Xu Hướng 3/2024 # Sử Dụng Năng Lượng Tiết Kiệm, Hiệu Quả Của Việt Nam: Thực Trạng Và Vấn Đề Đặt Ra # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Sử Dụng Năng Lượng Tiết Kiệm, Hiệu Quả Của Việt Nam: Thực Trạng Và Vấn Đề Đặt Ra được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, nhu cầu năng lượng của nước ta ngày càng tăng cao. Để đáp ứng nhu cầu đó, một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu mang tính chiến lược đảm bảo sự phát triển bền vững là sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Việt Nam đã ban hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả vào năm 2010, có hiệu lực thực hiện từ năm 2011. Theo đó Chính phủ đã đề ra các Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả để triển khai thực hiện. Tuy nhiên, xét trên phạm vi nền kinh tế quốc dân, kết quả thực hiện trong thời gian qua chưa đạt được như mong muốn. Bài báo này sẽ phân tích tình hình cụ thể và nguyên nhân gốc rễ cùng giải pháp căn cơ để khắc phục trong thời gian tới.

Một biện pháp căn cơ góp phần khắc phục thiếu điện ở Việt Nam

PGS, TS. NGUYỄN CẢNH NAM [*]

Việt Nam đã ban hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả vào năm 2010, có hiệu lực thực hiện từ năm 2011.

Tại Khoản 5, Điều 3 của Luật quy định: “Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là việc áp dụng các biện pháp quản lý và kỹ thuật nhằm giảm tổn thất, giảm mức tiêu thụ năng lượng của phương tiện, thiết bị mà vẫn bảo đảm nhu cầu, mục tiêu đặt ra đối với quá trình sản xuất và đời sống”.

Để thực hiện Luật, Chính phủ đã đề ra Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2012 – 2024 (Quyết định số 1427/2012/QĐ-TTg) và Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2024 – 2030 (Quyết định số 280/2024/QĐ-TTg).

Quyết định số 1427/2012/QĐ-TTg đề ra cho giai đoạn 2012-2024 là:

Đạt mức tiết kiệm từ 5 – 8% tổng mức tiêu thụ năng lượng của cả nước trong giai đoạn 2012 – 2024 so với dự báo nhu cầu năng lượng theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 – 2024 có xét đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tương đương từ 11 triệu TOE (tấn dầu tương đương) đến 17 triệu TOE trong giai đoạn 2012 – 2024.

Quyết định số 1427/2012/QĐ-TTg đề ra mục tiêu:

– Giai đoạn đến năm 2025: Đạt mức tiết kiệm năng lượng 5,0 đến 7,0% tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc trong giai đoạn từ 2024 đến 2025.

– Giai đoạn đến năm 2030: Đạt mức tiết kiệm từ 8,0 đến 10,0% tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc trong giai đoạn từ 2024 đến 2030.

Trên cơ sở mục tiêu chung, Chương trình đề ra mục tiêu cụ thể về tiết kiệm năng lượng cho từng ngành, lĩnh vực.

Để thực hiện mục tiêu đề ra, Chương trình đã đề ra các nhiệm vụ, giải pháp cho nền kinh tế nói chung và các ngành, lĩnh vực.

Tình hình thực hiện sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế giai đoạn từ năm 2010 – 2024 được trình bày trong bảng 1.

Bảng 1:

Chỉ tiêu

Đơn vị

2010

2011

2012

2013

2014

2024

2024

2024

2024

2024

Dân số

106ng.

87,07

88,15

89,20

90,19

91,20

92,23

93,25

94,29

95,39

96,48

GDP (giá hiện hành)

103tỷ đ

2158

2780

3245

3584

3938

4193

4503

5006

5542

6037

Tỷ USD

110,7

133,3

155,2

171,2

186,2

193,4

205,3

223,7

245,1

262,0

GDP b/q đầu người

USD

1273

1517

1748

1907

2052

2097

2202

2373

2570

2715

Cơ cấu

%

100

100

100

100

100

100

100

100

100

100

– Nông nghiệp

%

18,38

19,57

19,22

17,96

17,70

17,00

16,32

25,34

14,68

13,96

– Công nghiệp

%

32,13

32,24

33,56

33,19

33,21

33,25

32,72

33,40

34,23

34,49

– Dịch vụ

%

36,94

36,73

37,27

38,74

39,04

39,73

40,92

41,26

41,12

41,64

– Thuế SP trừ trợ cấp SP

%

12,55

11,46

9,95

10,11

10,05

10,02

10,04

10,00

9,97

9,91

GDP (giá 2010)

103tỷ đ

2158

2292

2413

2544

2696

2876

3054

3263

3493

3739

Tỷ USD

110,7

117,6

123,8

130,5

138,3

147,5

156,7

167,3

179,2

191,8

Tốc độ tăng

%

6,24

5,25

5,42

5,98

6,68

6,21

6,81

7,08

7,02

Năng lượng sơ cấp (theo BP)

EJ

1,87

2,13

2,24

2,39

2,61

2,90

3,11

3,32

3,72

4,12

Tốc độ tăng

%

13,91

5,17

6,70

9,21

11,12

7,25

6,76

12,05

10,76

Sản lượng điện

109kWh

91,7

101,5

115,1

124,5

141,2

157,9

175,7

191,6

209,2

227,5

Tốc độ tăng

%

10,66

13,45

8,09

13,50

11,83

11,27

9,02

9,18

8,74

Hệ số ĐHNL

2,23

0,98

1,24

1,54

1,66

1,17

0,99

1,70

1,53

Hệ số ĐHĐN

1,71

2,56

1,49

2,26

1,77

1,81

1,32

1,30

1,25

Cường độ NL

GJ/103$

16,90

18,11

18,10

18,32

18,88

19,66

19,85

19,84

20,76

21,49

kgOE/

103$

405,6

434,6

434,4

439,7

453,1

471,8

476,4

476,2

498,2

515,8

Cường độ ĐN

kWh/

103$

828,7

863,2

930,4

953,9

1021,5

1070,8

1121,7

1144,9

1167,4

1186,2

Nguồn: [1], [2]. Tác giả tính toán các chỉ tiêu: GDP theo USD giá cố định năm 2010, Tốc độ tăng cung NLSC (%), Tốc độ tăng sản lượng điện (%), Hệ số đàn hồi năng lượng (HSĐHNL), Hệ số đàn hồi điện năng (HSĐHĐN), Cường độ năng lượng (CĐNL) và Cường độ điện năng (CĐĐN).

Ghi chú: HSĐHNL = Tốc độ tăng NLSC (%)/Tốc độ tăng GDP (%); HSĐHĐN = Tốc độ tăng sản lượng điện/Tốc độ tăng GDP; CĐNL = Tổng NLSC cung cấp/GDP; CĐĐN = Tổng sản lượng điện sản xuất/GDP, trong đó GDP theo giá cố định năm 2010 và tỷ giá VND/USD năm 2010 = 19.496. Đơn vị GJ = 24 kgOE.

Theo Niên giám Thống kê Việt Nam (NGTK VN) 2024: Chỉ tiêu CĐNL (kgOE/103USD) năm 2024: 498,6; 2024: 512,8; 2024: 492,3; 2024: 542,2; Chỉ tiêu CĐĐN (kWh/103USD) năm 2024: 1061,2; 2024: 1130,1; 2024: 1184,9; 2024: 1223,1. GDP tính toán từ Tổng cung NLSC/CĐNL là (tỉ USD): năm 2024: 132,7; 2024: 139,3; 2024: 145,8; 2024: 154,5. GDP tính toán từ Tổng điện thương phẩm/CĐĐN là (tỉ USD): Năm 2024: 133,4; 2024: 140,1; 2024: 146,8; 2024: 154,5. Sự chênh lệch GDP từ 2 cách tính chỉ là do sai số khi tính. Vấn đề là không rõ GDP để tính chỉ tiêu CĐNL và CĐĐN trong NGTK 2024 được tính theo thời giá nào, vì không khớp với GDP theo giá hiện hành và GDP theo giá cố định năm 2010 nêu trong NGTK 2024.

Từ năm 2010 đến 2024 sau 10 năm kinh tế – xã hội của nước ta đa có sự phát triển mạnh, dân số tăng từ 87,07 lên 96,48 triệu người (tăng 1,11 lần), GDP (theo giá hiện hành) đã tăng từ 110,7 lên 262,0 tỷ USD (tăng gần 2,4 lần), GDP bình quân đầu người tăng từ 1.273 lên 2.715 USD/người (tăng hơn 2,13 lần). GDP (theo giá cố định 2010) tăng từ 110,7 lên 191,8 tỷ USD, tăng hơn 1,73 lần.

Theo đó, tiêu dùng năng lượng và điện năng ngày càng tăng cao: Tổng cung năng lượng sơ cấp tăng từ 1,87 lên 4,12 EJ (tương đương từ 44,69 lên 98,47 triệu TOE) [2], tăng 2,2 lần, sản lượng điện sản xuất tăng từ 91,7 lên 227,5 tỷ kWh, tăng 2,48 lần.

Xét trên phương diện sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả thông qua các chỉ tiêu: Hệ số đàn hồi năng lượng (HSĐHNL), Hệ số đàn hồi điện năng (HSĐHĐN), Cường độ năng lượng (CĐNL) và Cường độ điện năng (CĐĐN) cho thấy như sau:

HSĐHNL có sự biến động lên xuống thất thường song về cơ bản theo xu thế giảm dần, từ 2,23 năm 2011 xuống còn 1,53 năm 2024.

HSĐHĐN cũng có sự biến động tăng giảm bất thường song về cơ bản theo xu thế giảm, từ 1,71 năm 2011 xuống còn 1,25 năm 2024.

Nguyên nhân chủ yếu là do tốc độ tăng trưởng kinh tế có xu thế tăng, trong khi tốc độ tăng trưởng cung ứng NLSC và sản lượng điện năng có xu thế giảm.

CĐNL có sự gia tăng dần từ năm 2010 đến 2024, tương ứng tăng từ 16,9 lên 21,9 GJ/103USD, tăng 1,27 lần. So với Niên giám Thống kê Việt Nam (NGTK VN) 2024 có sự chênh lệch là do số liệu về cung NLSC và GDP có sự khác nhau.

