Xu Hướng 2/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Tuân Thủ Nguyên Tắc Trực Quan Trong Dạy Học Tiếng Việt # Top 3 View | Channuoithuy.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Tuân Thủ Nguyên Tắc Trực Quan Trong Dạy Học Tiếng Việt # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm Tuân Thủ Nguyên Tắc Trực Quan Trong Dạy Học Tiếng Việt được cập nhật mới nhất trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tên đề tài: Tuân thủ nguyên tắc trực quan trong dạy học tiếng việt – thực trạng và giải pháp ————————————- I. lý do chọn đề tài: Việc dạy học Tiếng Việt ở tiểu học đã và đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ cần phải giải quyết, nhất là trong giai đoạn đang tiến hành đổi mới nội dung, chương trình, sách giáo khoa hiện nay. Mặt khác môn tiếng việt là môn học cơ bản và chiếm nhiều thời lượng nhất ở bậc tiểu học. Do đó, nhiều cán bộ nghiên cứu, nhiều nhà giáo tâm huyết đã bỏ nhiều công sức, đi sâu nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết kinh nghiệm, giới thiệu những thành tựu tiến nhất của khoa học giáo dục, khoa học kĩ thuật vào việc dạy học Tiếng Việt- Tiếng mẹ đẻ. Ngành giáo dục ở các địa phương, các nhà trường, các cán bộ quản lý và giáo viên cũng đã có nhiều cố gắng trong quá trình tiếp thu, triển khai việc thực hiện việc đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học ở tiểu học và trong quá trình đó cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều sáng kiến kinh nghiệm của họ bàn về việc dạy học môn tiếng việt. ở phạm vi địa phương và đặc biệt là ở đơn vị nhà trường chúng tôi, thực tiễn kinh nghiệm công tác đã cho thấy: Việc “Tuân thủ nguyên tắc trực quan trong việc dạy học Tiếng Việt thật sự là một việc làm cần thiết, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Việt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ môn học đặt ra”. 1) Cơ sở lý luận: Luận điểm chủ nghĩa Mác – Lê Nin cho rằng “Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất mà còn là phương tiện đặc trưng cho loài người, không có ngôn ngữ, xã hội không thể tồn tại. Nếu ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, trao đổi thôn tin, tư tưởng tình cảm thì nhiệm vụ trong trọng nhất của nhà trường là phát triển ngôn ngữ cho học sinh Ta thấy tất cả các giờ dạy tiếng việt phải đi theo khuynh hướng phát triển các kỹ năng: Nghe, đọc, viết, nói, học sinh cần hiểu rõ người tra nói và viết không phải chỉ để cho mình mà cho người khác, nên ngôn ngữ cần phải chính xác, dễ hiểu. Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin cho rằng “Con đường biện chứng của nhận thức chân lí đi qua hai giai đoạn, nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính tâm lí học đã chứng minh rằng: Đặc điểm nhận thức của HS tiểu học là chuyên từ không chủ định sang có chủ định, chuyển từ cảm tính sang lí tính và chuyển từ trực quan cụ thể sang trừu tượng khái quát. Đặc điểm nhân cách của HS tiểu học có một số nét nổi bật đó là tính cả tin và tính bắt trước (các em bắt trước hầu như tất cả, đặc biệt là học sinh đầu cấp. Lý luận về dạy học đã nêu rõ “Dạy học trực quan bao gồm. Đồ dùng trực quan và học và học sinh tiến hành quan sát chúng một cách khoa học dưới vai trò chủ đạo của giáo viên. Đồ dùng trực quan phải phản ánh nội dung, kiến thức bài học. Đồ dùng trực quan phải được sử dụng đúng thời điểm trong dạy học. Tất cả những nội dung nêu trên thuộc phạm vi nghiên cứu khoa học lý luận. Đó là cơ sở của nguyên tắc trực quan, trong dạy học tiếng và cũng là cơ sở để đề lên nguyên tắc. phải tính đến đặc điểm tiếng mẹ đẻ của HS trong quá trình dạy học TV. Do đó dạy học TV cần dựa trên kinh nghiệm sống và kinh nghiệm lời nói của HS. 2) Cơ sở thực tiễn: Hiện nay, sách giáo khoa mới, sách giáo viên, vở bài tập Tiếng Việt là những phương tiện thuận lợi giúp cho giáo viên và học sinh đổi mới cách dạy và học môn Tiếng Việt theo hướng thực hành giao tiếp, chú trọng còn các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Và