. Theo lâm sàng

– HCTH tiên phát đơn thuần .

– HCTH tiên phát phối hợp hay không đơn thuần ( thận viêm-thận hư ).

3. Theo tiến triển

 - HCTH tiên phát lần đầu .

 - HCTH tiên phát tái phát( phù và tăng protein khi chuyển liều tấn công sang liều duy trì hoặc sau khi ngưng liều duy trì ).

4. Theo điều trị

 - HCTH “nhạy cảm corticoid”( nước tiểu sạch protein trong vòng 2tuần ).

 - HCTH “phụ thuộc corticoid”( tái phát khi chuyển liều hoặc ngưng thuốc )

 - HCTH “kháng corticoid” (protein niệu vẫn tăng nhiều sau điều trị tấn công).

5. Theo giải phẫu bệnh lý  

   - HCTH tổn thương tối thiểu (85%).

   - HCTH tăng sinh màng (5%)

   - HCTH xơ hóa từng điểm(10%)

6. Sự tương quan giữa giải phẩu bệnh và lâm sàng:

Một số tác giả nhận thấy rằng nếu HCTHTP đơn thuần thường nhạy cảm corticoid, đáp ứng 90-95% thì tổn thương là tối thiểuHCTHTP phối hợp thường phụ thuộc corticoid, đáp ứng 50-60% thì tổn thương là tăng sinh HCTHTP tái phát nhiều lần, kháng corticoid, có suy thận thì tổn thương là xơ hóa cầu thận

7. Tiêu chuẩn lành bệnh

Hội chứng thận hư tiên phát trẻ em gọi là ”lành” khi ngưng điều trị trên 2 năm mà không hề có đợt tái phát nào cả

VIII. Chẩn đoán

1. Hoàn cảnh phát hiện

Dịch tể học, yếu tố thuận lợi và dấu hiệu lâm sàng xuất hiện sớm là phù nhanh toàn thân với đặc điểm trắng, mềm, ấn lõm, không đau

2. Xét nghiệm sinh học

Xét nghiệm sinh học giúp xác định HCTH với các tiêu chuẩn sau

– Protide máu dưới 60g/l và Albumin máu dưới 25g/l

– Phù và tăng lipide máu thường thấy nhưng không phải là yếu tố cần thiết cho chẩn đoán

3. Sinh thiết thận

Ở trẻ emỚinh thiết thận không cần thiết vì đa số (80-90%) có tổn thương tối thiểu và đáp ứng tốt với corticoid, nhất là đối với trẻ trước 8 tuổi. Chỉ sinh thiết thận trong một số ít trường hợp như HCTH bẩm sinh ( trẻ dưới 1tuổi ); HCTH phối hợp; HCTH kháng corticoid

IX. Tiến triển và biến chứng

1. Tiến triển Có 4 cách như sau

– Chỉ một đợt: Chỉ duy nhất một đợt trong vài tuần ( hết phù, protein niệu mất ): đây là thể nhạy cảm

corticoid (25%)

– Tái phát nhiều đợt : Tái phát nhiều đợt trong nhiều năm nhưng cuối cùng vẫn lành hoàn toàn (25%)

– Tái phát liên tục : Tái phát liên tục khi giảm liều hoặc dừng thuốc : đây là thể phụ thuộc corticoid (30- 35%)

        – Thất bại ( trước đó dùng prednison sau đó Methyl- prednison ): đây là thể kháng corticoid (15-20%).

2. Biến chứng

* Biến chứng của bệnh:

        – Nhiểm trùng là biến chứng phổ biến nhất ( viêm phúc mạc tiên phát, viêm phổi, viêm mô tế

bào, nhiểm trùng tiết niệu, nhiểm trùng huyết )

        – Hội chứng thiếu hụt: Chậm phát triển, suy dinh dưỡng, loãng xương, co giật do hạ calci

( tetanie) thiếu máu, bướu giáp đơn thuần…

        – Thyên tắc mạch mạc treo, ở phổi, ở các chi .

