Xu Hướng 3/2024 # Tìm Hiểu Sự Khác Biệt Văn Hoá Giữa Nhật Bản Và Các Quốc Gia Khác Trên Thế Giới # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Tìm Hiểu Sự Khác Biệt Văn Hoá Giữa Nhật Bản Và Các Quốc Gia Khác Trên Thế Giới được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Nhật Bản là đất nước được mệnh danh là có toilet sạch nhất thế giới.

Việc giữ gìn vệ sinh Toilet là 1 trong những điều mà công dân Nhật Bản được phổ cập triệt để ngay từ lứa tuổi nhỏ. Các bạn có biết rằng ngay tại trường mẫu giáo các em đã được giáo dục về ý thức giữ vệ sinh chung để tránh làm phiền mọi người xung quay. Trong chương trình giảng dạy cũng có công việc cọ rửa toilet và các bé cùng nhau cọ toilet khi đến phiên trực của mình.

Các doanh nghiệp ở Nhật Bản cực kỳ quan tâm đến việc giữ gìn vệ sinh tại địa điểm kinh doanh cũng như toilet của họ. Bởi nếu như một toilet dơ bẩn ở trong siêu thị sẽ thể hiện được thái độ phớt lờ của doanh nghiệp trong ý thức giáo dục ý thức của nhân viên. Cũng như không chú trọng vấn đề vệ sinh của họ tại nơi kinh doanh của mình. Và từ đó khách hàng sẽ dễ liên tưởng đến các loại thực phẩm được bày bán ở đó có hợp vệ sinh hay không. Kể từ đó kinh doanh sẽ bị giảm sút và bị tẩy chay ngay.

2. Người Nhật sẽ tạo tiếng động khi ăn

Với nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam chúng ta, khi ăn mọi người thường có quan niệm phải ăn nhẹ nhàng, không nên phát ra tiếng và thậm chí có nhiều nơi còn không được nói chuyện khi ăn… những hành động như vậy sẽ bị xem là mất lịch sự. 

Nhưng điều này lại hoàn toàn trái ngược khi đến với Nhật Bản, với người Nhật, đặc biệt là những gia chủ hiếu khách sẽ cảm thấy vui khi nghe thấy tiếng xì xụp của bạn khi ăn, bởi điều này chứng tỏ đồ ăn rất ngon miệng đối với bạn. Ngược lại, nếu bạn ăn một cách quá im lặng thì họ đang cho rằng bạn nghĩ món ăn đó không ngon.

3. Giữ im lặng nơi công cộng

Ở Việt Nam chúng ta, khi sử dụng phương tiện công cộng như xe bus mọi người sẽ bắt gặp những hình ảnh như: nhiều người trò chuyện, người chơi game, thậm chí bác tài cũng sẽ phát nhạc trong loa cho cả xe nghe. Nếu nói lịch sự thì không khí vô cùng náo nhiệt, nhưng nếu nói chính xác thì rất ồn ào. 

Ngược lại, nếu sử dụng phương tiện công cộng ở Nhật Bản bạn sẽ không nghe thấy bất kỳ âm thanh nào. Đây chính là một trong những nguyên tắc ở đất nước, khi bạn sử dụng phương tiện công cộng, bạn không nên (thậm chí là không được phép) nói chuyện điện thoại. Nếu bạn đi du lịch bằng tàu điện ngầm hay tàu ở tất cả mọi nơi trên nước Nhật (kể cả những thành phố đông đúc và bận rộn như Tokyo và Osaka) bạn sẽ nhận thấy rằng mọi người đều yên lặng. Mọi người sẽ không nói chuyện điện thoại và thậm chí là hiếm khi nói chuyện với người khác. Nếu ai đó nói chuyện rất to bằng điện thoại, có lẽ họ sẽ nhận được vài cái nhìn đầy phán xét vì hành động này. Tương tự, nếu điện thoại của ai đó đổ chuông lớn, thì người đó hẳn sẽ thấy ngượng ngùng và hấp tấp tắt điện thoại thật nhanh.

Xã hội Nhật Bản cực kỳ coi trọng sự riêng tư cá nhân và lên án hành động xâm phạm sự riêng tư đó. Việc không nói chuyện điện thoại trên phương tiện công cộng chỉ là một những quy tắc ứng xử nhằm bảo vệ điều này.

4. Người Nhật rất có ý thức giữ vệ sinh công cộng và thường mang rác về nhà

Người dân ở Nhật Bản từ nhỏ đã được giáo dục rằng phải có trách nhiệm với những việc mình làm, kể cả rác thải. Do đó khi đặt chân đến đất nước này bạn sẽ không thấy bất kỳ loại rác nào trên đường cả, bởi vì người dân ở đây rất có ý thức, thậm chí họ còn chuẩn bị sẵn một túi nilon khi ra ngoài để có thể mang rác về nhà nếu không tìm thấy thùng rác.

5. Tắm onsen

Tắm onsen là một hình thức tắm phổ biến được yêu thích. Onsen là suối nước nóng tự nhiên, do ở Nhật có nhiều núi lửa. Nước từ Onsen là nước tinh khiết từ các nguồn nước ngầm dưới lòng đất và rất giàu khoáng chất. Vì thế người Nhật tìm đến Onsen không chỉ để thư giãn mà còn để chữa bệnh và chăm sóc cho cơ thể nữa.

Nếu như các nơi khác trên thế giới, tắm được xem là một việc riêng tư nên hầu hết mọi người đều tắm một mình. Nhưng khi tắm Onsen ở Nhật tất cả mọi người sẽ tắm cùng nhau ngoài trời và hoà hợp với thiên nhiên.

Mặc đồ khi tắm onsen là một điều tối kỵ. Điều này bắt nguồn từ thời Edo, các suối nước nóng được coi là “vùng đình chiến”, những quan chức và samurai luôn khỏa thân 100% để chứng minh với đối thủ rằng mình không mang theo bất cứ vũ khí gì. Thế nên thói quen tắm Onsen thể hiện sự bình đẳng của mọi người, không phân biệt giới tính, tuổi tác.

