Xu Hướng 11/2022 # Sự Khác Biệt Giữa Tiếng Đức Và Tiếng Việt / 2023 # Top 12 View | Channuoithuy.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Sự Khác Biệt Giữa Tiếng Đức Và Tiếng Việt / 2023 # Top 12 View

Bạn đang xem bài viết Sự Khác Biệt Giữa Tiếng Đức Và Tiếng Việt / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1) Động từ tiếng Đức khi dùng trong câu phải chia cho chủ ngữ, tiếng Việt không có sự chia động từ.

2) Tiếng Đức có thể hoán vị vị trí của chủ ngữ và các thành phần khác qua động từ được chia, tiếng Việt thì nói theo trình tự Subjekt-Prädikat-Objekt (Chủ ngữ-Vị ngữ-Thành phần bổ sung), không thể hoán vị được.

3) Có bốn cách trong tiếng Đức, tiếng Việt không có sự chia cách. Cứ ai được nhắc đến trước sẽ là chủ ngữ, là thủ phạm.

5) Danh từ trong tiếng Đức có thể được ghép lại từ nhiều loại từ khác nhau thành một danh từ mới có ý nghĩa phức tạp và nhiều khi dài tới 50, 60 chữ hoặc hơn. Tiếng Việt không có sự ghép danh từ này.

6) Tiếng Đức có ba giống, giống đực, giống cái, giống trung. Tiếng Việt không có giống rõ ràng, chỉ có „cái, con” và “thằng”.

7) Tính từ trong tiếng Việt luôn đứng đằng sau danh từ và không có sự biến đuôi theo giống, số và cách. Tính từ trong tiếng Đức đa số đứng đằng trước danh từ và có 72 khả năng biến hóa (Tôn Ngộ Không?).

8) Động từ trong tiếng Đức rất phức tạp, đôi khi cũng rất trìu tượng cầu kỳ. Nhiều động từ chỉ dành riêng cho người hoặc thú vật hay là cây cỏ. Ví dụ động từ „ essen = ăn” chỉ dùng cho người. Các loài động thực vật phải dùng động từ khác (fressen). Ngoài ra càng ngày càng có nhiều động từ có xuất xứ từ các ngôn ngữ khác được sử dụng trong tiếng Đức. Thêm nữa bất cứ một hành động nào cũng có thể tạo nên một động từ mới. Ví dụ động từ „ googeln” được xuất phát từ hành động vào mạng Internet dùng máy tìm của hãng Google để tìm một cái gì đó. Cách đây 20 năm không có động từ này. Những động từ tương tự như thế này hầu như không thể xẩy ra trong tiếng Việt, vì thế nên trong công nghệ vi tính chúng ta bị thiệt thòi nhiều. Có lẽ tiếng Việt cũng cần có một vài cải cách cho phù hợp với trào lưu chung.

9) Đại từ nhân xưng trong tiếng Việt do văn hóa cổ (Nho giáo) nên rất phong phú. Tiếng Đức tương đối đơn giản. Chỉ một chữ „ du ” ta cũng có thể dịch ra rất nhiều từ khác nhau trong tiếng Việt.

10) Khi đọc số hàng chục trong tiếng Đức người ta đọc số hàng đơn vị trước rồi mới đến hàng chục. Ví dụ số 23 thì đọc là „ dreiundzwanzig “. Mà khi viết thì người ta lại viết số hai trước số ba. Điều này tưởng là nhỏ nhặt nhưng thực ra rất khó chịu không những chỉ đối với người nước ngoài học tiếng Đức mà ngay cả đối với người Đức.

11 Điểm Khác Biệt Giữa Tiếng Anh Và Tiếng Việt / 2023

Từ cuối thế kỷ 19, cùng sự xâm lược của Thực dân Pháp, hệ chữ La-tinh đã được du nhập vào Việt Nam và dần dần trở thành chữ viết chính thức được sử dụng. Tuy nhiên tiếng Việt đã có cả một lịch sử chịu ảnh hưởng từ tiếng Trung Quốc nên cả về mặt phát âm lẫn ngữ pháp đều có sự khác biệt lớn so với những ngôn ngữ dựa trên chữ La-tinh khác.

Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm.

Ngôn ngữ đơn âm có nghĩa là mỗi một từ tiếng Việt là một âm tiết, một tiếng, một khối hoàn chỉnh trong phát âm.

Ví dụ:

Sẽ được đọc rõ ràng từng từ là ” Tôi” “là” “một” “giáo” “viên ”

Trong khi đó, tiếng Anh là ngôn ngữ đa âm. Điều này có nghĩa, nhiều từ trong tiếng Anh không được cấu tạo từ 1 âm tiết, mà từ nhiều âm tiết.

Hai câu ví dụ trên đều có cùng ý nghĩa nhưng ở câu tiếng Việt mỗi từ là một âm tiết tách rời, cả danh từ “giáo viên” cũng được đọc tách ra thành 2 từ hoàn toàn riêng biệt là “giáo” và “viên”. Ở ví dụ tiếng Anh, ” teacher” là một từ duy nhất và được đọc thành 2 âm tiết ˈtiːʧə không tách rời mà nối với nhau.

Nhiều người có thói quen đọc tiếng Anh như đọc tiếng Việt, tức là đối với các từ tiếng Anh có nhiều âm tiết cũng bị chia nhỏ thành từng tiếng tách rời, đều bắt nguồn từ sự khác biệt này.

Do tính chất đơn âm của tiếng Việt nên khi đọc các từ sẽ được đọc rõ và đồng đều, thường không nhấn trọng âm.

Như trong câu ví dụ “Tôi là một giáo viên” mỗi từ được đọc rõ ràng như nhau: Tôi = là = một = giáo = viên.

Ngược lại, trong tiếng Anh, những từ đa âm tiết thường có một hoặc vài trọng âm. Việc đọc đúng trọng âm sẽ quyết định khả năng người khác có nghe hiểu đúng hay không.

Có rất nhiều từ trong tiếng Anh chỉ cần đọc sai trọng âm thì người nghe sẽ hiểu ra một nghĩa khác.

Nếu nhấn mạnh vào âm tiết đầu sẽ được đọc là / ˈpre/ là danh từ mang nghĩa là món quà, hiện tại

Nếu nhấn mạnh vào âm tiết sau sẽ được đọc là / zent/ là động từ mang nghĩa là giới thiệu, thuyết trình…

Việc nắm được trọng âm của từ là vô cùng quan trọng. Vì thói quen nói tiếng Việt mà chúng ta nhiều khi bỏ qua việc nhấn trọng âm này.

Ví dụ:

La – Là – Lá – Lạ – Lả – Lã có nghĩa hoàn toàn khác nhau

Việc có dấu hay có thanh cũng khiến cho tiếng Việt được cho là có giai điệu “như hát” theo lời nhận xét của rất nhiều người nước ngoài.

Tiếng Anh không có dấu nhưng có trọng âm và ngữ điệu ( intonation ). Có một số quy tắc về ngữ điệu trong tiếng Anh ( Luyện nói tiếng Anh tự nhiên với ngữ điệu ) nhưng nhìn chung, việc thay đổi ngữ điệu và thay đổi trọng tâm của câu giúp thể hiện thái độ và ý định của người nói.

Ví dụ:

You don’t like her!

Trong tiếng Việt, mỗi chữ cái chỉ có một cách phát âm. Do vậy, khi viết được từ thì chúng ta có thể biết được cách đọc của từ đó.

Ngược lại, trong tiếng Anh các chữ cái trong các từ khác nhau có thể được đọc rất khác nhau và các chữ cái hoàn toàn khác nhau trong các từ khác nhau lại được đọc giống nhau.

Ví dụ:

Cùng là chữ “a” nhưng trong hai từ trên được đọc hoàn toàn khác nhau.

Garage – Vision

(Ga-ra để xe – Tầm nhìn)

Chữ “g” và “s” lại được đọc giống nhau là ”

Thật thú vị phải không nào! Đây là lí do mà chúng ta thường hay lúng túng khi gặp một từ mới tiếng Anh vì không biết phải đọc như thế nào. Giải pháp cho bạn chính là hãy nhớ tra từ điển để xem phiên âm của từ. Hoặc bạn cũng có thể chọn một cách đơn giản hơn là cài đặt eJOY eXtension vào trình duyệt Chrome để tra được từ vựng mới mọi lúc mọi nơi, tra được cách đọc và NGHE được cả cách đọc từ vựng đó.