thực tế trong những năm gần đây, chất lượng dạy và học môn tiếng việt đã được nâng cao rõ rệt, kĩ năng thực hành tiếng việt của học sinh đã có nhiều tín bộ Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó, thực trạng việc dạy học tiếng việt vẫn biểu hiện một số tồn tại cơ bản sau: Hầu như các giáo viên tiểu học đều nhận thức được vai trò quan trọng của trực quan trong việc nâng cao hiệu quả dạy học, nhưng quan niệm như thế nào là đảm bảo nguyên tắc trực quan, như thế nào là một tài liệu trực quan có chất lượng và sử dụng ra sao trong giờ dạy. Tiếng Việt vẫn còn là vấn đề cần làm sáng tỏ hơn. Thông thường khi nói đến trực quan, giáo viên hay nghỉ đến các vật thật, vật thay thế như: Tranh ảnh, mô hình, các sơ đồ biểu bảng Trên thực tế (ở nhiều trường tiểu học) có cán bộ quản lý khi dự giờ của giáo viên, các giáo viên khi dự giờ đồng nghiệp thường phê là không có đồ dùng dạy học, không sử dụng trực quan khi không thấy có tranh ảnh hoặc các đồ dùng và xen đó là một điểm yếu đáng nói của giờ dạy. Từ lý do đó dẫn đến một ứng sử thông thường là: Hễ biết có người dự giờ thì việc đầu tiên người giáo viên dạy phải lo cho được các hình hoặc các bức vẽ phóng to, các bảng phụ, thu thập tranh ảnhMà việc làm đó, những đồ vật đó có khi không thật sự hoặc không cần thiết. Để minh hoạ cho một giờ tập đọc, có giáo viên phải bỏ ra hàng trăm nghìn đồng để có được một bức tranh và sử dụng bức tranh đó như trong giờ Mĩ thuật: Giảng giải về hình ảnh, mầu sắc, vẻ đẹp của bức tranh. Khi dạy phần tìm hiểu bài của bài tập đọc, không ít giáo viên đã sử dụng một hệ thống các bảng phụ bằng giấy, cái to, cái nhỏ để ghi các ý chính và đại ý (nội dung) của bài rồi dán lên hầu như kín bảng để cho học sinh quan sát. Khi dạy những bài có nội dung ghi nhớ hay quy tắc như ở phân môn ngữ pháp (Lớp cải cách) phân môn tập làm văn hay các môn học khác, giáo viên cũng dùng bảng phụ tương tự như vậy Một tồn tại khác nữa là có khá nhiều giáo viên có những hạn chế, những nhược điểm về tiếng nói, về chữ viết phương tiện trực quan cơ bản của giáo viên khi dạy tiếng việt, có giáo viên đã không tự hoàn thiện được kĩ năng đọc của mình Học sinh vẫn mắc nhiều lỗi phát âm, đọc ê- a, ngắc ngứ tiếng địa phương, chữ viết sấu và mắc lỗi chính tả Đó cũng chính là hậu quả của việc không tuân thủ nguyên tắc trực quan trong dạy học Tiếng Việt TT Nội dung Số lượng Kết quả xếp loại Giỏi- tốt Khá T, bình Yếu 1 Nhận thức của giáo viên về tính trực quan trong dạy học Tiếng Việt 16 GV 3 18,7% 5 31,2% 4 25% 4 25% 2 Kĩ năng nói- đọc đúng của giáo viên 16 GV 3 18,7% 4 25% 5 31,2% 4 25% 3 Kĩ năng viết chữ của giáo viên 16 GV 5 31,2% 4 25% 4 25% 3 18,7% 4 Giờ dạy tiếng việt được đánh giá xếp loại 36 giờ 6 16,7% 14 38,9% 10 27,7% 6 16,7% 5 Học lực môn tiếng việt cuối học kỳ I 460 HS 34 7,4% 188 40,9% 190 41,3% 48 10,4% 6 Học lực môn tiếng việt cuối năm 460 HS 40 12,4% 156 33,9% 193 43,0% 38 8,3% 7 Kết quả thi viết chữ đẹp của học sinh 460 HS 57 12,4% 156 33,9% 183 39,8% 64 13,9% Từ thực trạng trên, tôi đã nghiên cứu tìm tòi đưa ra một số giải pháp và áp dụng vào thực tiễn công tác chỉ đạo chuyên môn, nhằm khắc phục những tồn tại, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt trong nhà trường. II. nội dung chính của đề tài: A. Các giải pháp thực hiện: 1. Giải pháp thứ nhất: Cũng cố và nâng cao nhận thức về tính trực quan và tài liệu trực quan trong việc dạy học Tiếng Việt. 2. Giải pháp thứ hai: Phải sác định đúng và chuẩn bị tốt những tài liệu trực quan cơ bản nhất, thiết thực nhất và sử dung đúng mức cho mỗi giờ dạy học tiếng việt. 3. Giải pháp thứ ba: Phải điều chỉnh và khắc phục triệt để những nhược điểm về tiếng nói và chữ viết ở giáo viên, thực hành nói và việt đúng tiếng Việt phổ thông. B. Các biện pháp tổ chức thực hiện: Ngay từ đầu năm học 2005- 2006 tôi đã báo cáo với hiệu trưởng nhà trường 1) Thông qua việc tổ chức một buổi họp chuyên môn cho toàn thể giáo viên nhà trường để nêu thực trang của vấn đề. Triển khai các giải pháp