Cảm ơn các bạn vì đã quan tâm đến bài viết.

Tìm Hiểu Văn Hóa Nhật : Sự Khác Biệt Giữa Kimono Và Yukata

1) Ý nghĩa tên gọi

Ý nghĩa tên gọi của Kimono là ” Mặc đồ ” . ” Ki ” mang nghĩa ” Mặc ” , ” Mono ” mang nghĩa ” Đồ “. Đây là một trang phục truyền thống và có ý nghĩa rất lớn với đất nước Nhật Bản.

Vậy Yukata có ý nghĩa gì???

” Yukata ” được ghép từ 2 từ ” Yu ” mang nghĩa ” Tắm ” và ” katabira ” mang nghĩa ” Đồ mặc phía trong “. Đây là một lọai trang phục người Nhật thường mặc sau khi tắm để cảm thấy mát mẻ và thoải mái hơn. Ngày nay, trang phục này được diện rộng rãi ra đường khi thêm vào lớp lót bên trong.

2) Cấu trúc và chất liệu

Về cấu trúc : Nhìn sơ qua thì ta thấy cả Kimono và Yukata đều có cấu trúc khá giống nhau. Tuy nhiên, vẫn có vài điểm khác nhau giữa 2 loại trang phục này.

+ Kimono thì khi mặc phía trong phải kèm theo một lớp áo lót dài và một lớp áo lót ngắn. Về Yukata, có một số trường hợp ngoại lệ sẽ mặc áo lót trong nhưng theo quy chuẩn thì không, áo lót trong là một đặc trưng của Kimono.

+ Cả Kimono và Yukata đều có một phần rất đặc biệt so với các loại trang phục khác đó là ” Tay áo”. Tuy nhiên, tay áo của Kimono thường dài qua khủyu tay của người mặc còn Yukata thì có cấu trúc tay áo ngắn.

Về Chất liệu: Vì Kimono và Yukata được sử dụng vì mục đích và trong những dịp khác nhau nên phần chất liệu cũng có sự khác biệt.

+ Kimono thường được may từ lụa, đây là loại vải lí tưởng cho trang phục này. Ngoài ra, ngày nay Kimono còn được may từ các loại vải như: Nỉ bông, cotton, tơ nhân tạo, sa-tanh, vải sợi tổng hợp hóa học,…

+ Yukata đề cao sự thoải mái, nhẹ nhàng và thấm hút mồ hôi tốt nên trang phục thường chỉ được may bằng vải cottton.

3) Thiết kế và màu sắc

Kimono được thiết kế khá cầu kì với nhiều lớp và thường được may bằng những gam màu tối, trung tính hoặc những gam màu có tính nhã nhặn để thể hiện sự trang trọng. Đặc biệt, các họa tiết trang trí Kimono rất đa dạng , ta có thể bắt gặp những họa tiết như hoa anh đào với nhiều màu sắc hay những chú hồng hạc lộng lẫy xuất hiện trên trang phục truyền thống này.

Trong khi đó, Yukata được thiết kế khá đơn giản với những gam màu rực rỡ để đem lại sự thoải mái và trẻ trung cho người mặc . Trước đây, trang phục thường được thiết kế với màu xanh đậm và trắng. Tuy nhiên, theo xu hướng thời trang ngày nay thì trang phục đã được thay đổi, biến tấu đôi chút. Ta có thể dễ dàng thấy các cô gái Nhật diện những bộ Yukata nhiều màu sắc với kiểu dáng và thiết kế đa dạng cùng những họa tiết dễ thương , ngộ nghĩnh như: trời, mây, hoa, trái cây,….

4) Hoàn cảnh

Với sự khác nhau về cấu trúc, chất liệu , màu sắc và thiết kế như trên thì hai trang phục chắc chắn sẽ có sự khác biệt về hoàn cảnh sử dụng.

Về Kimono: Có thể mặc mùa hè và mùa đông nên nhìn chung Kimono có thể mặc quanh năm. Vì đây là trang phục truyền thống đại diện cho đất nước Nhật Bản nên thường được mặc trong những dịp lễ đặc biệt, hoặc trong các lễ cưới, đám tang trang trọng hay các buổi trà đạo,…

Về Yukata: Với những đặc điểm về cấu tạo và chất liệu thì trang phục này thường được sử dụng để mặc sau khi tắm và thường mặc ở nhà, mặc ngủ. Tuy nhiên, ngày nay trang phục này cũng được sử dụng rộng rãi trong các lễ hội mùa hè vì sự thoải mái và tiện dụng của nó. Hình ảnh những cô gái mặc Yukata với họa tiết , màu sắc rực rỡ vui đùa trong lễ hội pháo hoa đã trở thành đặc trưng của người Nhật.

Mọi thông tin liên hệ:

Việc làm chúng tôi – Website tuyển dụng nhân sự tiếng Nhật, tìm việc làm tiếng Nhật uy tín tại Việt Nam. Chuyên tuyển dụng các Jobs tiếng Nhật cấp cao cho các Cty tầm cỡ của Nhật Bản đầu tư tại Việt Nam.

Tìm Hiểu Về Kimono – Nét Văn Hoá Nhật Bản

Tìm hiểu về kimono – Nét văn hoá Nhật Bản

Kimono từ lâu đã được xem như một phần quan trọng không thể thiếu trong văn hóa Nhật Bản. Mang trong mình một vẻ đẹp rất riêng cùng nhiều ý nghĩa quan trọng; kimono chứa đựng trong mình những giá trị đặc sắc của một nền văn hóa truyền thống phương Đông. Bởi lẽ ấy, KIMONO được xem là vẻ đẹp và niềm tự hào của người Nhật Bản. Kimono là món quà mà người làm cha me muốn tặng con vào những khoảnh khắc đặc biệt của cuộc đời (khi trường thành, khi kết hôn,…), là bảo vật lưu truyền qua thế hệ của gia đình. Những bộ Kimono có thể sẽ gắn liền với người mặc trong suốt cuộc đời.