CĐĐN có sự gia tăng tương đối cao từ năm 2010 đến 2024, tương ứng tăng từ 828,7 lên 1186,2 kWh/103 USD, tăng 1,43 lần. So với NGTK VN 2024 có sự chênh lệch là do sản lượng điện tính khác nhau (NGTK tính theo điện thương phẩm) và GDP khác nhau.

Thiết nghĩ, việc tính chỉ tiêu CĐĐN theo sản lượng điện sản xuất thì hợp lý hơn vì suy cho cùng lượng điện năng bị tổn thất trong quá trình truyền tải và phân phối cũng là tiêu dùng cho nền kinh tế. Theo đó, để giảm CĐĐN và nâng cao hiệu quả sử dụng điện cũng cần phải giảm tổn thất điện năng.

Qua sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự biến động của các chỉ tiêu CĐNL, CĐĐN nêu trên cho thấy rằng: Nền kinh tế nước ta thời gian qua tuy có sự tái cơ cấu nhất định nhưng xét trên tổng thể chưa theo hướng sử dụng hiệu quả năng lượng và điện năng.

Trong bài viết này chưa có điều kiện đi sâu phân tích chi tiết nguyên nhân cụ thể của tình trạng sử dụng năng lượng và điện năng chưa hiệu quả. Song qua đánh giá kết quả thực hiện Chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả giai đoạn năm 2012 – 2024 và phân tích tốc độ tăng dân số, GDP bình quân đầu người, cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho thấy các nguyên nhân chính bao gồm:

(i) Trình độ công nghệ kỹ thuật, thiết bị và việc quản lý sử dụng trong các ngành, lĩnh vực sản xuất còn bất cập, hạn chế, dẫn đến có mức tiêu hao nhiên liệu, năng lượng, điện năng cao.

(ii) Dân số tăng cùng với thu nhập ngày càng tăng nên mức tiêu dùng năng lượng và điện năng trong sinh hoạt tăng cao (tăng từ khoảng 25 tỷ kWh năm 2010 lên 59,3 tỷ kWh năm 2024).

(iii) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm và chưa thực sự theo hướng sử dụng năng lượng có hiệu quả.

Cụ thể là khu vực tiêu hao ít năng lượng hơn như dịch vụ tuy có tỷ trọng tăng nhưng còn chậm: Từ năm 2010 đến năm 2024 chỉ tăng thêm 4,6% (từ 36,94% lên 41,64%).

Ngược lại, khu vực tiêu hao nhiều năng lượng, điện năng như công nghiệp, xây dựng cũng có tỷ trọng tăng tuy thấp hơn là 2,36% (từ 32,13% lên 34,49%). Tỷ trọng tiêu dùng điện năng của lĩnh vực công nghiệp – xây dựng năm 2024 chiếm tới 55%, trong khi tỷ trọng của lĩnh vực này trong GDP chỉ là 34,49%; của nông, lâm và ngư nghiệp là 3%, trong khi tỷ trọng trong GDP chiếm tới 13,96%, giảm 4,42% so với năm 2010 (18,38%); của lĩnh vực dịch vụ và các lĩnh khác là 42% (trong đó thương mại – dịch vụ: 6,0%; quản lý – tiêu dùng: 32,0%; khác: 4,0%), trong khi tỷ trọng của lĩnh vực dịch vụ trong GDP chiếm tới 41,64%.

Trong các nguyên nhân nêu trên thì nguyên nhân quan trọng mang tính chiến lược là tái cơ cấu nền kinh tế mới chỉ định hướng chung là chuyển dịch theo hướng công nghiệp và dịch vụ mà chưa gắn với mục tiêu cụ thể về sử dụng năng lượng hiệu quả.

Để biết mức độ sử dụng năng lượng và điện năng của nước ta cao thấp ra sao, trong bảng 2 trình bày các chỉ tiêu cường độ năng lượng và cường độ điện năng năm 2024 (GDP theo giá hiện hành bằng USD năm 2024) của một số nước trong khu vực và trên thế giới.

Bảng 2:

Chỉ tiêu

Đơn vị

Thái Lan

Malaysia

Hàn Quốc

Nhật Bản

Trung Quốc

Úc

Đức

Nga

Việt Nam

GDP (giá hiện hành)

109$

505,0

358,6

1619,4

4971,3

13608,2

1433,9

3947,6

1657,6

245,2

Cơ cấu GDP

%

– Nông nghiệp

8,1

7,5

2,0

1,2*

7,2

2,5

0,8

3,1

14,7

– Công nghiệp

35,0

38,3

35,1

29,1*

40,7

24,1

27,5

32,1

34,2

– Dịch vụ

56,9

53,0

53,6

69,1*

52,2

66,6

61,8

54,1

41,1

GDP (theo PPP)

109$

1261,2

1032,9

2077,8

5413,8

25418,7

1245,1

4394,6

3998,8

706,5

Tiêu dùng NLSC

109GJ

5,60

4,21

12,55

18,84

135,77

6,00

13,44

30,04

3,72

Sản lượng điện

109kWh

177,6

167,3

593,4

1056,2

7166,1

263,1

643,5

1109,2

209,2

CĐNL và CĐ ĐN tính theo GDP giá hiện hành

CĐNL

GJ/103$

11,10

11,74

7,75

3,79

9,98

4,18

3,40

18,12

15,17

CĐĐN

kWh/103$

351,7

466,6

366,4

212,5

526,6

183,5

163,0

669,2

853,3

VN so với:

Lần

– CĐNL

1,37

1,29

1,96

4,00

1,52

3,63

4,46

0,84

– CĐĐN

2,43

1,83

2,33

4,02

1,62

4,65

5,23

1,28

CĐNL và CĐ ĐN tính theo GDP sức mua tương đương (PPP)

CĐNL

GJ/103$

4,44

4,08

6,04

3,48

5,34

4,82

3,06

7,51

5,26

CĐĐN

kWh/103$

140,8

162,0

285,6

195,1

281,9

211,3

146,4

277,4

296,1

VN so với:

Lần

– CĐNL

1,18

1,29

1,04

1,51

0,99

1,09

1,72

0,70

– CĐĐN

2,10

1,83

1,04

1,52

1,05

1,40

2,02

1,08

Nguồn: GDP theo [1], Tiêu dùng NLSC và sản lượng điện năng theo [2]. Tác giả tính toán chỉ tiêu CĐNL và CĐĐN. Ghi chú: GDP (giá hiện hành) là của năm 2024; GDP (theo PPP) là theo sức mua tương đương của năm 2024 lấy theo NGTK VN năm 2024. (*) cơ cấu của năm 2024.

Qua bảng 2 cho thấy:

Thứ nhất: CĐNL của Việt Nam chỉ thấp hơn của Nga (bằng 0,84 lần), nhưng rất cao so với các nước. Cụ thể là cao hơn Thái Lan 1,37 lần; Malaysia 1,29 lần; Hàn Quốc 1,96 lần; Nhật Bản 4,0 lần; Trung Quốc 1,52 lần; Úc 3,63 lần và Đức 4,46 lần.

Thứ hai: CĐĐN của Việt Nam cao hơn tất cả các nước. Cụ thể là cao hơn Thái Lan 2,43 lần; Malaysia 1,83 lần; Hàn Quốc 1,33 lần; Nhật Bản 4,02 lần; Trung Quốc 1,62 lần; Úc 4,62 lần; Đức 5,23 lần và Nga 1,28 lần. Như vậy, rất cao so với Thái Lan, Malaysia, Nhật Bản, Úc và Đức.

Vì rằng, mặt bằng giá của các nước cao thấp khác nhau do sức mua khác nhau làm cho GDP theo giá hiện hành của các nước không có giá trị ngang nhau – tức không đảm bảo tính so sánh được với nhau. Theo đó, các chỉ tiêu CĐNL và CĐĐN tính trên GDP theo giá hiện hành của các nước chưa hoàn toàn phản ánh chính xác hiệu quả sử dụng năng lượng và điện năng để đảm bảo tính so sánh được.

Vì vậy, để khắc phục khiếm khuyết này, GDP được tính theo sức mua tương đương (Purchasing Power Parity – PPP) [1] và các chỉ tiêu CĐNL và CĐĐN tính trên GDP theo PPP, viết tắt là GDP (PPP).

Trong trường hợp này ta thấy, CĐNL và CĐĐN của Việt Nam so với các nước có sự thu hẹp khoảng cách. Cụ thể là, chỉ tiêu CĐNL của Việt Nam thấp hơn của Nga và Trung Quốc, cao hơn chút ít so với Úc và Hàn Quốc, chỉ cao hơn đáng kể so với Thái Lan và rất cao so với Malaysia, Nhật Bản và Đức. Còn chỉ tiêu CĐĐN của Việt Nam cao hơn tất cả các nước. Qua đó, chứng tỏ hiệu quả sử dụng năng lượng và điện năng của Việt Nam vẫn còn thấp và rất thấp so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

Nhìn chung, cho thấy nước nào có lĩnh vực dịch vụ chiếm tỷ trọng cao và cao hơn nhiều so với tỷ trọng của lĩnh vực công nghiệp trong GDP thì có CĐNL và CĐĐN thấp – tức sử dụng năng lượng và điện năng hiệu quả hơn. Còn nước nào có lĩnh vực công nghiệp cao và cao gần với tỷ trọng của lĩnh vực dịch vụ trong GDP thì có CĐNL và CĐĐN cao – tức sử dụng năng lượng và điện năng kém hiệu quả hơn.

Vấn đề rút ra cho Việt Nam trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng:

1/ Cần nhận thức đúng đắn và phân biệt rõ nội hàm hai khái niệm: Sử dụng năng lượng tiết kiệm và sử dụng năng lượng hiệu quả để có cơ chế, chính sách và giải pháp thực hiện phù hợp.

Hiện nay, nội hàm của hai khái niệm này còn hiểu và quy định chung chung, chưa tách biệt rõ ràng.