Tiếng Việt có không phân biệt rõ ràng cách đọc cho các nguyên âm đơn ngắn trong khi tiếng Anh có cách đọc nguyên âm đơn ngắn và dài. Việc đọc sai các nguyên âm đơn ngắn – dài có thể khiến người nghe hiểu sai nghĩa dẫn tới hiểu sai ý muốn truyền đạt.

Sheep – Ship

Các phụ âm chỉ đứng ở đầu hoặc cuối từ. Chúng ta thường chỉ đọc phụ âm khi chúng đứng ở đầu từ. Khi đứng cuối từ, các phụ âm thường kết hợp với nguyên âm ở trước nó để tạo ra một âm mới như “o+n=on” trong “con” và khi đọc chúng ta không đọc phụ âm cuối.

Tiếng Việt có 11 trường hợp các phụ âm đứng cạnh nhau để tạo thành một phụ âm ghép mới và có cách đọc được quy định như sau ( theo wikipedia )

Các phụ âm có thể đứng ở đầu, cuối và giữa của từ. Và chúng ta cần phát âm rõ tất cả các phụ âm đó.

Ví dụ:

Đặc biệt, việc phát âm rõ các phụ âm cuối rất quan trọng để nhận biết và phân biệt các từ.

Ví dụ:

Chính bởi thói quen nói tiếng Việt nên khi nói tiếng Anh chúng ta cũng thường không chú ý tới các phụ âm cuối dẫn đến người nghe không hiểu được chúng ta nói gì, bản thân chúng ta cũng bị bối rối giữa các từ nghe giống nhau như ví dụ trên. Thêm vào đó, việc bỏ qua phụ âm cuối còn làm ảnh hưởng tới ngữ điệu tiếng Anh bởi bạn đã bỏ qua một yếu tố để nối âm luyến láy rồi.

Tiếp theo, hãy xem sự khác biệt về ngữ pháp giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt nào:

Trong tiếng Việt chúng ta không có khái niệm về từ gốc, tiền tố và hậu tố của một từ để làm thay đổi ý nghĩa của từ đó.

Ví dụ:

Trong tiếng Anh, việc thêm tiền tố (prefix) và hậu tố (suffix) có thể biến đổi ý nghĩa và dạng của từ.

Ví dụ:

Trong tiếng Việt các từ vựng vẫn được giữ nguyên bất kể ngôi của chủ ngữ, số ít hay số nhiều hoặc thì của động từ.

Động từ “có” và danh từ “cái bánh” vẫn được giữ nguyên không thay đổi bất kể số lượng và ngôi của chủ ngữ.

Tiếng Anh thì khác, động từ sẽ thay đổi theo chủ ngữ và danh từ sẽ biến đổi theo số lượng.

Đây là lý do nhiều bạn rất hay mắc lỗi không chia động từ khi đặt câu hoặc quên viết số nhiều của danh từ.

Trong tiếng Việt, chúng ta không phân biệt rạch ròi danh từ xác định và danh từ không xác định.

Ví dụ: Tôi vừa xem xong bộ phim How I Met Your Mother và tôi không thích cái kết

Ở đây danh từ “cái kết” được sử dụng mà không được định rõ là danh từ xác định hay không xác định. Mặc dù chúng ta vẫn có thể tự hiểu được đây chính là “cái kết” của bộ phim How I Met Your Mother.

Ví dụ:

Trong tiếng Anh việc sử dụng mạo từ rất quan trọng để xác định danh từ đó là một danh từ không xác định (người nghe chưa biết tới) hoặc là một danh từ xác định (người nghe đã biết danh từ được nhắc đến là danh từ nào).

I have just finished the series How I Met Your Mother and I don’t like the ending.

Ở đây mạo từ ” ” được sử dụng giúp xác định danh từ ” “, người đọc biết chắc chắn ” ” này chính là cái kết của bộ phim mà không cần phải nhắc lại.

