Xu Hướng 3/2024 # Sự Phát Triển Nhận Thức Về Đường Lối Đối Ngoại Của Đảng Ta # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Sự Phát Triển Nhận Thức Về Đường Lối Đối Ngoại Của Đảng Ta được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Sự phát triển nhận thức về đường lối đối ngoại của Đảng ta

Sau hơn 30 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích to lớn, đưa đến những thay đổi về chất trong thế và lực của đất nước. Theo lời của đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực vị thế và uy tín như ngày nay trên trường quốc tế.”[1] Để có được kết quả như vậy, nguyên nhân trước hết là do Đảng ta đã hình thành và phát triển được nhiều tư duy, nhận thức mới, đã chuyển được tư duy và nhận thức mới đó vào chủ trương, chính sách và đã quyết tâm chỉ đạo quá trình triển khai sự nghiệp đổi mới toàn diện. Đặc biệt, trong bối cảnh chung đó, công tác đối ngoại “đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, trở thành một điểm sáng trong toàn bộ những thành tựu chung của đất nước ta.”[2] Điều này cho thấy tầm quan trọng của (i) những nhận thức và tư duy mới về đường lối và chính sách đối ngoại mà Đảng ta đã đạt tới trong tiến trình đổi mới từ năm 1986 đến nay và (ii) những bước đi đúng đắn trong chỉ đạo và triển khai chính sách đối ngoại được xây dựng trên cơ sở tư duy và nhận thức mới.

Những nhận thức đã rõ của Đảng ta về đường lối và chính sách đối ngoại cho đến thời điểm hiện nay gồm các điểm chính sau:

1. Mục tiêu

Từ Đại hội XI đến nay, lợi ích quốc gia – dân tộc đã chính thức trở thành mục tiêu của chính sách đối ngoại. Văn kiện Đại hội ghi rõ trong phần phương hướng và nhiệm vụ đối ngoại là phải “bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc.”[3] Qua đó, Đảng ta khẳng định: Thứ nhất, lợi ích quốc gia và lợi ích dân tộc là đồng nhất; thứ hai, lợi ích quốc gia – dân tộc của Việt Nam được xác định trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, không phải là những lợi ích dân tộc vị kỷ, hẹp hòi; thứ ba, bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc phải là nguyên tắc tối cao của mọi hoạt động đối ngoại, lợi ích quốc gia – dân tộc phải là tối thượng, là tiêu chí hàng đầu đánh giá hiệu quả của mọi hoạt động đối ngoại.

Đường Lối Đối Ngoại Của Đảng Theo Tinh Thần Nghị Quyết Đại Hội Xii

Đường lối đối ngoại là một bộ phận của đường lối lãnh đạo chung của Đảng ta, ở mỗi giai đoạn cách mạng có mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể và góp phần phục vụ đường lối đối nội. Qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử trên các lĩnh vực của đời sống xã hội: Kinh tế tăng trưởng khá, chính trị ổn định, quốc phòng – an ninh được tăng cường, văn hóa – xã hội có bước phát triển mới; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, đi vào chiều sâu, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Quan hệ đối ngoại của Đảng không ngừng được mở rộng và tăng cường với các chính đảng ở các nước khác nhau trên thế giới theo hướng đa phương và đa dạng hóa các quan hệ. Công tác đối ngoại của Đảng cùng ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân kết hợp hài hòa đã tạo nên những thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao, góp phần phát triển đất nước trong những năm qua.