        – Cơn đau bụng: Có thể do phù mạc treo, phù tuỵ, viêm phúc mạc tiên phát, loét dạdày

* Biến chứng của điều trị

– Corticoid thường chỉ xãy ra biến chứng khi dùng liều mạnh và kéo dài sẽ gây rối loạn nước –

điện giải; rối loạn nội tiết – chuyển hóa; ảnh hưởng hầu hết các cơ quan trong cơ thể…

– Thuốc ức chế miễn dịch và ức chế tế bào ung thư : có thể gây suy tủy, vô sinh, ung thư máu , nhiểm trùng, viêm bàng quan chảy máu, hói tóc…

– Thuốc lợi tiểu: khi dùng nhiều đột ngột có thể gây rối loạn nước điện giải ( giảm Natri máu, giảm Kali máu ) giảm thể tích ( trụy tim mạch, suy thận )

X. Điều trị  và dự phòng

1. Điều trị triệu chứng (phù)

        – Nghĩ ngơi

        – Chế độ ăn uống , Hạn chế muối-nước và ăn nhiều đạm, đủ các vitamin (muối 2-3g/ngày; nước <15ml/kg/ngày; đạm 2-4g/kg/ngày)

        – Giữ vệ sinh thân thể; giữ ấm

        – Ít khi cho lợi tiểu và chuyền đạm.

 

2. Điều trị bệnh sinh (đặc hiệu )

        – Liệu pháp corticoid ( Prednison 5mg ) Corticoid có tác dụng kháng viêm và ức chế miễn dịch

        – Liều tấn công: Prednison 2mg/kg/ngày x 4-8 tuần.Uống trong hoặc sau ăn một lần buổi sáng hoặc chia 2-3 lần trong ngày . Sau đó tuỳ theo protein niệu đã âm tính hay chưa để chọn liều duy trì

        – Liều duy trì

                       + Nếu protein niệu âm tính:  1mg/kg/ngày x 6 tuần liền rồi ngừng thuốc hoặc cũng cố thêm với liều 0,5mg-0,15mg/kg dùng 4/tuần trong 4-6tháng

                       + Nếu protein niệu còn dương tính : 2mg/kg/cách nhật x 4 tuần liền

                       + Nếu liều tấn công thất bại có thể thử cho Methyl-prednison ( Solu-Medron) 30mg/kg (chuyền tĩnh mạch).x 2-3ngày trong tuần . Sau đó đánh giá lại sự đáp ứng điều trị steroid

        – Điều trị trở lại như ban đầu nếu tái phát hoặc phụ thuộc. Nếu kháng thuốc thì đổi thuốc khác.

 

        – Thuốc ức chế miễn dịch và ức chế phát triển tế bào ung thư nhóm Alkyl-Cyclophosphamide 50mg : Liều dùng 3mg/kg/ngày, uống một lần x 4-8tuần ( tổng liều < 170mg/kg ).Theo dõi công thức máu ( chú ý bạch cầu ) .

 

Một số thuốc khác

        – Levamisol

        – Indomethacin

        – Heparin

        – Chlorambucil

        – Cyclosporin…

 

3. Dự phòng

Do bệnh thường tái phát nên cần theo dõi đều đặn trong nhiều năm ( ít nhất 5 năm ) do đó phải thuyết phục bệnh nhân và bố mẹ tuân thủ chế độ điều trị nội trú và đặc biệt là ngoại trú một cách nghiêm túc, chặt chẽ qua chế độ ngoại trú lập y bạ theo dõi …Ngăn chặn các yếu tố thuận lợi dẫn đến HCTHTP tái phátTheo dõi các triệu chứng lâm sàng ( chiều cao, cân nặng, huyết áp ) cận lâm sàng ( tốc độ máu lắng, protein niệu ) tác dụng phụ của thuốc

Dấu Hiệu Hội Chứng Thận Hư Ở Trẻ Em

DẤU HIỆU HỘI CHỨNG THẬN HƯ Ở TRẺ EM

DẤU HIỆU HỘI CHỨNG THẬN HƯ Ở TRẺ EM

Hội chứng thận hư là một hội chứng khá phổ biến và thường gặp trong xã hội hiện đại ngày nay. Căn bệnh gây ra nhiều di căn nguy hiểm cho người bệnh nếu không được điều trị kịp thời. Như nhiều người nghĩ, bệnh thận hư chỉ xuất hiện ở người lớn là chủ yếu và trẻ em có nguy cơ mắc bệnh ít hơn. Vậy thận hư ở trẻ em có khác với người lớn không? Và những dấu hiệu bệnh ở trẻ em là gì ? Bài viết sau đây sẽ giải đáp thắc mắc của độc giả.