Chẳng hạn, như quy định của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010 nêu: “Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là việc áp dụng các biện pháp quản lý và kỹ thuật nhằm giảm tổn thất, giảm mức tiêu thụ năng lượng của phương tiện, thiết bị mà vẫn bảo đảm nhu cầu, mục tiêu đặt ra đối với quá trình sản xuất và đời sống”.

Như vậy, thực chất quy định này chỉ mới đề cập đến khía cạnh sử dụng năng lượng tiết kiệm với nghĩa vẫn đảm bảo nhu cầu, mục tiêu đặt ra, nhưng với mức tiêu hao năng lượng thấp hơn. Theo đó, các Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cũng chỉ đề ra mục tiêu giảm tiêu hao và các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện giảm tiêu hao năng lượng.

Ví dụ, như Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2024 – 2030 (Quyết định số 280/2024/QĐ-TTg) đã đề ra mục tiêu cụ thể cho giai đoạn 2024-2025 là: Giảm mức tiêu hao năng lượng bình quân cho các ngành/phân ngành công nghiệp so với giai đoạn 2024 – 2024. Cụ thể:

(i) Đối với công nghiệp thép: Từ 3,00 đến 10,00% tùy loại sản phẩm và công nghệ sản xuất.

(ii) Đối với công nghiệp hóa chất: Tối thiểu 7,00%.

(iii) Đối với công nghiệp sản xuất nhựa: Từ 18,00 đến 22,46%.

(iv) Đối với công nghiệp xi măng: Tối thiểu 7,50%.

(vi) Đối với công nghiệp dệt may: Tối thiểu 5,00%.

(vii) Đối với công nghiệp rượu, bia và nước giải khát: Từ 3,00 đến 6,88% (tùy vào loại sản phẩm, quy mô sản xuất).

(viii) Đối với công nghiệp giấy: Từ 8,00 đến 15,80% tùy từng loại sản phẩm và quy mô sản xuất.

Theo đó, đề ra các nhiệm vụ thực hiện mục tiêu giảm mức tiêu hao năng lượng nêu trên.

Đề nghị quy định lại rõ ràng hai khái niệm sử dụng năng lượng tiết kiệm và sử dụng năng lượng hiệu quả như sau:

Thứ nhất: Sử dụng năng lượng tiết kiệm là cùng một kết quả đầu ra nhưng với mức tiêu hao năng lượng đầu vào ít hơn.

Thứ hai: Sử dụng năng lượng hiệu quả là cùng một mức tiêu hao năng lượng đầu vào nhưng đạt được kết quả đầu ra nhiều hơn.

Tuy kết quả cuối cùng của cả hai trường hợp đều là giảm mức tiêu hao năng lượng trên một đơn vị đầu ra, nhưng bản chất và việc áp dụng trong thực tiễn lại có sự khác nhau.

Sử dụng năng lượng tiết kiệm thường được áp dụng đối với việc sản xuất, hoặc sử dụng những loại sản phẩm, vật tư, thiết bị, máy móc, phương tiện hiện có với mục tiêu giảm mức tiêu hao năng lượng đầu vào bằng các giải pháp thích hợp.

Ví dụ, việc thay thế các bóng đèn sợi đốt hiện đang sử dụng tiêu hao nhiều điện năng bằng các bóng đèn LED có cùng độ sáng như nhau nhưng mức tiêu hao điện năng thấp hơn nhiều.

Tương tự, việc thay thế thế hệ cũ các điều hòa, quạt gió, nồi cơm điện, xe máy, ô tô, thiết bị, phương tiện, v.v… bằng thế hệ mới có mức tiêu hao nhiên liệu, điện năng, nhiệt lượng thấp hơn. Hoặc việc cải tạo hiện đại hóa, đổi mới thiết bị, máy móc, phương tiện, tòa nhà, dây chuyền sản xuất hiện có để giảm tiêu hao năng lượng hoặc điện năng, v.v… Như vậy, trong trường hợp này việc giảm tiêu hao năng lượng là do sử dụng tiết kiệm. Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả chủ yếu đang theo hướng này.

Còn sử dụng năng lượng hiệu quả thường được áp dụng đối với đầu tư để phát triển, hoặc mở rộng các ngành, lĩnh vực, loại sản phẩm, dịch vụ tiêu hao ít năng lượng nhưng có giá trị kinh tế cao với mục đích nâng cao giá trị đầu ra trên một đơn vị năng lượng tiêu hao.

Ví dụ, các ngành luyện kim, vật liệu xây dựng, chế tạo máy, giấy, hóa chất, giao thông vận tải, v.v… là những ngành tiêu thụ nhiều năng lượng nhất. Các ngành nông lâm thủy hải sản và các lĩnh vực dịch vụ du lịch, thương mại, tài chính, ngân hàng, giải trí, v.v… là các ngành, lĩnh vực tiêu thụ ít năng lượng. Cho nên, để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, thay vì đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực tiêu hao nhiều năng lượng (cho dù đã áp dụng giải pháp sử dụng tiết kiệm) chuyển sang đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực tiêu hao ít năng lượng. Theo đó cơ cấu kinh tế sẽ chuyển dịch từ các ngành, lĩnh vực tiêu hao nhiều năng lượng sang các ngành, lĩnh vực tiêu hao ít năng lượng – tức là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sử dụng năng lượng hiệu quả.

Như vậy, trong trường hợp này, việc giảm tiêu hao năng lượng là do chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển các ngành, lĩnh vực tiêu hao ít năng lượng. Chính vì vậy, như đã nêu trên các nền kinh tế có lĩnh vực dịch vụ chiếm tỷ trọng cao thường có chỉ tiêu sử dụng năng lượng hiệu quả cao hơn nhiều so với các nền kinh tế có lĩnh vực công nghiệp – xây dựng chiếm tỷ trọng cao.

2/ Với nhận thức nêu trên, đi đôi với sử dụng năng lượng tiết kiệm cần tăng cường sử dụng năng lượng hiệu quả.

Nghị quyết 55 của Bộ Chính trị về “Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia Việt Nam đến 2030, tầm nhìn đến 2045” đề ra một trong các mục tiêu là Cường độ năng lượng sơ cấp đến năm 2030 đạt từ 420-460 kgOE/1.000 USD GDP, năm 2045 từ 375-410 kgOE/1.000 USD GDP.

Để thực hiện được mục tiêu đó, đi đôi với việc sử dụng năng lượng tiết kiệm trên cơ sở áp dụng các giải pháp thay thế, đổi mới, hiện đại hóa công nghệ, thiết bị, sản phẩm và quản lý nhằm giảm tiêu hao năng lượng, Việt Nam cần đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu kinh tế gắn với mục tiêu sử dụng năng lượng hiệu quả trên cơ sở hạn chế phát triển các ngành, lĩnh vực tiêu hao nhiều năng lượng. Đặc biệt là những ngành, lĩnh vực sản xuất sản phẩm xuất khẩu tiêu hao năng lượng nhiều, chỉ hạn chế ở mức quy mô vừa đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước, đẩy mạnh phát triển các ngành, lĩnh vực tiêu hao ít năng lượng nhưng đem lại giá trị kinh tế gia tăng cao. Đây là nhiệm vụ của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Trên cơ sở đó, Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả cụ thể hóa mục tiêu và đề ra nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ để thực hiện./.

[*] HỘI ĐỒNG KHOA HỌC TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM; KHOA QUẢN LÝ CÔNG NGHIỆP VÀ NĂNG LƯỢNG – EPU

[1] Niên giám Thống kê Việt Nam (NGTK VN) 2024, 2024, 2014.

[2] BP Statistical Review of World Energy 2024, 2024.

Bàn Về Sử Dụng Năng Lượng Tiết Kiệm Và Hiệu Quả Ở Việt Nam

PGS, TS. NGUYỄN CẢNH NAM – HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là giải pháp có hiệu quả tổng hợp trên tất cả các mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Cụ thể là giảm tiêu hao năng lượng, nhờ đó giảm chi phí sử dụng năng lượng trong sản xuất và đời sống, nâng cao hiệu quả kinh doanh, giảm nhu cầu năng lượng, kéo theo giảm chi phí đầu tư phát triển năng lượng, giảm mức độ khai thác các nguồn tài nguyên năng lượng, giảm lượng phát thải gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả đã trở thành quốc sách của các nước trên thế giới và Việt Nam.

Ở Việt Nam đã ban hành Luật Sử dụng Năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010, tiếp theo là các chương trình mục tiêu, giải pháp thực hiện sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Theo Luật Sử dụng Năng lượng tiết kiệm và hiệu quả của Việt Nam, tại Khoản 5 Điều 3 nêu: “Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là việc áp dụng các biện pháp quản lý và kỹ thuật nhằm giảm tổn thất, giảm mức tiêu thụ năng lượng của phương tiện, thiết bị mà vẫn bảo đảm nhu cầu, mục tiêu đặt ra đối với quá trình sản xuất và đời sống”.

Khái niệm nêu trên, theo chúng tôi là còn chung chung, chưa phân biệt rõ sử dụng năng lượng tiết kiệm và sử dụng năng lượng hiệu quả. Do vậy, có thể cụ thể hóa khái niệm này thành hai khái niệm giống như hai mặt của một đồng tiền – đó là “sử dụng năng lượng tiết kiệm” cùng một kết quả “đầu ra”, nhưng với mức tiêu hao năng lượng “đầu vào” ít hơn và “sử dụng năng lượng hiệu quả” là cùng một mức tiêu hao năng lượng “đầu vào” nhưng đạt được kết quả “đầu ra” nhiều hơn. Như vậy, mục tiêu cuối cùng đều là nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trên cơ sở giảm mức tiêu hao năng lượng trên một đơn vị đầu ra.

Trong thực tế sản xuất, kinh doanh và đời sống, việc ứng dụng hai khái niệm này có sự khác nhau một cách tương đối cả về cách thức, giải pháp và mục đích.

