Xu Hướng 3/2023 # Tìm Hiểu Về Phật Giáo Nguyên Thủy # Top 6 View | Channuoithuy.edu.vn

Xu Hướng 3/2023 # Tìm Hiểu Về Phật Giáo Nguyên Thủy # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Tìm Hiểu Về Phật Giáo Nguyên Thủy được cập nhật mới nhất trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Phật giáo Nguyên Thủy là thuật ngữ để chỉ Phật giáo giai đoạn đầu, kể từ khi Tất Đạt Đa sáng lập Phật giáo cho đến trước Đại hội kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ hai ở thành phố Vaisili.

Phật giáo Nguyên Thủy phổ biến ở Sri Lanka, Campuchia, Thái Lan, Lào và Miến Điện (Myanmar), nên truyền thống này còn được gọi là Phật giáo Nam Tông.

Đạo Phật Nguyên Thủy tin rằng, giáo pháp của họ là những lời dạy ban đầu của Đức Phật. Tuy nhiên, họ không nhấn mạnh quá nhiều về niềm tin về các giáo lý theo cách cực đoan, mà họ xem nó như một công cụ để giúp mọi người hiểu được chân lý thông qua sự trải nghiệm cá nhân.

Nguồn gốc

Phật giáo Nguyên Thủy (Theravada Buddhism) là một trong ba nhánh chính của Phật giáo. Hai nhánh còn lại là Phật giáo Đại Thừa (còn gọi là Bắc Tông, Mahayana Buddhism) và Kim Cương Thừa (hay Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng).

Nó lan rộng từ Ấn Độ đến Sri Lanka, sau đó đến Đông Nam Á và vẫn giữ nguyên bản Pali nguyên thủy. Vào thế kỷ thứ 3 TCN, đạo Phật đã lan rộng khắp Châu Á, và các diễn giải khác nhau về giáo lý của Đức Phật đã dẫn đến việc thành lập nhiều tông phái trong thời điểm đó.

Hình thức Phật giáo này đã đến Thái Lan vào khoảng thế kỷ thứ 6, và trở thành tôn giáo chính thức của cả nước vào thế kỷ 13 sau khi vương quốc Sukhothai được thành lập.

Phật giáo Nguyên Thủy đôi khi được gọi là “Phật giáo Tiểu thừa – Hinayana Buddhism” (Lesser Vehicle), ngược lại với “Phật giáo Đại thừa – Mahayana Buddhism” (Greater Vehicle). Từ “Tiểu thừa” có nguồn gốc từ những cuộc phân rã sớm trong cộng đồng Phật giáo. Khi giáo pháp đạo Phật tiếp tục lan truyền khắp Ấn Độ sau khi đức Phật nhập diệt, thì các diễn giải khác nhau về những lời dạy ban đầu xuất hiện, dẫn đến sự phân chia trong Tăng đoàn và hình thành Phật giáo Đại Thừa.

Tiểu thừa có nghĩa là thừa hưởng những lời dạy cơ bản của Đức Phật. Ngày nay, các học giả của nhiều trường phái Phật giáo đôi khi vẫn sử dụng thuật ngữ “Tiểu thừa” nhưng chỉ để phân biệt chứ không có ý định xấu.

Ngôn ngữ trong Đạo Phật Nguyên Thủy

Ngôn ngữ của các văn bản kinh điển trong Phật giáo Nguyên Thủy là tiếng Pali, một ngôn ngữ phổ biến ở trung tâm Ấn Độ trong thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Hầu hết các bài thuyết pháp mà Đức Phật giao cho đều được Tôn giả A Nan ghi nhớ. Ngay sau khi Đức Phật qua đời vào khoảng năm 480 TCN, cộng đồng các nhà sư và Tôn Giả A Nan được triệu tập để đọc tất cả các bài thuyết giảng mà họ nghe trong 45 năm giảng dạy của Đức Phật.

Mỗi bài giảng (sutta) được bắt đầu bằng câu, “Tôi đã nghe nói như vậy”. Các giáo lý được thông qua trong cộng đồng tu viện bằng hình thức truyền miệng hàng trăm năm cho đến khi Tam Tạng Kinh Điển (tripitaka) ra đời.

Pali ban đầu là một ngôn ngữ nói nên không có bảng chữ cái của riêng nó. Cho đến khoảng năm 100 TCN khi kinh Tạng (Tipitaka) đã được soạn thảo lần đầu tiên bởi các nhà sư ở Tích Lan (Sri Lanka), người đã viết phông chữ Pali dưới dạng kịch bản Brahmi. Kể từ đó, Tipitaka đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác như: Devanagari, Thái, Miến Điện, La Mã, Cyrillic…Mặc dù bản dịch tiếng Anh của kinh Tạng ngày nay rất phổ biến, nhưng nhiều tu sĩ Phật giáo Nguyên Thủy vẫn học ngôn ngữ Pali để làm sâu sắc thêm sự hiểu biết và đánh giá chính xác về các giáo lý của Đức Phật.

Không ai có thể chứng minh Tripitaka chứa đựng những lời dạy chính xác của Đức Phật. Vì thế, nó không giống như các văn bản thánh thư của nhiều tôn giáo khác trên thế giới, thừa nhận như một chân lý, được tiết lộ bởi một vị tiên tri, được chấp nhận hoàn toàn bởi đức tin.

Thay vào đó, các giáo lý của kinh Tạng Pali phải được đánh giá trực tiếp thông qua sự trải nghiệm của mỗi cá nhân, từ đó, họ sẽ có câu trả lời chính xác nhất cho riêng họ. Cho đến nay, kinh Tạng Pali vẫn tồn tại trong nhiều thế kỷ như một hướng dẫn không thể thiếu đối với hàng triệu Phật tử trong việc tìm kiếm sự giác ngộ.