Kimono rất đa dạng và vô củng độc đáo như chính bề dày lịch sử, văn hóa xứ Phù Tang. Tùy theo mỗi độ tuổi; tầng lớp và thời gian các mùa trong năm mà có những loại Kimono khác nhau.

Kimono có nhiều loại như furisode (dành cho thiếu nữ còn độc thân, ống tay áo rộng và dài, màu sắc tươi tắn với nhiều hoa văn trang trí), tomesode (dành cho phụ nữ đã có gia đình, đặc trưng bởi ống tay áo ngắn, màu chủ đạo truyền thống ở thân áo là màu đen, hōmongi (thông dụng dành cho phụ nữ đã có gia đình, mặc trong tiệc trà, họp mặt người thân hoặc các cuộc viếng thăm theo nghi thức), tsukesage (được mặc trong các buổi tiệc, tiệc trà, cắm hoa và đám cưới của bạn bè), komon (mặc trong dịp bình thường, họa tiết nhỏ, nhẹ nhàng), tsumugi (cũng mặc trong những dịp bình thường nhưng các họa tiết sáng và rõ ràng hơn), yukata (mặc trong mùa hè, làm bằng vải cotton với tay áo ngắn) và shiromuku (lễ phục trắng cô dâu mặc trong đám cưới với phần đuôi áo khá dài và toả tròn ra.

Ngoài ra, Kimono còn  được phân biệt theo thời tiết 4 mùa. Từ tháng 1 đến tháng 5 do thời tiết lạnh nên kimono được sử dụng là loại có vải lót dày bên trong, màu sắc ấm cúng. Từ tháng 6 đến tháng 9, thời tiết mùa hè nóng, kimono được dùng không có vải lót, màu sắc dịu mát (gọi là hitoe). Trong thời điểm nóng nhất năm, kimono được dùng là loại may bằng vài mát và mỏng nhất.

Các phụ kiện kèm theo kimono bao gồm thắt lưng Obi ( dành cho phụ nữ); thắt lưng kaku và hekobi ( dành cho nam); trâm cài đầu (ngày nay có thể thay thế bằng nơ, dây buộc tóc) và guốc gỗ.

Guốc của đàn ông thường to, góc cạnh và thấp còn phụ nữ thì ngược lại.

Ngày nay, người Nhật không mặc Kimono thường xuyên như trước mà chỉ mặc trong những dịp lễ và sự kiện đặc biệt. Kimono chính là một nét đặc trưng riêng vô cùng độc đáo của nền văn hóa Nhật Bản.

Để tìm hiểu rõ hơn về kimono, mời bạn liên hệ: CÔNG TY TNHH MTV TM NIHONWASOU Đ/C : Phòng 1B Valentina Court, 124 Điện Biên Phủ, P. Đakao, Quận 1, TP. HCM Hotline: (028) 3820 4855 Có thể bạn muốn xem: kimono, kimono truyền thống, kimono truyền thống cho nữ, kimono truyền thống cho nam, kimono truyen thong, kimono truyen thong cho nu, kimono truyen thong cho nam, kimono cho nữ, kimono cho nu, kimono cho nam, cách làm tóc khi mặc kimono, cach lam toc khi mac kimono, cách búi tóc mặc kimono, cach bui toc khi mac kimono, cách trang điểm khi mặc kimono, cach trang diem khi mac kimono, cách mặc trang phục kimono, cach mac trang phuc kimono, cách mặc kimono đẹp, cach mac kimono dep, những cách mặc kimono, nhung cach mac kimono, cách mặc đồ kimono, cach mac do kimono, cách mặc áo khoác kimono, cach mac ao khoac kimono, cách mặc áo khoác kimono đẹp, cach mac ao khoac kimono dep, cách mặc kimono và yukata, cach mac kimono va yukata, cách mặc kimono nữ, cach mac kimono nu, cách mặc kimono cho nữ, cach mac kimono cho nu, cách mặc kimono truyền thống, cach mac kimono truyen thong, cách mặc kimono nam, cach mac kimono nam, cách mặc kimono cho nam, cach mac kimono cho nam, cách mặc kimono đúng, cach mac kimono dung, cách đi khi mặc kimono, cach di khi mac kimono, cách mặc kimono nhật bản, cach mac kimono nhat ban, mặc kimono cách điệu, mac kimono cach dieu….

Tìm Hiểu Sự Khác Nhau Giữa Đền Và Chùa Ở Nhật Bản

Đền chùa là hình ảnh thường bắt gặp ở các địa phương trên mọi miền của Nhật Bản. Dù không có quá nhiều dịp để vãn cảnh đền chùa nhưng tới thăm đền chùa vào những ngày như đầu năm mới cùng với người thân, bạn bè là văn hoá của người Nhật.

Đền và chùa đều là những nơi vô cùng thiêng liêng, thần thánh. Vậy đối với người Nhật người ta phân biệt giữa đền và chùa như thế nào?

Cách nhìn độc đáo về tôn giáo của người Nhật

Ở Nhật Giáng sinh, lễ Tình nhân, gần đây còn có ngày lễ hoá trang Halloween… đều là những dịp mà mọi người vô cùng hân hoan đón chào. Tuy nhiên cũng không thể không kể đến Tết Dương lịch, ngày hội ném đậu Setsubun… những ngày mang tính chất truyền thống được truyền từ đời này sang đời khác.