Sử dụng năng lượng tiết kiệm thường được áp dụng đối với việc sản xuất, hoặc sử dụng những loại sản phẩm, vật tư, thiết bị, máy móc, phương tiện hiện có với mục tiêu giảm mức tiêu hao năng lượng đầu vào bằng các giải pháp thích hợp nhằm mục đích giảm chi phí, giá thành và nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Ví dụ, việc thay thế các bóng đèn sợi đốt hiện đang sử dụng tiêu hao nhiều điện năng bằng các bóng đèn LED có cùng độ sáng như nhau, nhưng mức tiêu hao điện năng thấp hơn nhiều.

Tương tự, việc thay thế thế hệ cũ các điều hòa, quạt gió, nồi cơm điện, xe máy, ô tô, thiết bị, phương tiện, v.v… bằng thế hệ mới có mức tiêu hao nhiên liệu, điện năng, nhiệt lượng thấp hơn. Hoặc, việc cải tạo hiện đại hóa, đổi mới thiết bị, máy móc, phương tiện, tòa nhà, dây chuyền sản xuất hiện có để giảm tiêu hao năng lượng, hoặc điện năng, v.v…

Còn sử dụng năng lượng hiệu quả thường được áp dụng đối với đầu tư để phát triển, hoặc mở rộng các ngành, lĩnh vực, loại sản phẩm, dịch vụ tiêu hao ít năng lượng, nhưng có giá trị kinh tế cao với mục đích nâng cao giá trị đầu ra trên một đơn vị năng lượng tiêu hao.

Ví dụ các ngành luyện kim, vật liệu xây dựng, chế tạo máy, giấy, hóa chất, giao thông vận tải, v.v… là những ngành tiêu thụ nhiều năng lượng nhất. Các ngành nông – lâm – thủy hải sản và các lĩnh vực dịch vụ, du lịch, thương mại, tài chính, ngân hàng, giải trí, v.v… là các ngành, lĩnh vực tiêu thụ ít năng lượng. Cho nên, để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng thay vì đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực tiêu hao nhiều năng lượng chuyển sang đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực tiêu hao ít năng lượng.

Chính vì vậy, các nền kinh tế có lĩnh vực dịch vụ chiếm tỷ trọng cao thường có chỉ tiêu sử dụng năng lượng hiệu quả cao hơn nhiều so với các nền kinh tế có ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng cao.

Chỉ hai trường hợp: Sử dụng tiết kiệm năng lượng và sử dụng hiệu quả năng lượng dẫn đến giảm thiểu cường độ sử dụng năng lượng trên một đơn vị GDP xét trên phạm vi nền kinh tế quốc dân, cũng như tiết kiệm tài nguyên năng lượng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Trường hợp sử dụng hợp lý không làm tăng – giảm, còn trường hợp sử dụng lãng phí làm tăng cường độ sử dụng năng lượng trên một đơn vị GDP, kéo theo làm tăng mức độ khai thác các nguồn tài nguyên năng lượng và tăng mức độ phát thải gây ô nhiễm môi trường.

Theo đó, tương ứng với từng cấp độ có các tiêu chí, chỉ tiêu để đánh giá một cách phù hợp. Khi phân tích thực trạng sử dụng năng lượng cần đặc biệt quan tâm đến điều này.

Cụ thể là: Nếu chỉ thuần túy khắc phục các hiện tượng sử dụng lãng phí thì chỉ là sử dụng hợp lý; nếu giảm mức tiêu hao trên một đơn vị sản phẩm so với định mức của đơn vị, hoặc ngành thì có sự tiết kiệm, nhưng chỉ trong phạm vi của đơn vị hoặc ngành; nếu giảm mức tiêu hao so với định mức chuẩn (Benchmarking – định mức của đơn vị tiên tiến nhất trong ngành ở trong nước, hoặc ở nước ngoài) thì thực sự là sử dụng tiết kiệm; nếu giảm mức tiêu hao trên một đơn vị giá trị đầu ra do đầu tư vào sản phẩm mới ít tiêu thụ năng lượng thì đó là sử dụng hiệu quả.

Trên phạm vi nền kinh tế quốc dân người ta thường sử dụng các chỉ tiêu Cường độ năng lượng (CĐNL) và chỉ tiêu Cường độ điện năng (CĐĐN) để đánh giá hiệu quả sử dụng năng lượng nói chung và điện năng nói riêng, được xác định theo các công thức sau:

CĐNL = NLCC/GDP (kgOE/USD)

CĐĐN = TTĐN/GDP (kWh/USD)

NLCC: Tiêu thụ năng lượng cuối cùng (tính theo kg dầu tiêu chuẩn – kgOE).

TTĐN: Tiêu thụ điện năng (tính theo kWh).

GDP: Tổng thu nhập quốc nội – GDP (tính theo đồng tiền nội tệ hoặc đô la Mỹ để có thể so sánh với các nước khác).

Các chỉ tiêu CĐNL và CĐĐN có giá trị càng bé thì hiệu quả sử dụng năng lượng và điện năng càng cao.

Các chỉ tiêu CĐNL và CĐĐN của nền kinh tế phụ thuộc vào hai nhóm yếu tố: mức tiêu hao năng lượng, hay điện năng trên đơn vị sản phẩm của các ngành, lĩnh vực (thể hiện mức độ sử dụng tiết kiệm năng lượng) và cơ cấu kinh tế thể hiện qua tỷ trọng của các ngành, lĩnh vực tiêu thụ nhiều năng lượng và tỷ trọng của các ngành, lĩnh vực tiêu thụ ít năng lượng (thể hiện mức độ sử dụng hiệu quả năng lượng).

Khi so sánh trình độ sử dụng năng lượng giữa các thời kỳ khác nhau của một nền kinh tế cần phải đưa GDP về cùng một mặt bằng giá, thường là theo giá so sánh tại năm gốc. Còn khi so sánh trình độ sử dụng năng lượng giữa các nền kinh tế khác nhau cần phải đưa GDP về cùng một đơn vị tiền tệ (thường là đô la Mỹ) và một mặt bằng giá (hay ngang giá) theo sức mua tương đương (Power Purchasing Parity – PPP) để đảm bảo tính so sánh được.

Chênh lệch của chỉ tiêu CĐNL và CĐĐN giữa các thời kỳ khác nhau của một nền kinh tế, hay giữa các nền kinh tế khác nhau sẽ phản ánh tổng thể mức độ sử dụng tiết kiệm và mức độ sử dụng hiệu quả năng lượng. Việc phân tích phải làm rõ phần tác động của việc sử dụng tiết kiệm năng lượng và phần tác động của việc sử dụng hiệu quả năng lượng đối với sự tăng giảm của chỉ tiêu CĐNL và chỉ tiêu CĐĐN. Trong đó phần tác động của sử dụng tiết kiệm năng lượng hay điện năng được thể hiện thông qua sự khác nhau về mức tiêu hao năng lượng, hay điện năng trên một đơn vị sản phẩm của cùng ngành, nghề, lĩnh vực, còn phần tác động của sử dụng hiệu quả năng lượng được phát sinh từ sự khác nhau về cơ cấu kinh tế mà chủ yếu do tỷ trọng cao của các ngành, lĩnh vực ít tiêu hao năng lượng.

Việc phân biệt rõ hai phần tác động nêu trên đối với sự tăng giảm của chỉ tiêu CĐNL và chỉ tiêu CĐĐN là nhằm mục đích:

Một là: Khi dự báo nhu cầu năng lượng, hoặc điện năng trong tương lai theo quy mô GDP của nền kinh tế, nếu không có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của GDP theo hướng tăng tỷ trọng các ngành, lĩnh vực tiêu thụ ít năng lượng thì mức độ giảm nhu cầu năng lượng, hoặc điện năng chỉ dựa vào tiềm năng sử dụng tiết kiệm năng lượng, hoặc điện năng. Chỉ khi có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế GDP theo hướng tăng tỷ trọng các ngành, lĩnh vực tiêu thụ ít năng lượng thì ngoài phần tiềm năng sử dụng tiết kiệm, mức độ giảm nhu cầu năng lượng, hoặc điện năng có thêm phần giảm theo tiềm năng sử dụng hiệu quả.

Hai là: Làm căn cứ để đề xuất các giải pháp sử dụng tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng, hoặc điện năng một cách thích hợp.

Bảng 1. Hiệu quả sử dụng năng lượng của Việt Nam giai đoạn từ 2010 -2024:

Thứ nhất: Tỷ trọng dịch vụ tăng, nhưng tỷ trọng công nghiệp và xây dựng cũng tăng làm cho việc sử dụng hiệu quả năng lượng bị suy giảm.

Thứ hai: Tỷ trọng công nghiệp tăng làm cho nhu cầu tiêu thụ điện năng tăng cao hơn so với phần tiêu thụ điện năng bị giảm do tỷ trọng dịch vụ tăng.

Thứ ba: Tiêu thụ điện năng tăng cao, ngoài phần nhu cầu cho phát triển kinh tế, còn do nhu cầu cho sinh hoạt tăng cao cùng với mức thu nhập của người dân ngày càng tăng. Điều này làm cho việc sử dụng điện giảm hiệu quả.

Bảng 2. CĐNL và CĐĐN năm 2024 của một số nước (GDP theo giá năm 2024):

Qua bảng 2 nêu trên cho thấy:

Thứ nhất: Nhìn chung các nước có tỷ trọng dịch vụ cao thì có chỉ tiêu CĐNL và CĐĐN thấp hơn – tức hiệu quả sử dụng năng lượng và điện năng cao hơn.

Thứ hai: Đức là nước vừa sử dụng hiệu quả vừa sử dụng tiết kiệm năng lượng và điện năng cao nhất, đặc biệt là sử dụng điện năng. Tuy có cùng cơ cấu kinh tế tương đương như Nhật Bản, nhưng chỉ tiêu CĐĐN thấp hơn hẳn, chỉ bằng khoảng 57% của Nhật Bản.

Thứ ba: So với Nhật Bản thì Hàn Quốc có mức độ sử dụng điện năng tiết kiệm hơn, vì mặc dù có tỷ trọng công nghiệp cao hơn 10% và tỷ trọng dịch vụ thấp hơn 10%, nhưng chỉ tiêu CĐĐN như nhau.