Các Tỳ Kheo tụng kinh trong một tang lễ Phật giáo tại Tu viện Abhayagiri

Tông chỉ tu tập của Phật giáo Nguyên Thủy

Phật giáo Nguyên Thủy nhấn mạnh đến việc tự giải phóng thông qua những nỗ lực của cá nhân. Phương tiện chính để đạt được giác ngộ trong truyền thống Theravada là thông qua thiền Vipassana hay còn gọi là thiền Minh Sát. Vipassana nhấn mạnh sự tuân thủ kỷ luật về cơ thể, tư tưởng và cách kết nối. Với các lý do là: “Tránh xa những điều xấu, tích lũy mọi điều tốt lành và thanh lọc tâm trí mình”.

Thiền là một trong những phương thức chính mà theo đó một Phật tử Nguyên Thủy có thể biến đổi bản thân, vì vậy họ dành rất nhiều thời gian cho việc hành thiền. Khi một người đạt được giải thoát khỏi khổ đau và giác ngộ lên Niết bàn, họ được gọi là các vị A la hán (Arahant) hay những “người xứng đáng”.

Phật giáo Nguyên Thủy nhấn mạnh tầm quan trọng của tu viện. Hầu hết các nhà sư Phật giáo Nam Tông thường dành hết thời gian của mình cho tu viện. Một số người tham gia khi mới chỉ 7 tuổi, nhưng có thể tham gia ở mọi lứa tuổi. Một người mới được gọi là Sa-di (Samanera) và một tu sĩ được gọi là Tỳ kheo. Cộng đồng tu viện như một toàn thể được gọi là Tăng đoàn .

Các nhà sư được đào tạo phải nắm rõ 227 quy tắc . Trong những quy tắc này hay giới luật là năm điều được thực hiện bởi tất cả những người cố gắng tuân theo lối sống của Phật giáo. Ngũ giới là thực hiện các quy tắc đào tạo để:

Không được làm hại chúng sinh

Không được lấy những thứ không được cho phép

Kiềm chế hành vi sai trái tình dục

Ngăn lời nói sai: Chẳng hạn như nói dối, trò chuyện nhàn rỗi, lời nói độc ác hoặc phát biểu cay nghiệt

Không sử dụng những thứ gây nghiện

Đặc biệt, các nhà sư trong tu viện không được sử dụng tiền bạc.

Giáo lý của Phật giáo Nguyên Thủy

Hai giáo lý chính trong Phật giáo Nguyên Thủy là Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo. Đức Phật khám phá ra việc giải phóng khỏi luân hồi đòi hỏi phải phân biệt cho mỗi chân lý trong Tứ Diệu Đế một nhiệm vụ cụ thể: Chân lý cao nhất đầu tiên phải được “thấu hiểu”, thứ hai là “từ bỏ”, thứ ba là “nhận ra”, thứ tư là được “phát triển”.

Việc thực hiện đầy đủ chân lý mở đường cho sự giác ngộ, chấm dứt sự thiếu hiểu biết, tham ái, đau khổ và nghiệp chướng. Sự thâm nhập trực tiếp vào sự tự do siêu việt và hạnh phúc tối cao là mục tiêu cuối cùng của tất cả các giáo lý của Đức Phật: Vô thường, Vô ngã và Niết bàn.

Bát Chánh Đạo được hiểu như là một bộ sưu tập các phẩm chất cá nhân sẽ được phát triển chứ không phải là một chuỗi các bước dọc theo con đường tuyến tính. Phát triển quan điểm và giải quyết đúng đắn (các yếu tố được phân loại theo cách cổ điển với sự khôn ngoan và phân biệt) tạo điều kiện phát triển suy nghĩ, hành động và sinh kế đúng đắn (các nhân tố được xác định).

Khi đức hạnh phát triển thì các nhân tố được xác định với sự tập trung (nỗ lực đúng đắn và chánh niệm). Tương tự như vậy, khi sự tập trung trưởng thành, sự phân biệt sẽ tiến hóa đến một mức độ sâu hơn. Và do đó quá trình này mở ra sự phát triển của một nhân tố thúc đẩy sự phát triển của nhân tố kế tiếp, nâng người học viên lên một bước tiến về sự trưởng thành tâm linh cuối cùng lên đến đỉnh điểm là giác ngộ.

Những chân lý này không phải là các nguyên tắc giáo điều cố định, những trải nghiệm sống phải được khám phá riêng lẻ trong tâm của người tìm kiếm tinh thần chân thành.

Tầm ảnh hưởng ở Phương Tây

Cho đến cuối thế kỷ 19, những lời dạy của Phật giáo Nguyên Thủy ít được biết đến bên ngoài miền nam châu Á, nơi mà họ đã phát triển mạnh trong khoảng hai thập niên. Tuy nhiên, đến thể kỷ 20, phương Tây đã bắt đầu chú ý đến di sản tinh thần quý giá của Phật giáo Nam Tông qua các bài giảng về sự giác ngộ.

Trong những thập niên gần đây, mối quan tâm này đã tăng lên đáng kể, các Tăng đoàn Phật giáo Nguyên Thủy đã thiết lập hàng chục tu viện trên khắp châu Âu và Bắc Mỹ. Tăng số lượng các trung tâm hành thiền, được thành lập và hoạt động độc lập với Tăng già, nhằm đáp ứng nhu cầu giải thoát khỏi đau khổ của đàn ông và cả phụ nữ.

Những biến thể Phật giáo trong thế kỷ 21 mang lại cơ hội và cả nguy hiểm cho đạo Phật Nguyên Thủy ở phương Tây. Ngày nay, rất nhiều người tự xưng là bậc Thánh đã giác ngộ và truyền bá những triết lý khác so với những giáo pháp trong kinh Tạng Pali.