Có khá nhiều các trường mẫu giáo, trường học theo đạo Thiên Chúa giáo, Phật giáo ở Nhật. Nhiều người Nhật theo học những trường học khác với tôn giáo của chính mình. Ngoài ra, việc tổ chức hôn lễ theo phong cách Thiên Chúa giáo ở các nhà thờ là điều không hề hiếm.

Tuy có người rất sùng bái tôn giáo của mình nhưng cũng có người không quá câu nệ trong vấn đề tôn giáo. Họ chỉ đơn giản là muốn tham gia một cách vui vẻ vào các nghi thức. Không những thế còn có người tin vào những tôn giáo khác nhau và hành xử một cách linh hoạt theo từng tôn giáo.

Đền ở Nhật

Đền được dựa trên đạo Shinto là một tín ngưỡng của dân tộc Nhật Bản. Người ta tin rằng đền là nơi có sự tồn tại của thần thánh. Theo đạo Shinto thì vạn vật trên thế gian đều có một vị thần tương ứng. Thần thánh thì không tồn tại ở hình dạng như các tượng mà là đối tượng không nhìn thấy được. Người Nhật ý thức mạnh mẽ rằng các vị thần sẽ bảo vệ cho bộ tộc, xóm làng và vô cùng thân thiết đối với cuộc sống hàng ngày của con người.

Điểm đặc trưng có thể nhìn thấy ở các đền là sự có mặt của Linh Mục (神主 – Kannushi), Miko (巫女 – thiếu nữ phục vụ trong đền), cổng Torii (鳥居 – các cánh cổng được sơn đỏ), thánh điện (社殿 – shaden), sando (参道 – con đường dẫn đến miếu).

Chùa ở Nhật

Cũng giống với chùa ở Việt Nam, chùa ở Nhật cũng là nơi thuộc về Phật giáo. Trước đây nó được bắt đầu là nơi tiến hành các nghi thức của các tăng lữ. Sau đó với sự có mặt của các tượng Phật người ta xây dựng nên các Phật đường và là nơi dành cho những người tin vào Phật giáo.

Ở chùa thường có các tăng lữ, nữ tu. Đây là nơi tiến hành đọc Kinh thánh của Phật giáo, tổ chức tang lễ. Trong khuôn viên của chùa có hình thức mua bán và quản lí đất để xây mộ cho người đã mất.

Ngày Tết nên đi vãn cảnh đền hay chùa?

Ở Nhật vào những ngày thường, họ ít khi đến đền hoặc chùa. Tuy nhiên dịp đầu năm mới cũng giống người Việt Nam người Nhật thường tới những chốn linh thiêng này.

Vậy thì vào những ngày đầu năm mới, đi thăm đền hay chùa mới là đúng? Câu trả lời là cả 2 đều được. Theo thông lệ người ta có thể đến chùa để thăm mộ của tổ tiên hoặc tới tế lễ vị thần ở gần nơi mình đang sinh sống. Đó là tục lệ từ ngày xưa. Tuy nhiên gần đây người Nhật có thể đi tới ngôi đền, chùa nào mà mình muốn đi không quan trọng phải gần nơi mình ở.

Nami (LOCOBEE)

So Sánh Văn Hóa Quốc Gia Giữa Việt Nam Và Nhật Bản

Nếu chúng ta khám phá Nhật Bản qua lăng kính văn hóa xã hội và con người, chúng ta có thể có được một cái nhìn tổng quan và sâu sắc về văn hóa Nhật Bản rất khác biệt so với các nền văn hóa thế giới khác. Đặc biệt là Việt Nam, tuy cùng chung châu lục các lịch sử văn hóa cũng có nhiều điểm giao thoa, tuy nhiên sự khác biệt vẫn là rất lớn.

Nguồn: hofstede-insights.com

1. Khoảng cách quyền lực

Nhật bản với số điểm trung bình là 54, là một xã hội phân cấp biên giới. Vâng, người Nhật luôn ý thức về vị trí phân cấp của họ trong bất kỳ môi trường xã hội nào và hành động tương ứng. Tuy nhiên, nó không phân cấp như hầu hết các nền văn hóa châu Á khác. Một số người nước ngoài trải nghiệm Nhật Bản cực kỳ phân cấp vì kinh nghiệm kinh doanh của họ về quá trình ra quyết định chậm chạp: tất cả các quyết định phải được xác nhận bởi mỗi lớp phân cấp và cuối cùng là quản lý cấp cao ở Tokyo.

Việt Nam đạt điểm cao về chiều này (điểm 70), điều đó có nghĩa là mọi người chấp nhận một trật tự thứ bậc trong đó mọi người đều có một vị trí và không cần biện minh thêm. Hệ thống phân cấp trong một tổ chức được coi là phản ánh sự bất bình đẳng vốn có, tập trung hóa là phổ biến, cấp dưới mong muốn được nói phải làm gì và ông chủ lý tưởng là một người chuyên quyền nhân từ. Những thách thức đối với các nhà lãnh đạo không được đón nhận.

2. Chủ nghĩa cá nhân

Chủ nghĩa cá nhân hay là sự đề cao tính cá nhân và tính tập thể trong một quốc gia, một xã hội. Trong các xã hội theo chủ nghĩa cá nhân, mối quan hệ giữa con người tương đối lỏng lẻo, mỗi người có xu hướng chỉ quan tâm đến lợi ích của bản thân mình. Những xã hội này ưa thích tính cá nhân hơn sự đoàn kết tập thể. Cạnh tranh được đưa ra làm tiêu chuẩn để đo lường và ai cạnh tranh tốt nhất sẽ giành được phần thưởng. Các nước phương Tây như: Australia, Canada, Anh, Hoa Kỳ… là những đất nước đặc trưng theo chủ nghĩa cá nhân.

