Xu Hướng 3/2024 # Tóm Tắt Lịch Sử Hà Nội Ngàn Năm # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Tóm Tắt Lịch Sử Hà Nội Ngàn Năm được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Theo tài liệu thế giới nghiên cứu lịch sử các thủ đô ở vùng Đông Nam Á như Viên Chăn (Lào), Phnômpênh (Campuchia), Bang Kok (Thái Lan), Kualalampe (Malaisia), Giakacta (Indonesia), v.v… thì trong số các thủ đô trên, Hà Nội là thủ đô nhiều tuổi hơn cả.

Thủ đô Hà Nội ngày nay xuất hiện trong lịch sử dân tộc Việt Nam chính thức vào năm 1010 (mùa thu tháng 7 năm Canh Tuất)  với tên gọi Thăng Long.

Nhà Lý

Người sáng lập Thăng Long là Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) cũng là người khai sinh triều đại Lý huy hoàng trong lịch sử Việt Nam. Ông là một nhà chính trị, một nhà quấn sự, một nhà văn hoá lớn.

Lên ngôi ở Hoa Lư (Ninh Bình), thấy vùng đất này không thuận cho việc phát triển thế nước đi lên, Lý Thái Tổ đã quyết định dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La. Khi đoàn thuyền của nhà vua vừa cập bến sông Nhị (sông Hồng) có rồng vàng hiện ra, thấy điềm lành, vua Lý cho đổi tên Đại La thành Thăng Long (Rồng bay lên) – nay là Hà Nội.

Chiểu dời đô của vua Lý Thái Tổ nối rõ mục đích dời đô là:”đóng nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế lâu dài cho con cháu đời saun. Nơi co đủ điều kĩện để thực hiện mục đích đổ chính là Thăng Long: “Ở trung tảm bờ cõi dát nước, dược cái thế rồng cuộn, hổ ngồit vị trí ỏ giữa bốn phương Đông, Tấy, Nam, Bắc tiện hình thế núi sông sau trước. Ở dó địa thế rộng mà bàng phàngy vùng đát cao mà sáng sủa, dân cư không khổ vì ngập lụt, muôn vật rát phong phú tốt tươi. Xem khảp nước Việt ta,f chỗ áy là nơi hơn cả, thật là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi đô thành bậc nhát của đé vương muôn dời”.

Tại Kinh thành Thăng Long, nhà Lý cho xây dựng nhiều lâu đài,  cung điện, đền chùa và thành luỹ bảo vệ. Từ đố, Thăng Long với  hình ảnh Rồng bay lên đẹp đẽ và tượng trưng cho khí thế vươn lên của dân tộc, mở đàu một giai đoạn phát triển lớn của đất nước. Cũng vì ý nghỉa đố, Lý Thái Tổ đặt quốc hiệu là Đại Việt. Trước đố, thế kỷ m (trước công nguyôn) Thục Phán dựng nước Âu Lạc, tự xưng là An Dương Vương cũng dời đô từ miền trung du về miền Cổ Loa. Ngày nay tại xã Cổ Loa, huyện Đông Anh ngoại thành Hà Nội, vẫn còn di tích vòng thành Cổ Loa xây đáp cách đây 23 thế kỷ.

Nhỉn vào lịch sử thăng trầm của đất nước càng thấy được vị thế của đất Thăng Long so với các vùng khác trong nước là không đâu bằng. Triều đại Lý mở đầu, định đô ở Thăng Long đã chiến tháng hoàn toàn quân xâm lược Tống (xâm lược nước ta lần thứ hai). Tháng 3-1077 Lý Thường Kiệt người con sính ra ở Thăng Long, người anh hùng dân tộc đã biết kết hợp tài tình giữa quân sự, chính trị và ngoại giao, lập nên chiến thắng cố giá trị đè bẹp mộng tưởng xâm lược nước ta của vua quan nhà Tống. Từ sau chiến thắng đố, suốt 200 năm sau, nhà Tống không dám đụng chạm đến nước ta.

Nhà Trần

Nhà Lý suy vong. Triều Trần thành lập. Vua Trần Thái lồng lên ngôi năm 1226, vẫn đống đô ở Thăng Long. Kinh thành Thăng Long được mở rộng hơn trước, khu vực cư trú của nhân dân được chia thành 61 phường.

Triều đại nhà Trần đã lập nên chiến công hiển hách: ba làn chiến tháng những đạo quân xâm lược khét tiếng của đế quốc Nguyên Mông tràn sang nước ta trong vòng 30 năm (1258 – 1288). Tại kinh thành Thăng Long, đầu năm 1285 khi giặc Nguyên đang ào ào áp sát biên giới nước ta, vua Trần Nhân Tồng triệu tập hội nghị Diên Hồng. Các cụ phụ lão những đại biểu có uy tín của nhân dân cả nước được nhà vua mời về kinh thành để hỏi kế đánh giặc. Tiếng hô đồng thanh đánh! vang lên từ hội nghị Diên Hồng lại một lần nữa khẳng định đất thiêng Thăng Long là nơi qui tụ khí phách anh hùng dân tộc.

Nhà Trần suy vong. Nàm 1400 Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần, lập ra triều Hồ và cho xây dựng kinh đô mới ở vùng An Tồn (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá) gọi là Tây Đô (nhân dân quen gọi là thành nhà Hồ). Thời kỳ này Thăng Long gọi là Đông Đô.

Lợi dụng sự suy yếu của các vương triều nước ta, cuối năm 1406, nhà Minh huy động tới 20 vạn quân gồm bộ binh và kỵ binh vượt biên giới phía bắc vào xâm lược nước ta. Nhà Hồ chống đỡ với quân xâm lược không được bao lâu thì cha con Hồ Quí Ly bị giặc bắt đưa về giết ở Trung Quốc. Nãm 1407 giặc Minh chiếm Kinh thành Thàng Long, đổi tên là Đông Quan.

Nhà Lê

Lê Lợi khởi nghỉa ở Lam Sơn (Thanh Hoá), sau 10 năm chiến đấu đã đánh đuổi toàn bộ quân Minh ra khỏi bờ cõi, giải phống kinh thành Đông Quan và sau đổ đổi tên là Đông Kinh.

Tới triều Mạc, kinh thành trở lại tên gọi Thăng Long (1527).

Thời Lê – Trịnh (1533 – 1786) Thăng Long gồm hai huyện Thọ Xương và Quảng Đức thuộc phủ Phụng Thiên.

Nhà Nguyễn

Năm 1802 Gia Long lập triều Nguyễn, đổng đô ở Phú Xuyên (Huế). Thãng Long vẫn là thủ phủ của 11 trấn Bắc Thành, nhưng chữ Long là Rồng được đổi thành chữ Long là Thịnh.

Năm 1831 Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội bao gồm .thành Thăng Long và một số vùng lân cận. Tền gọi Hà Nội cố từ đđ.

Năm 1858 triều đình Nguyễn bán nước, dâng Hà Nội cho Pháp. Thủ đô trở thành một thành phố thuộc Pháp suốt hơn nửa thế kỷ và vẫn mang tên là Hà Nội.

Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2- 9-1945 tại thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, công bố với thế giới khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Hà Nội trở lại vị trí thủ đô của một nước độc lập.

Thực dân Pháp tiếp tục dã tâm xâm lược nước ta. Dưởi sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân dân ta lại trường kỳ kháng chiến chống Pháp suốt 9 năm (1946 – 1954) và kết thúc thắng lợi bàng chiến dịch Điện Biên Phủ toàn tháng ngày 7- 5-1954.

Năm 1954

Hội nghị Genève (Thuỵ Sĩ) công nhận chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam dân chủ cộng hoà từ vỉ tuyến 17 trở ra Bác. Ngày 10-10-1954 thủ đô Hà Nội được giải phóng khỏi ách thực dân Pháp.

Trước khi rút khỏi Việt Nam, Pháp đã “bàn giao” miền Nam cho đế quốc Mỹ. Thế là nhân dân ta lại phải một làn nữa kháng chiến chống Mỹ hơn 20 năm và kết thúc bằng chiến thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vào ngày 30- 4- 1975, giải phống hoàn toàn miền Nam, thu giang sơn về một mối. Đất nước được thống nhất, Quốc hội khoá VI họp ngày 25-4-1976 đã chọn Hà Nội làm thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Lịch sử Hà Nội thời kỳ đổi mới

Từ ngày ấy đến nay, Hà Nội đã trải qua nhiều tháng năm phấn đấu gian khổ để đi lên cùng cả nước.

Từ hai thập kỷ gần đây, Hà Nội không những mở rộng về bốn hướng mà đã vươn lên tầm cao bằng những công trình xây dựng ngày càng đồ sộ. Chiều dài cắc đường phố’trong nội thành cộng lại tới gàn 400 km. Hà Nội ngày xưa trong tâm tưởng mọi người là 36 phố phường thì ngày nay con số đđ đã gấp lên nhiều lần, tới gần 500 phó phường (con số này sẽ còn tăng lên nữa).

Số dân Hà Nội hiện nay nếu kể cả ngoại thành là hơn 2 triệu người, ơ thời điểm này, người Hà Nội đang cùng với nhân dân cả nước chuẩn bị hành trang để kỷ niệm 1000 năm thành lập Hà Nội – nghìn nãm Thăng Long (1010 – 2010).

Theo quy hoạch đang được thực hiện thì đến năm 2010, Hà Nội sẽ có khoảng 3 triệu dân cả nội và ngoại thành. Diện tích thành phố sẽ lên tới 8000 km2. Xung quanh nội thành là các khu công nghiệp công nghệ cao, các thành phố vệ tinh… Lúc đđ số quận và số đường phố sẽ tăng khoảng gấp đôi hiện nay.

Tên gọi Hà Nội qua các thời

Địa điểm và tên gọi thủ đô Việt Nam từ thời vua Hùng đến nay:

Thời Hùng Vương (2879 – 258 trước CN) thủ đô ở Phong Châu (nay thuộc Phú Thọ) ngày nay còn di tích Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh. Nãm 257 trước CN, Thục Phán thống nhất được hai nước Âu Vỉệt và Lạc Việt, đặt quốc hiệu là Âu Lạc, xưng là An Dương Vương, đổng đô ở Phong Châu (Phú Thọ).