Sự khác biệt này khiến chúng ta lúng túng với việc sử dụng mạo từ trong tiếng Anh bởi bản thân chúng ta không xác định được khi nào cần dùng mạo từ, khi nào không, khi nào dùng mạo từ không xác định, khi nào cần dùng mạo từ xác định.

Ví dụ:

Trong tiếng Việt chúng ta thường chỉ sử dụng 3 thì: quá khứ – hiện tại – tương lai không phân biệt rạch ròi giữa thời điểm nói và thời điểm diễn ra hành động. Và ở 3 thì này thì động từ vẫn được giữ nguyên, chúng ta chỉ đơn giản là thêm vào các từ “đã”, “đang” và “sẽ” vào để phân biệt các thì mà thôi.

Khi nói về việc làm bài tập, chúng ta thường chỉ quan tâm đến hành động “làm bài tập”

Ví dụ:

Trong tiếng Anh có tới 12 thì, được phân biệt rạch ròi theo thời điểm nói và thời điểm xảy ra hành động. Đối với mỗi thì lại có một công thức riêng cho 3 thể khẳng định – phủ định – nghi vấn, cho ba ngôi chủ ngữ thuộc số ít, số nhiều và cần được sử dụng đúng hoàn cảnh.

Hãy xem một ví dụ ở thể phủ định, chủ ngữ thuộc ngôi thứ nhất (I) vẫn với hành động làm bài tập (do homework)

Mình đã làm bài tập (tại một lúc nào đó trong quá khứ.)

I was doing my homework at 7 pm yesterday.

Lúc 7 giờ tối qua thì mình đang làm bài tập.

Quá khứ hoàn thành

I had done my homework before 7 pm yesterday.

Mình đã làm xong bài tập trước 7 giờ tối qua rồi. (thời điểm nói là ngày hôm nay)

Quá khứ hoàn thành tiếp diễn

I had been doing my homework before 7 pm yesterday.

Trước 7 giờ tối qua thì mình vẫn đang làm bài tập. (thời điểm nói là ngày hôm nay)

Ngày nào mình cũng làm bài tập. (chỉ một thói quen, một hoạt động diễn ra thường xuyên lặp lại)

Hiện tại tiếp diễn

Mình đang làm bài tập. (tại thời điểm hiện tại)

Hiện tại hoàn thành

I have done my homework before you come.

Mình đã làm xong bài tập trước khi cậu đến. (tại thời điểm đang nói)

Hiện tại hoàn thành tiếp diễn

I have been doing my homework for 2 hours.

Mình đã ngồi làm bài tập 2 tiếng rồi (tính đến thời điểm đang nói).

Tôi sẽ làm bài tập. (vào một lúc nào đó không xác định trong tương lai)

I will be doing my homework at 7 pm today.

Lúc 7 giờ tối nay thì mình đang ngồi làm bài tập rồi. (đấy là việc chưa xảy ra, chỉ dự định thế thôi)

I will have done my homework before 7 pm today.

Mình sẽ hoàn thành bài tập trước 7 giờ tối nay. (đấy là dự định)

Tương lai hoàn thành tiếp diễn

I will have been doing my homework for 3 hours by 7 pm today.

Tính tới 7 giờ tối nay mình sẽ ngồi làm bài tập được 5 tiếng đồng hồ rồi đấy. (việc làm bài tập đã bắt đầu lúc 2 giờ chiều và thời điểm nói là giữa 2 giờ chiều và 7 giờ tối)

Bạn thấy không, với 12 cấu trúc của 12 thì, việc diễn đạt các hành động bằng tiếng Anh rất rõ ràng và dễ hiểu mà không cần phải bổ sung quá nhiều thông tin như cách diễn đạt chỉ với 3 thì trong tiếng Việt. Đây chính là lý do gây hoang mang cho phần lớn chúng ta khi chia động từ để diễn đạt được đúng ý của mình bằng tiếng Anh.

Mặc dù trật tự các từ trong câu giữa tiếng Anh và tiếng Việt có khá nhiều điểm tương đồng. Tuy nhiên chúng ta vẫn gặp những sự khác biệt nhất định về trình tự diễn đạt giữa hai thứ tiếng.

Tải eJOY eXtension miễn phí!