để giáo viên có định hướng thực hiện. Khi lời nói , ngôn trở thành đối tượng xem xét thì thực hiện nguyên tắc trực quan trong giờ tiếng việt không chỉ là sử dụng các đồ dùng , các sơ đồ, biểu bảng mà còn quan trọng nhất là lời nói, ngôn ngữ của giáo viên. Tài liệu trực quan cơ bản trong giờ học tiếng việt phải tiếng việt trong những mẫu tốt nhất. Tức là những ngữ liệu tiêu biểu (văn học dân gian, tác phẩm văn học cổ điển việt nam, những bài, đoạn, câu văn hay thơ của các tác giả nổi tiếng) Yêu cầu đầu tiên, những ngữ liệu được sử dụng trong giờ học tiếng việt cần tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ngôn ngữ mà nó được đưa ra làm dẫn chứng. Không nên dẫn ra các trường hợp đặc biệt, các trường hợp có tính trung gian hoặc chưa thống nhất ý kiến của các nhà việt ngữ. Yêu cầu thứ hai là những ngữ liệu này phải mang tính trực quan , nghĩa là làm sao cho đối tượng nghiên cứu dể dàng tác động vào giác quan của trẻ em. Chúng ta cần thấy rằng: Trong tiết học vần, tài liệu trực quan cơ bản chính là mô hình vần, tiếng. Trong giờ tập viết, tài liệu trực quan là mẫu chữ viết (Được phóng to hoặc trong vở tập viết hoặc chữ viết của giáo viên). Trong giờ tập đọc, tài liệu trực quan cơ bản phải chính là bài văn, bài thơ, ngôn từ của nó. Vì chúng ta cần dạy bài văn, bài thơ để thấy vẽ đẹp của ngôn từ chứ không phải dạy bức tranh, tìm hiểu bức tranh. Khi dạy học dạy học sinh luyện đọc đúng, đọc lưu loát, đọc diễn cảm trong giờ tập đọc thì tài liệu trực quan là cách đọc, giọng đọc của chính giáo viên. Khi dạy từ cho học sinh, giáo viên chỉ chú ý đến việc giải nghĩa từ bằng trực quan, điều đó là cần thiết, nhưng học sinh tiếp nhận từ không chỉ là nhìn thấy vật thật đại cho nghĩa của từ mà còn nghe thấy cách phát âm, nhìn thấy thứ tự ghi từ biết phát âm và ghi đúng từ. Do đó bắt buộc giáo viên phải phát âm và viết đúng từ 3) Với giải pháp thứ hai, giải pháp có tính quyết định, giáo viên phải chủ động tự giác nghiêm túc thực hiện tốt trong quá trình chuẩn bị bài và quá trình lên lớp, khi đã nhận thức đầy đủ về vấn đề. 4) Phát động thành phong trào giáo viên và học sinh thi đua thực hiện giải pháp thứ ba một cách thường xuyên (điều chỉnh, khắc phục triệt để những nhược điểm về tiếng nói và chữ viết, thực hành nói đúng đúng tiếng việt phổ thông ở mọi lúc, mọi nơi) Đây à biện pháp để hình thành kỹ năng và cao hơn là thói quen nói chuẩn xác tiếng việt phổ thông. 5) Tăng cường kiểm tra dự giờ để đánh giá kết quả, mức độ thực hiện các giải pháp đã triển khai, sự chuyển biến trong việc tuân thủ nguyên tắc trực quan trong giờ dạy tiếng việt. Tăng cường việc kiểm tra theo chuyên đề tiếng việt, lấy kết quả làm tiêu chí xếp loại thi đua hàng tháng, hàng kỳ để tạo động cơ khuyến khích giáo viên tiếp tục thực hiện triệt để và hiệu quả hơn việc tuân thủ trực quan dạy học tiếng việt. III- tác dụng và hiệu quả của đề tài: 1) Hiệu quả: TT Nội dung Tổng số Kết quả xếp loại Giỏi – Tốt Khá TB Yếu 1 Nhận thức của GV về trực quan trong dạy học Tiếng Việt. 14 Gv 10 = 71,4% 4= 28,6% 0 0 2 Kỹ năng nói, đọc đúng Tiếng Việt phổ thông của giáo viên. 14GV 10 =71,4% 4 = 28,6% 0 0 3 Kỹ năng viết chữ của giáo viên. 14GV 10 =71,4% 2 = 14,3% 2 = 14,3% 0 4 Giờ dạy Tiếng Việt được xếp loại 30 giờ 12 = 40% 16=53,3% 2 = 6,7% 0 5 Học lực môn Tiếng Việt giữa học kỳ II. 400HS 70=17,5% 159=39,8% 156=39% 15=3,7 6 Kế quả thi viết chữ đẹp của học sinh 400HS 92=23% 148=37% 136=34% 24=6% Kết quả trên là sự thành công đáng mừng sau quá trình thực hiện. Nó khẳng định tính hiệu quả và khả thi của vấn đề nghiên cứu khi áp dụng vào thực tiễn. 2) Tác dụng: Việc triển khai và áo dụng đề tài nghiên cứu vào thực tiễn đã có những tác dụng rõ rệt. Công tác chỉ đạo chuyên môn trong nhà trường. GV có ý thức thường xuyên học hỏi, củng cố nâng cao trình độ kiến thức và năng lực sư phạm, giúp đỡ GV có nhân thức đầy đủ hơn về lí luận dạy học, phương pháp, nguyên tắc dạy học nói chung và dạy học TV nói riêng. Từ đó góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ. Góp phần quan trọng trong việc khắc phục những tồn tại trong quá trình dạy học và sử dụng trực quan trong dạy học tiếng Việt ở nhà trường. Chất lượng học TV của HS được nâng cao, kỹ năng vận dụng và thực hành Tiếng Việt của học sinh tốt hơn. IV. Kết luận: Để nâng cao chất lượng dạy học ở tiểu học, đòi hỏi trước hết ở người giáo viên và người quản lý cán bộ giáo viên, là người phải có trình độ kiến thức, năng lực chuyên môn vững vàng, có lòng nhiệt tình, yêu nghề, yêu trẻ bên cạnh đó phải có sự nỗ lực phấn đấu không ngừng học hỏi đổi mới, sáng tạo trong quá trình dạy học và chỉ đạo dạy học. Đó là yếu tố quyết định đến chất lượng dạy học nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung. C) ý kiến xác nhận của hội đồng khoa học nhà trường. đề tài “Tuân thủ nguyên tắc trực quan trong dạy học Tiếng Việt- thực trạng và giải pháp” Có tính khả thi cao, phù hợp với thực tế đơn vị nhà trường, có tác dụng và hiệu quả rõ rệt trong việc nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt ở nhà trường. đề tài này có thể áp dụng được ở nhiều trường Tiểu học trên địa bàn huyện. Xếp loại: A Xác nhận của thủ trưởng đơn vị Thọ Sơn, Ngày 22 tháng 5 năm 2006 Người báo cáo Đỗ Văn Trường Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ———–***———– báo cáo thành tích cá nhân Đề nghị công nhận danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở năm học 2005 – 2006 ———————————— I. Sơ yếu lý lịch: Họ và tên: Đỗ Văn Trường Ngày sinh: 24/04/1973 Quê quán: Thọ Sơn – Triệu Sơn – Thanh Hoá Chức vụ hiện nay: Phó hiệu trưởng Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm tiểu học Đơn vị công tác hiện nay: Trường tiểu học Thọ Sơn Năm vào ngành: 1994 II. Quá trình công tác: – Từ 9/1994 đến 8/1998: GV trường tiểu học Bình Sơn. – Từ 9/1998 đến 8/2003: GV trường tiểu học Thọ Sơn. – Từ 9/2003 đến nay: Phó hiệu trưởng trường tiểu học Thọ Sơn. III. Thành tích đã được khen thưởng: 1) Về chuyên môn: – Năm học 1997 – 1998 giấy khen “Giáo viên dạy giỏi cấp huyện” của trưởng phòng GD-ĐT Triệu Sơn ký ngày 20/8/1998. – Năm học 1998 – 1999 giấy khen “Giáo viên dạy giỏi cấp huyện” Quyết định số 467/QĐ-UBTS ngày 20/8/1999 của UBND huyện Triệu Sơn. – Năm học 2000 – 2001 giấy khen “Giáo viên dạy giỏi cấp huyện”. Số khen thưởng số 441/TĐKT ngày 21/8/2001 của UBND huyện Triệu Sơn. 2) Về đoàn thể khen: – Năm học 2000 – 2001: Giấy khen “Đạt nhiều thành tíchc trong công tác đoàn và phong trào thanh niên trường học” số 01/QN/KT của BCH huyện đoàn Triệu Sơn. IV. Những thành tích nổi bật trong năm học 2005 – 2006: 1) Những nhiệm vụ được giao: – Cùng phụ trách, chỉ đạo các hoạt động chuyên môn trong nhà trường. – Phụ trách cơ sở vật chất nhà trường. 2) Những thành tích đạt được trong năm học: 1- Về chỉ đạo hoạt động chuyên môn: Bản thân đã chủ động xây dựng kế hoạch dạy học của nhà trường. Xây dựng kế hoạch học tập chương trình BDTX cho GV và kế hoạch bồi dưỡng HS giỏi lớp 4, 5. Tích cực tham mưu, đề xuất với hiệu trưởng và tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý, chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động chuyên môn trong nhà trường, đó là tham mưu xây dựng kế hoạch năm học, tham mưu đổi mới công tác kiểm tra, xây dựng và thực hiện kế hoạch kiểm tra nội bộ trường học, kế hoạch kiểm tra toàn diện giáo viên, tổ chức các phong trào tho đua tồng nhà trường (thi dạy giỏi, thi viết chữ đẹp trong GV và HS, thi HS giỏi các khối lớp), tham mưu đổi mới công tác thi đua khen thưởng trong nhà trường đa dạng hoá hình thức khen thưởng, nâng cao mức thưởng cho GV và HS có thành tích. Nhằm khuyến khích phong trào thi đua dạy tốt, học tốt. Chủ động và tăng cường tổ chức thao giảng dự giờ, sinh hoạt chuyên môn nhầm nâng cao tay nghề của giáo viên. Chỉ đạo sâu sát giáo viên thực hiện các yêu cầu về đổi mới với mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học. Kết quả đạt được cuối năm học: – Có 5 GV đạt giải (giờ dạy giỏi và viết chữ đẹp) cấp huyện (tăng 4 GV so với năm học trước 2004 – 2005). – Có 10 GV đạt LĐ giỏi cấp trường (tăng 3 GV so với năm học trước). – Có 1 HS đạt HS giỏi cấp tính (tăng 1 em) – Có 7 HS đạt giải cấp huyện (tăng 2 em) – Tỉ lệ HS khá giỏi đạt: 71,3% (tăng 4,2%). 