Nhật Bản đạt 46 điểm trên khía cạnh Chủ nghĩa cá nhân, đây là một con số cao hơn nhiều so với các nước xung quanh như Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam. Xã hội Nhật Bản cũng cho thấy nhiều đặc điểm của một xã hội tập thể: như sự tôn trọng với các quyết định của tập thể và khía cạnh đạo đức khi mọi người có cảm giác xấu hổ, mất mặt vì điều do một thành viên trong nhóm mình gây ra. Tuy nhiên, nó chặt chẽ như hầu hết những người hàng xóm châu Á khác. Giải thích cho điều này là xã hội Nhật Bản không có hệ thống gia đình mở rộng, tạo thành một cơ sở của các xã hội tập thể hơn. Nhật Bản đã là một xã hội gia trưởng và tên và tài sản gia đình được thừa kế từ cha cho con trai lớn nhất. Các em trai hoặc chị sẽ phải rời khỏi nhà và thành lập gia đình riêng của mình.

Người Nhật có kinh nghiệm tập thể theo tiêu chuẩn phương Tây và có kinh nghiệm cá nhân theo tiêu chuẩn châu Á. Họ riêng tư và dè dặt hơn hầu hết những người châu Á khác. chẳng hạn như gia đình mở rộng của họ và cộng đồng địa phương của họ. Người Nhật có kinh nghiệm tập thể theo tiêu chuẩn phương Tây và có kinh nghiệm cá nhân theo tiêu chuẩn châu Á. Họ riêng tư và dè dặt hơn hầu hết những người châu Á khác. chẳng hạn như gia đình mở rộng của họ và cộng đồng địa phương của họ. Người Nhật có kinh nghiệm tập thể theo tiêu chuẩn phương Tây và có kinh nghiệm cá nhân theo tiêu chuẩn châu Á. Họ riêng tư và dè dặt hơn hầu hết những người châu Á khác.

Ngược lại, trong các xã hội theo chủ nghĩa tập thể, mối quan hệ giữa các cá nhân như quan hệ ruột thịt giữa các thành viên trong gia đình, quan hệ bạn bè, đồng nghiệp… đóng vai trò quan trọng hơn trong các mong muốn của từng cá nhân. Hoạt động kinh doanh được tiến hành dựa trên cơ sở làm việc nhóm trong đó ý kiến tập thể luôn được coi trọng. Tập thể là quan trọng hơn tất cả, vì cơ bản, cuộc sống là loạt các mối quan hệ hợp tác và rành buộc lẫn nhau. Sự đoàn kết và đồng tình giúp giữ vững mối quan hệ hoà hợp trong tập thể. Các nước châu Á, đặc biệt là Đông Á như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam là những ví dụ tiêu biểu cho một xã hội theo chủ nghĩa tập thể.

Trong các xã hội cá nhân, mọi người thường tự chăm sóc bản thân và gia đình trực tiếp của mình. Trong các xã hội tập thể, mọi người có chung một nhóm mối quan hệ sẽ chăm sóc lẫn nhau để đổi lấy sự quan tâm giúp đỡ lại, hoặc các lợi ích hoặc lòng trung thành.

Việt Nam, với số điểm 20 là một xã hội tập thể. Điều này được thể hiện trong một cam kết ngầm, lâu dài chặt chẽ với nhóm tập thể mà họ tham gia, đó là một gia đình, họ hàng hoặc các mối quan hệ mở rộng như bạn bè, đồng nghiệp… Lòng trung thành trong một nền văn hóa tập thể là tối quan trọng và ghi đè lên hầu hết các quy tắc và quy định xã hội khác. Một xã hội như vậy thúc đẩy các mối quan hệ mạnh mẽ, nơi mọi người có trách nhiệm với các thành viên trong nhóm của họ. Trong các xã hội tập thể các hành vi phạm tội cá nhân cũng dẫn đến xấu hổ và mất mặt cho cả nhóm. Trong môi trường làm việc cũng thế, các cá nhân được đánh giá cả theo khía cạnh đạo đức (như liên kết gia đình), sự hòa đồng của họ với tập thể.

3. Mức độ Nam tính hay Nữ tính?

Nam tính/ Nữ tính là khái niệm chỉ một định hướng của xã hội dựa trên giá trị của nam tính và nữ tính. Xã hội có tính nam tính cao được tạo nên bởi những người đàn ông và phụ nữ quyết đoán, chú trọng đến sự nghiệp, kiếm tiền và hầu như không quan tâm đến những thứ khác. Có thể kể đến các ví dụ điển hình là Australia, Nhật Bản. Hoa Kỳ cũng là một đất nước có nam tính tương đối cao. Các nền văn hoá nói tiếng Tây Ban Nha cũng khá nam tính và thể hiện sự say mê lao động, sự táo bạo và cạnh tranh.

Điểm số cao (Nam tính cao) trên khía cạnh này cho thấy xã hội sẽ được thúc đẩy bởi sự cạnh tranh, thành tích và thành công, với thành công được xác định bởi người chiến thắng / người giỏi nhất trong lĩnh vực. Những đặc điểm của một xã hội nam tính còn bao gồm can đảm, gia trưởng, độc lập và quyết đoán. Những đặc điểm này là rất khác nhau tùy vào địa điểm cũng như tình huống, và nó chịu ảnh hưởng từ các yếu tố xã hội và văn hóa đặc thù của từng quốc gia.

Với 95 điểm, Nhật Bản là một trong những xã hội nam tính nhất trên thế giới. Các đặc điểm nổi bật về sự gia trưởng, quyết đoán và dũng cảm, sự trọng nam khinh nữ được thừa nhận rộng rãi trong xã hội. Tuy nhiên, tính nam tính này cũng được kết hợp với chủ nghĩa tập thể (thường nổi bật ở các xã hội nữ tính) của họ. Từ khi còn rất nhỏ ở trường mẫu giáo, trẻ em học cách thi đấu trong ngày thể thao cho các nhóm của mình (đội đỏ truyền thống chống lại đội trắng). Trong lao động, sự cạnh tranh mang tính tập thể rất gay gắt tại Nhật.