Team eJOY chúng mình sẽ luôn đồng hành cùng bạn!

A Vietnamese. Fascinated by wonderful nature. Trying to keep her heart nice and clear.

Bạn Muốn Giỏi Tiếng Anh Hơn? Hãy Xem Sự Khác Biệt Giữa Tiếng Việt Và Tiếng Anh! / 2023

Do bị ảnh hưởng bởi tiếng mẹ đẻ, vậy nên người Việt chúng ta khi mới họcTiếng Anh thường quy cách tiếng Anh giống như tiếng Việt.

Việc tìm hiểu một số sự khác nhau giữa tiếng Việt và tiếng Anh sẽ có thể giúp cải thiện kĩ năng nói, cũng như phát triển trình độ ngoại ngữ (tiếng Anh).

Tiếng Việt là tiếng đơn âm.

Từ “tiếng” là một âm, “Việt” là một âm.

Cách đọc từ “Tiếng Việt”: bạn đọc tách Tiếng + Việt.

Trong khi đó, tiếng Anh là tiếng đa âm.

từ “English”: bạn đọc ghép hai âm Eng + lish.

Tiếng Việt hầu như chỉ có một âm (có người gọi là vần), trong khi tiếng Anh đa số là nhiều âm.

Do bị ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ, người Việt lúc mới học có khuynh hướng phát âm “một từ tiếng Anh có nhiều âm”, như là “nhiều từ tiếng Việt có một âm”.

Chẳng hạn, từ tiếng Anh có hai âm là “teacher”, người Việt có khuynh hướng phát âm thành hai từ: tít + chờ

Vậy nên, các bạn nói tiếng Anh, thì cần đọc liền mạch các âm của một từ.

Tiếng Việt có thanh, có dấu. Khi thay đổi dấu sẽ thành từ khác.

ba, bà, bá, bả, bã, bạ

Các từ Tiếng Anh không có dấu. Tuy nhiên khi nói, các từ tiếng Anh có trọng âm.

Trọng âm chính là hiện tượng có một âm được nói rõ và to hơn các âm tiết còn lại. Trọng âm của các từ khác nhau là khác nhau.

Bật mí để tập nói trọng âm: thêm dấu sắc vào dấu trọng âm, nếu không phải trọng âm thêm dấu huyền và nặng.

major /ˈmeɪdʒər/: nghe giống giống “mấy giờ”

Các từ tiếng Việt: Viết = Đọc

Các từ tiếng Anh: Viết # Đọc

Tiếng Việt có thể đánh vần từng ký tự đọc thành từ.

Còn tiếng Anh là không thể, viết cách này, đọc cách khác. Nếu gặp từ mới, phải đọc theo người dạy hoặc tra từ điển, không thể tự đánh vần như tiếng Việt.

Khi tra từ điển, người học thường tra “từ”, và “nghĩa”, mà quên mất một phần quan trọng: phiên âm.

Phiên âm được đặt ngay sau “từ” trong từ điển.

Có thể các bạn sẽ thấy các ký hiệu của phiên âm lạ khi chưa được học.

Ngoài ra, ở trường, các bạn được học bảng chữ cái tiếng Anh đúng không?

Tuy nhiên, bảng chữ cái chỉ giúp bạn viết đúng chính tả. Để phát âm chuẩn, phải học bảng phiên âm.

Bảng phiên âm gồm có 44 âm tiết. Nếu phát âm đúng 44 âm tiết, đảm bảo các bạn có thể đọc đúng bất cứ một từ nào.

Cùng một người, khi nói tiếng Việt thường sẽ cao hơn nói tiếng Anh chuẩn.

Vậy, hạ độ cao của giọng khi nói tiếng anh là một trong những khía cạnh nói tiếng Anh hay và tốt hơn.

Tiếng Việt bao gồm 5 nguyên âm đơn: a, o, i, e, u (uể oải).

Tiếng Việt không có phân biệt rõ ràng giữa nguyên âm đơn dài và nguyên âm đơn ngắn.

Tiếng Anh bao gồm 8 nguyên âm đơn.