Kế thừa quan điểm chỉ đạo về đối ngoại của các kỳ Đại hội trước đây, Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra chủ trương có tính bước ngoặt về đường lối đối ngoại trong điều kiện mới, thể hiện trên một số nội dung sau:

Trước hết, Đảng ta đã gắn nhận định về tình hình thế giới, khu vực và thực tiễn của thời đại để xác định mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đối ngoại trong những năm tới. Trong 5 năm tới, tình hình thế giới và khu vực sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, tác động trực tiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ và thách thức. Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á đã trở thành một cộng đồng, là trung tâm phát triển năng động nhưng cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa một số nước lớn. Đây cũng là khu vực có nhiều nhân tố bất ổn định, tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trên Biển Đông còn diễn ra gay gắt. Các nước lớn đang điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến tình hình thế giới và khu vực. Ở trong nước, thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao; tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Nhận thức của Đảng ta về tình hình thế giới, tình hình khu vực cũng luôn đổi mới và sát thực tiễn trong giai đoạn mới, đây là một trong những cơ sở trực tiếp để Đảng ta đưa ra quyết sách về đường lối đối ngoại cho phù hợp trong những năm tới. Đảng ta đã nhận định: “Nhận thức đúng về xu thế của thời đại và cục diện thế giới, khu vực, Đảng, Nhà nước đã có định hướng chỉ đạo và các chính sách đúng đắn, kịp thời trên cơ sở lợi ích quốc gia – dân tộc”[1].

Thứ hai, Đại hội XII của Đảng đã đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình và tạo điều thuận lợi để phát triển đất nước. Đảng ta xác định đây là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2024 – 2024; đồng thời là sự thể hiện nhận thức, đánh giá của Đảng ta về vai trò to lớn của công tác đối ngoại trong tình hình mới. Nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu. Triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong một kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp lý, phù hợp với lợi ích của đất nước. Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng và an ninh… Công tác đối ngoại được đẩy mạnh sẽ tạo môi trường quốc tế thuận lợi, hòa bình, thiết thực góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thứ ba, về mục tiêu và nhiệm vụ của đối ngoại, Đảng ta đã xác định trong văn kiện Đại hội XII: mục tiêu tối thượng là bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế nhằm “phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”[2]. Sự đúng đắn trong quan điểm chỉ đạo của Đảng thể hiện ở việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại là bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc là một trong những vấn đề quan trọng nhất “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển… Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước”[3].

Hiện nay trên thế giới, tất cả các nước đều coi trọng lợi ích quốc gia khi thực thi chính sách đối ngoại. Đối với nước ta, xác định đường lối đối ngoại mà đặt lợi ích quốc gia – dân tộc là mục tiêu hàng đầu là vừa phù hợp với xu thế chung, vừa là ý Đảng lòng Dân và tạo sự đồng thuận cao trong xã hội.

Thứ năm, Đảng lãnh đạo thống nhất, Nhà nước quản lý tập trung đối với các hoạt động đối ngoại tạo nên diện mạo đa dạng với nội dung và hình thức phong phú của đối ngoại Việt Nam trong tình hình mới. “Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại. Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; giữa ngoại chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh”[6]. Trong mỗi kỳ Đại hội, Đảng ta đều có nghị quyết lãnh đạo, định hướng để tạo nên sự nhất quán và tiếp tục thực hiện hoạt động đối ngoại. Kết luận số 73 của Bộ Chính trị khóa XI về “Tăng cường quan hệ đối ngoại của Đảng trong tình hình mới”, hoạt động đối ngoại Đảng tiếp tục được triển khai chủ động, tích cực, đa dạng, đa tầng nấc từ Trung ương đến địa phương, cả kênh song phương và đa phương… trong tình hình mới, tập trung vào một số trọng tâm lớn: phát huy vai trò chính trị, ngoại giao kênh Đảng, tiếp tục tạo nền tảng chính trị vững chắc cho sự phát triển bền vững, đi vào chiều sâu, thực chất quan hệ giữa nước ta với nước khác, nhất là các nước láng giềng có chung biên giới, các nước đối tác lớn đã góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại.

Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu sụp đổ, phong trào cộng sản quốc tế khủng hoảng trầm trọng, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào, thì chủ trương củng cố và tăng cường tình đoàn kết, hợp tác với các Đảng Cộng sản, cánh tả và phong trào cách mạng, tiến bộ trên thế giới, thể hiện lập trường kiên định trước sau như một của Đảng ta cũng chính là tình cảm, là nghĩa vụ và trách nhiệm của một Đảng mácxít trong điều kiện hiện nay. Trong bối cảnh quốc tế toàn cầu hoá, việc Đảng ta đoàn kết, củng cố và tăng cường quan hệ, trao đổi kinh nghiệm và hợp tác mọi mặt với các chính đảng này chính là thực hiện chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trong tình hình mới. Điều này không chỉ vì lợi ích kinh tế đơn thuần mà còn có ý nghĩa rất quan trọng về mặt chính trị và an ninh cho chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đồng thời cũng góp phần thúc đẩy phong trào cộng sản và cách mạng trên thế giới.