Khái niệm thận hư

Thận hư là căn bệnh do chức năng của thận bị yếu đi, suy giảm dẫn tới khả năng lọc máu của thận bị suy giảm, ảnh hưởng tới các bộ phận và cơ chế hoạt động của chúng trong cơ thể. Bệnh có thể gây nguy hiểm đến tính mạng nếu không được chữa trị kịp thời. Từ trước đến nay, bệnh thận thường chỉ xuất hiện ở người lớn nên việc phát hiện và phòng trừ thận hư ở trẻ em rất thờ ơ và không được quan tâm, đến lúc phát hiện thì bệnh đã trở nặng. Nếu ba mẹ chú ý, dấu hiệu bệnh thận cũng dễ phát hiện.

Các dấu hiệu thận hư phổ biến ở trẻ em

Dấu hiệu 1: Phù nề

Triệu chứng dễ thấy nhất ở trẻ là phù nề. Sau một đêm ngủ dậy, mắt trẻ bị phù sưng và ngày sau thì lan dần ra toàn bộ cơ thể như tay, chân, bụng, lưng. Nhiều bậc cha mẹ chủ quan khi thấy sưng ở mắt vì nghĩ là bị một con vật nào đó đốt và vài ngày sau sẽ hết. Hoặc có người nghĩ sưng toàn thân là do can bị dị ứng với thức ăn, uống thuốc dị ứng là xong. Việc uống thuốc không theo đơn của bác sĩ sẽ đe dọa tính mạng của trẻ.

Dấu hiệu 2: Tiểu ít, tiểu ra máu, tiểu rát, đục nước tiểu

Những ngày đầu, hội chứng thận hư  trẻ em chưa nặng thì có triệu chứng tiểu ít, lượng nước tiểu mỗi lần giảm đi đáng kể và khi tiểu thì rất rát. Bệnh nặng hơn thì trẻ sẽ tiểu màu đỏ hoặc màu xá xị, màu đục( tùy vào mức độ nghiêm trọng của bệnh).

Dấu hiệu 3: Nhức đầu

Trẻ sẽ có những cơn nhức đầu đột ngột, đầu đau âm ỉ, có lúc lại đau như búa bổ. Điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt thường ngày của trẻ.

Dấu hiệu 4: Bủn rủn

Thỉnh thoảng trẻ sẽ có cảm giác run rấy, tưởng lạnh nhưng không phải là lạnh thường kèm với triệu chứng như uể oải, mệt mỏi, chán nản, hoa mắt chóng mặt, ngủ nhiều, mơ nhiều. Nếu đến giai đoạn này mà bố mẹ vẫn chưa phát hiện ra bệnh thì rất nguy hiểm.

Dấu hiệu 5: Hơi thở yếu

Do thận hỏng nên lượng oxi không được cung câp đủ cho cơ thể khiến trẻ thở yếu, khò khè, kèm theo đó là mệt mỏi, đau lưng, đau chân,…

Dấu hiệu 6: Tiểu về đêm

Vì chứng năng của thận không đáp ứng được nhu cầu của cơ thể nên trẻ sẽ đái dắt và tiểu nhiều về đêm, mỗi lần tiểu với lượng rất ít.

Ngoài ra, bệnh nếu nặng gây ra thêm triệu chứng nứt ngoài hậu môn dẫn đến bệnh trĩ. Nếu được điều trị kịp thời, trẻ sẽ không bị di căn sau này vậy nên, các bậc bố mẹ nên quan tâm, chăm sóc trẻ để không có những hậu quả đáng tiếc xảy ra.

Chẩn Đoán Bệnh Hội Chứng Thận Hư Ở Người Lớn, Triệu Chứng, Nguyên Nhân Và Điều Trị Hội Chứng Thận Hư Ở Người Lớn

Hội chứng thận hư là một hội chứng lâm sàng và sinh hóa, xuất hiện khi có tổn thương ở cầu thận do nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau gây nên, đặc trưng bởi phù, protein niệu cao, protein máu giảm, rối loạn lipid máu và có thể đái ra mỡ.