2- Về nghiên cứu khoa học, SKKN: Bản thân gương mẫu, tự giác trong việc nghiên cứu, đúc rút SKKN, đồng thời tích cực chỉ đạo phát động G tham gia nghiên cứu kết quả cuối năm học: – Bản thân có 1 SKKN xếp loại A cấp trường. – Tập thể: có 9 SKKN đều xếp loại A cấp trường (tăng 4 so với năm học trước). 3- Về xây dựng cơ sở vật chất nhà trường: Được hiệu trưởng phân công phụ trách cơ sở vật chất nhà trường, bản thân đã phát huy vài trò, trách nhiệm của mình trong việc tham mưu đề nghị với lãnh đạo địa phương cải tạo, bổ sung cơ sở vật chất, thiết yếu cho nhà trường (Về đối tượng, về số lượng, quy cách, kích thước) Kết quả, ngay từ đầu năm học, UBND xã đã đồng ý và giao cho nhà trường hợp đồng, thê thợ cải tạo bổ sung được một số cơ sở vật chất, cụ thể như sau: – Cải tạo nhà văn phòng và 7 phòng học (quét vôi ve, chấm ngói). – Cải tạo cổng trường, đổ bê tông nền với diện tích 90m2 và làm biển trường. – Đóng mới 36 bộ bàn ghế học sinh lớp 1 và 5 bảng lớp. – Xây 1 nhà vệ sinh. – Làm 1 nhà để xe cho CBGV. – Mắc điện thắp sáng và phục vụ dạy học lên 12 phòng học. Tổng kinh phí cải tạo, bổ sung cơ sở vật chất cho nhà trường trong năm học 2005 – 2006 là 20.000.000đ (Lấy từ nguồn kinh phí xây dựng trường do phụ phụ huynh HS đóng góp). 4- Về công tác khác trong nhà trường: – Phát huy vài trò của chi uỷ viên phụ trách các tổ chức đoàn thể trong nhà trường, bản thân đã chủ động và thường xuyên giám sát, chỉ đạo các tổ chức công đoàn, chi đoàn thanh niên nhà trường hoạt động có nề nếp, có chất lựng. – Tích cực phối hợp với BCH CĐm BCH chi đoàn, tổng phụ trách đội trong việc tham gia và chỉ đạo tham gia các hoạt động đoàn thể. – Bản thân luôn gương mẫu thực hiện nhiệt tình vận động CBGV trong nhà trường thực hiện tốt các chuẩn mực đạo đức, lói sống, chấp hành tốt đường lối chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước, thực hiện tốt các cuộc vận động do chính quyền, MTTQ, ngành, công đoàn ngành phát động. Kết quả: 100% CBGV trong nhà trường thực hiện tốt các nội dung trên. V. Kết luận và đề nghị: Năm học 2005 – 2006 với vai trò tích cực chủ động, sáng tạo của bản thân trong việc tham mưu và tham gia quản lý, lãnh đạo cùng với chi bộ BGH nhà trường, đồng thời với sự nỗ lực cố gắng của cả tập thể CBGV và HS trường TH Thọ Sơn đã đạt được những thành tích đáng mừng, cao hơn những năm trước đó là: Chất lượng giáo dục học sinh tăng, chất lượng đội ngũ được nâng cao số lượng HS và GV đạt giải huyện, tỉnh nhiều hơn năm trước. Những thành tích đó đã khích lệ tinh thần thi đua trong tập thể cán bộ GV học học sinh nhà trường và là động lực thúc đẩy để nhà trường phấn đấu trong những năm học tiếp theo. Với những thành tích đã đạt được nêu trên, tôi đề nghị HĐTĐKT nhà trường và HĐTĐKT huyện xét công nhận danh hiệu “chiến sĩ thi đua cấp cơ sở” năm học 2005 – 2006 cho cá nhân tôi. Xin chân trọng cảm ơn ! Thọ Sơn, ngày 22 tháng 5 năm 2006 Xác nhận của thủ trưởng đơn vị Người làm báo cáo Đỗ Văn TRường Xác nhận phòng giáo dục huyện

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Tin Học 6 Bằng Phương Pháp Giảng Dạy Trực Quan

Xuất phát từ cuộc vận động ứng dụng đẩy mạnh công nghệ thông tin vào dạy học của Bộ giáo dục, Sở giáo dục, Phòng giáo dục và Ban giám hiệu nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Đặc biệt là bộ môn Tin học, môn Tin học là một môn khoa học công cụ, tri thức và kỹ năng Tin học được áp dụng rộng rãi, hỗ trợ đắc lực cho rất nhiều ngành khoa học khác nhau trong hầu hết lĩnh vực của đời sống và là một phần không thể thiếu của trình độ văn hóa phổ thông của con người trong thời đại mới. Bởi vậy dạy tin học cho học sinh không chỉ truyền thụ nội dung đơn giản, mà phải hướng cho học sinh những nhận thức, những hiểu biết ngang tầm thời đại.