Sau chiến công vỉ đại đánh tháng 50 vạn quân xâm lược nhà Tần, An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Từ đố Cổ Loa trở thành kinh đô (nay thuộc ngoại thành Hà Nội).

Thời Trưng Vương (40 – 43) tức thế kỷ I sau CN thủ đô ở Mê Linh (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc).

Thời tiền Lý (542 – 602) thủ đô ở Long Biên (nay thuộc Hà Nội).

Thời Bố Cái Đại Vương và họ Khúc, họ Dương (thế kỷ vm đến thế kỷ X) thủ đô ở Đại La (nay là Hà Nội).

Thời kỳ Ngô Quyền (938 – 967) thủ đô ở Cổ Loa (nay thuộc ngoại thành Hà Nội).

Thời nhà Đinh và (tiền) Lê (968 – 1009) thủ đô ở Hoa Lư (Ninh Bình).

Thời Lý, Trần, Lê thế kỷ XI đến thế kỷ xvm, thủ đô ở Thảng Long, Hà Nội).

Thời Hồ (1400 – 1407) thủ đô rời về Thanh Hoá gọi là Tây Đô (Thăng Long gọĩ là Đông Đô).

Sau 10 nãm kháng chiến chống quàn Minh giành thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi vua năm 1428, đặt thủ đô ở Thăng Long và đổi tên là Đông Kinh.

Thời lầy Sơn, vua Quang Trung (1788 – 1801) đặt thủ đô ở Phú Xuân (Huế).

Thời Nguyễn (1802 – 1945) thủ đô cũng ở Phú Xuân.

Thời Việt Nam DCCH (từ 1945 trở đi) thủ đô là Hà Nội (Thăng Long xưa).

Với bề dày gần 1000 năm lịch sử, Hà Nội có gần 500 di tích lịch sử văn hoá đã được Bộ Vãn hoá thông tin công nhận và xếp hạng di tích.

Thành cổ Hà Nội

Cố từ đời Lý (thế kỷ 11). Lúc đầu thành bằng đất, về sau xây bằng gạch. Phía ngoài thành cố đảo, ngòi Ngự (con ngòi dành

riêng cho thuyền của vua nối liền với sông Hồng). Như vậy thuyên vua có thể theo sông TO Lịch rồi ngòi Ngự để ghẻ vào cung vua.

Thành có bốn cửa mở theo bốn hướng Đông, Tầy, Nam, Bắc. Bến sông Đông Bộ Đầu (gần dốc phố Hàng Than và Hoè Nhai) là quân cảng chính cùa kinh thành. Phía trước cửa Tầy (trước chùa Một Cột) là một quảng trường, thời nhà Lý hay mở hộí mừng sinh nhật vua. Phía cửa Nam có chợ và quảng trường nơi quan dân mở hội tung còn ngày Tết (chỗ vườn hoa Cửa Nam ngày trước, nay là các làn đường giao thông mới mở). Cửa Bắc mở ra trước sông lồ Lịch tức đường Phan Đình Phùng ngày nay.

Trong thành có núi Nùng, trên xây điện Kính Thiên. Thành chia làm 2 khu: khu Cấm thành là nơi vua ở, cổ cung Long An, Long Thuỵ để vua nghỉ ngơi và cung Thuý Hoa là nơi ở của vài trăm cung tần mỹ nữ. Bên ngoài Cấm thành cd điện Càn Nguyên, phía trước điện là hồ Long Tri cổ trường đấu voi, cũng là nơi để cho quân sĩ thi tập múa võ, đá càu, hất phất… Ngoài ra còn có làu chuông, treo quả chuông lớn để ai cố việc oan ức thì lên đánh chuông sẽ được vua đích thân nghe và xử.

Xung quanh thành cố đắp một luỹ đất vừa làm thành, vừa làm đê, đđ là La Thành, hay còn gọi là Đại La Thành nay vẫn còn dấu vết. La Thành cố trổ nhiều cửa ô, c<5 lính canh gác như cửa ô Càu Giấy, cửa ô Yên Phụ, cửa ô Đống Mác, cửa ô Chợ Dừa…

Cuối thời Lý, Hoàng cung bị đốt cháy gần hết. Nhà Lê lên, phải xây dựng lại.

Đời Lê, thành được mở rộng sang phía Đông, chúa Trịnh lại xây phủ ở phía Đông Nam.

Năm 1803 vua Gia Long nhà Nguyễn đòng đô ở Huế, ra lệnh phá thành cổ Hà Nội, để xây thành mới vào năm 1805 theo kiểu vauban của Pháp. Thành hình vuông, bốn gdc có múi khế nhô ra, chu vi 5.142m, cao 4,4m, dày 16m. Mỗi phía có một cửa, riêng phía Nam cò 2 cửa. Cửa Bắc còn đến ngày nay vẫn mang vết đạn đại bác cùa quân Pháp bắn ngày 25- 4-1882 trong đợt Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai. Vị tướng giữ thành là Hoàng Diệu biết không giữ nổi thành đa tự treo cổ ở cây đa Võ Miếu (nay ở cạnh sổ nhà 32 đường Điện Biên Phủ).

Thành này cũng đã bị người Pháp phá huỷ từ nãm 1884 – 1887, nay chỉ còn lại vết tích điện Kính Thiên.

Điện Kính Thiên Xây năm 1428 đã bị phá hết nay chỉ còn lại nền và thềm đá tạc vào năm 1467. Đđ là bốn bậc đá chạm chạy dài suốt 8 cấp tạo thành 3 lối đi lên điện. Hai thành giữa chạm hình rồng uốn khúc. Hai dãy thành bên chạm những khối mây lửa cuồn cuộn và hoa lá cách điệu thể hiện tài nghệ chạm khắc đá của các nghệ nhân xưa.

Trong kho tàng cổ vật của Hà Nội, phải kể đến 3 pho tượng bàng đồng đen cỡ lớn, đặt thờ tại ba đền, chùa nội, ngoại thành.

–        Tượng Trấn Vũ bằng đồng đen đặt thờ tạỉ đền Quán Thánh (quận Ba Đình): tượng đúc năm 1677 đời vua Lê Hy Tồng. Tượng nặng 3.600 kg, cao 3,28m, chu vi 3,48m. Tượng cố hình dáng như một đạo sĩ, tốc bỏ xoã, một tay bất quyết,, một tay chổng thanh gươm lên lưng con rùa, có một con rắn quấn vào thanh gươm.

–        Tượng Trấn Vũ bằng đồng đen đặt thờ ở đền Trấn Vũ xã Thạch Bàn huyện Gia Lâm. Tượng được khởĩ công đúc từ năm 1788 đến năm 1802 mới hoàn thành, nặng 4.000 kg, cao 3,8m, chu vi tới 8m. Tượng ngồi uy nghi mặc áo giáp, đội mũ, chân để trần, cũng một tay bát quyết, một tay chống gươm cố rắn quấn.

–        Pho tượng đồng thứ ba đúc gần đây nhất và cũng co trọng lượng lớn nhất Việt Nam là tượng Phật A- di- đà đặt thờ tại chùa Ngũ Xá (quận Ba Đình). Tượng nặng 9.500 kg, cao 3,95m, chu vi 10,5 m, va ĩ rộng 2,3m, mắt và miệng đo theo chiều ngang bầng 20 cm, tai dài hơn 60 cm theo chiều dọc. Tượng đúc năm 1952 do kíp thợ đúc đòng của làng Ngũ Xá vốn nổi tiếng về kỹ thuật đúc đồng của Hà Nội đảm nhiệm.

Tóm tắt lịch sử Hà Nội ngàn năm

5

(

0

) votes

) votes

Tóm Tắt Lịch Sử Nhật Bản

Tóm tắt các sự kiện chính trong lịch sử Nhật Bản, từ thời tối cổ (TCN) đến nay.

1. Thời kì ban đầu (đến năm 710 sau CN)

– 660 trước CN theo truyền thuyết (Kojiki và Nihon shoki), Thiên hoàng Jimmu (dòng dõi của nữ thần Mặt Trời, nữ thần quan trọng nhất trong Thần đạo) lên ngôi và là Thiên hoàng đầu tiên của Nhật Bản. a. 13000 – 300 trước CN thời Jomon (xoắn thừng), đồ gốm nung không men trang trí bằng những mô típ hoa văn như dây thừng xoắn. Cư dân tập trung thành những bộ lạc nhỏ săn bắn, hái lượm và đánh cá. b. 300 trước CN – 300 sau CN thời Yayoi (Yayoi là tên địa điểm khai quật khảo cổ), nghề trồng lúa phát triển giúp tạo nên cấu trúc xã hội, các phần đất được thống nhất dưới tay của các chủ đất có thế lực. Các du khách từ nhà Hán và nhà Nguỵ kể lại có nữ hoàng Himiko (hay Pimiku) cai trị Nhật Bản. Đồ gốm đẹp hơn, màu nâu tươi, không có hoa văn nhưng hình dáng cân đối, tinh tế mà giản dị (đồ đất kiểu Yayoi). Nền văn hoá đồ đồng từ Trung Quốc (nhà Hán) du nhập vào Nhật Bản. Đồ sắt từ Triều Tiên cũng được mang vào Nhật Bản. c. 300 – 710 thời kofun (mộ cổ), các mộ cổ đượcxây dựng cho các nhà lãnh đạo các bộ lạc. – Giữa TK IV các thị tộc độc lập rải rác khắp Nhật Bản dần dần tập hợp lại dưới quyền thị tộc Yamato (bán đảo Yamoto nằm ở cực tây nam đảo Honshu, là cửa ngõ để văn hoá từ đại lục vào Nhật Bản). Kinh đô thường được di chuyển từ thành phố này sang thành phố khác. – Đầu TK V chữ Hán được truyền sang Nhật. – Giữa TK VI Nho giáo, Lão giáo và Phật giáo (538/552) từ Trung Quốc du nhập sang Nhật Bản. – 593 Thái tử Shotoku (Shotoku Taishi) (thuộc dòng họ Soga) trở thành nhiếp chính. Ông ban hiến pháp “Thập thất điều” (Kenpo Jushichijo), cử nhiều phái đoàn sang đại lục du học. Thập thất điều dựa trên các nguyên tắc Nho giáo, mặc dù cũng có một số yếu tô Phật giáo. Danh hiệu Thiên hoàng (Tenno) xuất hiện từ đây. – 645 dòng họ Soga bị tiêu diệt, quyền lực trở về Thiên hoàng Kotoku, hiệu là Taika, thực hiện Đại hoá cải tân (Taika nokashin), tập trung quyền lực quốc gia, chuẩn bị thành lập kinh đô.