Liệu với sự “cởi mở” của phương Tây hiện nay và sự “thụ phấn chéo” giữa các truyền thống tâm linh sẽ dẫn đến sự nổi lên của một hình thức thực hành Phật giáo mới độc đáo phù hợp thời đại hay nó sẽ dẫn đến sự nhầm lẫn và pha loãng những lời dạy của Đức Phật? Đây là những câu hỏi mở và chỉ có thời gian mới có câu trả lời chính xác nhất.

Các giáo lý tâm linh đang tràn ngập trên các phương tiện truyền thông. Nhiều lời dạy tâm linh phổ biến ngày nay được mượn tự do từ Đức Phật, tuy nhiên, hiếm khi họ đặt những lời dạy đó trong bối cảnh thật sự của họ. Những người tìm kiếm sự chân thật thường phải đối mặt với một nhiệm vụ khó khăn là “vượt qua” những giáo lý rạn nứt với tính chính xác không rõ ràng. Làm sao chúng ta có thể hiểu được tất cả?

Bất cứ khi nào bạn thấy mình đặt câu hỏi về tính xác thực của một giáo huấn cụ thể, hãy lắng nghe lời khuyên của Đức Phật:

“Không tin gì cả, dù bạn đọc nó ở đâu hay ai đã nói, thậm chí tôi nói cũng thế. Trừ khi nó phù hợp với lý trí và ý thức thông qua sự trải nghiệm của riêng bạn.” Hoa Sen Phật – Theo chúng tôi

Về Giáo Lý Của Phật Giáo Nguyên Thủy

Tuy nhiên hiện tại, nội dung Kinh A Hàm so với thời kỳ kết tập lần đầu có thể thêm bớt ít nhiều, thậm chí có thể nói nội dung của A Hàm hiện tại không phải là hoàn toàn đung y như hồi Phật Giáo Nguyên Thủy. Nhưng từ sự ghi chép chất phác của A Hàm ta còn có thể tìm thấy bộ mặt thật một phần nào của Phật Giáo Nguyên Thủy.

Về giáo lý của Phật Giáo Nguyên Thủy, thật rất chất phác và đơn giản. Đức Phật không thảo luần vòng vo về hình nhi thượng, tất cả chỉ nhằm trình bày những kinh nghiệm về lý tính: Đức Phật dạy người ta con đường giải thoát thực tiễn.

Khi các đệ tử hỏi về cảnh giới Niết Bàn, Ngài lặng thinh không đáp. Vì lẽ người chưa đạt đến cảnh giới Niết Bàn, dù cho diễn tả ba ngày ba đêm họ cũng không thể hiểu được cảnh giới thưc tế của Niết Bàn là gì.

Đức Phật rất khéo về việc đơn giản hoá sự việc lại cũng rất khéo vận dụng các thí dụ tại chỗ. Mỗi khi Ngài thuyết pháp cho các đệ tử đều nói ngắn gọn không rườm rà, ít biện luận dài dòng. Nội dung những điều Ngài khai thị không ngoài Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, Bát chánh đạo, nếu khai triển thật vô cùng.

Nhưng nếu anh mới bắt đầu tiếp cận Phật pháp, chưa biết tu hành như thế nào thì trước tiên Phật dạy về thân, khẩu, ý; sống đời trong sạch không tì vết thì khi mạng chung được tái sanh là người. Còn “bố thí, nhân ái, làm lợi cho người, chia sẻ khó khăn công việc với người khác” thì khi mạng chung sẽ sinh lên cõi trời (như trong điều 7 ở phẩm Tăng Thường, Tăng Nhất A Hàm 23 và điều 4 phẩm Thiên Tụ, Tăng Nhất A Hàm 24)

Trước hết Phật dùng pháp nhân thiên, khiến cho anh thực hành theo cách làm trời, làm người để anh trở thành người đáng kính, làm cho căn lành của anh thêm lớn. Sau khi anh thọ trì 5 giới cấm, Phật lại dạy cho pháp môn giải thoát.

Pháp lành nhân thiên là một thứ mọi người cùng tin giữ được, còn pháp môn giải thoát chỉ có thể đạt đến qua kinh nghiệm chứng ngộ của Phật.

Tóm lại, Đức Phật không những không dùng quyền uy thần giáo bao che tội lỗi và chuộc tội dùm ai, cũng không chủ trương dùng bất cứ hình thức tế tự nào để cầu phước và giải thoát; mà là dạy người tự mình thực hành một phương pháp rất thực tiễn.

Cho nên trong tinh thần Phật Giáo Nguyên Thủy, tất cả những mê tín và thần thoại đều không có chỗ đứng.

B. THẾ GIỚI QUAN CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY

Nếu lìa bản vị mà khảo sát thế giới quan, đều không phải là bản ý của Phật. Trong kinh Tiểu Dụ, đệ tử Màlùnkyaputtà đã hỏi: “Thế giới là thường hay vô thường? Đức Phật tồn tại hay không tồn tại sau khi chết? Thế giới là có hạn hay vô hạn?…”, tất cả mọi vấn đề khó giải quyết. Với thái độ vô cùng từ tốn, Đức Phật đã trả lời: “Ta không phải nói hoàn toàn như thế. Điều đó không phải là nghĩa tương ưng, không phải là pháp tương ưng, không phải là gốc của Phạm hạnh, không đạt được trí tuệ, không hướng đến giác ngộ , không đến Niết Bàn”.

Đó là vì Đức Phật không muốn anh hiểu biết tất cả trước, mà phải hoàn thành Niết Bàn giải thoát đã, chừng đó tự nhiên anh sẽ hiểu tường tận mọi việc như mây tan trăng hiện vằng vặc giữa không.

Nói như thế, không phải trong kinh Phật không đề cập đến thế giới quan. Kinh Thế Ký thuộc kinh Trường A Hàm quyển 18 đến 22 (Bản dịch khác: Kinh Khởi Thế Nhân bổn, kinh Đại Lâu Thán) đã giới thiệu rộng rãi các thứ tướng trạng của thế giới quốc độ và thế giới hữu tình.