Thứ tư: Việt Nam có hiệu quả sử dụng năng lượng và điện năng còn rất thấp do cả hai nguyên nhân: Sử dụng chưa tiết kiệm và sử dụng chưa hiệu quả, trong đó chủ yếu do sử dụng chưa hiệu quả thể hiện ở tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu GDP còn quá thấp. Điều này cũng được thể hiện rõ khi so sánh với Thái Lan có tỷ trọng công nghiệp gần tương đương nhau, nhưng tỷ trọng dịch vụ cao hơn hẳn và tỷ trọng nông nghiệp thấp hơn hẳn (nông nghiệp tuy tiêu thụ ít năng lượng nhưng có giá trị gia tăng cũng thấp hơn).

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là: Các chỉ tiêu CĐNL và CĐĐN của các nước còn chịu ảnh hưởng của việc GDP chưa tính theo ngang giá – tức theo sức mua tương đương (PPP).

Qua những phân tích nêu trên cho thấy, đối với Việt Nam, để giảm nhu cầu năng lượng và điện năng cho phát triển kinh tế – xã hội trong tương lai cần phải đẩy mạnh thực hiện đồng thời hai nhóm giải pháp sau:

Thứ nhất: Tăng cường sử dụng tiết kiệm năng lượng và điện năng trên cơ sở triệt để khắc phục việc sử dụng lãng phí và đổi mới, hiện đại hóa công nghệ theo hướng giảm mức tiêu hao năng lượng, điện năng, nhất là trong các ngành, lĩnh vực tiêu thụ nhiều năng lượng và điện năng, cũng như trong đời sống sinh hoạt của xã hội.

Ngoài ra, phải xác định giá năng lượng, nhất là giá điện hợp lý (hiện đang rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới) với mục đích:

Một là: Vừa để đảm bảo cho sản xuất, kinh doanh năng lượng và điện năng có lãi hợp lý nhằm khuyến khích mọi thành phần tham gia đầu tư phát triển năng lượng và điện năng, nhất là năng lượng tái tạo nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng.

Hai là: Vừa để thúc đẩy sử dụng năng lượng và điện năng hợp lý, tiết kiệm nhằm giảm chi phí, giá thành do giá năng lượng và điện năng cao, trong đó có việc hạn chế các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang lợi dụng giá điện rẻ để trục lợi.

Theo chúng tôi, đã đến lúc phải tách chính sách an sinh xã hội ra khỏi giá năng lượng và giá điện để đảm bảo giá vận hành theo cơ chế thị trường.

Thứ hai: Tăng cường sử dụng hiệu quả năng lượng và điện năng trên cơ sở đẩy mạnh đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực tiêu thụ ít năng lượng và điện năng, nhất là các ngành, lĩnh vực trong nước có tiềm năng, lợi thế, vừa đảm bảo thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, vừa góp phần giảm nhu cầu năng lượng và điện năng.

TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Bàn Về Sử Dụng Năng Lượng Tiết Kiệm Và Hiệu Quả Ở Việt Nam ” Nước Khoáng Lavie® Việt Nam

Để mùa xuân tuần hoàn theo quy luật của tự nhiên

PGS, TS. NGUYỄN CẢNH NAM – HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là giải pháp có hiệu quả tổng hợp trên tất cả các mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Cụ thể là giảm tiêu hao năng lượng, nhờ đó giảm chi phí sử dụng năng lượng trong sản xuất và đời sống, nâng cao hiệu quả kinh doanh, giảm nhu cầu năng lượng, kéo theo giảm chi phí đầu tư phát triển năng lượng, giảm mức độ khai thác các nguồn tài nguyên năng lượng, giảm lượng phát thải gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả đã trở thành quốc sách của các nước trên thế giới và Việt Nam.

Ở Việt Nam đã ban hành Luật Sử dụng Năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010, tiếp theo là các chương trình mục tiêu, giải pháp thực hiện sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Theo Luật Sử dụng Năng lượng tiết kiệm và hiệu quả của Việt Nam, tại Khoản 5 Điều 3 nêu: “Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là việc áp dụng các biện pháp quản lý và kỹ thuật nhằm giảm tổn thất, giảm mức tiêu thụ năng lượng của phương tiện, thiết bị mà vẫn bảo đảm nhu cầu, mục tiêu đặt ra đối với quá trình sản xuất và đời sống”.

Khái niệm nêu trên, theo chúng tôi là còn chung chung, chưa phân biệt rõ sử dụng năng lượng tiết kiệm và sử dụng năng lượng hiệu quả. Do vậy, có thể cụ thể hóa khái niệm này thành hai khái niệm giống như hai mặt của một đồng tiền – đó là “sử dụng năng lượng tiết kiệm” cùng một kết quả “đầu ra”, nhưng với mức tiêu hao năng lượng “đầu vào” ít hơn và “sử dụng năng lượng hiệu quả” là cùng một mức tiêu hao năng lượng “đầu vào” nhưng đạt được kết quả “đầu ra” nhiều hơn. Như vậy, mục tiêu cuối cùng đều là nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trên cơ sở giảm mức tiêu hao năng lượng trên một đơn vị đầu ra.

Trong thực tế sản xuất, kinh doanh và đời sống, việc ứng dụng hai khái niệm này có sự khác nhau một cách tương đối cả về cách thức, giải pháp và mục đích.

Sử dụng năng lượng tiết kiệm thường được áp dụng đối với việc sản xuất, hoặc sử dụng những loại sản phẩm, vật tư, thiết bị, máy móc, phương tiện hiện có với mục tiêu giảm mức tiêu hao năng lượng đầu vào bằng các giải pháp thích hợp nhằm mục đích giảm chi phí, giá thành và nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Ví dụ, việc thay thế các bóng đèn sợi đốt hiện đang sử dụng tiêu hao nhiều điện năng bằng các bóng đèn LED có cùng độ sáng như nhau, nhưng mức tiêu hao điện năng thấp hơn nhiều.

Tương tự, việc thay thế thế hệ cũ các điều hòa, quạt gió, nồi cơm điện, xe máy, ô tô, thiết bị, phương tiện, v.v… bằng thế hệ mới có mức tiêu hao nhiên liệu, điện năng, nhiệt lượng thấp hơn. Hoặc, việc cải tạo hiện đại hóa, đổi mới thiết bị, máy móc, phương tiện, tòa nhà, dây chuyền sản xuất hiện có để giảm tiêu hao năng lượng, hoặc điện năng, v.v…

Còn sử dụng năng lượng hiệu quả thường được áp dụng đối với đầu tư để phát triển, hoặc mở rộng các ngành, lĩnh vực, loại sản phẩm, dịch vụ tiêu hao ít năng lượng, nhưng có giá trị kinh tế cao với mục đích nâng cao giá trị đầu ra trên một đơn vị năng lượng tiêu hao.

Ví dụ các ngành luyện kim, vật liệu xây dựng, chế tạo máy, giấy, hóa chất, giao thông vận tải, v.v… là những ngành tiêu thụ nhiều năng lượng nhất. Các ngành nông – lâm – thủy hải sản và các lĩnh vực dịch vụ, du lịch, thương mại, tài chính, ngân hàng, giải trí, v.v… là các ngành, lĩnh vực tiêu thụ ít năng lượng. Cho nên, để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng thay vì đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực tiêu hao nhiều năng lượng chuyển sang đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực tiêu hao ít năng lượng.

Chính vì vậy, các nền kinh tế có lĩnh vực dịch vụ chiếm tỷ trọng cao thường có chỉ tiêu sử dụng năng lượng hiệu quả cao hơn nhiều so với các nền kinh tế có ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng cao.

Chỉ hai trường hợp: Sử dụng tiết kiệm năng lượng và sử dụng hiệu quả năng lượng dẫn đến giảm thiểu cường độ sử dụng năng lượng trên một đơn vị GDP xét trên phạm vi nền kinh tế quốc dân, cũng như tiết kiệm tài nguyên năng lượng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Trường hợp sử dụng hợp lý không làm tăng – giảm, còn trường hợp sử dụng lãng phí làm tăng cường độ sử dụng năng lượng trên một đơn vị GDP, kéo theo làm tăng mức độ khai thác các nguồn tài nguyên năng lượng và tăng mức độ phát thải gây ô nhiễm môi trường.

Theo đó, tương ứng với từng cấp độ có các tiêu chí, chỉ tiêu để đánh giá một cách phù hợp. Khi phân tích thực trạng sử dụng năng lượng cần đặc biệt quan tâm đến điều này.

Cụ thể là: Nếu chỉ thuần túy khắc phục các hiện tượng sử dụng lãng phí thì chỉ là sử dụng hợp lý; nếu giảm mức tiêu hao trên một đơn vị sản phẩm so với định mức của đơn vị, hoặc ngành thì có sự tiết kiệm, nhưng chỉ trong phạm vi của đơn vị hoặc ngành; nếu giảm mức tiêu hao so với định mức chuẩn (Benchmarking – định mức của đơn vị tiên tiến nhất trong ngành ở trong nước, hoặc ở nước ngoài) thì thực sự là sử dụng tiết kiệm; nếu giảm mức tiêu hao trên một đơn vị giá trị đầu ra do đầu tư vào sản phẩm mới ít tiêu thụ năng lượng thì đó là sử dụng hiệu quả.

Trên phạm vi nền kinh tế quốc dân người ta thường sử dụng các chỉ tiêu Cường độ năng lượng (CĐNL) và chỉ tiêu Cường độ điện năng (CĐĐN) để đánh giá hiệu quả sử dụng năng lượng nói chung và điện năng nói riêng, được xác định theo các công thức sau:

CĐNL = NLCC/GDP (kgOE/USD)

CĐĐN = TTĐN/GDP (kWh/USD)

Trong đó:

NLCC: Tiêu thụ năng lượng cuối cùng (tính theo kg dầu tiêu chuẩn – kgOE).

TTĐN: Tiêu thụ điện năng (tính theo kWh).

GDP: Tổng thu nhập quốc nội – GDP (tính theo đồng tiền nội tệ hoặc đô la Mỹ để có thể so sánh với các nước khác).