2. Thời Nara (710 – 794)

Đây là thời định đô dầu tiên của Thiên hoàng. Kinh đô Nara được xây dựng theo kiểu mẫu Trường An nhà Đường. chịu ảnh hưởng rất lớn của văn hóa Trung Quốc. Phật giáo trở thành quốc giáo. – 710 kinh đô Nara được khởi công xây dựng có tên là Heijokyo. – 712 sử thi Kojiki (Cổ sự kí) được viết bằng tiếng Nhật. – 718 sử thư Nihonshoki (Nhật Bản thư kỉ) hay Nihongi (Nhật Bản kỉ) được viết bằng Hán văn. – Khoảng 760 bộ Manyoshu (Vạn diệp tập) hợp tuyển thơ ca 4500 bài, viết bằng chữ Nhật gọi là Manyogana (Vạn diệp giả danh). – 784 kinh đô dời sang Nagaoka.

3. Thời Heian (794 – 1192)

Đây là thời đại quý‎‎ tộc, công gia. Quyền lực từ Thiên hoàng chuyển dần sang dòng họ Fujiwara. Thật sự từ năm 898 có thể gọi là thời kì Fujiwara. Các tư tưởng, nghệ thuật từ Trung Quốc du nhập vào Nhật Bản dần dần được Nhật Bản hoá. Sự phát triển của chữ viết Kana tạo thuận lợi nền văn học Nhật Bản thực sự. – 794 Thiên hoàng Kanmu dời đô về Heian (Kyoto). – 805 Đại sư Saicho từ Trung Quốc trở về, lập Thiên thai tông. – 805 Đại sư Kobo từ Trung Quốc trở về, lập Châm ngôn tông. – 806 Hợp tuyển thơ Kokin wakashu (Cổ kim hoà ca tập), còn gọi là Kokinshu (Cổ kim tập). – 1004 – 1011 khoảng thời gian nữ sứ Murasaki Shikibu viết bộ tiểu thuyết trường thiên Genji monogatari (Truyện hoàng tử Genji). – 1016 quyền lực của dòng họ Fujiwara lên đến đỉnh cao với Fujiwara Michinaga. Sau Michinaga khả năng lãnh đạo của Fujiwara suy giảm. Các chủ đất thuê các samurai để bảo vệ trang viên, từ đó tầng lớp quân đội ngày càng có ảnh hưởng, đặc biệt là ở phía đông Nhật Bản. – 1053 Hoođo (Phượng hoàng đường) được xây. – 1068 quyền lực của dòng họ Fujiwara chấm dứt khi Thiên hoàng mới lên ngôi Go-Sanjo kiên quyết nắm quyền cai trị đất nước. – 1086 Go-Sanjo thoái vị nhưng vẫn nắm quyền từ trong hậu trường. Hình thức chính phủ mới này được gọi là chính phủ Insei. Các Thiên hoàng Insei nắm quyền lực chính trị từ 1086 đến 1156 khi Taira Kiyomori trở thành nhà lãnh đạo mới của Nhật Bản. – TK XII hai dòng họ quân sự có nguồn gốc quý tộc nắm giữ nhiều quyền lực: Minamoto (hay Genji) và Taira (hay Heike). Họ Taira thay thế các quý tộc Fujiwara ở nhiều chức vụ quan trọng, còn họ Minamoto có được kinh nghiệm quân sự nhờ mang các phần phía bắc Honshu vào sự kiểm soát của Nhật Bản trong cuộc chiến 9 năm đầu (1050 – 1059) và cuộc chiến 3 năm sau (1083 – 1087). – 1159 cuộc nổi dậy Heiji, cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa hai dòng họ, Taira Kiyomori trở thành nhà lãnh đạo Nhật Bản từ 1168 đến 1178. Ông không chỉ phải đương đầu với họ Minamoto, mà còn với các tăng lữ Phật giáo. – 1175 Đại sư Homen lập Tịnh độ tông. – 1180 – 1185 sau khi Kiyomori chết, hai dòng họ Taira và Minamoto vào cuộc chiến quyết định quyền lực (chiến tranh Gempei). 1185 họ Minamoto chiến thắng. – 1191 Thiền tông được du nhập vào Nhật Bản.

4. Thời Kamakura (1192 – 1333)

– 1192 Yorimoto trở thành tướng quân (Shogun) thiết lập chế độ Tướng phủ hay Mạc phủ (bakufu) (chính quyền của tướng quân) ở Kamakura, thuộc miền đông Nhật Bản, mở đầu cho thời đại của võ gia. Chế độ Mạc phủ tồn tại song song với chính quyền của Thiên hoàng đến năm 1868. – 1199 Yorimoto chết, bố vợ Yorimoto là Hojo Tokimawa (thuộc dòng dõi Taira) chiếm lĩnh quyền lực. – 1203 Tokimawa lập con trai Yorimoto là Minamoto Sanetomo làm tướng quân, và Tokimawa trở thành Shikken (Chấp quyền). – 1219 Sanetomo bị giết chết, dòng dõi tướng quân Minamoto bị tuyệt diệt. Từ đó về sau, họ Hojo mời dòng dõi họ Fujiwara và các thân vương thuộc hoàng tộc ở kinh đô về làm tướng quân bù nhìn. Họ Hojo thực sự chiếm quyền cai trị đất nước đến năm 1333. – 1221 nổi loạn Jokyu: Thiên hoàng Gotoba tấn công Hojo để giành quyền lực nhưng thất bại. Bằng cách tái phân phối đất tịch thu được trong cuộc nổi loạn Jokyu, họ Hojo chiếm được lòng trung thành từ những người quyền lực nhất trong đất nước. Họ Hojo thực sự chiếm quyền cai trị đất nước đến năm 1333 – 1227 Thiền sư Dogen (Đạo Nguyên) từ Trung Quốc trở về, lập Tào Động tông, một tông phái quan trọng trong Thiền học Phật giáo. – 1232 Luật Joei (Joei Shikimoku) được chính quyền của họ Hojo công bố, nó nhấn mạnh đến các giá trị Nho giáo như trung thành với chủ, và nói chung cố gắng hạn chế sự suy thoái đạo đức và kỉ luật. – 1250 Truyện chiến kí về dòng họ Hei (Taira): Heike monogatari. – 1253 Đại sư Nichiren (Nhật Liên) lập Nhật Liên tông. – 1274 – 1275 cuộc xâm lược lần thứ nhất của Mông Cổ bị đánh bại, chủ yếu vì thời tiết xấu. – 1281 cuộc xâm lược lần thứ hai của Mông Cổ bị đánh bại, cũng chủ yếu vì thời tiết xấu.

5. Thời Muromachi (1333 – 1603)

a. Thời kì Nam Bắc triều (1333 – 1392)

– 1333 Tướng phủ Kamakura (dòng họ Hojo) bị Thiên hoàng Go-Daigo lật đổ. – 1334 cuộc khôi phục Kemmu: Thiên hoàng nắm quyền lực trở lại, nhưng không kéo dài lâu. – 1338 Ashikaga Takauji tự xưng Tướng quân ở Kyoto. Thiên hoàng Go-Daigo chạy về thành Yoshino ở phía nam Kyoto (Nam triều). Đồng thời Takauji lập Thiên hoàng Misuaki (Bắc triều) ở Kyoto. Điều này có thể vì cuộc tranh cãi về việc nối ngôi của hai dòng hoàng tộc sau cái chết của Thiên hoàng Go-Saga năm 1272. – 1378 Ashikaga Yoshimitsu (cháu của Takauji) xây dựng bản doanh của Mạc phủ trên đường phố Muromachi ở kinh đô, nên được gọi chung là Mạc phủ Muromachi. – 1392 theo đề nghị của Yoshimitsu, Thiên hoàng của Nam triều thoái vị và chuyển giao những bảo vật tượng trưng cho uy quyền của nhà vua cho Thiên hoàng Bắc triều.

b. Thời Chiến quốc (Sengoku) (1467 – 1573)

Chiến tranh giữa các dòng họ võ gia và nhiều phong trào nổi dậy của nông dân. – 1457 – 1477 loạn Onin nhằm tranh giành chức Tướng quân và quân lĩnh. – 1485 khởi nghĩa nông dân ở tỉnh Yamashiro, xây dựng chính quyền tự trị. Tầng lớp tăng lữ và các giáo phái đối địch tham gia chiến tranh. – 1500 nội chiến cả nước. – 1549 Kitô giáo được truyền vào Nhật Bản.

c. Thời Azuchi-Momoyana (1573 – 1603)

– 1573 Oda Nobunaga lật đổ tướng quân cuối cùng của dòng họ Ashikaga. Mạc phủ Muromachi đến đây diệt vong. Nobunaga không xưng Tướng quân. – 1582 Nobunaga bị sát hại, chỉ mới thu phục được 30/66 tỉnh của Nhật Bản. Người kế tục ông là Toyotomi Hideyoshi. – 1590 Hideyoshi về cơ bản đã thống nhất đất nước sau khi đánh bại họ Hojo ỏ Odawara. Ông chỉ nhận làm chức quan bạch (tương đương tể tướng), nhưng thực chất nắm hết quyền hành. – 1592 và 1597 Hideyoshi hai lần mang quân sang đánh Triều Tiên. – 1587 Hideyoshi tăng cường ngược đãi các nhà truyền giáo Kitô. – 1598 Hideyoshi chết, để lại con trai là Hideyori nhờ Tokugawa Ieyasu và 4 lãnh chúa (daimyo) khác phò tá.

