Xu Hướng 2/2023 # Tiếng Việt: Khi Nào Dùng I, Khi Nào Dùng Y? # Top 10 View | Channuoithuy.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Tiếng Việt: Khi Nào Dùng I, Khi Nào Dùng Y? # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Tiếng Việt: Khi Nào Dùng I, Khi Nào Dùng Y? được cập nhật mới nhất trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Không phải đến bây giờ câu chuyện i hay y mới được đưa ra bàn luận. Suốt nhiều năm qua, trong chính tả tiếng Việt (chữ Quốc ngữ), người ta vẫn còn lúng túng giữa việc chọn i (ngắn) hay y (dài), nhất là khi âm /i/ đứng làm âm chính trong âm tiết mở (không có âm cuối vần) sau các phụ âm h, k, l, m, s, t. Do chưa thống nhất nên nhiều từ có /i/ vẫn tồn tại hai cách viết.

Có hay không một quy định về việc viết i hay y?

Giáo trình Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam) viết: “Trong chính tả hiện nay đang có những trường hợp cùng một âm vị nhưng được viết tùy tiện theo hai cách khác nhau. Đó là cách viết lung tung i/y và d/gi”. Tác giả cuốn giáo trình này cũng đề nghị: “Thống nhất viết nguyên âm – âm chính /i/ bằng chữ cái “i”, ví dụ: lí luận, kĩ thuật, mĩ thuật,…”.

Đó không chỉ là đề xuất của tác giả giáo trình trên mà còn là xu thế chung của những người nghiên cứu về ngôn ngữ suốt nhiều năm qua. Nhưng đề xuất này chưa từng được chấp nhận rộng rãi.

Trong ngữ cảm của nhiều người, họ thấy việc đồng loạt viết i (ngắn) sẽ có vẻ thiếu hụt hay phí hoài thứ gì đó, thành ra y (dài) vẫn được sử dụng thường xuyên.

Thậm chí ngay cả hai viện chuyên về chữ nghĩa lớn nhất nước ta – Viện Văn học và Viện Ngôn ngữ – cũng còn đưa ra quan điểm trái ngược nhau, trong khi Văn học chủ trương viết y (dài) thì bên Ngôn ngữ vẫn chọn viết i (ngắn).

Đồng ý với ý kiến được đưa ra trong cuốn giáo trình Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, trước đây, NXB này quy định những từ trên phải viết bằng i (ngắn).

Ngày 30-11-1980, Bộ Giáo dục và Ủy ban KHXH ban hành văn bản “Một số quy định về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục”, trong đó có quy định những từ có vần /i/ thì viết nhất loạt i ngắn (trừ vài ngoại lệ).

Các chuyên gia ngôn ngữ học nói gì?

Học giả Cao Xuân Hạo bổ sung cho quan điểm của Trần Ngọc Thêm, rằng: “Nhược điểm của chữ Quốc ngữ không phải ở chỗ nó chưa thật là một hệ thống phiên âm vị học, mà ở chỗ nó có tính chất thuần tuý ghi âm, và hoàn toàn bất lực trước nhiệm vụ biểu hiện nghĩa mà lẽ ra nó phải đảm đương, và nhược điểm ấy lộ rõ nhất và tai hại nhất là trong trường hợp các từ đồng âm vốn có rất nhiều trong tiếng Việt. Tuy vậy, cũng giống như chữ Anh và chữ Pháp, những chỗ bị người ta coi là bất hợp lý chính là những chỗ làm cho nó phân biệt nghĩa và cội nguồn của các từ đồng âm như da và gia, lý và lí (trong lí nhí). v.v.. Đáng tiếc là những chỗ như thế không lấy gì làm nhiều”.

Vậy, nên hay không việc thống nhất viết i (ngắn)?

Nhiều người cho rằng, vì i (ngắn) và y (dài) khi phát âm lên đều giống nhau nên để tránh gây lộn xộn, hãy đồng loạt viết i (ngắn).