Việc khẳng định tiếp tục mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền và các đảng khác thể hiện tư duy đối ngoại linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo cần thiết của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền ở các nước nhằm trao đổi kinh nghiệm lãnh đạo và quản lý đất nước, góp phần thúc đẩy quan hệ mọi mặt giữa nước ta với nước mà đảng đó cầm quyền đã góp phần nâng cao vị thế uy tín của Việt Nam trên các diễn đàn đa phương. Đương nhiên, trong quan hệ với các đảng cầm quyền trên thế giới chúng ta cũng xác định rõ các nguyên tắc: độc lập tự chủ; bình đẳng; tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; cùng nhau thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ; và Đảng ta không quan hệ với các đảng, các tổ chức cực đoan.

Trong 30 năm đổi mới, nhất là trong 25 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), Đảng ta đã không ngừng mở rộng và tăng cường quan hệ đa dạng với các chính đảng ở các nước khác nhau trên thế giới, tích cực tham gia các diễn đàn, hội nghị, hội thảo quốc tế của các Đảng Cộng sản và công nhân, các đảng cánh tả và các chính đảng ở châu Á. Từ chỗ chỉ có quan hệ với các Đảng Cộng sản và công nhân, các đảng cánh tả theo khuynh hướng cách mạng, giải phóng dân tộc là chủ yếu, Đảng ta đã chủ động mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền, các đảng tham chính. Đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có quan hệ ở các mức độ khác nhau với trên 200 đảng ở 115 nước khắp các châu lục; trong đó có trên 100 Đảng Cộng sản và công nhân, hơn 40 đảng cầm quyền, gần 80 đảng đang tham gia Quốc hội – Nghị viện các nước. Đồng thời, Đảng ta cũng thường xuyên tham gia và tham gia có hiệu quả các diễn đàn đa phương chính đảng như: Cuộc gặp quốc tế hàng năm của các Đảng Cộng sản và công nhân trên thế giới (IMCWP); Hội nghị quốc tế các đảng chính trị châu Á (ICAPP); Diễn đàn Sao Paulo của các đảng cánh tả….

Đây là kết quả của quá trình cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để, khẳng định đường lối đổi mới của Đảng, trong đó có tư duy đối ngoại là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại hiện nay. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam mở rộng quan hệ với các đảng chính trị trên thế giới trong tình hình hiện nay là đúng đắn, là cần thiết, nhằm tạo nên sự đồng thuận và cổ vũ cho đường lối đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa giành thắng lợi.

Việt Nam đang bước vào thời kỳ mới với thế và lực mới do những thành tựu và kinh nghiệm 30 năm đổi mới mang lại, với vị thế ngày càng nâng cao trên trường quốc tế, cơ hội rất lớn và thách thức cũng không nhỏ. Đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng qua các kỳ Đại hội nhất là Đại hội XII đã thể hiện sự nhất quán, sáng tạo và hệ thống với tầm cao mới. Chúng ta tin tưởng rằng, với kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng của Đảng và đặc biệt trong 30 năm đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ phát huy sức mạnh tổng hợp để đưa sự nghiệp cách mạng nước ta sang một bước ngoặt mới. Thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng, trong thời gian tới hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế của nước ta sẽ đạt được nhiều thành tựu to lớn, giữ vững môi trường hòa bình và phát huy ngoại lực sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Đại tá, chúng tôi Lưu Ngọc Khải

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, 2024, tr.34-35.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, 2024, tr.153.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, 2024, tr.35.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, 2024, tr.35.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, 2024, tr.156.