6. Thời Edo (Tokugawa, 1603 – 1868)

Thời của thị dân và thương gia, được so sánh với thời Phục Hưng bên châu Âu. – 1600 Tokugawa Ieyasu đập tan các nhóm nổi loạn ở chiến trường Sekigahara, tự xưng “Tướng quân”, lập Mạc phủ ở Edo. – 1603 Ieyasu được Thiên hoàng phong “Chinh di đại tướng quân”. Ieyashu tăng cường ngoại thương. – Từ 1614 Ieyasu tăng cường ngược đãi Kitô giáo. – 1615 Ieyashu chiếm thành Osaka và tiêu diệt thị tộc Toyotomi, ông và những người tiếp nối không còn kẻ thù. Hoà bình được thiết lập suốt thời Edo. Vì vậy các võ sĩ (samurai) không chỉ học nghệ thuật chiến đấu mà còn học văn chương, triết học và nghệ thuật, ví dụ nghi thức uống trà… – 1639 Nhật Bản gần như cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. – 1681 thi hào Matsuo Basho bắt đầu hoàn thiện thể thơ haiku (thơ 17 âm tiết). – 1682 Ihara Saikaku bắt đầu viết các tác phẩm tiểu thuyết về thị dân. – 1823 hoạ sĩ Hokusai vẽ bộ tranh “Ba mươi sáu cảnh núi Fuji”. – 1853 và 1854 đô đốc Perry (Mĩ) đến Nhật.

7. Thời cận đại và hiện đại (từ 1868 – )

a. Thời Meiji (1868 – 1912)

Trước áp lực trong cũng như ngoài nước, chế độ Tướng phủ tan rã. Quyền lực phục hồi về Thiên hoàng. – 1867 Matsuhito lên ngôi, hiệu là Thiên hoàng Meiji (Minh Trị). – 1868 dời đô về Edo, đặt tên mới là Tokyo (Đông Kinh). Như vậy các Thiên hoàng đã từng đóng đô ở Nam kinh Nara, Tây kinh Kyoto và cuối cùng là Tokyo. – 1872 đường xe lửa đầu tiên nối Tokyo và Yokohama. – 1889 ban hành Hiếp pháp Meiji (hiệu lực đến năm 1946). – 1894 – 1895 chiến tranh Trung – Nhật. – 1904 – 1905 chiến tranh Nga – Nhật. Chiến thắng cả Trung Quốc và Nga, Nhật Bản trở thành cường quốc. Nhật Bản được bảo hộ Triều Tiên.

b. Thời chủ nghĩa quân phiệt (1912 – 1945)

– 1912 Thiên hoang Meiji chết. Thiên hoàng Taisho lên ngôi (1912 – 1926). Chấm dứt thời kỳ cai trị của nhóm người thiểu số và chuyển sang chế độ nghị viện và các đảng dân chủ. – 1914 tham gia Thế chiến I, ở phía Đồng Minh, nhưng chỉ đóng vai trò nhỏ bé trong cuộc chiên chống quân đội thực dân Đức ở đông Á. – 1923 động đất lớn ở Kanto (vùng Tokyo – Yokohama). – 1931 sự kiện Mãn Châu, Nhật Bản chiếm đóng Mãn Châu và thành lập Mãn Châu Quốc (Manchukuo) vào năm 1932. – 1937 chiến tranh Trung Nhật lần thứ hai. – 1940 liên kết với phát xít Đức – Ý, tham chiến ở Đông Nam Á và Thái Bình Dương. – 1945 Nhật Bản đầu hàng sau khi 2 quả bom nguyên tử được quân đội Mĩ thả xuống Hiroshima và Nagasaki.

c. Thời hậu chiến (1945 – )

– 1945 – 1952 Mĩ chiếm đóng Nhật Bản: lần đầu tiên Nhật bị quân nước ngoài chiếm đóng. – 1946 hiến pháp mới được ban hành, Thiên hoàng mất tất cả quyền lực về chính trị và quân sự và chỉ là biểu tượng của quốc gia. Áp dụng chế độ phổ thông đầu phiếu và bảo đảm nhân quyền. Nhật Bản bị cấm lãnh đạo chiến tranh và duy trì quân đội. Thần đạo và nhà nước được tách biệt rõ ràng. – 1954 Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản được thành lập. Sau khi bại trận, Nhật Bản nhanh chóng phục hồi và phát triển kinh tế với tốc độ “thần kì”. Các triều đại Thiên hoàng từ 1868: – 1868 – 1912 Thời Meiji – 1912 – 1926 Thời Taisho – 1926 – 1989 Thời Showa – 1989 – nay Thời Heisei: Thiên hoàng Akihoto lên ngôi và là Thiên hoàng thứ 125.

————————–

Nguồn:

“Các thời đại lịch sử Nhật Bản“, by Yoshikune_np, nhatban.net

Tóm Lược Lịch Sử Việt Nam, Tóm Tắt Lịch Sử Việt Nam Trong 10 Phút

Tóm tắt lịch sử Việt Nam, Học lịch sử Việt Nam trong 10 phút

– Sự hình thành Nước Văn Lang và Nước Âu Lạc

+ Các Vua Hùng Vương đã thay nhau trị vì nước Vãn Lang+ Đến thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, An Dương Vương lập nên nước âu Lạc và vết tích Thành Cổ Loa vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

Lịch sử các Triều đại phong kiến Việt Nam:

Trang sử mới của lịch sử Việt Nam được mở ra vào đầu thế kỷ thứ 10 khi mà các triều đại Ngô, đinh, Tiền Lê đã vững chắc, đoàn kết và có đủ sức mạnh để bảo vệ nền độc lập tự chủ của đất nước

Triều đại Ngô: ( 939 – 965 ) 26 năm với 5 vị Vua tên nước

Vạn Xuân kinh độ tại Cổ Loa

1. Tiền Ngô Vương – Ngô Quyền ( 939-944):2. Dương Bình Vương – Dương Tam Kha (Là em vợ là cướp ngôi) (944-950)3. Nam Tấn Vương – Ngô Xương Căn (con thứ hai của Ngô Quyền) (950-965)4. Thiên Sách Vương – Ngô Xương Ngập (Cháu Ngô Quyền) 951-959)Trong giai đoạn 951 – 959 nước ta có 2 Vua5. Ngô Sứ Quân – Ngô Xương Xí (965)

Kể từ khi Dương Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô năm 944, các nơi không chịu thuần phục, các thủ lĩnh nổi lên cát cứ một vùng và đem quân đánh chiếm lẫn nhau. Loạn 12 sứ quân kéo dài hơn 20 năm (944-968) và kết thúc khi Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt – nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên trong lịch sử.

Triều Đinh: ( 968 – 980) 12 năm với 2 đời vua có tên Quốc hiệu là

Đại Cồ Việt kinh đô tại Hoa Lư

1. Đinh Tiên Hoàng – Đinh Bộ Lĩnh (968-979)2. Đinh Phế Đế – Đinh Toàn (979-980)

1. Lý Thái Tổ – Lý Công Uẩn (1010 – 1028) năm 1010 dời đô về Thăng Long2. Lý Thái Tông – Lý Phật Mã (1028 – 1054) năm 1054 đổi tên3. Lý Thánh Tông – Lý Nhật Tôn (1054 – 1072)4. Lý Nhân Tông – Lý Càn Đức (1072 – 1128) – Quốc tử giám đầu tiên được lập vào năm 1076 tại Kinh thành Thăng Long5. Lý Thần Tông – Lý Dương Hoán (1128 – 1138)6. Lý Anh Tông – Lý Thiên Tộ (1138 – 1175)7. Lý Cao Tông – Lý Long Trát (1176 – 1210)8. Lý Huệ Tông – Lý Sảm (1211 – 1224)9. Lý Chiêu Hoàng – Lý Phật Kim (1224 – 1225)

Dưới sự đạo diễn của Trần Thủ Độ, Lý Huệ Tông bị ép đi tu, nhường ngôi vua cho con gái là công chúa Chiêu Thánh (lúc đó mới 7 tuổi) niên hiệu là Lý Chiêu Hoàng. Cũng dưới sự đạo diễn của Trần Thủ Độ, Trần Cảnh (8 tuổi) là con ông Trần Thừa được đưa vào hầu cận Lý Chiêu Hoàng và Trần Thủ Độ tung tin là Lý Chiêu Hoàng đã lấy chồng là Trần Cảnh.

Ngày 21 tháng 10 năm Ất Dậu (1225), Lý Chiêu Hoàng mở hội lớn ở điện Thiên An, trước bá quan văn võ, Chiêu Hoàng cởi hoàng bào mời Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế đổi niên hiệu là Kiến Trung năm thứ nhất, dựng lên triều đại nhà Trần từ đấy.

Đời Trần: (1226 – 1400 ) 175 năm với 12 đời Vua1. Trần Thái Tông (Trần Cảnh, 1225 – 1258)2. Trần Thánh Tông (Trần Hoảng, 1258 – 1278) 3. Trần Nhân Tông (Trần Khâm, 1279-1293) Năm 1289 đã phong Trần Quốc Tuấn là “Hưng Đạo đại vương”. Cách gọi đầy đủ tước hiệu được phong là “Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn”. Dân gian và đời sau gọi tắt là “Trân Hưng Đạo” 4. Trần Anh Tông (1293 – 1314)5. Trần Minh Tông (1314 – 1329)6. Trần Hiến Tông (1329 – 1341)7. Trần Dụ Tông (1341 – 1369)8. Trần Nghệ Tông (1370 – 1372)9. Trần Duệ Tông (1372-1377)10. Trần Phế Đế (1377-1388)11. Trần Thuận Tông (1388-1398)12. Trần Thiếu Đế (1398-1400)Tên huý là Trần Án, mưói 3 tuổi lên kế nghiệp tức là Thiếu Đế. Hồ Quý Ly xưng là Khâm đức Hưng liệt Đại Vương. Ngày 28 tháng 2 năm Canh Thìn – 1400, Hồ Quý Ly bức Thiếu Đế nhường ngôi, phế làm Bảo Ninh Đại Vương.. Triều Trần kể từ Trần Thái Tông Đến Trần Thiếu Đế là 12 đời vua, trị vì được 175 năm.