Do hạn chế về nhiều mặt cơ sở vật chất, trang thiết bị, trình độ giáo viên. mà đôi khi phương pháp dạy học đã không tận dụng hết những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, để truyền tải nhiều thông tin cho người học một cách trực quan nên chất lượng dạy và học có mặt hạn chế.

Sự thành công của một tiết dạy ngoài phương pháp giảng dạy của giáo viên và cách học của học sinh, còn cần sự có mặt của đồ dùng, phương tiện, thiết bị và phần mềm dạy học. Chính vì vậy mà bản thân tôi luôn cố gắng tìm tòi, nghiên cứu, trao đổi với đồng nghiệp và nghiên cứu các ứng dụng của thiết bị và phần mềm dạy học phù hợp với đặc trưng của bộ môn. Trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi và ứng dụng đó bản thân tôi đã tìm ra một số biện pháp hữu ích góp phần trong việc nâng cao chất lượng bộ môn Tin học lớp 6.

Để nâng cao chất lượng môn tin học nói chung và tin học 6 nói riêng tôi đã đăng kí nghiên cứu và thực hiện sáng kiến kinh nghiệm “Nâng cao chất lượng dạy học môn tin học 6 bằng phương pháp dạy học trực quan”, đề ra một số biện pháp về việc sử dụng phương pháp dạy học trực quan với đồ dùng dạy học đó là máy chiếu (Projecter hoặc Tivi màn hình lớn), các phần mềm dạy học (Netop school, Violet.), tranh ảnh, biểu tượng. mà bản thân tôi đã nghiên cứu và áp dụng thành công tại đơn vị trường THCS Tam Quan Bắc.

ững giải pháp như thế nào để các em nắm lí thuyết chắc hơn nhớ lâu hơn và vận dụng vào thực hành tốt hơn. Sau một thời gian suy nghĩ tiến hành thực nghiệm tôi đã thu được những kết quả rất tốt sau đây tôi xin đề ra một số giải pháp sử dụng các dụng cụ trực quan trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Tin học lớp 6. 2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới Việc áp dụng sáng kiến kinh nghiệm này vào thực tiễn giảng dạy góp phần nâng cao chất lượng học tập bộ môn Tin học của học sinh, giúp các em vừa ôn luyện được kiến thức cũ, phát hiện nội dung kiến thức mới. Từ đó các em lĩnh hội tri thức một cách nhẹ nhàng, hứng thú, say mê học tập, rèn cho học sinh óc tư duy sáng tạo nhằm nâng cao chất lượng bộ môn. 3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài -Học sinh lớp 6 trường THCS Tam Quan Bắc -Trong quá trình giảng dạy môn tin học trung học cơ sở quyển 1 dành cho học sinh khối lớp 6. -Năm học 2013- 2014 và 2015- 2016 II. Phương pháp tiến hành -Phương pháp khảo sát thực tiễn. -Phương pháp kiểm tra đánh giá. -Phương pháp thống kê. B. NỘI DUNG I. Mục tiêu Nhằm nâng cao ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và nâng cao chất lượng dạy và học môn tin học trong nhà trườn, đặc biệt là đối với học sinh lớp 6 mới bước vào trường chưa quen với nề nếp và phương pháp học tập mới. II. Mô tả giải pháp của đề tài 1. Các biện pháp tiến hành: 1.1. Biện pháp 1: Trực quan hoá thông tin dạy học. Trực quan hoá thông tin dạy học là một quá trình thông qua đó người học tri giác các tài liệu học tập dưới dạng các biểu trưng hình ảnh, âm thanh, mô hình, vật thật... với sự hỗ trợ của dụng cụ trực quan. Dụng cụ trực quan được sử dụng trong môi trường học tập như trong dạy học, giáo dục qua mạng dựa trên cơ sở máy tính... dụng cụ trực quan có thể được sử dụng hiệu quả để giảng dạy các sự kiện, các chỉ dẫn, các quá trình và các khái niệm trừu tượng mà chúng thường khó nhớ, khó hiểu. Các mục tiêu dạy học có thể thực hiện tốt nếu biết phát huy thông qua công cụ trực quan. Có thể nói dụng cụ trực quan có nhiều thuận lợi hơn hẳn so với dạy học bằng ngôn ngữ: Chứa nhiều thông tin và tổ chức thuận