Tiếng Anh có phân biệt rất rõ ràng giữa nguyên âm đơn dài và nguyên âm đơn ngắn.

seat /siːt/ (n): chỗ ngồi

sit /sɪt/ (vi): ngồi

Good /ɡʊd/ (adj): tốt, đẹp

Shoot /ʃuːt/ (v): bắn

Chú ý: Việc phát âm rõ ràng nguyên âm dài và nguyên âm ngắn rất quan trọng, bởi nếu phát âm sai, người nghe sẽ nghĩ thành một từ khác.

Tiếng Việt không phát âm phụ âm cuối của một từ, do đó các từ được phát âm tách biệt hẳn ra và không có nối âm.

Tiếng Anh thì ngược lại, tiếng Anh có phát âm phụ âm cuối của một từ, do đó, trong tiếng Anh có nối âm.

get out of here: Đây là 4 từ có 1 âm, nhưng nói tự nhiên, sẽ nghe như thành 1 từ “getoutofhere”.

(*) Trong tiếng Việt, mỗi chữ cái có một cách đọc.

Còn tiếng Anh một chữ cái có nhiều cách đọc.

Ví dụ: chữ cái “e” trong các từ: elephant, bed, verb, other, somewhere, her, eleven,… có cách đọc không hoàn toàn giống nhau.

(*) Tiếng Việt: Khi phát âm, đầu lưỡi thường ở khoảng giữa khoang miệng.

Tiếng Anh: Khi phát âm, đầu lưỡi chuyển động và chạm vào nhiều nơi trong khoang miệng.

(*) Tiếng Việt: sau khi phát âm, luồng hơi từ phổi bị giữ lại trong khoang miệng và thoát ra ngoài rất ít.

Tiếng Anh: sau khi phát âm, luồng hơi từ phổi di chuyển đến khoang miệng và thoát ra ngoài khá nhiều.

(*) Tiếng Việt, chủ yếu dùng thì hiện tại. Tiếp diễn thì thêm “đang”, quá khứ và tương lai chỉ cần thêm “đã” hoặc “sẽ”.

Tiếng Anh có đến…12 thì. Điều này khiến khá nhiều người học bối rối.

Người Việt có khuynh hướng chỉ dùng toàn thì hiện tại trong tiếng Anh, bởi ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ.

Ngọc Lan (tổng hợp)

Sự Tương Quan Giữa Tiếng Nhật Và Tiếng Việt / 2023

Để học tiếng Nhật, có lẽ chúng ta phải giải mã một chút những điều bí ẩn về nó. Hôm nay chúng tôi sẽ diễn giải ngôn ngữ tiếng Nhật một cách đơn giản, dễ hiểu nhất có thể. Cùng với đó, tôi cũng sẽ so sánh với tiếng Việt để các bạn thấy rằng hai ngôn ngữ … không khác nhau nhiều.

① Bổ ngữ tiếng Nhật: Đứng trước từ được bổ nghĩa (danh từ)

Bổ ngữ (

修飾語

しゅうしょく

ご, kanji: TU SỨC NGỮ) là từ ngữ dùng để bổ nghĩa

(làm rõ nghĩa)

cho một từ ngữ khác, tiếng Anh gọi là modifier.Ví dụ: “Kia là bông hoa tôi mua” thì “tôi mua” bổ nghĩa cho “bông hoa”.

Bổ ngữ tiếng Nhật luôn đứng trước từ được bổ ngữ, ví dụ:

日本語にほんご修飾語しゅうしょくご

= Bổ ngữ tiếng Nhật (Japanese Modifier)

② Danh từ bổ nghĩa cho danh từ

Dạng thông thường sẽ dùng trợ từ “の”  (“của”) để bổ nghĩa:

N2 の N1

Trong đó N2 bổ nghĩa cho N1.

私わたしのお金  きん

= Tiền của tôi

“私わたしの (của tôi)” bổ nghĩa cho ” お金かね” (tiền).