Nhà Hồ (1400 – 1407) 7 năm với 2 đời Vua đổi tên

Quốc hiệu là Đại Ngu kinh đô tai Tây Đô (Thanh Hóa)

(Ngu có nghĩa Yên Vui)1. Hồ Quý Ly (1400-1401)2. Hồ Hán Thương (1401-1407)Nhà Minh lấy cớ Hồ Qúy Ly cướp ngôi nhà Trần, đem quân sang đánh chiếm nước ta. Ngày 20 tháng 1 năm 1407, quân Minh hạ thành Đa Bang (Ba Vì), bố con Hồ Quý Ly bỏ chạy vào Thanh Hoá, đến ngày 17/6/1407, quân Minh bắt được cha con Hồ Qúy Ly.

Thời Hâu trần: ( 1407 – 1414)7 năm với 2 đời Vua1. Giản Định Đế – Trần Ngỗi (1407-1409)2. Trần Trùng Quang – Trần Quý Khoáng (1409-1414)Tháng 4 năm Giáp Ngọ – 1414, do quân ít không thể chống lại được với quân Minh đã bắt được Trần Quý Khoáng, Đặng Dung, Nguyễn Suý giải về Trung Quốc, trên đường đi vua tôi nhà Hậu Trần đã nhảy xuống biển tự tử để tỏ rõ khí phách, nhà Hậu Trần chấm dứt từ đó

Thời kỳ Bắc thuộcSau khi chiếm được Đại Việt, quân Minh chia nước ta thành quận huyện để cai trị. Chúng bắt nhân dân ta làm tôi tớ, thuế má lao dịch nặng nề, cuộc sống vô cùng cực khổ. Ngày Mậu Thân, tháng Giêng năm Mậu Tuất (7/2/1418), Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa ở hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, trấn Thanh Hoá. Có quân sư Nguyễn Trãi dâng sách Bình Ngô nhằm thu phục lòng người, cháu nội của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán là Trần Nguyên Hãn và nhiều nhân tài, hào kiệt các nơi tham gia. Ngày 3/1/1428, nghĩa quân hoàn toàn thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, lập nên triều đại nhà Lê. Sử gọi là Hậu Lê để phân biệt với Tiền Lê 980-1009 do Lê Hoàn sáng lập.

Lê sơ – Hậu Lê (1428-1527) 10 đời vua trong 100 năm đổi tên nước là

Đại Việt kinh đô tại Đông Kinh

(Hoàng thành Thăng Long ngày nay)Lê Thái Tổ – Lê Lợi (1428-1433)Lê Thái Tông – Lê Nguyên Long (1433-1442)Lê Nhân Tông – Lê Bang Cơ (1442-1459) Lê Thánh Tông – Lê Tư Thành (1460-1497)Lê Hiến Tông – Lê Sanh (1498-1504)Lê Túc Tông – Lê Thuần (6/6/1504-7/12/1504)Lê Uy Mục – Lê Tuấn (1505-1509)Lê Tương Dực – Lê Oanh (1509-1516)Lê Chiêu Tông – Lê Y (1516-1522)Lê Cung Hoàng – Lê Xuân (1522-1527)Ngày 15 tháng 6 năm Đinh Hợi – 1527, Mạc Đăng Dung đem quân từ Cổ Trai vào kinh đô Thăng Long ép vua phải nhường ngôi, bắt Vua và Thái hậu tự tử. Như vậy Lê Cung Hoàng ở ngôi được 5 năm, thọ 21 tuổi.

Chiến tranh Lê – Mạc

Nhà Mạc (1527 – 1593) đặt kinh đô tại Cao Bình – TP Cao Bằng ngày nay Mạc Thái Tổ – 1527-1529 Mạc Mục Tông – 1562-1592 Mạc Cảnh Tông – 1592-1593 Mạc Đại Tông – 1593-1625 Mạc Minh Tông – 1638-1677 Mạc Đức Tông – 1681-1683 (cuối cùng) Tàn dư họ mạc còn tồn tại đến năm 1593

Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài hơn 150 năm Trịnh – Nguyễn phân tranh là thời kỳ phân chia lãnh thổ giữa chế độ “vua Lê chúa Trịnh” ở phía Bắc sông Gianh (Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn cai trị ở miền Nam (Đàng Trong) và kết thúc khi nhà Tây Sơn lật đổ cả chúa Nguyễn lẫn chúa Trịnh. Ban đầu, cả thế lực họ Trịnh và họ Nguyễn đều mang khẩu hiệu “phù Lê diệt Mạc” để lấy lòng thiên hạ và thề trung thành với triều Hậu Lê. Sau khi nhà Mạc đã bị đánh đổ, trên danh nghĩa, cả Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn đều là 2 vị bề tôi của nhà Hậu Lê, cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài đều là lãnh thổ của nhà Lê. Nhưng trên thực tế thì cả hai tập đoàn phong kiến này đều tạo thế lực cát cứ cho riêng mình như 2 nước riêng biệt, vua nhà Hậu Lê đã không còn thực quyền nên không ngăn chặn được sự phân tranh giữa hai họ Trịnh – Nguyễn Nhà Nguyễn ở đang trong đã mở rộng bờ cõi bằng việc diệt Chiêm Thành, lấn sang Chân Lạp để mở mang bờ cõi. Hai bên đều có những chúa cai trị giỏi nên ổn định được lãnh thổ suốt hơn 150 năm.

Lê Trung Hưng – Hậu Lê với 16 đời vua Lê nối tiếp nhau trong 256 năm kinh đô tại Đông Kinh (Hoàng Thanh Thăng Long ngày nay)Trang Tông 1533-1548Trung Tông 1548-1556Anh Tông 1556-1573Thế Tông 1573-1599Kính Tông 1600-1619Thần Tông 1619-1643 và 1649-1662Chân Tông 1643-1649Huyền Tông 1663-1671Gia Tông 1672-1675Hy Tông 1676-1704Dụ Tông 1705-1728Hôn Đức Công 1729-1732Thuần Tông 1733-1735Ư Tông 1735-1740Hiển Tông 1740-1786. Sinh ra công chúa Lê Ngọc Hân sau này là vợ của Nguyên HuệChiêu Thống 1787-1789Trịnh Bồng tự lập làm nguyên soái Yến Đô vương và lấn át nhà vua khiến cho triều chính rối ren, chém giết lẫn nhau. Nguyễn Huệ khi đó là Bắc Bình Vương kéo quân ra Bắc dẹp loạn rồi lại rút quân về Phú Xuân.