Các chỉ tiêu CĐNL và CĐĐN có giá trị càng bé thì hiệu quả sử dụng năng lượng và điện năng càng cao.

Các chỉ tiêu CĐNL và CĐĐN của nền kinh tế phụ thuộc vào hai nhóm yếu tố: mức tiêu hao năng lượng, hay điện năng trên đơn vị sản phẩm của các ngành, lĩnh vực (thể hiện mức độ sử dụng tiết kiệm năng lượng) và cơ cấu kinh tế thể hiện qua tỷ trọng của các ngành, lĩnh vực tiêu thụ nhiều năng lượng và tỷ trọng của các ngành, lĩnh vực tiêu thụ ít năng lượng (thể hiện mức độ sử dụng hiệu quả năng lượng).

Khi so sánh trình độ sử dụng năng lượng giữa các thời kỳ khác nhau của một nền kinh tế cần phải đưa GDP về cùng một mặt bằng giá, thường là theo giá so sánh tại năm gốc. Còn khi so sánh trình độ sử dụng năng lượng giữa các nền kinh tế khác nhau cần phải đưa GDP về cùng một đơn vị tiền tệ (thường là đô la Mỹ) và một mặt bằng giá (hay ngang giá) theo sức mua tương đương (Power Purchasing Parity – PPP) để đảm bảo tính so sánh được.

Chênh lệch của chỉ tiêu CĐNL và CĐĐN giữa các thời kỳ khác nhau của một nền kinh tế, hay giữa các nền kinh tế khác nhau sẽ phản ánh tổng thể mức độ sử dụng tiết kiệm và mức độ sử dụng hiệu quả năng lượng. Việc phân tích phải làm rõ phần tác động của việc sử dụng tiết kiệm năng lượng và phần tác động của việc sử dụng hiệu quả năng lượng đối với sự tăng giảm của chỉ tiêu CĐNL và chỉ tiêu CĐĐN. Trong đó phần tác động của sử dụng tiết kiệm năng lượng hay điện năng được thể hiện thông qua sự khác nhau về mức tiêu hao năng lượng, hay điện năng trên một đơn vị sản phẩm của cùng ngành, nghề, lĩnh vực, còn phần tác động của sử dụng hiệu quả năng lượng được phát sinh từ sự khác nhau về cơ cấu kinh tế mà chủ yếu do tỷ trọng cao của các ngành, lĩnh vực ít tiêu hao năng lượng.

Việc phân biệt rõ hai phần tác động nêu trên đối với sự tăng giảm của chỉ tiêu CĐNL và chỉ tiêu CĐĐN là nhằm mục đích:

Một là: Khi dự báo nhu cầu năng lượng, hoặc điện năng trong tương lai theo quy mô GDP của nền kinh tế, nếu không có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của GDP theo hướng tăng tỷ trọng các ngành, lĩnh vực tiêu thụ ít năng lượng thì mức độ giảm nhu cầu năng lượng, hoặc điện năng chỉ dựa vào tiềm năng sử dụng tiết kiệm năng lượng, hoặc điện năng. Chỉ khi có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế GDP theo hướng tăng tỷ trọng các ngành, lĩnh vực tiêu thụ ít năng lượng thì ngoài phần tiềm năng sử dụng tiết kiệm, mức độ giảm nhu cầu năng lượng, hoặc điện năng có thêm phần giảm theo tiềm năng sử dụng hiệu quả.

Hai là: Làm căn cứ để đề xuất các giải pháp sử dụng tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng, hoặc điện năng một cách thích hợp.

Bảng 1. Hiệu quả sử dụng năng lượng của Việt Nam giai đoạn từ 2010 -2024:

Thứ nhất: Tỷ trọng dịch vụ tăng, nhưng tỷ trọng công nghiệp và xây dựng cũng tăng làm cho việc sử dụng hiệu quả năng lượng bị suy giảm.

Thứ hai: Tỷ trọng công nghiệp tăng làm cho nhu cầu tiêu thụ điện năng tăng cao hơn so với phần tiêu thụ điện năng bị giảm do tỷ trọng dịch vụ tăng.

Thứ ba: Tiêu thụ điện năng tăng cao, ngoài phần nhu cầu cho phát triển kinh tế, còn do nhu cầu cho sinh hoạt tăng cao cùng với mức thu nhập của người dân ngày càng tăng. Điều này làm cho việc sử dụng điện giảm hiệu quả.

Bảng 2. CĐNL và CĐĐN năm 2024 của một số nước (GDP theo giá năm 2024):

Thứ nhất: Nhìn chung các nước có tỷ trọng dịch vụ cao thì có chỉ tiêu CĐNL và CĐĐN thấp hơn – tức hiệu quả sử dụng năng lượng và điện năng cao hơn.

Thứ hai: Đức là nước vừa sử dụng hiệu quả vừa sử dụng tiết kiệm năng lượng và điện năng cao nhất, đặc biệt là sử dụng điện năng. Tuy có cùng cơ cấu kinh tế tương đương như Nhật Bản, nhưng chỉ tiêu CĐĐN thấp hơn hẳn, chỉ bằng khoảng 57% của Nhật Bản.

Thứ ba: So với Nhật Bản thì Hàn Quốc có mức độ sử dụng điện năng tiết kiệm hơn, vì mặc dù có tỷ trọng công nghiệp cao hơn 10% và tỷ trọng dịch vụ thấp hơn 10%, nhưng chỉ tiêu CĐĐN như nhau.

Thứ tư: Việt Nam có hiệu quả sử dụng năng lượng và điện năng còn rất thấp do cả hai nguyên nhân: Sử dụng chưa tiết kiệm và sử dụng chưa hiệu quả, trong đó chủ yếu do sử dụng chưa hiệu quả thể hiện ở tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu GDP còn quá thấp. Điều này cũng được thể hiện rõ khi so sánh với Thái Lan có tỷ trọng công nghiệp gần tương đương nhau, nhưng tỷ trọng dịch vụ cao hơn hẳn và tỷ trọng nông nghiệp thấp hơn hẳn (nông nghiệp tuy tiêu thụ ít năng lượng nhưng có giá trị gia tăng cũng thấp hơn).

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là: Các chỉ tiêu CĐNL và CĐĐN của các nước còn chịu ảnh hưởng của việc GDP chưa tính theo ngang giá – tức theo sức mua tương đương (PPP).

Qua những phân tích nêu trên cho thấy, đối với Việt Nam, để giảm nhu cầu năng lượng và điện năng cho phát triển kinh tế – xã hội trong tương lai cần phải đẩy mạnh thực hiện đồng thời hai nhóm giải pháp sau:

Thứ nhất: Tăng cường sử dụng tiết kiệm năng lượng và điện năng trên cơ sở triệt để khắc phục việc sử dụng lãng phí và đổi mới, hiện đại hóa công nghệ theo hướng giảm mức tiêu hao năng lượng, điện năng, nhất là trong các ngành, lĩnh vực tiêu thụ nhiều năng lượng và điện năng, cũng như trong đời sống sinh hoạt của xã hội.

Ngoài ra, phải xác định giá năng lượng, nhất là giá điện hợp lý (hiện đang rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới) với mục đích:

Một là: Vừa để đảm bảo cho sản xuất, kinh doanh năng lượng và điện năng có lãi hợp lý nhằm khuyến khích mọi thành phần tham gia đầu tư phát triển năng lượng và điện năng, nhất là năng lượng tái tạo nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng.

Hai là: Vừa để thúc đẩy sử dụng năng lượng và điện năng hợp lý, tiết kiệm nhằm giảm chi phí, giá thành do giá năng lượng và điện năng cao, trong đó có việc hạn chế các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang lợi dụng giá điện rẻ để trục lợi.

Theo chúng tôi, đã đến lúc phải tách chính sách an sinh xã hội ra khỏi giá năng lượng và giá điện để đảm bảo giá vận hành theo cơ chế thị trường.

Thứ hai: Tăng cường sử dụng hiệu quả năng lượng và điện năng trên cơ sở đẩy mạnh đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực tiêu thụ ít năng lượng và điện năng, nhất là các ngành, lĩnh vực trong nước có tiềm năng, lợi thế, vừa đảm bảo thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, vừa góp phần giảm nhu cầu năng lượng và điện năng.

TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Sử Dụng Năng Lượng Tiết Kiệm Và Hiệu Quả: Yêu Cầu Cấp Thiết Ở Việt Nam ( Phát Lại )

Một nhà máy sản xuất quần áo ở tỉnh Vĩnh Phúc. Ảnh chụp ngày 23/05/2024. Mức tăng của tiêu thụ điện năng vẫn rất cao, nhất để đáp ứng nhu cầu sản xuất.

Từ nhiều năm nay, để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ năng lượng ngày càng tăng, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu than cho các nhà máy nhiệt điện, nhập xăng dầu và nhập thêm điện. Nói chung là Việt Nam ngày càng thiếu các nguồn năng lượng bảo đảm cho một sự phát triển kinh tế bền vững, bảo đảm tốt cho sinh hoạt của người dân.

Ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước ở khu vực châu Âu hay Bắc Mỹ, nhu cầu năng lượng chỉ tăng khoảng 1%/năm, có những nước đạt tăng trưởng âm, do áp dụng công nghệ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. Trong khi đó nhu cầu năng lượng và tiêu thụ năng lượng của Việt Nam hiện nay là khoảng 10%, theo lời thứ trưởng bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng khi trả lời báo chí vào đầu tháng 3/2024, nhân một cuộc hội thảo Việt Nam – Nhật Bản về năng lượng sạch. Theo ông Hoàng Quốc Vượng, điều này đang gây tác hại ngày càng nhiều lên môi trường, làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Trước tình trạng nhu cầu và mức tiêu thụ năng lượng tăng quá nhanh, bên cạnh việc khai thác các nguồn năng lượng mới, nhất là các năng lượng sạch, vấn đề sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng đang được đặt ra ngày càng cấp thiết ở Việt Nam.