Phát Triển Nhận Thức Tìm Hiểu Giao Thông Đường Thủy

– Hát: Em đi chơi thuyền

– Trong bài hát nhắc đến loại PTGT nào?

– Thuyền đi ở đâu?

– Thuyền là PTGT đường nào?

– Ngoài thuyền ra chúng mình còn biết những phương tiện nào

a. Thuyền buồm

– Cô trò truyện về nội dung hình ảnh

+ Tranh có phương tiện gì?

+ Thuyền buồm là PTGT đường gì?

+ Có những đặc điểm gì nổi bật ?

+ Cánh buồm có lợi ích gì?

+ Thuyền buồm đi ở đâu?

+ Thuyền buồm dùng để làm gì?

– Cô kếtluận : thuyền buồm là PTGT đường thủy, thuyền có 2 cánh buồm lớn , thuyền chạy được là nhờ sức gió thổi vào cành buồm, thuyền dùng chở người và hàng hó

b.Tàu thủy.

+ Tàu thủy là PTGT đường gì?

+ Tàu thủy có đặc điểm gì?

+ Tàu thủy làm bằng gì?

+ Tàu thủy dùng để làm gì?

+ Nã to hay nhá?

– Tàu thủy chạy bằng gì?

c. Ca nô

– Ngoài thuyền buồm, tàu thủy ra con nhìn xem cô còn có hình ảnh gì nữa đây?

– Đây là gì vậy?

– Ca nô có những bộ phận nào?

– Còn đây là phần gì?

– Cuối cùng là phần gì?

– Ca nô đi ở đâu?

– Ca nô là phương tiện giao thông đường gì?

– Ca nô dùng để làm gì?

Cô chốt lại: ca nô gồm phần đầu phần thân và phần đuôi, ca nô dùng để chở người, ca nô là phương tiện giao thông đường thủy mà các chú cảnh sắt biển hay dùng để đi tuần tra trên sông nước đấy..

+ So sánh: thuyền buồm- tàu thủy

– Cô cho trẻ so sánh

– Giống nhau: đều là PTGT đường thủy, dùng để chở người và hàng hóa

+ Thuyền buồm: có cánh buồm, chạy được nhờ sức gió, chở được ít người và hàng hơn

+ Tàu thủy: không có cánh buồm, chạy bằng động cơ, to nên chở được nhiều người và hàng hóa

+ Mở rộng:

– Ngoài các loại PTGT đường thủy vừa rồi các con còn biết loại nào khác?

– Cô cho trẻ xem hình ảnh các PTGT đường thủy khác: thuyền nan,thuyền thúng, phà, bè…

GD:Khi đi trên thuyền các con phải ngồi im không được chạy nhảy kẻo ngã xuống nước và không vứt rác thải xuống sông, hồ , biển khi đi trên thuyền để không ảnh hưởng đến môi trường

HĐ3: Trò chơi: *TC1: “Chỉ nhanh nói đúng”

– Cách ch ơi:Cô nói tên PTGT nào thì các con phải giơ nhanh PTGT đó lên và ngược lại khi cô nói tên PTGT thì các con phải tìm đúng PTGT đó. Ai tìm nhầm hay nói sai sẽ bị phạt nhảy lò cò.

*TC2:” Về đúng bến”.

– Cách chơi: cô phát co mỗi trẻ 1 PTGT ,cho trẻ vừa đi vừa hát bài hát” em tập lái ô tô”.Khi có hiệu lệnh “về đúng bến”thì trẻ cầm trên tay PTGT nào thì chạy thật nhanh về bến đó.

– Luật chơi: bạn nào chạy về bến sai sẽ nhảy lò cò.

– Cô tổ chức cho trẻ chơi.

– Cô bao quát và hướng dẫn trẻ chơi.

– Cô nhận xét và động viên trẻ sau khi chơi

HĐ3: Kết thúc.