Trong công ty Nhật Bản, bạn thấy rằng nhân viên có động lực nhất khi họ chiến đấu trong một đội chiến thắng trước các đối thủ cạnh tranh. Những gì bạn cũng thấy là một biểu hiện của nam tính ở Nhật Bản là động lực cho sự xuất sắc và hoàn hảo trong sản xuất vật chất của họ (monodukuri) và trong các dịch vụ vật chất (khách sạn và nhà hàng) và thuyết trình (gói quà và trình bày thực phẩm) trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Nghiện công việc là một biểu hiện phổ biến khác về nam tính của người Nhật. Phụ nữ ở Nhật thường ở nhà chăm lo con cái và nhà cửa. Họ khó có thể thăng tiến trong công ty ở Nhật Bản với các tiêu chuẩn cao về nam tính, về thời gian làm việc chăm chỉ và kéo dài.

Ngược lại, trong các nền văn hoá nữ tính sẽ chú trọng hơn đến sự chăm sóc, phúc lợi, chất lượng cuộc sống, các mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau. Các nước Scandinavia, cả Nam giới và Nữ giới đều chú trọng vào việc duy trì vai trò, sự phụ thuộc và quan tâm đến những người kém may mắn hơn. Hệ thống phúc lợi phát triển cao và nhà nước thường có chế độ trợ cấp rất tốt cho giáo dục. Một xã hội nữ tính là nơi mà chất lượng cuộc sống được coi là tiêu chuẩn để đánh giá sự thành đạt.

Việt Nam đạt 40 điểm về chiều này và do đó được coi là một xã hội nữ tính. Ở các quốc gia nữ tính, trọng tâm là tập trung vào hoạt động để sống, các nhà quản lý cố gắng đồng thuận và đưa ra nhiều chính sách xã hội tốt, mọi người coi trọng sự bình đẳng, đoàn kết và chất lượng trong cuộc sống làm việc của họ. Xung đột được giải quyết bằng thỏa hiệp và đàm phán. Các ưu đãi như thời gian rảnh và tính linh hoạt được ưa chuộng. Tập trung vào hạnh phúc và hưởng thụ bên các mối quan hệ của mình.

4. Mức độ e ngại rủi ro

Sự e ngại rủi ro thể hiện mức độ mà con người có thể chấp nhận rủi ro và sự không chắc chắn trong cuộc sống của họ. Một xã hội có mức độ e ngại rủi ro cao, sẽ có nhiều tổ chức bảo hiểm để tối thiểu hoá rủi ro và đảm bảo an toàn tài chính. Các công ty tập trung tạo ra việc làm ổn định và thiết lập các quy định để điều chỉnh các hoạt động của nhân viên cũng như tối thiểu hoá sự không minh bạch. Các nhà lãnh đạo thường phải mất nhiều thời gian để ra quyết định vì phải xem xét hết mọi khả năng xảy ra rủi ro. Bỉ, Pháp và Nhật Bản là những nước có mức độ e ngại rủi ro tương đối cao.

Điểm số 92 Nhật Bản cho thấy là một trong những quốc gia có mức độ e ngại rủi do cao nhất trên trái đất. Điều này là do Nhật Bản liên tục bị đe dọa bởi thiên tai từ động đất, sóng thần, bão đến các vụ phun trào núi lửa. Nhật Bản đã học cách tự chuẩn bị cho mọi tình huống không chắc chắn, các kế hoạch khẩn cấp và biện pháp phòng ngừa không chỉ cho những thảm họa tự nhiên bất ngờ mà còn cho mọi khía cạnh khác của xã hội. Có thể nói ở Nhật Bản, bất cứ điều gì bạn làm đều được dự đoán tối đa và quy định thành các tục lệ, nghi thức bắt buộc. Cuộc sống mang tính nghi thức rất cao và bạn có rất nhiều nghi lễ. Tại đám cưới, đám tang, trong công sở, tại cuộc gặp quan trọng và các sự kiện xã hội khác, những gì mọi người mặc và cách mọi người nên cư xử được quy định rất chi tiết trong các sách xã giao.

Người Nhật thường không muốn làm những việc không có tiền lệ. Nhật Bản tốn rất nhiều thời gian và nỗ lực vào nghiên cứu tính khả thi và tất cả các yếu tố rủi ro phải được xử lý trước khi bất kỳ dự án nào có thể bắt đầu. Các nhà quản lý yêu cầu tất cả các sự kiện và số liệu chi tiết trước khi đưa ra bất kỳ quyết định nào.

Những xã hội có mức độ e ngại rủi ro thấp thường giúp các thành viên làm quen và chấp nhận sự không chắc chắn. Các nhà quản lý rất nhanh nhạy và tương đối thoải mái khi chấp nhận rủi ro nên họ ra quyết định khá nhanh. Con người chấp nhận cuộc sống mỗi ngày xảy đến và làm việc bình thường vì họ không lo lắng về tương lai. Họ có xu hưóng dung hoà được các hành động và quan điểm khác biệt so với bản thân họ vì họ không cảm thấy sợ sệt. Ấn Độ, Ireland, Jamaica và Hoa Kỳ là những ví dụ tiêu biểu nhất cho các quốc gia có mức độ e ngại rủi ro thấp.

Việt Nam đạt 30 điểm về mức độ e ngại rủi ro được đánh giá có sự bao dung, ít quy tắc và chấp nhận đổi mới đi đôi với sai sót nhiều lần hơn. Xã hội duy trì một thái độ thoải mái hơn, chấp nhận nhiều sự sai lệch so với chuẩn mực. Trong các xã hội thể hiện UAI thấp, mọi người tin rằng không nên có nhiều quy tắc hơn mức cần thiết. Lịch trình thường linh hoạt, chính xác và đúng giờ không phải là yếu tố bắt buộc. Các lý do diễn giải cho sự chậm trễ, sai sót thường dễ được chấp nhận.