lợi các thông tin trong cùng một vị trí, làm đơn giản các khái niệm, làm sáng tỏ các chi tiết của một khái niệm dựa trên ngôn ngữ trừu tượng. Đặc biệt là tranh ảnh trực quan làm tăng khả năng tiếp nhận và ghi nhớ trong học tập đây là một trong những mục tiêu hàng đầu của giáo dục. Từ những ưu điểm trên, tôi nhận thấy nếu áp dụng vào dạy học nhờ dụng cụ trực quan là đèn chiếu, tranh ảnh, biểu tượng.... vào dạy Tin học có hiệu quả rất cao. Trước khi sử dụng dụng cụ trực quan cho một bài học thì trước hết giáo viên cần xác định bài nào cần dụng cụ trực quan và những dụng cụ trực quan đó là gì phục vụ cho những đơn vị kiến thức nào trong bài học. Tiếp đến là công tác chuẩn bị với dụng cụ trực quan. Ví dụ dạy bài: "Máy tính và phần mềm máy tính" cần chuẩn bị những đồ dùng trực quan khi giới thiệu cấu trúc chung của máy tính điển tử như: bộ xử lí trung tâm (CPU), thanh RAM, các ổ đĩa các thiết bị lưu giữ thông tin như USB, đĩa mềm, đĩa CD, DVD... hay hình ảnh của một số loại máy vi tính trong thực tế bằng cách chụp bởi tranh ảnh hoặc các dụng cụ trực quan thiết thực như thế HS mới nhớ lâu và thấy trong thực tế có thể gọi tên dụng cụ trực quan chính xác. Đèn chiếu tương đối dễ sử dụng và việc chuẩn bị cho việc dạy học với đèn chiếu tương đối dễ dàng, ít tốn thời gian. Tuy nhiên để sử dụng đèn chiếu thì phải có sự chuẩn bị kiến thức và các nội dung kiến thức cần trình chiếu. Nội dung đưa lên máy chiếu phải rõ ràng chính xác và phải có máy vi tính. Sau bài dạy tôi tiến hành kiểm tra nhận thức của học sinh bằng hình thức kiểm tra 15 phút. Kết quả thu được: Lớp Tổng số Giỏi Khá TB Yếu Kém SL % SL % SL % SL % SL % 6a6 38 8 21 7 18 11 29 12 32 6a7 40 6 15 7 18 14 35 13 32 6a8 39 6 15 15 38 8 21 10 26 * Hiệu quả của biện pháp 1: Sau khi áp dụng một số ví dụ vào đề tài, số học sinh biết phân biệt các thiết bị của máy tính tăng lên rõ rệt. Tỉ lệ khá giỏi đã được nâng lên so với chất lượng khảo sát đầu năm học: Tăng 9% Tỉ lệ yếu kém giảm: 17% Tuy nhiên một số học sinh vẫn chưa xác định đúng các vị trí thiết bị, .... Như vậy bước đầu việc vận dụng kiến thức, kĩ năng của các em vào làm bài tập thực hành đã có hiệu quả rõ rệt. 1.2: Biện pháp 2: Tạo những tác nhân kích thích trực quan thông qua biểu trưng ngôn ngữ, biểu trưng đồ họa, biểu trưng tranh ảnh. Muốn sử dụng phương pháp dạy học này thành công thì việc đầu tiên người thầy phải làm là thiết kế các thông điệp trực quan đòi hỏi nhiều sức lực và trí lực nhưng lại là công việc đem lại nhiều lợi ích. Việc thiết kế các tài liệu dạy học trực quan mới có thể tạo nên sự thay đổi, và khi người học chú ý sẽ cho nhiều điều bổ ích. Người thiết kế phải quan tâm tới khía cạnh giảng dạy, tính trực giác và đặc biệt quan tâm tới những kĩ năng học tập của học sinh trong nghiên cứu và thực hành. Người giáo viên phải biết phân tích chọn lựa các loại hình trực quan sao cho phù hợp với nội dung bài học. 1.2.1 Dạy học trực quan bằng biểu trưng ngôn ngữ. Biểu trưng ngôn ngữ được tạo ra từ chữ viết dưới dạng một từ đơn lẻ hoặc câu hoàn chỉnh dùng đặt tên đối tượng, định nghĩa, mô tả đối tượng. Thường khi dạy các bài học lý thuyết tôi thường sử dụng loại biểu trưng trực quan bằng ngôn ngữ. Ví dụ: Dạy bài "Máy tính và phần mềm máy tính" giáo viên chiếu sơ đồ cấu trúc chung của máy tính điện tử lên màn hình rồi yêu cầu học sinh quan sát và cho biết máy tính điện tự gồm những phần nào. Sau đó giáo viên chỉ vào từng đối tượng trên sơ đồ và giới thiệu lần lượt các khái niệm của các thành phần trong cấu trúc máy tính. Ví