Cô cho trẻ nghe hát ” Em đi chơi thuyền” và chuyển hoạt động

Cách Viết Bài Tiểu Luận Đường Lối Cách Mạng Của Đảng

Cách viết tiểu luận đường lối cách mạng

Là môn học thuộc về đường lối chính trị của Đảng nên đa số các bạn sinh viên luôn cảm thấy khô khan và gặp không ít khó khăn khi làm tiểu luận đường lối cách mạng. Để viết tốt một tiểu luận đường lối cách mạng, bạn cần ghi nhớ rõ các bước sau đây:

Bước 1: Nắm rõ cấu trúc bài tiểu luận

Bài tiểu luận đường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam yêu cầu một sự trình bày trang trọng, gọn gàng, và không quá cầu kỳ. Cấu trúc của bài tiểu luận này bao gồm 11 phần đầy đủ như sau:

Lưu ý: Bắt đầu của từng phần cần được trình bày ở một trang mới. Tùy vào quy mô của tiểu luận và yêu cầu của giáo viên mà bạn có thể lược bỏ một số phần.

Bước 2: Tìm đề tài và phân tích đề tài

Tìm và phân tích đề tài rất quan trọng vì nó quyết định trực tiếp giá trị của bài tiểu luận. Nếu đề tài cho bạn tự chọn, bạn cần chọn cho mình một đề tài vừa hay vừa phù hợp với khả năng nghiên cứu của bản thân. Vì nếu đề tài hay mà quá sức của bạn thì bài luận của bạn cũng không thể cho ra các lý lẽ thuyết phục hay những kết quả chính xác.

Bước lập dàn ý sẽ góp phần không nhỏ vào thành công của bài tiểu luận đường lối cách mạng. Khi bạn hoàn thành tốt việc liệt kê và sắp xếp được các ý chính vào từng mục lớn nhỏ, bạn đã định hình được những gì mình cần viết và những tài liệu nào mình cần đọc để nghiên cứu vấn đề.

Do đó, dàn ý càng chi tiết thì việc viết nội dung chính của bạn sẽ càng dễ dàng và có sự liên kết chặt chẽ.

Bước 4: Viết nội dung chính

Phần nội dung chính là nội dung cốt lõi của tiểu luận đường lối cách mạng. Phần này được cấu tạo bởi 3 mục chính: Mở bài (Nêu vấn đề), thân bài (Giải quyết vấn đề, đưa ra kết quả và giải pháp), và kết bài (Tổng hợp ý chính và kết quả tìm được).

I. Mở bài: Nêu lên vấn đề cần nghiên cứu

Mục này sẽ giúp người đọc biết bài tiểu luận đường lối cách mạng của bạn có những ý chính nào, và bạn sẽ dùng phương pháp nào để thực hiện bài tiểu luận của mình. Mở bài bao gồm 3 phần sau:

Dẫn dắt nhằm khơi gợi vấn đề. Bạn sẽ đưa ra một số dẫn chứng để người đọc thấy được độ quan trọng và cấp thiết của đề tài trong tiểu luận.

Nêu mục tiêu chính của tiểu luận: Bạn sẽ viết ngắn gọn và rõ ràng những gì bạn sẽ nghiên cứu trong tiểu luận, và nêu ra những đóng góp cụ thể của việc nghiên cứu này.

Nêu phương pháp nghiên cứu: Bạn cần nêu rõ phương pháp mà bạn áp dụng để nghiên cứu vấn đề trong tiểu luận, đây là phần ảnh hưởng đến giá trị đóng góp của tiểu luận, vì nếu phương pháp nghiên cứu không khả thi thì kết quả tìm được trong tiểu luận sẽ mất giá trị.

Ở thân bài, bạn sẽ bắt đầu đưa ra các luận cứ nghiên cứu, sau đó đưa ra những cơ sở lý thuyết mà bạn tham khảo trong sách báo hoặc bài giảng để lập luận xem luận cứ này có chính xác hay không. Cuối cùng, bạn sẽ đưa ra kết luận cho luận cứ này trước khi tiến hành lập luận cho luận cứ khác.

Sau khi lập luận hết tất cả các luận cứ chính, bạn cần viết một đoạn văn thống kê lại các kết quả nhận được sau những lập luận. Đây có thể nói là ý nghĩa của bài tiểu luận đường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam, vì sau khi nghiên cứu bạn cần rút ra một bài học nào đó.