5. Định hướng lâu dài

Khía cạnh định hướng dài hạn hay ngắn hạn này thể hiện mức độ con người và các tổ chức trì hoãn sự thoả mãn trong ngắn hạn để đạt được thành công trong dài hạn. Điều đó có nghĩa là các doanh nghiệp và con người trong các nền văn hoá định hưóng dài hạn có xu hướng nhìn về lâu dài khi lập kế hoạch và cuộc sống. Họ chú trọng đến các kế hoạch cho khoảng thời gian trong nhiều năm hoặc thậm chí là nhiều thập kỉ. Khía cạnh dài hạn được thể hiện rõ nét trong các giá trị đạo đức của người châu Á, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam…

Một phần, những giá trị này là dựa trên các học thuyết của Khổng từ, triết gia nổi tiếng người Trung Quốc sống vào khoảng năm 500 trước công nguyên. Ngoài việc đưa ra các định hướng dài hạn, Khổng Tử cũng tán thành các giá trị văn hoá cốt lõi khác mà cho đến bây giờ vẫn đang áp dụng cho nhiều nền văn hoá của châu Á. Những giá trị đó bao gồm tính kỷ luật, sự trung thành, sự siêng năng, quan tâm đến giáo dục, sự tôn trọng gia đình, chú trọng đoàn kết cộng đồng và kiểm soát ham muốn cá nhân. Học giả trên thế giới đã công nhận các giá trị này là điều làm nên sự kì diệu của Á Đông, làm nên tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng kể và quá trình hiện đại hoá của các nước Đông Á trong suốt vài thập kỉ qua.

Nhật Bản với 88 điểm là một trong những xã hội định hướng dài hạn nhất. Cuộc sống đối với họ chỉ là một khoảnh khắc rất ngắn trong lịch sử của loài người. Bạn sống làm việc hết sức mình và đó là tất cả những gì bạn có thể làm. Nếu một người Nhật cả thấy mất định hướng, mất khả năng làm việc hoăc vô dụng đối với xã hội, họ thường tìm cách kết thúc cuộc sống của mình. Đây là lý do Nhật có số vụ tự tử cao nhất thế giới. Mọi người sống cuộc sống của họ và hướng tới đức hạnh và danh dự cao như là một phần thưởng hơn là một vị Chúa toàn năng hứa hẹn cho họ lên thiên đàng. Ở Nhật Bản, bạn thấy định hướng dài hạn về tỷ lệ đầu tư liên tục vào R&D ngay trong thời kỳ kinh tế khó khăn, ưu tiên tăng trưởng thị phần ổn định hơn là lợi nhuận hàng quý v.v. . Tất cả đều phục vụ cho độ bền của các công ty.

Việt Nam đạt 57 điểm, tuy không phải là một nền văn hóa ngắn hạn hoàn toàn nhưng cũng không quá coi trọng sự dài hạn. Nguyên nhân có thể một phần ảnh hưởng bởi các cuộc chiến tranh diễn ra liên tiếp trong lịch sử, các giá trị dài hạn chưa kịp xây dựng đã bị đập đi và xây dựng lại từ đầu khi một chế độ mới lên ngôi, điều này biến Việt Nam thành một nền văn hóa thực dụng. Trong các xã hội với định hướng thực dụng, mọi người tin rằng sự thật phụ thuộc rất nhiều vào tình huống, bối cảnh và thời gian. Chúng cho thấy khả năng thích ứng truyền thống dễ dàng cùng với các điều kiện thay đổi, xu hướng hội nhập mạnh mẽ để học hỏi phát triển trong thời gian nhanh nhất.

Ngược lại, Hoa Kỳ và hầu hết các nước phương Tây đều chú trọng đến định hướng ngắn hạn, các đích đến rõ ràng và cụ thể. Các định hướng ngắn hạn có tác dụng thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ của thế giới, đồng nghĩa với việc bất chấp các rủi ro về lâu dài, sự tàn phá, hủy hoại về môi trường. Văn hóa đề cao thành tích và chủ nghĩa cá nhân cũng là nguyên nhân dẫn đến tỉ lệ ly hôn cao, ngại sinh con và suy thoái dân số diễn ra mạnh mẽ ở các nước phương Tây.

6. Sự tự do cá nhân

Những người sống trong môi trường có văn hóa tự do cá nhân cao (như phương Tây) sẽ luôn chủ động làm những gì mình thích, đôi khi việc đó vượt quá tầm kiểm soát của bản thân. Bên cạnh đó, văn hóa tự do cũng cho mỗi cá nhân tự do toàn quyền trong các quyết định mà không phải chịu sự kiểm soát quá nhiều của hệ thống quy tắc và mối quan hệ. Họ có xu hướng hưởng thụ thành quả một mình (ăn uống, du lịch, mua sắm…) hơn là đi chung với một tập thể hoặc gia đình.

Ngược lại, các xã hội có đặc điểm văn hóa cá nhân kiềm chế hay có giới hạn (Restrained) thường có sự hoài nghi, đắn đo, lo lắng trong các quyết định và hành động. Trong xã hội này mọi người thường không chú trọng nhiều đến giải trí, hưởng thụ để thỏa mãn cá nhân mà gắn nó với các tập thể, mối quan hệ xung quanh. Những cá nhân sống trong xã hội hạn chế sẽ chấp nhận các hành động của mình bị giới hạn bởi những quy tắc và quan hệ. Văn hóa giới hạn bởi các yếu tố đạo đức, sự đánh giá của cộng đồng và truyền thống lịch sử lâu đời tiêu biểu nhất ở các nước đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc,Việt Nam.