Thận là cơ quan bài tiết chính của hệ tiết niệu trong cơ thể. Nó có hình hạt đậu màu nâu nhạt, mặt trước nhẵn bóng còn mặt sau sần sùi, có một bờ lồi, một bờ lõm. Mỗi quả thận có kích thước chiều dài khoảng 10 – 12.5 cm, rộng 5-6 cm, dày 3-4 cm và nặng khoảng 170g.

Thận đóng vai trò rất quan trọng trong cơ thể con người, giúp thanh thải và loại bỏ các chất độc ra khỏi cơ thể, các chức năng chính của thận bao gồm:

Chức năng lọc máu và các chất thải: Thận sẽ lọc các chất thải chỉ giữa lại protein và các tế bào máu. Các chất thải này được tiết ra, sau đó vào dịch lọc để hình thành nước tiểu.

Chức năng điều hòa thể tích máu: thận có vai trò quan trọng trong kiểm soát khối lượng dịch ngoại bào trong cơ thể bằng cách sản xuất nước tiểu. Do đó khi chúng ta uống nhiều nước thì lượng nước tiểu sẽ tăng lên và ngược lại.

Thận giúp hòa các chất hòa tan trong máu, độ pH của dịch ngoại bào và quá trình tổng hợp của các tế bào máu: thận giúp điều hòa nồng độ các ion có trong máu. Ngoài ra, thông qua việc tổng hợp vitamin D để hỗ trợ kiểm soát lượng ion canxi trong máu.

Mỗi quả thận gồm 1 triệu bộ lọc gọi là bộ lọc cầu thận để làm sạch máu có độc. Thận khỏe mạnh sẽ giữ lại những chất quan trọng được gọi là protein trong máu. Với hội chứng này, thận loại bỏ cả protein cùng với các chất thải khác ra khỏi cơ thể trong khi đi tiểu. Hội chứng thận hư gây sưng (phù), đặc biệt là ở bàn chân và mắt cá chân của bệnh nhân và làm tăng nguy cơ về các vấn đề sức khỏe khác.

Có đến 30% số bệnh nhân mắc phải hội chứng thận hư ở người lớn.

Để phòng bệnh, bệnh nhân không được tự ý dùng các thuốc ức chế miễn dịch.

Người bệnh cần phòng tránh nhiễm lạnh đường hô hấp trên, các bệnh viêm da.

Bệnh nhân không được tự ý bỏ thuốc, hoặc uống giảm liều thuốc, không dùng các thuốc không rõ nguồn gốc.

Có một chế độ ăn uống hợp lý, không uống bia, rượu; không hút thuốc lá; ăn ít thịt, giảm mỡ và tăng cường rau quả.

Bệnh nhân tránh lao động quá nặng nhọc.

Phòng tăng huyết áp, nếu bị tăng huyết áp cần phải điều trị và kiểm soát huyết áp.

Điều trị sỏi tiết niệu và hạn chế dùng muối; đề phòng nhiễm khuẩn tiết niệu và điều trị kịp thời viêm nhiễm tiết niệu.

Triệu chứng lâm sàng khi bệnh nhân mắc hội chứng thận hư:

Phù : phù tăng nhanh trong vài ngày hoặc vài tuần.

Bệnh nhân dễ dàng nhận biết bằng sự tăng cân.

Ở người lớn, cân nặng có thể tăng từ 20 – 30kg.

Bệnh nhân có thể phù mặt, đặc biệt là phù mi mắt rồi xuống chi dưới, bụng và bộ phận sinh dục.

Phù thường biểu hiện rõ ở vùng thấp của cơ thể, ấn vào chỗ phù có cảm giác mềm, lõm và không gây đau. Có thể có dịch trong ổ bụng. Thấy dịch ở màng phổi một bên hoặc hai bên.

Trường hợp phù nặng, có thể có cả dịch ở màng ngoài tim

Tiểu ít:

Bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi, kém ăn hoặc có tăng huyết áp kèm theo.

Điều trị hội chứng thận hư ở người lớn cần tuân thủ một số nguyên tắc:

Theo dõi nước tiểu ra, huyết áp, cân nặng, ion đồ, ure, creatinin hằng ngày, tính GFR

Hạn chế nước < 1 lít

Lợi tiểu (IV furosemide)

Giảm đạm niệu.