Nhưng số khác lại không đồng ý. Họ đã phân tích thêm những bất cập của chủ trương chỉ viết i (ngắn) và sự cần thiết của việc bảo tồn sự phân biệt i/y. Nếu vận dụng triệt để nguyên tắc ngữ âm học theo kiểu 1 – 1 giữa âm và chữ, thì ngoài i ngắn/ y dài trong âm tiết mở nói trên, sẽ còn phải xử lý “nhất quán” hàng loạt trường hợp khác, như Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) trích dẫn:

i/y độc lập làm âm tiết: y tế, chuẩn y, ý nghĩa, ỷ thế, yêu cầu, yếu thế yểu điệu,… → i tế, chuẩn i, í nghĩa, iêu cầu,…

i/y trong tổ hợp làm vần: uyên bác, khuyên bảo, quyên góp, thuyết minh,… → uiên bác, khuiên bảo, quiên góp, thuiết minh,…

c/k/q (cùng ghi âm “cờ”): quốc ca, cứu quốc, con đường quanh co,… → kuốc ka, kứu kuốc, kon đường kuanh ko,…

d/gi (cùng ghi âm “dờ”): giáo dục gia đình → dáo dục da đình hoặc záo zục za đình

g/gh (cùng ghi âm “gờ”): gồ ghề, ghen ghét → gồ gề, gen gét

ng/ngh (cùng ghi âm “ngờ”): ngấp nghé, ngông ghênh → ngấp ngé, ngông ngênh

Và quan trọng hơn, nếu triệt để vận dụng nguyên tắc viết đồng loạt như trên thì sẽ làm mất rất nhiều cái lợi khác.

Thứ nhất, nó mất đi sự trong sáng. Ví dụ, nếu đồng nhất viết “gia đình” cũng như “da thịt”, “lý sự” cũng như “lí nhí” sẽ mất sự phân biệt nghĩa và mất cả sự đánh dấu về từ nguyên. Thứ hai, nó mất đi sự phong phú. Chẳng hạn trong tên riêng, người ta có quyền lựa chọn để biểu đạt một ý nghĩa nào đó. Giữa tên là Tí với nghĩa là “bé” khác với Tý với nghĩa là “năm Tý, năm Chuột”. Hầu hết tên riêng người ta chọn y dài (gốc Hán) để thể hiện sắc thái trang trọng: chọn Hy (hy vọng), không chọn Hi (cười hi hi), chọn Kỳ (kỳ vọng), không chọn Kì (kì kèo)… Thứ ba, nó mất đi vẻ đẹp văn hóa. Ví dụ giữa “công ti” và “công ty”, người ta thấy viết “công ty” hay hơn, vì chữ “ti” được viết trong “ti trôn”, rồi “ti” còn có nghĩa là “vú” (sờ ti).

Đấy là điều giải thích vì sao cả nửa thế kỷ qua, với rất nhiều lời kêu gọi của nhiều nhà ngôn ngữ học rằng nên viết i (ngắn) cho tiện thì cái sự bất tiện trong việc phân biệt i (ngắn) và y (dài) vẫn tồn tại.

Cần thiết có một quy định chung về việc sử dụng i (ngắn) hay y (dài).

“Quy định này sẽ giúp tạo sự thống nhất cho chính tả và cả chính âm tiếng Việt; cũng không gây khó khăn cho học sinh ngày này khi các em được trang bị kiến tức ngoại ngữ từ cấp tiểu học”, Th.S Trịnh Thu Tuyết – nguyên giáo viên Ngữ văn, trường THPT Chu Văn An, Hà Nội – chia sẻ.

Cụ thể là trong quyết định số 41 của Hội đồng Bộ trưởng năm 1981 về việc điều chỉnh địa giới một số huyện và thị xã thuộc tỉnh Nghĩa Bình (nay là hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định) và quyết định số 81 năm 1986 của Hội đồng Bộ trưởng về việc mở rộng và đổi tên thị xã Quy Nhơn thành thành phố Quy Nhơn, thủ phủ của tỉnh đều được thể hiện là “Quy Nhơn”.

Do đó, UBND tỉnh Bình Định đề nghị Bộ Nội vụ, Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tư pháp xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh lại tên thành phố “để bảo đảm sự thống nhất trong các tài liệu pháp lý về quản lý nhà nước cũng như trong giao dịch nói chung”.

Lai La

Khác Nhau Giữa Abstract Class Và Interface Khi Nào Dùng Chúng

Nhắc đến Interface và abstract class hãy nhớ 2 từ này khá clear rồi, Khi sử dụng Interface là bạn Implement còn sử dụng abstract class là bạn extend

Interface:

Không phải là class.

Chỉ chứa những method/properties trống không có thực thi.

Nó giống như một khuôn mẫu, một khung để để các lớp implement và follow.

Các lớp có thể implements nhiều interface.

Là một contract, các class implement phải triển khai các method theo như interface đã định nghĩa.