私わたしの父ちち

= Ba tôi

Ngoài ra có thể đặt trực tiếp “N2 N1“ để bổ nghĩa, ví dụ: ベトナム学生 がくせい= Học sinh Việt Nam,行政機関ぎょうせいきかん = Cơ quan hành chính,試用しよう期間きかん = Thời gian thử việc, v.v…

③ Danh từ chính trong tiếng Nhật: Luôn đứng cuối cùng

彼かれら

の三人さんにん

三人さんにん

の彼かれら

彼かれら: họ;三人さんにん: ba người

④ Nhiều bổ ngữ

Ví dụ:昨日きのう市場しじょうで買かった赤あかい花はな = bông hoa màu đỏ tôi mua ở chợ hôm quađây “花はな” (hoa) có 2 bổ ngữ: “tôi mua ở chợ hôm qua” (昨日きのう市場しじょうで買かった) và “màu đỏ / đỏ” .Trường hợp có nhiều bổ ngữ thì sẽ thường xếp liên tiếp. Sơ đồ bổ ngữ như sau:

⑤ Bổ ngữ cho bổ ngữ

Ví dụ:

時間じかんを忘わすれるほど夢中むちゅうになる ゲーム

trò chơi mà tôi say mê quên cả thời gian

“ゲーム” (trò chơi) có một bổ ngữ là “夢中むちゅうになる” (“tôi say mê”) nhưng để diễn tả “tôi say mê như thế nào” thì “say mê” lại có thêm bổ ngữ là “時間じかんを忘わすれるほど” (đến mức quên cả thời gian). Sơ đồ bổ nghĩa như sau:

trò chơi <= tôi say mê <= quên cả thời gian

⑥ Làm rõ một từ là bổ ngữ trong tiếng Nhật

Để nhấn mạnh bổ ngữ, tiếng Việt dùng “mà“:

Nhấn mạnh như vậy chúng ta sẽ làm câu nói dễ hiểu hơn rất nhiều. Tiếng Nhật cũng … giống hệt tiếng Việt (vì thật ra mọi ngôn ngữ đều có vai trò như nhau: Phục vụ cho cuộc sống của con người).Ví dụ:

Tại sao lại như vậy? Bởi vì nếu nói “毒どくがある キノコ ” thì lại có thể hiểu như đây là một vế câu với chủ ngữ là “毒どく” và vị ngữ là “ ある キノコ ” (“một cây nấm nào đó”) và sẽ có thể gây hiểu nhầm hay phức tạp câu văn. Vì thế nếu dùng “毒どくがある キノコ ” thì sẽ rõ ràng “毒どく” ở đây là bổ nghĩa.Tương tự:私わたしが愛あいしている人ひと (người tôi yêu) có thể gây hiểu nhầm sang 私わたしを愛あいしている人ひと (người yêu tôi) cho nên để chắc cú nhất thì ta nên dùng cụm sau:

私わたしの愛あいしている人  = Người mà tôi yêu

⑦ Vai trò ngữ pháp khác nhau

Các bạn cũng cần biết là:

毒どくがある キノコ  

và 

毒どくのある キノコ

có cấu tạo ngữ pháp khác nhau. 毒どくがある キノコ ,  ” キノコ ” được bổ nghĩa bởi một VẾ CÂU (Phrase,句く) là “毒どくがある “.Còn 毒どくのある キノコ ,  “ キノコ ” được bổ nghĩa bởi một bổ ngữ (tính chất) là “毒どくのある “, bổ ngữ kiểu này bắt buộc phải có một danh từ đi ngay sau.

⑧ Kết luận về bổ ngữ tiếng Nhật

– Để hiểu sâu sắc và rõ ràng hãy phân tích câu ra thành phần chính, gồm:

Chủ đề

+ [Tính chất / Hành động]

– Các bổ ngữ

– Bổ ngữ tiếng Nhật luôn đứng trước danh từ được bổ nghĩa giống tiếng Anh:

美うつくしい景色けしき

= beautiful scene

Nhưng ngược tiếng Việt: 

cảnh đẹp

– Có thể có nhiều bổ ngữ ngang hàng cùng bổ nghĩa cho một danh từ

美うつくしい壮大そうだいな景色けしき

= beautiful and magnificent scene

cảnh đẹp và hùng vĩ

Tiengnhatdongian.com Để người Việt không sợ tiếng Nhật

Cập nhật thông tin chi tiết về Sự Khác Biệt Giữa Tiếng Đức Và Tiếng Việt / 2023 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!