Nhật Bản, với số điểm 42 và Việt Nam với 35 điểm đều thuộc nhóm các nước có đặc điểm văn hóa kiềm chế. Tuy nhiên, Nhật bản có xu hướng thoáng hơn do tiếp thu sâu rộng văn hóa của phương Tây trong nhiều thập kỷ. Việt Nam thì do ảnh hưởng trực tiếp của Trung Quốc và các nền văn hóa dựa trên nông nghiệp đề cao tính gia đình và cộng đồng xung quanh. Các nhu cầu về hưởng thụ cá nhân cũng bị phụ thuộc vào các mối quan hệ và đạo đức truyền thống rất nhiều. Tiêu biểu nhất có thể thấy các hoạt động giải trí mang tính cộng đồng phát triển rất mạnh. Các hình thức ăn mừng tiệc tùng, giải trí cá nhân thường được mở rộng ra rất nhiều ra bạn bè, gia đình, đồng nghiệp xung quanh.

Kết

Những Sự Khác Nhau Về Sở Thích Và Sự Tham Gia Giữa Khách Du Lịch Người Trung Quốc, Nhật Bản Và Hàn Quốc

-Scientific article (dịch)-

Các hoạt động và điểm tham quan ban đêm: Những sự khác nhau về sở thích và sự tham gia giữa khách du lịch người Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc

Night-time Activities and Attractions: Differences in Preferences and Participation between Chinese, Japanese, and Korean Travellers

(Yun, Dongkoo and Chung, Seung-Hoon, 2024)

Yun, Dongkoo and Chung, Seung-Hoon, “Night-time Activities and Attractions: Differences in Preferences and Participation between Chinese, Japanese, and Korean Travellers” (2024). Tourism Travel and Research Association: Advancing Tourism Research Globally. 26.

Địa chỉ trang web truy cập

http://scholarworks.umass.edu/ttra/2010/Visual/26

preference and participation of night-time activities and attractions, Chinese, Japanese, and Korean travellers to Jeju Island.

Mục đích của nghiên cứu này là xác định sự khác nhau về việc sử dụng thời gian ban đêm cho các hoạt động ưa thích và điểm tham quan cũng như các lựa chọn du lịch về đêm giữa ba nhóm quốc gia (Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản), đồng thời kiểm tra sự khác biệt giữa các hoạt động ban đêm khi tham gia một điểm đến cụ thể (Đảo Jeju, Hàn Quốc), qua đó đánh giá chất lượng chung và sự hài lòng giữa ba nhóm quốc gia.

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt đáng kể trong việc sử dụng thời gian về đêm cho các hoạt động và điểm tham quan; trong việc lựa chọn các loại hình du lịch, tham gia các hoạt động ban đêm, và khác biệt về đánh giá chất lượng tổng thể cũng như sự hài lòng khi trải nghiệm các hoạt động và điểm du lịch về đêm tại đảo Jeju. Trên cơ sở đó, khẳng định khách du lịch đến từ mỗi quốc gia khác nhau không đồng nhất và do đó các chiến lược marketing khác nhau cần phải áp dụng theo sự khác biệt về quốc tịch, đồng thời cả hai chương trình xúc tiến và phát triển sản phẩm.

The purposes of this study were to identify differences between three national groups (Chinese, Korean, and Japanese) using preferred night-time activities and attractions and preferred nighttime travel options and to examine differences in night-time activities participated in while in a particular destination (Jeju Island, South Korea) and in ratings of overall quality and satisfaction between the three national groups.

The results demonstrated that the significant differences found in preferred night-time activities and attractions, preferred type of travel options, night-time activities participated in, and overall quality and satisfaction with experiencing night-time activities and attractions in Jeju Island. On the basis of the results, it is apparent that travelers from different countries of origin are not homogenous and thus differentiated marketing strategies need to be applied according to nationality, both in terms of promotions and in product development.

Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu này cho thấy khách du lịch Trung Quốc quan tâm đến việc trải nghiệm đa dạng các hoạt động về đêm tại các điểm du lịch và họ đánh giá chất lượng chung cũng như sự hài lòng cho các hoạt động về đêm trong thời gian ở tại đảo Jeju là cao nhất. Điều này ngụ ý là các nhà tiếp thị và kinh doanh du lịch nên tập trung phát triển và quảng bá nhiều hoạt động về đêm hoặc điểm đến tập trung vào thu hút khách du lịch Trung Quốc đồng thời cung cấp những ấn tượng tốt cùng với mức hai lòng và chất lượng cao.

Tập trung vào phần trả lời của người Hàn Quốc, họ quan tâm nhiều đến các trải nghiệm hoạt động về đêm tuy nhiên họ lại cảm thấy ít hài lòng nhất về các hoạt động ban đêm ở đảo Jeju. Điều này ngụ ý là các nhà tiếp thị và kinh doanh du lịch cần tập trung nhiều hơn để nâng cao chất lượng các hoạt động về đêm và quản lý các phản hồi từ du khách. Ví dụ như các chương trình đảm bảo sự hài lòng của du khách có thể là một trong những phương thức thực hiện chiến lược.

Focusing on Korean respondents, they were more interested in experiencing diverse night-time activities but they were least satisfied with night-time activities while in Jeju Island. It is implied that tourism marketers and operators should focus more on increasing quality of nighttime attractions and managing visitors’ feedback. As an example, customer satisfaction guarantee programs may be one of the implementing strategies.

An interesting result of this study is the finding that Japanese travellers were the least likely to prefer ‘night-time activities and attractions’. This may be a result of safety concerns of Japanese travellers at destinations (Pinhey & Iverson, 1994). Japanese respondents were more interested in spa and wellness relaxation with cosmetic/beauty/health treatments, shopping, live performance, and themed streets, it is apparent that the tourism marketers and managers should concentrate on developing and marketing these activities or attractions to appeal to and to entice more Japanese travellers to participate in night-time activities and attractions.

Cập nhật thông tin chi tiết về Tìm Hiểu Sự Khác Biệt Văn Hoá Giữa Nhật Bản Và Các Quốc Gia Khác Trên Thế Giới trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!