Sau khi đã có kết quả từ việc nghiên cứu, bạn nên gợi ý một số giải pháp nhằm phát triển thêm những cái hay cái đẹp trong đường lối cách mạng của Đảng, hoặc khắc phục những vấn đề còn tồn đọng (nếu có).

III. Kết luận: Tóm tắt mục tiêu, ý chính, kết quả và giải pháp và nêu kiến nghị của bản thân.

Phần kết luận chính là phần tổng hợp tất cả nội dung của tiểu luận đường lối cách mạng bao gồm: mục tiêu chính, các luận cứ, các kết quả nhận được và những giải pháp được đề xuất.

Mục đích của mục kết luận là giúp người đọc hệ thống lại toàn bộ nội dung của tiểu luận một cách ngắn gọn và dễ nhớ nhất. Cuối cùng, bạn cần nêu lên các kiến nghị của bản thân về những vấn đề cần được nghiên cứu sâu thêm ở các tiểu luận đường lối cách mạng khác.

Gợi ý một số đề tài tiểu luận đường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam

Những ý nghĩa của chủ trương chuyển hướng của Đảng trong giai đoạn 1939 – 1945 trong thành công của Cách mạng tháng Tám.

Ý nghĩa quan trọng của đường lối kháng chiến chống Mỹ (1965 – 1975) dẫn đến thành công của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Phương hướng và quyết sách phát triển nền giáo dục Việt Nam của Đảng và Nhà nước. Liên hệ hệ thống giáo dục tại Việt Nam hiện nay.

Những quan điểm về văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu và động lực thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển.

Phân tích vai trò quan trọng của Nguyễn Ái Quốc trong sự thành lập của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đặc điểm và ý nghĩa lịch sử của sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ảnh hưởng tích cực của chiến tranh thương mại Mỹ – Trung đối với thị trường tài chính Việt Nam hiện nay.

Ảnh hưởng tiêu cực của chiến tranh thương mại Mỹ – Trung đối với thị trường tài chính Việt Nam hiện nay.

Phân tích con đường xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam.

Thực tiễn vận dụng tư tưởng của Đảng về xây dựng phát triển nền văn hóa trong thời kỳ đổi mới.

Tiểu Luận: Đường lối cách Mạng Đảng Cộng Sản Việt Nam

Tiểu luận đường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam: Kinh tế hàng hóa nhiều thành phần

ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG – Quá trình chuyển sang thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN

Nghiên cứu đường lối của Đảng qua các thời kỳ về việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thống nhất tổ quốc (1954-1975)

Quá trình hình thành đường lối đổi mới của Đảng? Thành quả, thời cơ và thách thức của sự nghiệp đổi mới.

Tiểu luận ” đổi mới tư duy của Đảng về kinh tế thị trường ”

Tiểu luận “Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới”

So sánh cương lĩnh tháng 2 và luận cương tháng 10

Tiểu luận “Giá trị nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh”

Tiểu luận tư tưởng Hồ Chí Minh “Vấn đề dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh”

Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn hóa Việt Nam và giữ gìn bản sắc dân tộc

Tiểu luận Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam: Phân tích quá trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn ở nước ta trong giai đoạn sau đổi mới

Tiểu luận Đường lối Cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam: Vận dụng quan điểm xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong môi trường bậc đại học

Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam: Phân tích cấu trúc hệ thống chính trị nước ta hiện nay.Trình bày suy nghĩ của nhóm về văn hóa chính trị của giới trẻ hiện nay

Tiểu luận môn Đường lối cách mạng Đảng Cộng Sản Việt Nam: Đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước do Đại hội Đảng III (9/1960) đề ra, kết quả, ý nghĩa

Phân tích quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trình bày suy nghĩ của nhóm về vai trò của giới trẻ trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay

Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam: Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế nước ta thời kỳ trước đổi mới (1975-1986) và suy nghĩ của nhóm về cách nhìn giới trẻ hiện nay về “Thời bao cấp”

Phân tích quan điểm của Đảng về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay. Trình bày suy nghĩ của nhóm về vai trò của sinh viên kinh tế đối với quá trình xây dựng thể chế này

Tiểu luận môn Đường lối cách mạng ĐCS Việt Nam: Đường lối xây dựng và phát triển kinh tế của Đảng giai đoạn 1945-1954.