Nhân đây, chúng ta không thể nói rằng Đức Phật tuyệt đối không hề đề cập đến việc ấy. Nhưng khi khảo sát về căn nguyên của nó thì phát hiện đại thể này là sản phẩm bắt nguồn từ thế giới quan của Phệ đà của Bà La Môn, hợp với tư tưởng Duy Vật phát sinh.

Khi thuyết pháp giáo hoá, Đức Phật khéo xử dùng tài liệu tại chỗ và dùng thí dụ thích hợp để nêu rõ vấn đề khi thuyết pháp cho đồ chúng ngoại đạo. Chắc chắn Ngài có mượn dùng những truyền thuyết của ngoại đạo để hướng về Phật pháp.

Đến kinh “Tượng Thế Trí” thì quan niệm ấy được trình bày dài dòng và có hệ thống, điều này chắc chắn là do sự biên tập tỉ mỉ của các nhà kết tập. Kinh này có sau đời vua A Dục, vì trong Tam tạng Trường bộ Pàli không thấy có ghi chép.

Cho nên nội dung của kinh này không phải là do pháp phát minh mà là tài sản chung của văn hoá Ấn Độ đương thời, Đức Phật lợi dụng những quan niệm này là mượn dùng mà không biểu lộ sự chấp nhận, giống như các vị thần Phệ Đà, đặc biệt là Phạm Thiên, Đức Phật phủ nhận thực thể mà khéo dùng sự tín ngưỡng của Phạm Thiên.

Nhưng sau khi Phật diệt độ, hàng đệ tử chấp nhận luôn quan niệm thực thể của Phạm Thiên. Về quan niệm ấy, lấy núi Tu Di làm trung tâm theo sự khảo sát của địa lý học và thiên văn học hiện đại thì quan niệm này không thể chấp nhận được nhưng lại là thông thường của địa lý và thiên văn học Ấn Độ vào thời Phật tại thế và sớm hơn.

Do đó, hàng đệ tử Phật phải nên chú ý đến trọng tâm của sự giáo hóa của Đức Phật là chú trọng đến sự tu hành giải thoát khỏi vô minh của con người. Cũng không cần phải chấp nhận hết mọi vấn đề khác mà Đức Phật đã giải đáp cho chúng ta.

Nhiệm vụ của Đức Phật là làm lợi ích theo từng trường hợp một, mỗi thứ mỗi khác, ta không nên bỏ gốc theo ngọn. Nếu không thì tự mình sẽ tiến vào ngỏ cụt rồi đưa đến oán hận. Đó là lỗi của chúng ta tự chuốc lấy thôi.

Đức Phật lấy việc giải thoát con người ra khỏi vô minh làm mục đích, mà chủ tể của con người lại là “Tâm”. Tâm không thể tự chủ vì tâm ở trong trạng thái niệm niệm liên tục biến đổi luôn. Đó làvô thường, mà vô thường tức là không chủ thể, lại chính là nghĩa vô ngã.

Nhưng mà muốn nó biết nó là vô thường, vô ngã, rồi làm cho nó biến đổi thành bất động, làm thánh nhân siêu việt cả phàm phu, thật không phải dễ.

Ở đây, Đức Phật đặc biệt khảo sát ở tâm phàm phu để hướng dẫn họ, từ tâm nhiễm ô thành tâm thanh tịnh. Chỉ một danh từ “thanh tịnh bất động” đã nói lên quá trình biến đổi liên tục của tâm nhiễm ô. Khảo sát kỹ về trạng thái của tâm, sớ có rất nhiều.

Căn cứ vào tư liệu của Phật giáo Nguyên thủy, ta có thể qui nạp phân loại thành 12 loại:

1. Năm cái: Tham dục cái, sân khuể cái, thuỳ miên cái, điệu cử cái, nghi cái.

2. Bảy kiết (sử): Dục tham, hữu tham, sân khuể, mạn, nghi, kiến, vô minh.

3. Chín kiết: Lấy 7 kiết trên làm cơ sở, chỉ đổi hữu tham thành thủ, rồi thêm vào tật và xan.

4. Năm hạ phần kiết: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham và sân.

5. Năm thượng phần kiết: Sắc tham, vô sắc tham, điệu cử và vô minh.

6. Bốn bộc lưu: Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu và vô minh bộc lưu.

7. Bốn lậu: Dục lậu, hữu lậu, kiến lậu và vô minh lậu.

8. Bốn thủ: Dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã ngữ thủ.

9. Bốn hệ: Tham hệ, sân hệ, giới cấm hệ, thị chân chấp hệ.

10. Ba cầu: Dục cầu, hữu cầu, Phạm hạnh cầu.

11. Mười sáu tâm cấu: Bất pháp dục (ham muốn bậy bạ), sân, phẫn, hận, phú, não, tật, xan, siểm, cuống, cương phúc, báo phục tâm, mạn, quá mïan, kiêu, phóng dật.

12. Hai mươi mốt tâm uế: Tà kiến, phi pháp dụcc, ác tham, tà pháp, tham, khuể, thùy miên, điệu hối, nghi hoặc, sân triền miên, du siểm, vô tàm, vô quý, mạn, đại mạn, mạn ngạo, phóng dật.

Trong các trường hợp thích đáng, Đức Phật dùng những từ ngữ thích hợp để nói lên trạng thái của bệnh. Giống như phần liệt kê này, mười một hạng mục trước lấy từ “Phật giáo sử Ấn độ” của Long Sơn Trương Chơn, hạng mục thứ 12 lấy từ 93 loại trong kinh Trung A-hàm quyển 23.

Nếu rút gọn lại, không ngoài ba thứ tham, sân, si mà Đức Phật gọi là ba độc hay ba bất thiện căn, hoặc ba thứ lửa. Cận đại có người giải thích ba độc này như sau: “Tâm là một loại đạn tham dục hành vi và không biết đủ, liên tiếp tiến hành cấu thành sự tuần hoàn” (Ấn độ Phật giáo sử, quyển 2, chương 3 của Chu Trước). Lời giải thích này không nhất định là chính xác nhưng có vẻ dễ hiểu.