Abstract class:

Khá giống Interface nhưng nó có thể làm nhiều việc hơn.

Có 2 loại method là abstract method và method thường:

abstract method là method trống không có thực thi.

method thường là method có thực thi.

Các lớp chỉ có thể kế thừa một Abstract class

Hướng đến tính năng và những tính năng có thực thi được sử dụng làm hàm chung cho các class extend.

Tạo 2 interface IAnimal,Interface2 và 2 class Pig,Bird kế thừa 2 interface

Output:

Kết quả thực thi của class Pig, Bird sau khi implement các method của interface.

Ở demo trên mình tạo ra 2 interface IAnimal và Interface2 tiếp theo là 2 class Pig,Bird implement 2 interface.

Rồi đầu tiên bạn thấy điều gì trong interface? tất cả các method đều trống, không xử lý gì hết.

Các class Pig, Bird bắt buộc phải implement tất cả các method trong interface

Có thể Implement nhiều interface

Abstract class:

Abstract class Animal có 2 method là abstract method(Speak) và method thường(Eat), class Dog và Cat kế thừa lại abstract method

Triển khai code:

Output:

Như demo trên mình tạo abstract class Animal gồm 2 method, một abstract method và một method thường có thực thi. Có thể thấy là class Dog, Cat chỉ có thể extend một abstract class, và chỉ phải implement những abstract method còn những method thường không implement vẫn có thể sử dụng, ở trên mình viết method Eat() với từ khóa virtual nên class Dog, Cat có thể override lại.

Sau 2 demo trên các bạn rút ra được ưu điểm, nhược điểm, hay khi nào dùng interface hoặc abstract class không @@. Mình thấy thế này :

Ưu điểm:

Interface

Có thể kế thừa nhiều interface(tính đa hình).

Xây dựng được bộ khung mẫu mà các lớp phải follow theo.

Giúp quản lý tốt, nắm bắt được các chức năng phải có cho một đối tượng nào đó.

Abstract class

Có thể linh động các method. giống như một class thông thường.

Các class extend có thể override hoặc không override các method thường.

Nhược điểm:

Interface:

Mỗi khi định nghĩa thêm tính năng, các class impelement nó đồng lọat phải thêm tính năng đó, khả năng cao sẽ không có xử lý gì.

Abstract class

Không thể extend nhiều abstract class.

Khi nào sử dụng chúng:

Interface : Khi bạn muốn tạo dựng một bộ khung chuẩn gồm các chức năng mà những module hay project cần phải có. Giống như sau khi nhận requirement của khách hàng về team ngồi với nhau và phân tích các đầu mục các tính năng của từng module, sau đó triển khai vào code viết các interface như đã phân tích,để các bạn dev có thể nhìn vào đó để thực hiện đủ các tính năng (khi đã implement rồi thì không sót một tính năng nào ^^).

Abstract class: Giống như demo trên bạn có thể hiểu khi định nghĩa một đối tượng có những chức năng A,B,C trong đó tính năng A,B chắc chắn sẽ thực thi theo cách nào đó, còn tính năng C phải tùy thuộc vào đối tượng cụ thể là gì, như đối tượng Dog, Cat tuy chúng đều có thể phát ra âm thanh nhưng âm thanh là khác nhau. Vì vậy method Speak() là abstract method để chỉ ra rằng tính năng này còn dang dở chưa rõ thực thi, các lớp extend phải hoàn thành nốt tính năng này, còn những tính năng đã hoàn thành vẫn sử dụng như bình thường đây là những tính năng chung.

https://docs.microsoft.com/en-us/dotnet/csharp/language-reference/keywords/interfacehttps://docs.microsoft.com/en-us/dotnet/csharp/language-reference/keywords/abstractt

All Rights Reserved

Khác Nhau Giữa Abstract Class Và Interface Khi Nào Dùng Chúng 2022

Nhắc đến Interface và abstract class hãy nhớ 2 từ này khá clear rồi, Khi sử dụng Interface là bạn Implement còn sử dụng abstract class là bạn extend

Interface:

Không phải là class.

Chỉ chứa những method/properties trống không có thực thi.

Nó giống như một khuôn mẫu, một khung để để các lớp implement và follow.

Các lớp có thể implements nhiều interface.

Là một contract, các class implement phải triển khai các method theo như interface đã định nghĩa.

Abstract class:

Khá giống Interface nhưng nó có thể làm nhiều việc hơn.