Những Thành Tựu Đường Lối Đối Ngoại Của Việt Nam Sau 30 Năm Đổi Mới Đất Nước

Qua 30 năm đổi mới theo đường lối của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986), Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong đó có thành tựu quan trọng về đối ngoại.

Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986), Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện, coi đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn. Trên lĩnh vực đối ngoại, Đảng ta thể hiện quan điểm mới, như cho rằng: Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, thúc đẩy sự hình thành thị trường thế giới,…sự lựa chọn duy nhất đúng đắn là “thi đua về kinh tế”; xu thế mở rộng phân công hợp tác giữa các nước, kể cả các nước có chế độ kinh tế – xã hội khác nhau, là điều kiện quan trọng đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đảng đã chủ trương: Mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

Sau gần hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, tháng 5/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 13 về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới, khẳng định mục tiêu chiến lược và lợi ích cao nhất của Việt Nam là giữ vững hòa bình và phát triển kinh tế; đồng thời nêu rõ quyết tâm, chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ tình trạng đối đầu sang đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình. Bộ chính trị xác định, đổi mới về tư duy đối ngoại bao gồm: Đổi mới tư duy cho kịp với sự phát triển nhanh chóng của tình hình thế giới, kết hợp sức mạnh của thời Đại trong điều kiện mới của tình hình thế giới. Nghị quyết 13 đánh dấu sự đổi mới tư duy về công tác đối ngoại. Đây là cơ sở hình thành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế của Việt Nam.

Đại hội Đảng lần thứ VII của Đảng (6/1991) tiếp tục chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại. Đại hội khẳng định mạnh mẽ: ” Hợp tác, bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị – xã hội khác nhau, trên cơ sở nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình“, với phương châm ” Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển“. Nhi ệm vụ đối ngoại bao trùm là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ.

Đại hội còn nhấn mạnh: Cần nhạy bén và dự báo được những diễn biến phức tạp và thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế để có những chủ trương đối ngoại phù hợp. Như vậy, đường lối đối ngoại của Việt Nam từ Đại hội VI đến Đại hội VII đã có chuyển biến lớn trong nhận thức; chuyển từ đường lối đối ngoại mang đậm tư tưởng ý thức hệ sang đường lối đối ngoại coi trọng lợi ích quốc gia và tư tưởng chính trị thực tế.

Từ Đại hội VII đến Đại hội XI, Đảng chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại theo phương châm: Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã kế thừa những nội dung cơ bản của đường lối đối ngoại được thông qua tại các kỳ Đại hội trước, đặc biệt là Đại hội XI và có những bổ sung, phát triển mới. Đại hội chủ trương tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu.

Tăng cường hợp tác và đối thoại chiến lược với nhiều đối tác; nâng cấp quan hệ song phương với một số quốc gia thành đối tác chiến lược và đối tác hợp tác toàn diện; đưa quan hệ hợp tác với các đối tác đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn. Đã chủ động tham gia tích cực, có trách nhiệm trong các tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên hợp quốc. Kiên trì cùng ASEAN thúc đẩy thực hiện đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC) và tiến tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC). Tích cực triển khai các hiệp định, thỏa thuận thương mại đã có và đàm phán, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới để mở rộng, đa dạng hóa thị trường, thúc đẩy phát triển và nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế. Vị thế của nước ta trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên.