Chính sách sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Vào giữa tháng 3 vừa qua, thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã phê duyệt Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2024 – 2030. Chương trình đặt mục tiêu đạt mức tiết kiệm năng lượng 5,0 đến 7,0% tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc trong giai đoạn từ năm 2024 đến năm 2025; giảm mức tổn thất điện năng xuống thấp hơn 6,5%. Trả lời RFI Việt ngữ, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện Nguyên tử Đà Lạt, nhận định về chương trình này:

“ Ít ra là hai lần, Việt Nam đã công bố chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong các kế hoạch trước đây. Những lần đấy vẫn chưa được tổng kết một cách thật rõ ràng là các mục tiêu có đạt được hay không, đạt được đến mức nào.

Lần này mục tiêu đặt ra thấy cũng tương đối rõ. Ví dụ như hàng năm phải tiết kiệm từ 5 đến 7% từ giờ cho đến 2025, rồi sau đó tiết kiệm nhiều hơn nữa. Riêng điện thì mức tổn thất phải được rút xuống còn 6%. Hiện nay, ở Việt Nam tổn thất về điện trên đường dây và trên hệ thống là vào khoảng 8-9% .

Rõ ràng nếu chúng ta có vấn đề sử dụng năng lượng không hiệu quả, thì phải phải làm rõ cái chuyện: ai là người sử dụng không hiệu quả, hay nói nặng nề hơn một tí: ai là thủ phạm? Các tập đoàn nhà nước, các địa phương, các ngành? Trong chương trình này có ghi một điểm quan trọng, đó là phải xây dựng một cơ sở dữ liệu, phù hợp với xu thế hiện nay. Và phải làm thế nào cho mọi ngành, mọi tập đoàn, mọi công ty sử dụng năng lượng đều phải đưa số liệu lên đấy để xem xét.”

Tiêu chí để đánh giá

Nhưng phải xem xét dựa trên tiêu chí gì để đánh giá là sử dụng năng lượng có tiết kiệm, có hiệu quả hay không? Giáo sư Phạm Duy Hiển cho biết:

“Cái tiêu chí rất đơn giản, rất kinh điển mà không phải ai cũng để ý đến, tức là anh dùng một Kilowatt giờ ( Kwh ) điện thì tạo ra được bao nhiêu sản phẩm GDP tính theo đôla Mỹ chẳng hạn. Hay nói ngược lại, để có được một đôla Mỹ thì anh phải dùng bao nhiêu Kwh. Trong khoa học, khái niệm này có tên là cường độ điện năng, hay cường độ năng lượng. Phải sử dụng bao nhiêu năng lượng để tạo ra một đôla Mỹ.

Việt Nam cho đến những năm gần đây muốn tạo ra một đôla Mỹ GDP thì phải sử dụng gần 1 Kwh điện. Trong khi đó, quốc gia cũng xài một cách tương đối không hiệu quả là Trung Quốc còn ít hơn mình 1,5 lần. Cường độ điện năng của Việt Nam như vậy là hơn gấp đôi Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia và một số nước khác và gấp bốn lần so với Philippines, Indonesia, và thậm chí gấp từ gần 7, 8 lần đến 10 so với các nước tiên tiến như Nhật, Singapore, Hồng Kông, Úc.

Căn cứ trên số liệu ấy, ta thấy là Việt Nam sử dụng điện năng rất là lãng phí. Nếu mình giảm lượng tiêu thụ điện năng cho có hiệu quả để đạt cường độ điện năng bằng như Thái Lan, Malaysia thì mình đã giảm bớt một nữa rồi, bằng như Philippines, Indonesia thì giảm được 4 lần.

Một điều quan trọng nữa là trong khi phần lớn các nước khác càng ngày càng giảm đi, kể cả Trung Quốc, còn các nước tiên tiến thì đã giảm từ lâu rồi, nhưng Việt Nam thì cứ tăng lên. Trong những năm tới, Việt Nam chưa có khả năng giảm đi được, là bởi vì theo cách tính toán về khoa học, khi tăng trưởng điện năng hàng năm mà cao hơn tăng trưởng GDP, thì cường độ điện năng không bao giờ giảm. Trong những năm trước đây, tăng trưởng điện năng luôn gấp đôi tăng trưởng GDP. Bây giờ phải làm thế nào giảm lượng tiêu thụ năng lượng xuống thì mới có hiệu quả.

Thế thì tại sao ở Việt Nam tăng trưởng điện năng cứ cao như thế? Các nhà khoa học phải vào cuộc để giải đáp bài toán này. Nhưng vấn đề chính là trước hết phải làm thế nào có hết được tất cả các số liệu về sử dụng năng lượng của các tổ chức, các đơn vị.”

Tăng giá điện: Biện pháp cần thiết

Với lý do là để có đủ tiền thanh toán cho các đối tác, từ ngày 20/03 vừa qua, Tập đoàn Điện lực Việt Nam ( EVN ) vừa điều chỉnh tăng giá bán lẻ điện bình quân lên thêm 8,36%. Đây vẫn là một vấn đề rất nhạy cảm ở Việt Nam, vì việc tăng giá điện bao giờ cũng gây nhiều lo ngại về ảnh hưởng tới đời sống người dân và hoạt động của các doanh nghiệp. Thế nhưng, theo giáo sư Phạm Duy Hiển, Việt Nam bắt buộc cần điều chỉnh lại giá điện năng cho đúng với giá thị trường, để qua đó tạo áp lực buộc các tổ chức và người dân ý thức nhiều hơn về vấn đề tiết kiệm điện:

“ Giá về năng lượng hiện nay ở là gần như quốc tế, bởi vì ta nhập dầu của thế giới, nhưng giá điện năng là vấn đề luôn gây tranh cãi. Giá điện đưa về người dân cũng như đưa về cho sản xuất hiện nay vẫn thấp hơn nhiều nước. Chúng ta không sử dụng được cái cơ chế giá đó để giải quyết bài toán về tiêu thụ điện năng.

Giá điện thấp khiến người ta không quan tâm nhiều đến việc giảm chi phí về điện năng. Điều đấy đã từng xảy ra. Ví dụ cách đây nhiều năm, thép của Việt Nam có thời gian sản xuất dư thừa, trong khi đó giá điện chi phí cho sản xuất thép không cao lắm, chỉ vào khoảng 10%, cho nên các nhà sản xuất thép không quan tâm. Vấn đề giá điện và giá năng lượng là vấn đề nhà nước cần lưu ý. Mục tiêu là đưa nó lên đúng với giá thị trường, tạo ra một thị trường cạnh tranh về năng lượng.

Điều này rất tế nhị vì cứ nói như thế thì sẽ có nhiều người phản đối, nói rằng mức sống của người dân tại tăng giá? Nhưng theo tôi, nói một cách rất công minh thì không thể không tăng giá được.

Công nghệ tiết kiệm năng lượng

Ở đây còn có vấn đề công nghệ. Vì giá điện thấp như thế, cho nên người ta không quan tâm đến vấn đề công nghệ tiết kiệm năng lượng. Bây giờ phải làm thế nào áp đặt cái đó vào. Và song song với việc điều chỉnh giá cả cho ngày càng phù hợp với thị trường, với quy luật cạnh tranh, phải có những biện pháp, thậm chí những biện pháp chế tài, không cho phép những công nghệ tiêu tốn năng lượng, tàn phá năng lượng tồn tại.

Chương trình này phải được thực hiện quyết liệt cho đến lúc có nhiều nhà máy phải đóng cửa nếu không cải tiến các công nghệ. Có như thế thì mới giải quyết thành công bài toán này. Ngay từ đầu, khi xin cấp phép cho các dự án đầu tư, anh phải đưa vào dự án đầu tư đó mục tiêu sử dụng năng lượng của anh và nhà nước phải có bộ phận theo dõi để bảo đảm là công nghệ mà anh đưa vào là những công nghệ tốt, những công nghệ tiết kiệm năng lượng và không tàn phá môi trường.”

Thư TinHãy nhận thư tin hàng ngày của RFI: Bản tin thời sự, phóng sự, phỏng vấn, phân tích, chân dung, tạp chí

Đăng ký

Tải ứng dụng RFI để theo dõi toàn bộ thời sự quốc tế

Download_on_the_App_Store_Badge_VN_RGB_blk_100217

google-play-badge_vi

Quảng Nam: Thành Công Của Cuộc Thi Tìm Hiểu Sử Dụng Năng Lượng Tiết Kiệm

Quảng Nam: Thành công của cuộc thi tìm hiểu sử dụng năng lượng tiết kiệm Quang cảnh Hội nghị tổng kết

Chính phủ đã ban hành Quyết định số 279/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình quốc gia về quản lý nhu cầu điện giai đoạn 2024 – 2024, định hướng đến năm 2030” với mục tiêu tổng quát là triển khai đồng bộ các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, kinh tế – xã hội để thực hiện các chương trình quản lý nhu cầu điện, trong đó sự tham gia chủ động của khách hàng sử dụng điện đóng vai trò quan trọng góp phần đảm bảo cung ứng điện, nâng cao chất lượng điện năng và độ tin cậy cung cấp điện, góp phần bảo vệ môi trường, an ninh năng lượng và phát triển nền kinh tế.

Để góp phần cải thiện chất lượng cung cấp điện, nâng cao hiệu quả kinh tế của hệ thống điện quốc gia nói chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng, UBND tỉnh Quảng Nam đã chỉ đạo các cơ quan, ban ngành, đoàn thể tập trung triển khai các nhiệm vụ thực hiện chương trình quốc gia về quản lý nhu cầu điện. Theo đó, PC Quảng Nam đã phối hợp với LĐLĐ tỉnh, Sở Công thương, Sở Thông tin và Truyền thông Quảng Nam phát động cuộc thi “Tìm hiểu giải pháp quản lý nhu cầu điện, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả” năm 2024.