Có 2 loại method là abstract method và method thường:

abstract method là method trống không có thực thi.

method thường là method có thực thi.

Các lớp chỉ có thể kế thừa một Abstract class

Hướng đến tính năng và những tính năng có thực thi được sử dụng làm hàm chung cho các class extend.

Tạo 2 interface IAnimal,Interface2 và 2 class Pig,Bird kế thừa 2 interface

Output:

Kết quả thực thi của class Pig, Bird sau khi implement các method của interface.

Ở demo trên mình tạo ra 2 interface IAnimal và Interface2 tiếp theo là 2 class Pig,Bird implement 2 interface.

Rồi đầu tiên bạn thấy điều gì trong interface? tất cả các method đều trống, không xử lý gì hết.

Các class Pig, Bird bắt buộc phải implement tất cả các method trong interface

Có thể Implement nhiều interface

Abstract class:

Abstract class Animal có 2 method là abstract method(Speak) và method thường(Eat), class Dog và Cat kế thừa lại abstract method

Triển khai code:

Output:

Như demo trên mình tạo abstract class Animal gồm 2 method, một abstract method và một method thường có thực thi. Có thể thấy là class Dog, Cat chỉ có thể extend một abstract class, và chỉ phải implement những abstract method còn những method thường không implement vẫn có thể sử dụng, ở trên mình viết method Eat() với từ khóa virtual nên class Dog, Cat có thể override lại.

Sau 2 demo trên các bạn rút ra được ưu điểm, nhược điểm, hay khi nào dùng interface hoặc abstract class không @@. Mình thấy thế này :

Ưu điểm:

Interface

Có thể kế thừa nhiều interface(tính đa hình).

Xây dựng được bộ khung mẫu mà các lớp phải follow theo.

Giúp quản lý tốt, nắm bắt được các chức năng phải có cho một đối tượng nào đó.

Abstract class

Có thể linh động các method. giống như một class thông thường.

Các class extend có thể override hoặc không override các method thường.

Nhược điểm:

Interface:

Mỗi khi định nghĩa thêm tính năng, các class impelement nó đồng lọat phải thêm tính năng đó, khả năng cao sẽ không có xử lý gì.

Abstract class

Không thể extend nhiều abstract class.

Khi nào sử dụng chúng:

Interface : Khi bạn muốn tạo dựng một bộ khung chuẩn gồm các chức năng mà những module hay project cần phải có. Giống như sau khi nhận requirement của khách hàng về team ngồi với nhau và phân tích các đầu mục các tính năng của từng module, sau đó triển khai vào code viết các interface như đã phân tích,để các bạn dev có thể nhìn vào đó để thực hiện đủ các tính năng (khi đã implement rồi thì không sót một tính năng nào ^^).

Abstract class: Giống như demo trên bạn có thể hiểu khi định nghĩa một đối tượng có những chức năng A,B,C trong đó tính năng A,B chắc chắn sẽ thực thi theo cách nào đó, còn tính năng C phải tùy thuộc vào đối tượng cụ thể là gì, như đối tượng Dog, Cat tuy chúng đều có thể phát ra âm thanh nhưng âm thanh là khác nhau. Vì vậy method Speak() là abstract method để chỉ ra rằng tính năng này còn dang dở chưa rõ thực thi, các lớp extend phải hoàn thành nốt tính năng này, còn những tính năng đã hoàn thành vẫn sử dụng như bình thường đây là những tính năng chung.

Mrs Là Gì? Khi Nào Dùng Mrs &Amp; Cách Phân Biệt Mrs, Ms, Mr

Khi tìm hiểu về Mrs, nhiều người thắc mắc không biết Mrs là nam hay nữ? Trong tiếng Anh, Mrs được dùng để chỉ nữ giới. Đây là danh xưng gọi các góa phụ hay những người phụ nữ đã kết hôn để bày tỏ sự tôn trọng. Trong giao tiếp, Mrs thường được đi kèm với tên hoặc chức danh của người gọi. Trong các trường hợp trao đổi thư từ mà chưa rõ tên của người vợ, Mrs thường đi kèm với họ tên của người chồng. Tuy nhiên, đây là cách dùng cũ và hiện nay rất ít được sử dụng.

Ví dụ: Khi bạn muốn gửi thư đến vợ của cựu Tổng thống Donald Trump nhưng không biết tên của bà ấy thì có thể viết như sau:

Dear Mrs.Donald Trump.