1. Trần Thái Tông (Trần Cảnh, 1225 – 1258)2. Trần Thánh Tông (Trần Hoảng, 1258 – 1278)3. Trần Nhân Tông (Trần Khâm, 1279-1293) Năm 1289 đã phong Trần Quốc Tuấn là “Hưng Đạo đại vương”. Cách gọi đầy đủ tước hiệu được phong là “Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn”. Dân gian và đời sau gọi tắt là “Trân Hưng Đạo”4. Trần Anh Tông (1293 – 1314)5. Trần Minh Tông (1314 – 1329)6. Trần Hiến Tông (1329 – 1341)7. Trần Dụ Tông (1341 – 1369)8. Trần Nghệ Tông (1370 – 1372)9. Trần Duệ Tông (1372-1377)10. Trần Phế Đế (1377-1388)11. Trần Thuận Tông (1388-1398)12. Trần Thiếu Đế (1398-1400)Tên huý là Trần Án, mưói 3 tuổi lên kế nghiệp tức là Thiếu Đế. Hồ Quý Ly xưng là Khâm đức Hưng liệt Đại Vương. Ngày 28 tháng 2 năm Canh Thìn – 1400, Hồ Quý Ly bức Thiếu Đế nhường ngôi, phế làm Bảo Ninh Đại Vương.. Triều Trần kể từ Trần Thái Tông Đến Trần Thiếu Đế là 12 đời vua, trị vì được 175 năm.1. Hồ Quý Ly (1400-1401)2. Hồ Hán Thương (1401-1407)Nhà Minh lấy cớ Hồ Qúy Ly cướp ngôi nhà Trần, đem quân sang đánh chiếm nước ta. Ngày 20 tháng 1 năm 1407, quân Minh hạ thành Đa Bang (Ba Vì), bố con Hồ Quý Ly bỏ chạy vào Thanh Hoá, đến ngày 17/6/1407, quân Minh bắt được cha con Hồ Qúy Ly.1. Giản Định Đế – Trần Ngỗi (1407-1409)2. Trần Trùng Quang – Trần Quý Khoáng (1409-1414)Tháng 4 năm Giáp Ngọ – 1414, do quân ít không thể chống lại được với quân Minh đã bắt được Trần Quý Khoáng, Đặng Dung, Nguyễn Suý giải về Trung Quốc, trên đường đi vua tôi nhà Hậu Trần đã nhảy xuống biển tự tử để tỏ rõ khí phách, nhà Hậu Trần chấm dứt từ đóSau khi chiếm được Đại Việt, quân Minh chia nước ta thành quận huyện để cai trị. Chúng bắt nhân dân ta làm tôi tớ, thuế má lao dịch nặng nề, cuộc sống vô cùng cực khổ. Ngày Mậu Thân, tháng Giêng năm Mậu Tuất (7/2/1418), Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa ở hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, trấn Thanh Hoá. Có quân sư Nguyễn Trãi dâng sách Bình Ngô nhằm thu phục lòng người, cháu nội của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán là Trần Nguyên Hãn và nhiều nhân tài, hào kiệt các nơi tham gia. Ngày 3/1/1428, nghĩa quân hoàn toàn thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, lập nên triều đại nhà Lê. Sử gọi là Hậu Lê để phân biệt với Tiền Lê 980-1009 do Lê Hoàn sáng lập.(Hoàng thành Thăng Long ngày nay)Lê Thái Tổ – Lê Lợi (1428-1433)Lê Thái Tông – Lê Nguyên Long (1433-1442)Lê Nhân Tông – Lê Bang Cơ (1442-1459)Lê Thánh Tông – Lê Tư Thành (1460-1497)Lê Hiến Tông – Lê Sanh (1498-1504)Lê Túc Tông – Lê Thuần (6/6/1504-7/12/1504)Lê Uy Mục – Lê Tuấn (1505-1509)Lê Tương Dực – Lê Oanh (1509-1516)Lê Chiêu Tông – Lê Y (1516-1522)Lê Cung Hoàng – Lê Xuân (1522-1527)Ngày 15 tháng 6 năm Đinh Hợi – 1527, Mạc Đăng Dung đem quân từ Cổ Trai vào kinh đô Thăng Long ép vua phải nhường ngôi, bắt Vua và Thái hậu tự tử. Như vậy Lê Cung Hoàng ở ngôi được 5 năm, thọ 21 tuổi.Chiến tranh Lê – MạcMạc Thái Tổ – 1527-1529Mạc Mục Tông – 1562-1592Mạc Cảnh Tông – 1592-1593Mạc Đại Tông – 1593-1625Mạc Minh Tông – 1638-1677Mạc Đức Tông – 1681-1683 (cuối cùng) Tàn dư họ mạc còn tồn tại đến năm 1593Trịnh – Nguyễn phân tranh là thời kỳ phân chia lãnh thổ giữa chế độ “vua Lê chúa Trịnh” ở phía Bắc sông Gianh (Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn cai trị ở miền Nam (Đàng Trong) và kết thúc khi nhà Tây Sơn lật đổ cả chúa Nguyễn lẫn chúa Trịnh.Ban đầu, cả thế lực họ Trịnh và họ Nguyễn đều mang khẩu hiệu “phù Lê diệt Mạc” để lấy lòng thiên hạ và thề trung thành với triều Hậu Lê. Sau khi nhà Mạc đã bị đánh đổ, trên danh nghĩa, cả Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn đều là 2 vị bề tôi của nhà Hậu Lê, cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài đều là lãnh thổ của nhà Lê. Nhưng trên thực tế thì cả hai tập đoàn phong kiến này đều tạo thế lực cát cứ cho riêng mình như 2 nước riêng biệt, vua nhà Hậu Lê đã không còn thực quyền nên không ngăn chặn được sự phân tranh giữa hai họ Trịnh – NguyễnNhà Nguyễn ở đang trong đã mở rộng bờ cõi bằng việc diệt Chiêm Thành, lấn sang Chân Lạp để mở mang bờ cõi. Hai bên đều có những chúa cai trị giỏi nên ổn định được lãnh thổ suốt hơn 150 năm.Trang Tông 1533-1548Trung Tông 1548-1556Anh Tông 1556-1573Thế Tông 1573-1599Kính Tông 1600-1619Thần Tông 1619-1643 và 1649-1662Chân Tông 1643-1649Huyền Tông 1663-1671Gia Tông 1672-1675Hy Tông 1676-1704Dụ Tông 1705-1728Hôn Đức Công 1729-1732Thuần Tông 1733-1735Ư Tông 1735-1740Hiển Tông 1740-1786. Sinh ra công chúa Lê Ngọc Hân sau này là vợ của Nguyên HuệChiêu Thống 1787-1789Trịnh Bồng tự lập làm nguyên soái Yến Đô vương và lấn át nhà vua khiến cho triều chính rối ren, chém giết lẫn nhau. Nguyễn Huệ khi đó là Bắc Bình Vương kéo quân ra Bắc dẹp loạn rồi lại rút quân về Phú Xuân.

Để khôi phục lại triều Lê, tháng 7/1788 Hoàng thái hậu nhà Lê sang cầu viện nhà Mãn Thanh. Dựa vào thế quân Mãn Thanh, Lê Chiêu Thống trở lại kinh đô Thăng Long đã trả thù tàn bạo những người theo Tây Sơn.

Mồng 5 tết năm Kỷ Dậu (1789), quân đội Tây Sơn do hoàng đế Quang Trung trực tiếp chỉ huy kéo ra Bắc đã đánh tan 29 vạn quân xâm lược Mãn Thanh ở gò Đống Đa giành độc lập cho tổ quốc ta. Lê Chiêu Thống, vua bán nước, đã chạy theo tàn quân nhà Thanh sang Trung Quốc.

Triều đại Tây Sơn (1789 – 1802) – Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ kinh đô tại Qui Nhơn và Phú Xuân (Huế)Khi vua Quang Trung đang định chuẩn bị đem quân vào Nam đánh Gia Định thì đột ngột qua đời (1792). Con là Nguyễn Quang Toản còn nhỏ tuổi lên nối ngôi không có người lãnh đạo đủ năng lực, nhà Tây Sơn nhanh chóng suy yếu. Nội bộ xảy ra tranh chấp. Giữa năm 1802 Nguyễn Ánh (Tàn dư của đàng trong) tiến ra chiếm được Thăng Long. Nguyễn Ánh đã trả thù những người theo Tây Sơn vô cùng tàn bạo: Mộ của vua Thái Đức và vua Quang Trung bị quật lên, hài cốt bị giã thành bột nhồi vào thuốc súng và bắn đi. Nữ tướng Bùi Thị Xuân và con gái bị voi giày, Trần Quang Diệu bị chém đầu.

Triều Nguyễn (1802-1945) đổi tên nước là

Việt Nam kinh đo tại Huế

Nguyễn Ánh lên ngôi nãm 1802 và lập ra triều Nguyễn với 13 đời Vua trong 143 năm1. Nguyễn Phúc Ánh (1802-1820) Sáng lập nhà Nguyễn2. Nguyễn Phúc Đảm – Minh Mạng (1820 – 1841)

quốc hiệu được đổi thành Đại Nam

3. Nguyễn Phúc Miên Tông – Thiệu Trị (1841 – 1847)4. Nguyễn Phúc Hồng Nhậm – Tự Đức (1847-1883)5. Nguyễn Phúc Ưng Chân – Dục Đức (1883) 6. Nguyễn Phúc Hồng Dật – Hiệp Hòa (1883)7. Nguyễn Phúc Ưng Đăng – Kiến Phúc (1883-1884)8. Nguyễn Phúc Ưng Lịch – Hàm Nghi (1884-1885)9. Nguyễn Phúc Ưng Kỷ – Đồng Khánh (1885-1889)10. Nguyễn Phúc Bửu Lân – Thành Thái (1889-1907) 11. Nguyễn Phúc Vĩnh San – Duy Tân (1907 – 1916)12. Nguyễn Phúc Bửu Đảo – Khải Định (1916 – 1925)13. Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy – Bảo Đại (1925 – 1945)

Lịch sử Việt Nam Nam trong thời kỳ Pháp thuộc

1858 Quân Pháp chiếm đà Nẵng, đánh dấu sự đô hộ của Pháp ở đông Dương. Phong trào Cần Vương do vua Hàm Nghi lãnh đạo1860 – 1887 Cuộc khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng ở Bình định1884-1889 Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thiện Thuật ở Bãi Sậy1885-1895 Cuộc khởi nghĩa của Phan đình Phùng ở Nghệ Tĩnh1886-1887 Cuộc khởi nghĩa của đinh Công Tráng ở Thanh Hóa1887-1913 Cuộc khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế1904-1908 Phong trào đông Du của Phan Bội Châu và phong trào đông Kinh của Phan Châu Trinh.Tháng 12/1927 Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thái Học ở Yên BáiNgày 03/02/1930 Thành lập đảng Cộng Sản đông Dương (đảng Cộng Sản Việt Nam ngày nay)Tháng 05/1930 – tháng 04/1931 Phong trào Xô Viết Nghệ TĩnhTháng 09/1940 Quân Nhật đến đông DươngTháng 09/1940 Khởi nghĩa Bắc SơnNgày 23/11/1940 Khởi nghĩa Nam KỳNgày 19/05/1941 Thành lập mặt trận Việt MinhNgày 09/05/1945 Nhật hất cẳng Pháp khỏi đông DươngNgày 19/08/1945 Quyết định Tổng khởi nghĩa của mặt trận Việt Minh ở Tân TràoNgày 02/09/1945 Hồ Chủ Tịch tuyên bố độc lập khai sinh ra nước

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thủ đô là Hà Nội

Sau Cách mạng tháng 8 dân tộc Việt Nam tiếp tục chịu đựng sự xâm lãng của quân ngoại bang.Ngày 19/12/1946 Phong trào chống quân Pháp được phục hồiTháng 10/1947 Chiến dịch Thu đông ở Việt BắcMùa Thu-đông nãm 1950 Quân Pháp thất bại ở biên giới Việt – TrungTháng 10/1952 Quân Pháp thất bại trong chiến dịch Tây Bắc13/03/1954-7/5/1954 Quân Pháp bại trận ở điện Biên PhủNgày 21/07/1954 Hiệp định Geneva được ký kết nêu rõ: thừa nhận các quyền dân tộc của người Việt Nam, Lào và Cambodia, không can thiệp vào nội bộ của các nước này, thực hiện lệnh ngừng bắn ở cả hai bên, tập trung quân tại vĩ tuyến 17 (ranh giới tạm thời giữa hai miền Nam – Bắc Việt Nam), tổng tuyển cử vào nãm 1956.

Lịch sử Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ

Chiến tranh biên giới 1975 — 1979

Tóm Tắt Bài Khái Quát Lịch Sử Tiếng Việt

Khái quát lịch sử Tiếng Việt là một bài có nội dung khá dài. Để các em học sinh nắm bắt nhanh nội dung trọng tâm, Kiến Guru gửi đến các em tài liệu Tóm tắt bài khái quát lịch sử tiếng Việt như là một nguồn tài liệu để các em tham khảo, có sự chuẩn bị tốt hơn khi đến lớp.