Do tham, sân, si mà phân biệt ra rất nhiều tên trạng thái tâm lý; vì đối trị với tham, sân, si, lại chia ra rất nhiều tên trạng thái tâm lý, kết quả của sự phân tích đó lại xuất hiện về sau này những cái gọi là Tâm vương, Tâm sở, Thiện tâm sở và Bất thiện tâm sở.

Nhân đây, chúng ta có thể nói Đức Phật phân tích tâm lý không giống như sự phân tích của Tâm lý học hiện đại. Đức Phật phân tích tâm lý là nhằm hướng dẫn con người đối trị tâm phiền não, còn Tâm lý học hiện đại chỉ là môn khoa học nhằm giới thiệu sinh lý học và khoa học xã hội.

Nếu miễn cưỡng biện biệt thì có thể nói: Tâm pháp của Đức Phật hướng dẫn đối trị tận cội rễ phiền não của con người, còn Tâm lý học hiện đại chỉ phân tích hiện tượng tâm lý bề mặt của con người mà thôi.

Tìm Hiểu Chung Về Phật Giáo

Cùng tìm hiểu về nguồn gốc của Phật Giáo để hiểu rõ hơn về việc liệu có phải tất cả các phật tử đều phải ăn chay.

Phật Giáo là gì ? Phật giáo là một tôn giáo dựa trên lời dạy của Siddhartha Gautama, người sống cách đây khoảng 26 thế kỷ ở phía Đông Bắc nước Ấn Độ và thuộc Nepal ngày nay. Ngài được người ta gọi là “Đức Phật” (Buddha) hàm nghĩa là một người tỉnh thức sau khi trải qua kinh nghiệm tu tập, nhận chân được bản chất của cuộc đời, sự sống và cái chết. Trong tiếng Anh, đức Phật còn được gọi là một người giác ngộ, mặc dù trong ngôn ngữ Sanskrit là “Bodhi” có ý nghĩa là “tỉnh thức”.

Trong suốt những năm còn tại thế, đức Phật đã du hành và thuyết pháp độ sinh. Tuy nhiên, Ngài không dạy cho mọi người những gì mà Ngài biết khi chứng ngộ, mà thay vào đó Ngài dạy cho mọi người làm thế nào nhận thức rõ tính giác ngộ vốn có sẵn ngay chính bản thân của họ. Ngài dạy rằng bản chất giác ngộ chỉ đến từ kinh nghiệm trực tiếp, chứ không thể thành tựu thông qua bằng niềm tin và các giáo điều.

Nhiều thế kỷ sau khi Ngài nhập diệt, Phật giáo được truyền bá khắp các nước châu Á và trở thành một tôn giáo có sức ảnh hưởng ở lục địa này. Ngày nay, ước tính số lượng Phật tử trên rất lớn, trong đó phải kể đến các nước châu Á, đạo Phật được xem như là đạo chủ chốt, và chúng ta thật khó biết được số lượng chính xác Phật tử ở các nước như Trung Quốc. Ngày nay, ước tính số lượng Phật tử trên thế giới có khoảng 350 triệu người. Điều này đã làm cho Phật giáo trở thành một trong bốn tôn giáo lớn nhất trên thế giới.

Tìm hiểu sự khác biệt Phật Giáo và các tôn giáo khác.

Phật giáo rất khác với các tôn giáo khác.Ví dụ, tâm điểm của hầu hết các tôn giáo là Thượng đế, hoặc Đấng toàn năng, thế nhưng Phật giáo là vô thần. Đức Phật dạy tin vào Thượng đế không mang lại lợi ích trong việc nhận thức chân lý giác ngộ.

Hầu hết các tôn giáo lấy niềm tin làm nền tảng căn bản. Nhưng trong Phật giáo niềm tin về một chủ thuyết nào đó nằm ngoài tầm nhận thức thì không thể chấp nhận. Đức Phật cho rằng, chúng ta không nên đặt niềm tin vào bất cứ một học thuyết nào dù học thuyết đó chúng ta được đọc nó trong kinh điển, hoặc được dạy bởi một vị thầy nào.

Thay vì chúng ta tin tưởng và học thuộc lòng những chủ thuyết, đức Phật dạy cho chúng ta làm thế nào có thể nhận chân được chân lý ngay chính mình. Phật giáo chú trọng việc hành trì hơn là niềm tin. Nguyên tắc chung chủ yếu cho người Phật tử hành trì dựa trên giáo lý Bát chánh đạo.

Phật pháp căn bản

Phật giáo nhấn mạnh tự do trong việc tìm hiểu. Cách tốt nhất để hiểu được Phật giáo, là phải xem Phật giáo như là những phương pháp để hành trì, và phương pháp này đòi hỏi sự tin tấn trong việc thực hành. Người Phật tử không nên chấp nhận niềm tin mù quáng, chỉ có hành trì là phương pháp tốt nhất để có thể cảm nhận và nhận thức đúng đắn những lời Phật dạy.

Có thể nói, giáo pháp căn bản của Phật giáo là giáo lý bốn sự thật cao cả hay còn gọi Tứ diệu đế.

2. Sự thật về nguyên nhân của khổ (Samudaya) 3. Sự thật về chấm dứt khổ (Nirhodha) 4. Sự thật về con đường thoát khỏi khổ (Magga)

Thông qua Tứ diệu đế, tôi nhận thấy chân lý dường như không có nhiều. Thế nhưng, ở tầm thấp hơn chân lý thì có vô số các lời dạy về bản chất tồn tại của cái ngã, về đời sống và cái chết, đề cập đến khổ đau. Tứ diệu đế không đề cập đến niềm tin vào giáo pháp, mà là một phương pháp giải thích về bản chất của Phật pháp, cách thấu hiểu, cách thực nghiệm Phật pháp thông qua kinh nghiệm của chính bản thân trong đời sống hằng ngày. Đây cũng chính là tiến trình của sự giải thích, nhận thức, thực nghiệm theo quan điểm Phật giáo.