Thuốc ức chế men chuyển, ức chế TT angiotensin.

Kiểm soát huyết áp tốt, HA 125/ 75 mmHg

Bên cạnh dự phòng và điều trị các biến chứng, cần có điều trị riêng biệt từng nguyên nhân do bác sĩ chỉ định.

Các biện pháp chẩn đoán bệnh Hội chứng thận hư ở người lớn Lâm sàng:

Phù: phù là dấu hiệu lâm sàng đầu tiên cần đưa người bệnh đến bệnh viện. Phù xuất hiện nhanh, không có dấu hiệu báo trước. Phù thường to và rất to, phù toàn thân kèm theo cổ trướng, đôi khi có tràn dịch màng phổi và màng tinh hoàn. Cân nặng tăng nhanh 20% – 25% trọng lượng cơ thể. Ăn nhạt không giảm phù, phù thường kéo dài.

Tiểu ít: nước tiểu thường dưới 500ml/ 24h, có khi ít hơn chỉ vài chục ml trong ngày. Nước tiểu vàng, không đái buốt, đái dắt.

Da xanh, do phù giữ nước, niêm mạc rất hồng.

Mệt mỏi, kém ăn

Thường không sốt

Cận lâm sàng:

Triệu chứng cận lâm sàng:

Protein niệu cao: ít nhất là trên 3,5g/24h có khí nhiều tới vài chục gam trong 24h.

Protein máu giảm dưới 60g/l, đặc biệt albumin máu giảm nặng dưới 30g/l, globulin máu tăng, tỷ số A/G < 1.

Lipid máu tăng, chủ yếu là tăng cholesterol toàn phần, triglyceride và phospholipid. Tăng lipid toàn phần ít có giá trị.

Natri máu thường giảm nhẹ, kali máu giảm ít, natri niệu thấp, kali niệu tăng.

Nước tiểu thường có trụ chiết quang, bạch cầu niệu ít, không có vi khuẩn niệu.

Máu lắng tăng cao.

Điện di globulin miễn dịch: IgG giảm, IgM tăng, IgA giảm ít.

Mức lọc cầu thận bình thường, chỉ giảm khi có suy thận.

Số lượng hồng cầu, Hb, hct giảm nhẹ.

Sinh thiết thận: tùy từng mức độ tổn thương thận.

Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Protein máu giảm dưới 60g/l, albumin máu giảm dưới 30g/l

Có hạt mỡ lưỡng chiết, trụ mỡ , trụ hạt trong nước tiểu

Nguyên nhân bệnh Hội chứng thận hư ở người lớn

Nguyên nhân gây ra bệnh thận hư được chia làm hai nhóm.

Bệnh thận hư nguyên phát

Xơ chai cầu thận khu trú từng phần:

Cầu thận bị xơ hóa, trong số cầu thận bị xơ hóa thì chỉ có một số ít là có cầu thận bất thường.

Thường có tăng huyết áp, GFR giảm, cặn lắng nước tiểu bình thường.

Bệnh cầu thận màng:

Có IgG đọng ở màng cơ bản vi cầu thận (mặt ngoài).

Chiếm 30 – 50% nguyên nhân thận hư nguyên phát ở người lớn.

Giai đoạn đầu chức năng thận có thể bình thường.

Tiến triển: 50% chết trong 10 năm.

Bệnh cầu thận tăng sinh tế bào trung mô:

Có phức hợp miễn dịch đọng trên màng cơ bản của vi cầu thận

Tăng huyết áp, GFR giảm, lắng nước tiểu bất thường.

Tiến triển từ từ : 50 – 60% chết trong 10 năm.

Bệnh thận hư thứ phát

Sau một bệnh nhiễm trùng:

Do thuốc:

Thuốc chống nọc rắn, chống độc tố, thuốc cản quang.

Thủy ngân hữu cơ và vô cơ.

Hội chứng thận hư trong các bệnh tổng quát:

Đối tượng nguy cơ bệnh Hội chứng thận hư ở người lớn

Những đối tượng có nguy cơ mắc hội chứng thận hư ở người lớn:

Bệnh nhân mắc các bệnh lý làm tổn thương thận như: tiểu đường, lupus, thoái hóa dạng bột, bệnh cầu thận sang thương tối thiểu và các bệnh lý thận khác.