Những nội dung trọng tâm cần nắm trong bài Khái quát lịch sử tiếng Việt

I. Lịch sử phát triển của tiếng Việt

Tiếng Việt là tiếng nói của dân tộc Việt , là ngôn ngữ chung trong giao tiếp xã hội sử dụng cho 54 dân tộc trên đất nước Việt Nam

Đây cũng là ngôn ngữ chính thức sử dụng trong các hoạt động ngoại giao, giáo dục, hành chính

1. Tiếng Việt trong thời kì dựng nước a. Nguồn gốc tiếng Việt:

– Có nguồn gốc bản địa, nguồn gốc và tiến trình phát triển gắn liền với dân tộc Việt

– Thuộc họ ngôn ngữ Nam Á

b. Quan hệ họ hàng của tiếng Việt

– Có quan hê với dòng Môn – Khmer và tiếng Mường

– Có quan hệ giao lưu tiếp xúc với tiếng Hán

2. Tiếng Việt trong thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc

Trải qua hơn 1000 năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, tiếng Việt nguồn gốc Nam Á vẫn có nhiều đặc trưng khác tiếng Hán, không cùng nguồn gốc và quan hệ họ hàng.

Tuy nhiên, trong quá trinh tiếp xúc, để có thể phát triển và làm giàu ngôn ngữ, tiếng Việt đã vay mượn rất nhiều từ ngữ Hán. Hình thức vay mượn chủ yếu là theo hướng Việt hóa, trước là về mặt âm đọc, sau là về mặt ý nghĩa và phạm vi sử dụng. Ngoài ra còn vay mượn từ Hán theo cách đảo lại vị trí các yêu tố, rút gọn, mở rộng nghĩa…

Nhiều từ Hán được Việt theo hình thứ sao phỏng, dịch nghĩa ra tiếng Việt : đan tâm thành lòng son, thanh thiên thành trời xanh.

3. Tiếng Việt dưới thời độc lập tự chủ:

Trong thời kì Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, tiếng Việt đã phát triển mạnh mẽ nhờ vào việc vay mươn tiếng Hán để cải biên thành tiếng Việt cho riêng dân tộc. 

Dựa vào kí tự chữ Hán, tiếng Việt đã phát triển thêm chữ Nôm nhằm ghi âm lại tiếng Việt vào thế kỉ XIII

Soạn Bài Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn

Hướng Dẫn Phân Tích Chuyện Chức Phán Sự Đền Tản Viên

Soạn Bài Hầu Trời – Tản Đà Đầy Đủ Và Dễ Nhớ Nhất

4. Tiếng Việt thời kì Pháp thuộc

– Tiếng Việt tiếp tục bị chèn ép bởi tiếng Pháp

– Chức quốc ngữ ra đời giúp hình thành và phát triển văn xuôi tiếng Việt hiện đại. Cũng như góp phần tích cực vào việc tuyên truyền cách mạng

5. Tiếng Việt từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay

– Chữ quốc ngữ trở thành ngôn ngữ quốc gia, giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng một Việt Nam dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

– Cách chuẩn hóa tiếng Việt:

+ Phiên âm thuật ngữ khoa học của phương Tây (chủ yếu là tiếng Pháp)

+ Vay mượn thuật ngữ khoa học qua tiếng Trung Quốc:

Vd: sinh quyển, môi sinh

+  Đặt thuật ngữ thuần Việt: vùng trời (thay cho không phận), thiếu máu (thay cho bần huyết)

II. Chữ viết của tiếng Việt

– Theo truyền thuyết thì người Việt cổ đã có chữ viết riêng trông như đàn nòng nọc đang bơi

Tuy nhiên, chữ Nôm vẫn có nhiều khuyết điểm: không đánh vần được, học chữ nào chỉ biết chữ ấy, muốn học chữ Nôm thuận lợi cần phải có một vốn từ chữ Hán

– Nửa đầu thể kỉ XVII, chữ quốc ngữ xuất hiện khi chữ Pháp xâm nhập vào Việt Nam. Chữ quốc ngữ thời kì đầu chưa phản ánh một cách khoa học cơ cấu ngữ âm tiếng Việt. 

Hai thế kỷ tiếp theo, chữ quốc ngữ được cải tiến và đạt tới hình thức ổn định và hoàn thiện như ngày nay.

Tóm Tắt Lịch Sử Singapore – Visit Singapore Trang Chính Thức

Từ thuở xa xưa…

Mặc dù những bản ghi chép đầu tiên về lịch sử Singapore đã bị phai nhòa theo thời gian, một tài liệu tiếng Hoa vào thế kỷ thứ 3 đã miêu tả mảnh đất này là “Pu-luo-chung”, ý muốn nói đến “Pulau Ujong”, nghĩa là “hòn đảo ở tận cùng bán đảo” trong tiếng Mã Lai. Sau đó, khi những cộng đồng dân cư đầu tiên được hình thành từ năm 1298 đến năm 1299 Sau Công nguyên, mảnh đất này được biết đến với tên gọi là Temasek (nghĩa là “Thị trấn Biển”).

Vào thế kỷ 14, hòn đảo nhỏ bé nhưng nằm ở vị trí chiến lược này đã có một cái tên mới. Theo truyền thuyết, hoàng tử Sang Nila Utama đến từ xứ Palembang (thủ đô của Srivijaya), trong chuyến đi săn đã gặp một con vật lạ mà chàng chưa bao giờ nhìn thấy. Coi đó là điềm lành, chàng liền đặt cho thành phố nơi xuất hiện con vật lạ cái tên là “Thành phố Sư tử” hay Singapura, mà theo tiếng Sanskrit thì “simha” có nghĩa là sư tử, còn “pura” có nghĩa là thành phố.

Lúc bấy giờ, thành phố này nằm dưới sự cai quản của năm vị vua của Singapura cổ đại. Nằm ở vị trí địa đầu của bán đảo Mã Lai, là điểm quy tụ tự nhiên của các đường hàng hải, thành phố đã khởi sắc trong vai trò là một thương cảng nhộn nhịp dành cho vô số các loại tàu thuyền, như các tàu buôn của người Trung Quốc, thuyền buồm của người Ả Rập, tàu chiến của người Bồ Đào Nha và những thuyền buồm dọc của người Bugis.

Tóm Tắt Về Lịch Sử Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT VIỆT NAM

Kế thừa, phát huy truyền thống yêu nước và đoàn kết của dân tộc ta. Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã chủ trương đoàn kết mọi lực lượng dân tộc và dân chủ trong Mặt trận Dân tộc Thống nhất để cùng nhau chống kẻ thù chung vì độc lập tự do của Tổ quốc.

Giữa lúc cao trào cách mạng đầu tiên do Đảng lãnh đạo mà đỉnh cao là phong trào Xô viết Nghệ tĩnh đang diễn ra sôi nổi và rầm rộ trong cả nước, ngày 18.11.1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông dương ra chỉ thị về vấn đề thành lập Hội phản đế Đồng minh, hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt nam.

Từ đó tới nay, ở mỗi thời kỳ khác nhau có những hình thức và tên gọi tổ chức cụ thể khác nhau phù hợp với nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng nhưng Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt nam nơi tập hợp các giai tầng trong xã hội vì những mục tiêu lớn của dân tộc luôn tồn tại và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam – người chủ xướng việc hình thành Mặt trận Dân tộc thống nhất trong thời hiện đại – vừa là thành viên tích cực của Mặt trận vừa bằng sự sáng tạo, đúng dắn trong đường lối, chính sách, sự gương mẫu phấn đấu vì lợi ích chung của dân tộc đã được các thành viên của Mặt trận thừa nhận vai trò lãnh đạo.

Hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là hình thức tổ chức của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt nam với mục tiêu tập hợp và phát huy sức mạnh của khối Đại đoàn kết toàn dân phấn đấu cho một nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.

MẶT TRẬN THỐNG NHẤT PHẢN ĐỂ ĐÔNG DƯƠNG

HỘI PHẢN ĐẾ ĐỒNG MINH (18-11-1930)

Ngay từ Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã vạch ra sự cần thiết phải xây dựng một Mặt trận Dân tộc thống nhất nhằm đoàn kết các giai tầng trong xã hội, các tổ chức chính trị, các cá nhân phát huy truyền thống yêu nước, sức mạnh mọi nhân tố của dân tộc phấn đấu cho sự nghiệp chung giải phóng dân tộc.

Qua phong trào cách mạng phản đế, phản phong sôi nổi trong cả nước mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh, các tổ chức chính trị với các hệ tư tưởng khác nhau nhưng gặp nhau ở mục tiêu giải phóng dân tộc lần lượt xuất hiện với sự tham gia của nhiều tầng lớp, nhiều dân tộc. Quá trình này cũng khẳng định năng lực cách mạng của các giai tầng trong xã hội, khẳng định vị trí đặc biệt và hệ tư tưởng của giai cấp công nhân với việc định hướng cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Quá trình này cũng khẳng định khối liên minh công nông là cơ sở của Mặt trận Dân tộc thống nhất do Đảng chủ xướng. Trong Án nghị quyết về vấn đề phản đế tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 10 năm 1930 đã nêu rõ sự cấp thiết phải thành lập Mặt trận Thống nhất phản đế. Ngày 18/11/1930 Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông dương đã ra Chỉ thị thành lập Hội Phản đế đồng minh hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng.

PHẢN ĐẾ LIÊN MINH (3-1935)

Tháng 3 năm 1935, Đại hội Đảng lần thứ nhất đã thông qua nghị quyết về công tác Phản đế liên minh, quyết định thành lập và thông qua điều lệ của tổ chức nhằm tập hợp tất cả các lực lượng phản đế toàn Đông dương. Điều lệ của Phản đế liên minh rộng và linh hoạt hơn Điều lệ Hội phản đế đồng minh. Bất kỳ người hoặc đoàn thể nào thừa nhận nghị quyết, Điều lệ và thường xuyên nộp hội phí thì được thừa nhận là hội viên.