Các trường phái khác nhau trong Phật giáo

Cách đây khoảng 2.000 năm, Phật giáo đã phân chia thành hai trường phái chính là Phật giáo Nguyên thủy và Phật giáo Đại thừa. Trong nhiều thế kỷ, Phật giáo Nguyên thủy đã có ảnh hưởng và truyền bá qua các nước như Sri Lanka, Thái Lan, Campuchia, Miến Điện và Lào. Trong khi đó Phật giáo Đại thừa lại được truyền bá sang các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Nepal, Mông Cổ, Triều Tiên và Việt Nam. Trong những năm gần đây, Phật giáo Đại thừa cũng có số lượng Phật tử rất lớn ở Ấn Độ. Trong Phật giáo Đại thừa lại được phân chia thành nhiều tông phái như là Tịnh Độ tông và Thiền Tông.

Hai trường phái trên có sự bất đồng chủ yếu trong học thuyết về Vô ngã, mà ngôn ngữ Pali gọi là anatman hay anatta. Theo học thuyết này, không có gì gọi là tự ngã, bởi mọi trạng thái vô thường, bản thể đều là không. Vô ngã là một học thuyết khó có thể hiểu được, thế nhưng đây là triết lý tinh ba mà chúng ta chỉ tìm thấy trong Phật giáo.

Rất cơ bản, Phật giáo Nguyên thủy xem vô ngã hàm nghĩa sự tồn tại về “cái tôi” của mỗi cá nhân, hoặc cá tính nào đó đều là một ảo tưởng. Một người khi giải thoát khỏi những ra khỏi ảo tưởng sai lầm này thì người đó có thể sống trong cảnh an lạc thảnh thơi mà danh từ Phật học gọi là Niết bàn (Nirvana). Quan điểm về Vô ngã của Phật giáo Đại thừa cao hơn, theo quan điểm Phật giáo Đại thừa thì tất cả các hiện tượng bản chất vốn là không, và chúng có mối tương quan mật thiết với các hiện tượng khác. Bản chất của vạn pháp vốn không có thật mà chỉ là mang tính tương đối. Quan điểm này Phật giáo Đại thừa gọi là “Duyên sinh, Không” (Shunyata).

Trí tuệ, tình thương và đạo đức

Có thể nói trí tuệ và tình thương là đôi mắt của Phật giáo. Trí tuệ mang tính chất đặc thù trong Phật giáo Đại thừa, dùng biểu thị cho những ai nhận chân được bản chất vô ngã của vạn pháp. Có hai từ để phiên dịch từ “Từ bi” là Metta và Karuna. Metta theo ngôn ngữ Pali có nghĩa là lòng nhân từ đối với tất cả chúng sinh, một tình thương không có phân biệt, vượt lên sự chấp trước ích kỷ của cái tôi. Trong khi đó từ Karuna dùng để ám chỉ cho hành động cảm thông, tình thương không biên giới, là một sự tự nguyện không mang đau khổ đến cho những người khác, và đó chính là lòng trắc ẩn. Từ (metta), Bi (karuna), Hỷ (mudita) và Xả (upeksha) được xem là bốn đức hạnh cao cả mênh mông mà người Phật tử cần phải tự thân tu tập.

Một người khi họ đã hoàn thiện về đức hạnh thì sẽ có hành động đúng trong mọi hoàn cảnh. Đối với người sơ cơ cần phải gìn giữ giới luật.

Một số hiểu lầm thường gặp

Có hai điều mà hầu hết mọi người cho rằng họ hiểu biết về Phật giáo là Phật giáo tin tưởng sự tái sinh và tất cả người Phật tử đều ăn chay. Tuy nhiên, hai quan niệm này hoàn không đúng, sự tái sinh trong Phật pháp rất khác so với những gì mà hầu hết mọi người gọi là sự đầu thai. Trong khi đó việc ăn chay được khuyến khích trong một số trường phái, ăn chay chỉ là sự lựa chọn của mỗi cá nhân, mà hoàn toàn không có một sự bắt buộc nào.

-ST-

Tìm Hiểu Sơ Lược Về Phật Giáo Hòa Hảo

Chủ nhật, 16 Tháng 12 2012 02:28 Super User

Phật giáo Hòa Hảo, hay còn gọi là đạo Hòa Hảo, là một tông phái Phật giáo do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm 1939, lấy pháp môn Tịnh Độ tông làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia. Theo thống kê năm 2009 có khoảng 1.433.252 tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo khiến tôn giáo này trở thành tôn giáo có số tín đồ đông thứ ba tại Việt Nam. tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ. Đặc biệt là An Giang với 936.974 tín đồ Phật Giáo Hòa Hỏa là tỉnh có số tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo đông nhất cả nước chiếm 44% dân số toàn tỉnh và chiếm 65% tín đồ Phật giáo Hòa Hảo trong cả nước. Tiếp đến là Cần Thơ (227.117 tín đồ) và Đồng Tháp (196.143 tín đồ). Hiện nay, trong thư viện của hơn 30 quốc gia trên thế giới vẫn còn giữ những tài liệu sách báo về đạo này.

Tổ đình Phật giáo Hòa Hảo, xưa thuộc làng Hòa Hảo, nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang

Đạo Hòa Hảo ra đời tại làng Hòa Hảo, quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) vào năm 1939 do Huỳnh Phú Sổ sáng lập.