Tuy nhiên, công tác đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế có mặt chưa thật chủ động và hiệu quả chưa cao. Quan hệ đối ngoại có mặt còn hạn chế. Chưa tạo được nhiều sự đan xen lợi ích kinh tế với các đối tác. Ngoại giao đa phương chưa phát huy hết các lợi thế. Khai thác những thuận lợi trong hội nhập hiệu quả chưa cao. Chưa chuẩn bị tốt các điều kiện để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức trong hội nhập. Cơ chế phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư, thương mại quốc tế còn bất cập. Thông tin về hội nhập quốc tế chưa được phổ biến rộng rãi đến cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Năng lực của một bộ phận cán bộ, công chức, doanh nhân chưa đáp ứng kịp yêu cầu. Sự gắn kết giữa hội nhập kinh tế quốc tế với quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội, ngoại giao nhân dân có mặt còn hạn chế.

Để nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước.

Một là, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi. Đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả. Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại đa phương, nhất là trong ASEAN, Liên hợp quốc. Tăng cường hợp tác quốc tế và khu vực trong bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia. Kiên trì thúc đẩy giải quyết các tranh chấp trên biển bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử của khu vực.

Hai là, triển khai đồng bộ hoạt động đối ngoại, cả về chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội. Thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế và chủ động, tích cực đàm phán, ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; khai thác tối đa các cơ hội thuận lợi, hạn chế thấp nhất các tác động tiêu cực để mở rộng thị trường, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài cho phát triển. Nâng cao năng lực giải quyết các tranh chấp đầu tư, thương mại quốc tế.

Bốn là, đẩy mạnh công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Khuyến khích và hỗ trợ đồng bào ta ở nước ngoài đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau để phát triển và hòa nhập tốt với cộng đồng nước sở tại, đóng góp vào tăng cường hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước. Tạo thuận lợi để kiều bào tham gia xây dựng và bảo vệ đất nước. Làm tốt công tác bảo hộ công dân ở nước ngoài.

Đường Lối Cách Mạng Của Đảng Cộng Sản Việt Nam/Chương Mở Đầu

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

I. ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

a) Quan niệm đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.

Đường lối cách mạng của Đảng là hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp của cách mạng Việt Nam. Đường lối cách mạng của Đảng được thể hiện qua cương lĩnh, nghị quyết, chỉ thị …của Đảng.

b) Đối tượng nghiên cứu môn học

Đối tượng của môn học là sự ra đời của Đảng và hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng trong tiến trình cách mạng Việt Nam – từ cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Làm rõ sự ra đời tất yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam – chủ thể hoạch định đường lối cách mạng Việt Nam.

Làm rõ quá trình hình thành, phát triển và kết quả thực hiện đường lối cách mạng của Đảng trong đó đặc biệt chú trọng thời kỳ đổi mới.

II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC HỌC TẬP MÔN HỌC

a) Cơ sở phương pháp luận

Nghiên cứu, học tập môn Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam phải trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và các quan điểm có ý nghĩa phương pháp luận của Hồ Chí Minh.

b) Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, ngoài ra có sự kết hợp các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, quy nạp và diễn dịch, cụ thể hoá và trừu tượng hóa… thích hợp với từng nội dung của môn học.

a) Trang bị cho sinh viên những hiểu biết cơ bản về đường lối của Đảng trong thời kỳ cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân và trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội.

b) Bồi dưỡng cho sinh viên niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng theo mục tiêu, lý tưởng của Đảng, nâng cao ý thức trách nhiệm của sinh viên trước những nhiệm vụ trọng đại của đất nước.

c) Giúp sinh viên vận dụng kiến thức chuyên ngành để chủ động, tích cực trong giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội theo đường lối, chính sách của Đảng.

Chương mở đầu Chương I: Sự ra đời của Đảng CS VN và cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Chương II: Đường lối đấu tranh giành chính quyền (1930 – 1945) Chương III: Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975) Chương IV: Đường lối công nghiệp hóa Chương V: Đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Chương VI: Đường lối xây dựng hệ thống chính trị Chương VII: Đường lối xây dựng phát triển nền văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội Chương VIII: Đường lối đối ngoại

Cập nhật thông tin chi tiết về Sự Phát Triển Nhận Thức Về Đường Lối Đối Ngoại Của Đảng Ta trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!