Bệnh nhân sử dụng một số loại thuốc có thể gây ra hội chứng thận hư như: thuốc chống viêm không steroid và thuốc kháng sinh

Bệnh nhân bị bệnh nhiễm trùng làm tăng nguy cơ của hội chứng thận hư bao gồm: HIV, viêm gan B, viêm gan C và bệnh sốt rét.

Người nghiện thuốc (như heroin, đối với bệnh xơ hóa cầu thận khu trú từng đoạn)

Dùng và lạm dụng thuốc giảm đau kéo dài

Copyright © 2024 – Sitemap

Tổng Quan Về Bệnh Cầu Thận

Dấu hiệu đặc trưng của bệnh cầu thận là protein niệu, thường ở mức thận hư (≥ 3 g / ngày).

Bệnh cầu thận được phân loại dựa trên những bất thường trên xét nghiệm nước tiểu biểu hiện chủ yếu với

Protein niệu ngưỡng thận hư và biểu hiện cặn niệu trong hội chứng thận hư (trụ mỡ, thể mỡ hình ovan nhưng ít tế bào hoặc trụ tế bào)

Đái máu, thường kết hợp với protein niệu (có thể ở ngưỡng thân hư); các hồng cầu niệu thường biến dạng và thường có trụ hồng cầu hoặc trụ tế bào kết hợp (biểu hiện cặn nước tiểu trong hội chứng viêm thận)

Hội chứng thận hư có biểu hiện cặn nước tiểu trong hội chứng thận hư cùng với phù và giảm albumin máu (điển hình có tăng cholesterol máu và tăng triglycerid máu).

Hội chứng viêm thận có biểu hiện cặn nước tiểu trong hội chứng viêm cầu thận có hoặc không có tăng huyết áp, tăng creatinin huyết thanh và thiểu niệu kèm theo.

Một số bệnh cầu thận thường biểu hiện với các triệu chứng của cả hội chứng viêm thận và hội chứng thận hư. Gồm một số bệnh lý như bệnh cầu thận tơ huyết miễn dịch, viêm cầu thận màng tăng sinh (GN) và viêm thận lupus.

Sinh lý bệnh của tổn thương viêm thận và hội chứng thận hư có sự khác biệt đáng kể, nhưng có những biểu hiện lâm sàng tương đồng đáng kể – ví dụ như một vài tổn thương có thể biểu hiện với những dấu hiệu lâm sàng giống nhau – và sự xuất hiện của đái máu hay protein niệu không đủ để tiên đoán đáp ứng với điều trị hoặc tiên lượng bệnh.

Các tổn thương có xu hướng biểu hiện ở các độ tuổi khác nhau (xem Bảng: Các tổn thương cầu thận phân loại theo tuổi và triệu chứng) mặc dù có nhiều trùng lặp. Các tổn thương có thể là

Chẩn đoán

Nồng độ creatinine huyết thanh và xét nghiệm nước tiểu

Bệnh cầu thận thường được nghĩ đến khi xét nghiệm sàng lọc hoặc chẩn đoán có tăng nồng độ creatinine huyết thanh và xét nghiệm nước tiểu bất thường (đái máu có hoặc không có trụ niệu, protein niệu hoặc cả hai). Cách tiếp cận bệnh nhân bao gồm việc phân biệt giữa các triệu chứng của hội chứng viêm thận và hội chứng thận hư và xác định các nguyên nhân có thể theo tuổi bệnh nhân, bệnh kèm theo (xem Bảng: Các tổn thương cầu thận phân loại theo tuổi và triệu chứng và xem Bảng: Nguyên nhân của hội chứng thận hư) các yếu tố tiền sử (ví dụ thời gian bị bệnh, biểu hiện toàn thân, tiền sử gia đình).

Sinh thiết thận được chỉ định khi bệnh nhân chưa có tiền sử bị bệnh rõ ràng hoặc khi kết quả mô bệnh học ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương pháp điều trị và kết quả điều trị (ví dụ viêm thận lupus).

Cập nhật thông tin chi tiết về Tổng Quan Về Hội Chứng Thận Hư trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!