Huỳnh Phú Sổ tự nhận mình là bậc “sinh như tri”, biết được quá khứ nhìn thấu tương lai, được thọ mệnh cùng với Phật A-di-đà và Phật Thích-ca Mâu-ni, xuống hạ giới có nhiệm vụ truyền bá cho dân chúng tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để “Chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, biển khổ và đưa tới chốn Tây phương cực lạc”. Ông chữa bệnh cho người dân bằng các bài thuốc đã học trong lúc đi chữa bệnh, đồng thời qua đó ông truyền dạy giáo lý bằng những bài sám giảng (còn gọi là sấm giảng) do ông soạn thảo. Vì vậy chỉ trong vòng 2 năm từ 1937 đến 1939 số người tin theo ông đã khá đông và ông trở nên nổi tiếng khắp vùng.

Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ

Ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão (tức 4 tháng 7 năm 1939), Huỳnh Phú sổ bắt đầu khai đạo, khi ông chưa tròn 20 tuổi. Nơi tổ chức lễ khai đạo chính là gia đình ông. Ông đã lấy tên ngôi làng Hòa Hảo nơi mình sinh ra để đặt tên cho tôn giáo mới của mình: đạo Hòa Hảo hay Phật giáo Hòa Hảo. Sau đó, ông được các tín đồ suy tôn làm giáo chủ mối đạo, và gọi ông bằng cái tên tôn kính là Huỳnh Giáo Chủ.

Kể từ đó, ông lần lượt làm nhiều bài thơ ca, sau được tập hợp lại thành quyển Sấm giảng thi văn giáo lý, có phần gần gũi với tư tưởng thần bí và tín ngưỡng dân gian ở Nam Bộ lúc bấy giờ.

.

Thời kỳ Nhật xâm chiếm

Sang năm 1941, đạo Hòa Hảo tiếp tục gia tăng số lượng tín đồ của mình một cách nhanh chóng. Khi Nhật vào Đông Dương, Pháp lo ngại Nhật tranh thủ giáo phái Hòa Hảo nên đã câu thúc Huỳnh Phú Sổ ở Châu Đốc, Bạc Liêu, Cần Thơ. Năm 1942, Nhật vận động được giáo chủ Hòa Hảo về Sài Gòn. Tại đây ông đã vận động được nhiều nhân vật hoạt động chính trị thân Nhật vào đạo Hòa Hảo để gây thanh thế, đồng thời thời gian này nhiều thanh niên theo đạo Hòa Hảo cũng tham gia các tổ chức của Nhật.

.

Thời kỳ 1945 – 1955

Năm 1946, Huỳnh Phú Sổ cùng với những người lãnh đạo Hòa Hảo thành lập tổ chức Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng gọi tắt là “Đảng Dân xã” vào Tháng Chín năm 1946 bao gồm lực lượng nòng cốt trong Hòa Hảo và tổ chức Việt Nam Quốc gia Độc lập Đảng. Đảng Dân xã có điều lệ và chương trình hành động, cơ cấu tổ chức riêng, có vai trò như một tổ chức chính trị. Từ đó Hòa Hảo vừa có đạo vừa có đảng mang hình thức gần với một tổ chức chính trị. Khối Hòa Hảo còn tổ chức lại lực lượng vũ trang vào Tháng Sáu năm 1946 mang tên “Nghĩa quân Cách mạng Vệ quốc Liên đội Nguyễn Trung Trực”.

Năm 1947, Huỳnh Phú Sổ mất tích trong khi trên đường đi hòa giải giữa Việt Minh và Hòa Hảo; theo các tài liệu Tây phương, Việt Nam Cộng hòa và Phật giáo Hòa Hảo thì ông bị Việt Minh thủ tiêu. Sau đó nội bộ Hòa Hảo tách ra làm mấy nhóm; có nhóm ngả theo Việt Minh, nhóm thì chống lại, gây ra những vụ thanh toán và tranh giành ảnh hưởng có khi đẫm máu. Mỗi nhóm cát cứ ở những vùng như Long Xuyên, Châu Đốc, Cần Thơ.

Chính phủ Đệ nhất Cộng hòa sau khi thành lập năm 1955 thì mở những cuộc hành quân như “Chiến dịch Đinh Tiên Hoàng” rồi “Chiến dịch Nguyễn Huệ” để bình định các giáo phái hầu thống nhất quân lực. Các lãnh tụ Hòa Hảo như tướng Trần Văn Soái (biệt danh Năm Lửa) rút về cố thủ Đồng Tháp; tướng Lê Quang Vinh (Ba Cụt) thì đem quân về chống giữ ở Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá. Bị truy nã Trần Văn Soái ra hàng còn Lê Quang Vinh thì bị bắt, sau đem xử tử.

.

Thời kỳ 1956-1975

Năm 1964 sau khi Nền Đệ nhất Cộng hòa bị lật đổ đạo Hòa Hảo có sự củng cố lại về tổ chức, xây dựng mở mang các cơ sở tôn giáo, văn hóa, xã hội. Hệ thống Ban trị sự được kiện toàn từ trung ương đến cơ sở (hình thành cơ cấu tổ chức 4 cấp trung ương, tỉnh, huyện, xã). Đảng Dân xã cũng được củng cố để hỗ trợ cho đạo, đồng thời cơ quan lãnh đạo Hòa Hảo có sự phân đôi thành 2 ban trị sự trung ương: phái cũ do Lương Trọng Tường, phái mới do Huỳnh Văn Nhiệm đứng đầu.

Năm 1972 Lê Quang Liêm tách ra khỏi phái cũ của Lương Trọng Tường thành lập ban trị sự trung ương mới. Lúc này đạo Hòa Hảo có tới 3 ban trị sự trung ương cùng tồn tại cho đến thống nhất đất nước. Dù phân hóa, Phật giáo Hòa Hảo tiếp tục phát triển vào thời Đệ nhị Cộng hòa trong đó một sự kiện lớn là việc thành lập Viện Đại học Hòa Hảo năm 1972 ở Long Xuyên. Khi chính thể Việt Nam Cộng hòa sụp đổ thì các nhóm Hòa Hảo điều hành tổng cộng sáu trường trung học phổ thông, một viện đại học và hai bệnh viện. Tất cả những cơ sở này bị chính quyền mới trưng dụng quốc hữu hóa.