Trong công việc, khi đề cập đến người phụ nữ đã kết hôn, người ta thường sử dụng danh xưng Mrs đi kèm với họ của đối phương (thường là họ của chồng bởi phụ nữ nước ngoài sau khi kết hôn có xu hướng đổi sang theo họ chồng) để thể hiện sự tôn trọng; ngoại trừ trường hợp cô ấy cho phép bạn sử dụng danh xưng kèm tên thật.

Miss (/mɪs/) là cách gọi trang trọng dành cho những người phụ nữ độc thân, chưa lập gia đình. Khi giao tiếp, bạn có thể sử dụng danh xưng này độc lập để gọi tên một cô gái hoặc kết hợp với họ (tên) của cô gái ấy. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể gọi Miss đi kèm với những từ mô tả đặc điểm nổi bật của cô ấy, ví dụ như chức danh hay vị trí mà cô gái ấy đang đảm nhiệm trong công việc.

Miss Ngọc Lan is a singer (Miss đi kèm với tên họ).

Phuong Khanh is Miss Earth 2018 (Miss đi kèm với danh xưng).

Excuse me, Miss. Can I ask what time is it? (Miss đứng độc lập).

Trong quá trình giao tiếp, Miss thường được sử dụng kết hợp với họ (tên) của người phụ nữ độc thân. Trong trường hợp bạn không biết họ (tên) của đối phương, có thể ngừng một khoảng sau Miss để đối phương tự bổ sung họ (tên) của mình cho bạn biết.

Sử dụng Miss kết hợp với họ (tên) của người được gọi thể hiện phép lịch sự, cho thấy sự tôn trọng của bạn đối với cô ấy. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể sử dụng danh xưng này khi giao tiếp với những người phụ nữ mà không biết chắc chắn họ đã kết hôn hay chưa hoặc dùng khi đi gặp các đối tác làm ăn.

Ms là cụm viết tắt của Mistress (/miz/). Danh xưng này được sử dụng khi nói đến một người phụ nữ mà không rõ tình trạng hôn nhân của họ. Ms cũng là cách gọi an toàn khi đề cập đến một người phụ nữ đã ly hôn hoặc góa phụ nhưng bạn không biết rõ người đó muốn được gọi là Mrs hay Ms.

Ms xuất hiện bắt đầu từ năm 1950 và sử dụng phổ biến sau cuộc vận động về bình đẳng vào những năm 1970. Bởi Ms được coi là danh xưng ngang hàng với Mister (Mr) khi gọi nam giới.

Là cách viết tắt của từ Mister (/’mistə/), có ý nghĩa là quý ông. Đây là cách gọi lịch sự dành cho nam giới, không phân biệt là đã kết hôn hay chưa kết hôn. Tương tự như các danh xưng gọi nữ giới, bạn có thể thêm họ, họ tên hoặc chức danh của người đó sau Mr để gọi tên.

Ví dụ: Mr.Trump hoặc Mr.Donald Trump.

Một số lưu ý khi dùng Miss, Ms, Mrs và Mr với tên người

Cách gọi tên phổ biến:

Miss/ Ms/ Mrs/ Mr + Họ/ Họ tên/ Chức danh

Thông thường, sau các danh xưng sẽ là họ hoặc họ tên của đối phương. Bạn không nên sử dụng danh xưng kết hợp với tên bởi người nước ngoài chú trọng đến tên nhiều hơn là họ.

Ví dụ: Một người bạn tên là John Brown (Tên + Họ) thì bạn có thể gọi anh ta là: Mr Brown hoặc chúng tôi Brown mà không nên gọi là Mr. John.

Bên cạnh đó, trong giao tiếp đời thường, các danh xưng này cũng thường được sử dụng đi kèm với một tính từ hoặc một danh từ để khen ngợi hoặc trêu đùa. Ví dụ, bạn quen biết với một người kiêu ngạo và thường xuyên coi thường ý kiến của người khác. Khi nhìn thấy anh ta từ xa, mọi người trong nhóm có thể bàn tán với nhau: “Mr. Smart is coming!” để thể hiện sự mỉa mai, châm chọc.

Hy vọng qua những thông tin chia sẻ trên sẽ giúp bạn đọc phân biệt được Miss, Ms, Mr và Mrs là gì, cách phân biệt và cách sử dụng của các danh xưng trong từng trường hợp và đối tượng cụ thể.

Cập nhật thông tin chi tiết về Tiếng Việt: Khi Nào Dùng I, Khi Nào Dùng Y? trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!