MẶT TRẬN THỐNG NHẤT NHÂN DÂN PHẢN ĐẾ (10-1936)

Chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân Phản đế được phổ biến qua tài liệu chung quanh vấn đề chính sách mới ngày 30/10/1936 khắc phục những sai lầm trong nhận thức và hành động trong quá trình thực hiện liên minh thời kỳ trước. Việc tập hợp lực lượng trong Mặt trận được công khai qua bức thư ngỏ của Đảng Cộng sản Đông Dương gửi cho Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp bày tỏ sự đồng minh với nhân dân Pháp, kêu gọi ban hành một số quyền tự do dân chủ cơ bản cho nhân dân Đông Dương và hô hào “tất cả các đảng phái chính trị, tất cả các tầng lớp nhân dân Đông Dương tham gia Mặt trận nhân dân Đông Dương”.

MẶT TRẬN DÂN CHỦ ĐÔNG DƯƠNG (6-1938)

Tháng 9-1937 một loạt các tổ chức như Thanh niên Dân chủ Đông Dương, Hội Cứu tế bình dân, Công hội, Nông hội ra đời cùng với việc hoạt động công khai và nửa công khai của các tổ chức quần chúng nhuư hội ái hữu, tương tế, các hội hoạt động âm nhạc… từng bước hình thành một Mặt trận Dân chủ Đông Dương.

Tháng 6/1938 Đảng Cộng sản Đông Dương gửi thư công khai cho các đảng phái đề nghị gác các ý kiến bất đồng để “bước tới thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương” chính trong thời kỳ này từ những phong trào Mặt trận đã dần hình thành Mặt trận với tính chất của một tổ chức.

MẶT TRẬN THỐNG NHẤT DÂN TỘC PHẢN ĐẾ ĐÔNG DƯƠNG (11-1939)

Tháng 9 năm 1939,chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, Mặt trận Dân chủ Đông dương bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp. Cùng với sự đầu hàng thoả hiệp của thực dân Pháp với phát xít Nhật, vấn đề sống còn của các dân tộc Đông Dương đã đặt ra. Tháng 11/1939 Đảng Cộng sản Đông Dương đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo, chuyển cuộc vận động Mặt trận Dân chủ thành Mặt trận Dân tộc thống nhất chống chiến tranh đế quốc với tên gọi chính thức: Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông dương nhằm liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương, các giai tầng, đảng phái, cá nhân có tinh thần phản đế muốn giải phóng dân tộc chống đế quốc, bè lũ tay sai của chúng và vua chúa bản xứ phản bội quyền lợi dân tộc. Các tổ chức phản đế phát triển nhanh chóng dưới hình thức bí mật và công khai.

VIỆT NAM ĐỘC LẬP ĐỒNG MINH HỘI

GỌI TẮT LÀ VIỆT MINH (19-5-1941)

Năm 1940, quân Nhật kéo vào Đông dương, thực dân Pháp đầu hàng và làm tay sai cho phát xít Nhật. Tại Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8, theo đề nghị của lãnh tụ Nguyễn ái Quốc, Mặt trận dân tộc thống nhất chống phát xít Pháp Nhật với tên gọi Việt nam Độc lập đồng minh gọi tắt là Việt minh đã ra đời ngày 19.5.1941 lấy cờ đỏ sao vàng năm cánh làm cờ của Việt minh và làm cờ tổ quốc “khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”.

Mặt trận Việt minh thu hút được mọi giới đồng bào yêu nước, từ công nhân, nông dân, trí thức, tiểu tư sản đến tư sản dân tộc, phú nông và một số địa chủ nhỏ có tinh thần yêu nước, đưa tới cao trào đánh Pháp, đuổi Nhật của toàn dân ta trong những năm 1941-1945, Mặt trận Việt minh là một trong những nhân tố cơ bản bảo đảm cho cách mạng thành công.

Từ sáng kiến triệu tập toàn quốc đại biểu đại hội, Đại hội Quốc dân do Tổng bộ Việt minh triệu tập họp ở Tân trào trong 2 ngày 16-17/8/1945 đã thông qua lệnh tổng khởi nghĩa, quyết định quốc kỳ, quốc ca cử ra Uỷ ban giải phóng dân tộc tức là Chính phủ lâm thời do Hồ Chí minh làm Chủ tịch và ngày 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc tuyên ngôn độc lập, đại biểu tổng bộ Việt minh Nguyễn Lương Bằng đọc lời hiệu triệu đồng bào cả nước.

HỘI LIÊN HIỆP QUỐC DÂN VIỆT NAM

GỌI TẮT LÀ HỘI LIÊN VIỆT (29-5-1946)

Năm 1946, giữa lúc nước Việt nam dân chủ cộng hoà vừa ra đời phải đương đầu với nhiều khó khăn lớn, một Ban vận động thành lập Hội liên hiệp quốc dân Việt nam gồm 27 người với đại biểu Việt minh là Hồ Chí Minh, được thành lập nhằm mở rộng hơn nữa khối đoàn kết dân tộc.

Việt minh và Liên Việt đã cùng nhau làm chỗ dựa vững chắc cho chính quyền Cách mạng non trẻ đối phó có hiệu lực với thù trong giặc ngoài.

MẶT TRẬN LIÊN VIỆT (3-3-1951)

Mặt trận Liên Việt đã góp phần động viên công sức của toàn quân, toàn dân lập nên chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ, đưa đến việc ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 công nhận chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt nam.

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM (10-9-1955)

Đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam Việt nam, hất cẳng thực dân Pháp và phá hoại hiệp định Giơ-ne-vơ âm mưu chiếm đóng miền Nam chia cắt lâu dài nước ta. Cách mạng Việt nam lúc này có hai nhiệm vụ chiến lược là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc đã được hoàn toàn giải phóng và hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà.

Trong bối cảnh đó, ngày 10.9.1955, Mặt trận Tổ quốc Việt nam ra đời với mục đích đoàn kết mọi lực lượng dân tộc và dân chủ, đấu tranh đánh bại đế quốc Mỹ xâm lược và tay sai, xây dựng một nước Việt nam hoà bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

Mặt trận Tổ quốc Việt nam đã phát huy tác dụng to lớn của mình trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước cũng như trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Mặt trận Tổ quốc Việt nam đã động viên đồng bào và chiến sĩ nêu cao chủ nghĩa anh hùng cách mạng đánh thắngchiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và hết lòng hết sức đáp ứng các yêu cầu của cuộc đấu tranh yêu nước của đồng bào miền Nam. Mặt trận Tổ quốc Việt nam đã tích cực tham gia cải tạo Xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và giúp đỡ các nhà tư sản dân tộc thông suốt chính sách làm cho cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh tiến hành thuận lợi, đạt kết quả. Mặt trận đã tích cực góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân, ra sức động viên nhân dân tham gia bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, xây dựng chính quyền cách mạng, phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế, thực hiện nếp sống mới, xây dựng con người mới.

MẶT TRẬN DÂN TỘC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM (20-12-1960)

Trong cao trào đồng khởi của đồng bào miền Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời (20-12-1960) nhằm đoàn kết toàn dân đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ nguỵ quyền tay sai của chúng, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc. Với đường lối đúng đắn ấy, Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã tập hợp dưới ngọn cờ đại nghĩa của mình các tầng lớp nhân dân, các tổ chức và mọi người Việt nam yêu nước, để cùng nhau chống Mỹ cứu nước.

Mặt trận dân tộc giải phóng không ngừng củng cố và mở rộng khối đoàn kết dân tộc, tổ chức và động viên đồng bào và chiến sĩ miền Nam đẩy mạnh đấu tranh trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao. ảnh hưởng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng không ngừng được mở rộng trong các tầng lớp nhân dân miền Nam và uy tín của mặt trận đã được nâng cao trên trường quốc tế

LIÊN MINH CÁC LỰC LƯỢNG DÂN TỘC DÂN CHỦ VÀ HÒA BÌNH VIỆT NAM (20-4-1968)

Trong cao trào tiến công và nổi dậy đầu xuân Mậu Thân (1968) Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt nam ra đời (20-4-1968). Kết tụ từ các phong trào đấu tranh yêu nước của các giới sinh viên, học sinh, trí thức, đồng bào tôn giáo, công thương gia, nhân sĩ dân chủ tại các thành thị miền Nam, Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt nam bằng những công tác trong nước và ngoài nước đã góp sức động viên xúc tiến các phong trào ấy, tăng thêm sức mạnh cho khối đoàn kết toàn dân, chống Mỹ cứu nước.

Phấn đấu cho một mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, bảo vệ và xây dựng miền Bắc thực hiện thống nhất nước nhà, Mặt trận Tổ quốc Việt nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt nam đã luôn luôn hợp tác chặt chẽ, hỗ trợ nhau tạo nên một sức mạnh không gì lay chuyển nổi của khối đại đoàn kết dân tộc, và đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của toàn dân đến thắng lợi hoàn toàn, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất nước nhà.

MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM (4-2-1977)

Sau khi cả nước đã được độc lập, sự thống nhất và toàn vẹn của một quốc gia đòi hỏi hợp nhất 3 tổ chức mặt trận. Nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất họp từ 31-1 đến 4-2-1977 tại thành phố Hồ Chí Minh đã thống nhất ba tổ chức Mặt trận ở hai miền Nam Bắc nước ta thành một tổ chức Mặt trận Dân tộc thống nhất duy nhất lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống nhất ý chí của tất cả các tổ chức của các giai tầng trong xã hội, các cá nhân tiêu biểu của các dân tộc, tôn giáo, tầng lớp, các vị lãnh đạo tiêu biểu cho ý chí đoàn kết của dân tộc, luôn phấn đấu xây dựng khối Đại đoàn kết dân tộc vững mạnh thực hiện lời dạy của Hồ Chí Minh vị lãnh tụ của toàn dân tộc: “Mục đích phấn đấu của Mặt trận Dân tộc thống nhất là xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Cập nhật thông tin chi tiết về Tóm Tắt Lịch Sử Hà Nội Ngàn Năm trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!