Đến nay, Hòa Hảo vẫn phát triển chú yếu trong vùng tứ giác Long Xuyên. Số lượng tín đồ khoảng 2 triệu người.

Hiện nay, Ban trị sự và chính quyền huyện Phú Tân có ý định xây dựng tượng đài Đức huỳnh giáo chủ tại 1 địa điểm ở thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân.

.

Giáo lý Hòa Hảo

Sấm giảng đạo Phật giáo Hòa Hảo

Giáo lý Hòa Hảo được thể hiện trong những bài sấm kệ do Huỳnh Phú Sổ biên soạn, bao gồm 6 tập:

Sấm khuyên người đi tu niệm

Kệ của người Khùng

Sấm giảng

Giác mê tâm kệ

Khuyến thiện

Những điều sơ học cần thiết của kẻ tu hiền

Có thể nhận thấy giáo lý Hòa Hảo là sự tiếp thu và nâng cao tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương của Đoàn Minh Huyên, gồm phần “Học Phật” và phần “Tu nhân”:

Phần “Học Phật”: chủ yếu dựa vào giáo lý đạo Phật song được giản lược nhiều và có thêm bớt đôi chút. Tinh thần chính là khuyên tín đồ ăn ngay ở hiền.

Phần “Tu nhân”: theo giáo lý Hòa Hảo tu nhân có nghĩa là tu “tứ ân hiếu nghĩa”- đó là 4 điều Đoàn Minh Huyên, đã chỉ ra, bao gồm Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân đồng bào nhân loại, Ân tam bảo (Phật, Pháp, Tăng).

Đạo Hòa Hảo khuyên tín đồ vừa học Phật vừa tu nhân để tạo nên công đức. Có công đức để trở thành bậc hiền nhân. Song, họ đặc biệt yêu cầu tín đạo phải tu nhân, cho rằng việc tu hành phải dựa trên đạo đức, trước hết đạo làm người: Thiên kinh vạn điển, hiếu nghĩa vi tiên (Không có tu nhân thì không thể học Phật, hoặc học Phật mà chẳng tu nhân thì cũng vô nghĩa); Dụng tu Tiên đạo, tiên tu Nhân đạo; Nhân đạo bất tu, Tiên tu viễn ký (Muốn tu thành Tiên Phật trước hết phải tu đạo làm người, đạo người mà không tu thì Tiên Phật còn xa vời).

.

Nghi lễ và tổ chức

Đạo Hoà Hảo chủ trương tu tại gia hơn là đi lễ chùa. Họ chủ trương giúp đỡ người nghèo hơn là cúng tiền xây chùa hay tổ chức lễ hội tốn kém. Những buổi lễ được tổ chức rất đơn giản và khiêm tốn, không có ăn uống, hội hè. Lễ lộc, cưới hỏi hay ma chay không cầu kỳ như thường thấy ở những tôn giáo khác. Họ cho đó là những sự phung phí thay vì dùng tiền đó dể giúp đỡ những người thực sự cần đến.

Đạo Hòa Hảo không có tu sĩ, không có tổ chức giáo hội mà chỉ có một số chức sắc lo việc đạo và cả việc đời. Không có nơi thờ công cộng, trung tâm của đạo ở làng Hòa Hảo gọi là tổ đình cũng chỉ mang tính gia tộc. Đạo này không xây dựng chùa chiền, không có tượng ảnh thờ. Vật thờ của đạo Hòa Hảo hiện nay là tấm vải có màu nâu sẫm (trần điều) trên bàn thờ (còn gọi là trang thờ) đặt ở gian chính giữa và xây một bàn thông thiên ở sân trước của nhà. Việc thờ phụng này thể hiện tư tưởng của Phật giáo: “Phật tại tâm, tâm tức Phật”. Đạo Hòa Hảo thờ Phật, ông bà tổ tiên và các anh hùng tiên liệt có công với đất nước, không thờ các thần thánh nếu không rõ nguyên nhân.

Lễ vật khi thờ phúng cũng rất đơn giản chỉ có hoa và nước lạnh (nước mưa, nước lọc tinh khiết). Ban đêm đốt đèn ở bàn thờ trong nhà và bàn thờ thông thiên. Khi thờ tín đồ chỉ đọc sấm giảng do thầy Huỳnh Phú Sổ soạn và niệm lục tự Nam-mô-a-di-đà-Phật với mục đích tĩnh tâm và cầu vãng sanh Tịnh Độ.

.

Các ngày lễ tết

Trong một năm, theo âm lịch đạo Hòa Hảo có các ngày lễ, Tết chính:

Ngày 1 tháng Giêng: Tết Nguyên Đán

Ngày Rằm tháng Giêng: Lễ thượng nguyên

Ngày 8 tháng 4: Lễ Phật đản

Ngày 18 tháng 5: Lễ khai đạo

Ngày Rằm tháng 7: Lễ trung nguyên

Ngày 12 tháng 8: Vía Phật thày Tây An

Ngày Rằm tháng 10: Lễ hạ nguyên

Ngày Rằm tháng 11: Lễ Phật A-di-đà

Ngày 25 tháng 11: Lễ sinh nhật giáo chủ Huỳnh Phú Sổ

Ngày 8 tháng Chạp: Lễ Phật thành đạo

Bửu Sơn Tự tại Sông Cầu (Phú Yên). Hiện nay, đây là ngôi thờ của đạo xa nhất, tính từ nơi khai sáng đạo là huyện Phú Tân

Theo Bách khoa Toàn thư mở

Cập nhật thông tin chi tiết về Tìm Hiểu Về Phật Giáo Nguyên Thủy trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!