Cuộc thi được tổ chức từ ngày 29/7 – 6/9/2024 và chia làm 3 kỳ, với hình thức trả lời câu hỏi trắc nghiệm trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử LĐLĐ tỉnh Quảng Nam. Ban tổ chức trao giải cá nhân từng kỳ thi, trao giải tập thể và cá nhân chung cuộc. Để cuộc thi thành công, đạt kết quả tốt, Ban tổ chức đã phối hợp với các cơ quan báo chí địa phương để đưa tin về nội dung, thể lệ cuộc thi; mở chuyên mục về cuộc thi trên trang web của LĐLĐ tỉnh và PC Quảng Nam; treo pa-nô tuyên truyền cuộc thi trước trụ sở của PC Quảng Nam, các Điện lực trực thuộc Công ty, LĐLĐ tỉnh, Sở Thông tin – Truyền thông, Sở Công Thương Quảng Nam. PC Quảng Nam đã cấp phát hơn 5.000 tờ rơi tiết kiệm điện đến các cá nhân, cơ quan, doanh nghiệp (DN) trên địa bàn tỉnh. LĐLĐ tỉnh Quảng Nam chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phổ biến, tuyên truyền và vận động các cá nhân hưởng ứng tìm hiểu và tham gia cuộc thi.

Nhờ vậy, cán bộ, công nhân, người lao động trên địa bàn Quảng Nam và nhiều cá nhân trong cả nước đã tích cực hưởng ứng cuộc thi. Cụ thể đã có 23 tập thể và trên 7.300 lượt người tham gia, trong đó có trên 6.900 lượt đoàn viên, công nhân viên chức lao động thuộc LĐLĐ các huyện, thị xã, thành phố, công đoàn ngành, 352 lượt người thuộc nhóm đối tượng khác. Đáng chú ý, có nhiều người ở các tỉnh, thành phố khác tham gia cuộc thi và đã đoạt giải, như ông Trương Công Trường (TP Hồ Chí Minh), bà Tạ Thị Quế (tỉnh Vĩnh Long)… Cuộc thi đã tạo khí thế thi đua sôi nổi trong cộng đồng hưởng ứng phong trào thực hành tiết kiệm điện trong gia đình và DN, tự xây dựng kế hoạch phân bổ công suất sử dụng hợp lý trong các DN sản xuất lớn. Đặc biệt, các hộ gia đình, DN đã nắm được hiệu quả của hệ thống điện mặt trời trên mái nhà, từ đó đã đầu tư lắp đặt hiệu quả giúp giảm một phần chi phí tiền điện, tối ưu hóa chi phí sản xuất, đem lại lợi ích trực tiếp cho khách hàng sử dụng điện. LĐLĐ thành phố Hội An được đánh giá là một trong những đơn vị đã có số lượng cán bộ, đoàn viên tham gia cuộc thi đông nhất và giành kết quả cao trong các kỳ thi và chung cuộc. Ông Phùng Hữu – Phó chủ tịch LĐLĐ thành phố Hội An nói: “Cuộc thi này có ý nghĩa rất thiết thực đối với cán bộ, đoàn viên. Không chỉ tích cực tham gia cuộc thi, mỗi người còn chú tâm thực hành tiết kiệm điện ở cả gia đình và cơ quan”.

Ông Lưu Đức Lợi – Phó giám đốc PC Quảng Nam cho biết, trong 8 tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh Quảng Nam tiết kiệm trên 19,8 triệu kWh, chiếm 1,46% sản lượng điện thương phẩm trên địa bàn toàn tỉnh; 116 DN đăng ký và tham gia chương trình điều chỉnh phụ tải điện. Tính đến 31/08/2024, toàn tỉnh đã lắp đặt 172 hệ thống điện mặt trời trên mái nhà với tổng công suất lắp đặt hơn 1.736 kWp; tổng sản lượng phát ngược hơn 133.900 kWh. Theo đó, PC Quảng Nam đã thanh toán cho các cá nhân, DN bán điện qua hệ thống điện mặt trời mái nhà với số tiền hơn 203 triệu đồng.

Theo ông Phan Minh Á – Phó chủ tịch LĐLĐ tỉnh Quảng Nam, Trưởng Ban tổ chức cuộc thi, kết quả của cuộc thi là rất khích lệ. Cuộc thi đã góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng, đưa hoạt động quản lý nhu cầu sử dụng điện hiệu quả và tiết kiệm vào cuộc sống hàng ngày của mỗi cán bộ đoàn viên công đoàn, người lao động và mỗi cơ quan, DN. “Mưa dầm, thấm lâu. Chúng tôi sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền và duy trì các cuộc thi tương tự để tạo ra phong trào thực hiện sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả, quản lý nhu cầu điện trong gia đình và cơ quan, DN ngày càng đạt được hiệu quả cao hơn”, ông Phan Minh Á nói.

Ông Phan Xuân Quang – Chủ tịch LĐLĐ tỉnh trao giải Nhất tập thể cho LĐLĐ TP Hội An Ông Lưu Đức Lợi trao giải Nhì cho LĐLĐ huyện Đại Lộc

Ông Phan Minh Á – Trưởng Ban tổ chức cuộc thi trao giải Ba cho LĐLĐ huyện Nam Giang

Các cá nhân nhận giải chung cuộc Các cá nhân nhận giải kỳ 3 tại hội nghị tổng kết

Tại hội nghị tổng kết cuộc thi diễn ra chiều 17/9/2024, Ban tổ chức đã tặng giấy chứng nhận kèm tiền thưởng chung cuộc cho 6 cá nhân và 6 tập thể đạt các giải nhất, nhì, ba và khuyến khích. Về giải cá nhân chung cuộc, ông Hứa Công Mẫn thuộc LĐLĐ thành phố Hội An giành giải Nhất, ông Trương Công Trường thuộc nhóm đối tượng khác và bà Nguyễn Hứa Quỳnh Nga thuộc LĐLĐ thành phố Hội An nhận giải Nhì và Ba. Về tập thể, giải Nhất thuộc về LĐLĐ thành phố Hội An, giải Nhì và Ba lần lượt là LĐLĐ Đại Lộc và LĐLĐ Nam Giang.

Ảnh Hưởng Của Biến Đổi Khí Hậu Đối Với Nước Ta: Thực Trạng, Những Vấn Đề Mới Đặt Ra Và Giải Pháp.

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với nước ta: Thực trạng, những vấn đề mới đặt ra và giải pháp.

1. Đặt vấn đề.

Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu (BĐKH), tác động của biến đổi khí hậu thậm chí còn diễn biến nhanh hơn so với dự kiến, chính vì vậy cần phải có những đánh giá hiện trạng, dự báo chính xác để từ đó có những giải pháp phù hợp cho ứng phó với biến đổi khí hậu thích hợp, tránh được những tác động tiêu cực giảm những thiệt hại do biến đổi khí hậu gây ra. BĐKH là vấn đề có tính toàn cấu, Việt Nam đã cam kết với thế giới cùng nỗ lực giảm thiểu khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính, tận dụng cơ hội này để chúng ta cùng phối hợp giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH, biến thách thức thành cơ hội do BĐKH gây ra.

Biến đổi khí hậu còn ảnh hưởng tới hoạt động giao thông vận tải, theo nghiên cứu của kịch bản BĐKH nếu mực nước biển dâng cao 1m có khoảng 9% hệ thống  đường quốc lộ, 12% hệ thống đường tỉnh lộ, 4% hệ thống đường sắt sẽ bị ảnh  hưởng, trong đó tập trung nhiều nhất ở khu vực đồng bằng sông Cửu long chiếm 28% đường quốc lộ và 27%  đường tỉnh lộ của cả nước, tiếp đến là các tỉnh ven biển miền Trung và đống bằng sông Hồng.

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến phát triển đô thị, các khu công nghiệp và nhà ở, mức độ ảnh hưởng tùy thuộc vào từng vùng, từng địa phương và từng vị trí theo địa hình phân bố. Nghiên cứu tổng thể cho thấy khu vực ven biển chịu tác động chính của bão, vùng miền núi chịu tác động của lũ quét, lốc xoáy, sạt lở, vùng trung du và đồng bằng chủ yếu là ngập lụt, lốc xoáy, mưa đá.

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến du lịch, thương mại, năng lượng…và nhiều hoạt động kinh tế khác trực tiếp hay gián tiếp. Những ảnh hưởng này trong những năm vừa qua đã biểu hiện khá rõ nét, mỗi ngành, lĩnh vực đều có thể cảm nhận và đánh giá được ảnh hưởng của BĐKH.

Đối với công nghiệp, ảnh hưởng của BĐKH khí hậu sẽ tác động đến ngành công nghiệp chế biến, nhất là chế biến những sản phẩm nông nghiệp. Trong trường hợp nhiệt độ tăng sẽ làm tăng tiêu thụ năng lượng kéo theo nhiều hoạt động khác tăng theo như tăng công suất nhà máy phát điện, tăng sử dụng các thiết bị làm mát, ảnh hướng tới an ninh năng lượng quốc gia. Những nghiên cứu theo kịch bản nước biển dâng cho thấy, nếu mực nước biển dâng cao 1m sẽ làm cho hầu hết các khu công nghiệp ven biển bị ngập,mức thấp nhất trên 10% diện tích, mức cao nhất khoảng 67% diện tích.

Đối với bình đẳng giới, những nghiên cứu gần đây cho thấy BĐKH ảnh hưởng tới công việc của phụ nữ, nữ giới là nhóm dễ bị tổn thương do BĐKH, ảnh hưởng tới sức khỏe, kinh tế hộ gia đình và vấn đề di cư. Thực trạng này đã và đang thể hiện ngày càng rõ ở những vùng chịu nhiều tác động của BĐKH như vùng ĐBSCL và khu vực ven biển, khu vực nông thôn.

Bên cạnh những ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH, chúng ta cũng phải nhìn nhận toàn diện hơn đối với những ảnh hưởng có tính tích cực, chẳng hạn trong sản xuất nông nghiệp đối với lượng mưa, bên cạnh những tác động tiêu cực, cũng sẽ có những vùng có tác động tích cực. Trong sản xuất nông nghiệp, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và mùa vụ do BĐKH cần phải được phân tích kỹ lưỡng để thầy được những mặt tích cực và tiêu cực lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí cơ bản để đánh giá.

Cập nhật thông tin chi tiết về Sử Dụng Năng Lượng Tiết Kiệm, Hiệu Quả Của Việt Nam: Thực Trạng Và Vấn Đề Đặt Ra trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!