dụ dạy bài "Định dạng văn bản", thì đưa lên màn hình các bước thực hiện định dạng Font như sau: Bước 1. Chọn khối văn bản cần định dạng Bước 3. Hộp thọai Font xuất hiện chọn Font + Font: chọn phông chữ + Font Style: kiểu chữ + Size : cở chữ + Font color: màu chữ + Underline Style: đường gạch chân + Underline Color: màu đường gạch chân + Effects: các hiệu ứng + Preview: khung hiển thị ? Nêu các bước để định dạng văn bản phông chữ, kiểu chữ, cỡ chữ bằng menu lệnh (HS chỉ cần quan sát màn hình và nêu được các bước cần định dạng phông chữ) ? Thao tác quan trọng nhất trong định dạng văn bản là gì (HS chọn phần văn bản cần định dạng) 1.2.2 Dạy học trực quan bằng biểu trưng đồ họa. Chẳng hạn khi dạy bài "Làm quen với soạn thảo văn bản" giáo viên cần cho học sinh làm quen với việc sao chép, di chuyển, cắt (xoá)... nhanh qua các biểu tượng. Giáo viên đưa các biểu tượng Tương tự bài "Chỉnh sửa văn bản" giáo viên đưa các biểu tượng ? Hãy nêu tên các biểu tượng trên và tính năng của các biểu tượng Dạy bài "Định dạng văn bản" ngoài việc định dạng văn bản bằng menu lệnh giáo viên cần cho học sinh định dạng văn bản thông qua các biểu tượng sau. HS nhìn vào biểu tượng và nêu chức năng của các biểu trượng từ đó các em nắm chắc hơn kiến thức lí thuyết để vận dụng vào làm thực hành tốt hơn. * Dạy bài "Trình bày trang văn bản và in" ngoài việc dùng lệnh in, xem văn bản bằng menu lệnh thì có thể in, xem văn bản thông qua các biểu tượng sau. 1.2.3 Dạy học trực quan bằng biểu trưng hình ảnh Giáo viên cần giải thích cho học sinh: Có rất nhiều kiểu dáng và hình thức khác nhau nhưng cấu tạo thì tương tự nhau, chuột có 3 nút bấm chính. Điều này lam cho các em dễ dàng nhận biết được chuột máy tính mà các em không bị ngỡ ngàng khi gặp phải loại chuột có kiểu dáng khác nhau. Thiết bị nhớ USB cũng có nhiều kiểu dán khác nhau Đặc biết là khi giới thiệu về một số thiết bị như Ram, Chíp, đĩa cứng, main của máy tính, nếu không có hình ảnh trực quan thì học sinh sẽ không hiểu được và chỉ hiểu mơ hồ, làm cho các em không có hứng thú học, giáo viên có thể đưa một số hình ảnh để học sinh nhận biết. Ram máy tính Chíp máy tính Đĩa cứng Main máy tính 1.2.4. Kết hợp các loại hình trực quan. Giữa các loại hình trực quan, người thiết kế có thể kết hợp đa dạng các loại biểu trưng trực quan ngôn ngữ, hình ảnh, đồ họa với nhau. Đối với hầu hết học sinh ba loại này bao gồm nhiều mức độ khác nhau rất có ích trong học tập. Ví dụ: Khi dạy bài "Máy tính và phần mềm máy tính" ta có thể sử dụng kết hợp giữa biểu trưng hình ảnh và biểu trưng ngôn ngữ. Giáo viên yêu cầu: - Quan sát hình ảnh và cho biết ở hình trên đâu là thiết bị xuất, nhập,. . * Dạy bài "Làm quen với soạn thảo văn bản", "Tổ chức thông tin trong máy tính", "Định dạng văn bản"... ta có thể sử dụng kết hợp cả ba hình thức trực quan * Dạy bài "Định dạng văn bản" giáo viên chiếu hình ảnh sau và kết hợp cho học sinh thực hiện định dạng phông chữ, cỡ chữ, kiểu chữ... trên máy tính thì học sinh dể tiếp thu bài và ghi nhớ lâu hơn. * Hiệu quả của biện pháp 2: Sau khi áp dụng biện pháp tạo những tác nhân kích thích trực quan thông qua biểu trưng ngôn ngữ, biểu trưng đồ họa, biểu trưng tranh ảnh học sinh nhận biết các biểu tượng được nhanh hơn, phân biệt và ghi nhớ các biểu tượng, các nút lệnh điều khiển được lâu hơn. Từ đó học sinh có thể sử dụng các kiến thức đã học để thực hành cũng như vận dụng vào thực tiễn tốt hơn. 1.3: Biện pháp 3: Xây dựng các kĩ năng, thực hành. 1.3.1. Kĩ năng nhận biết tính năng các loại biểu tượng. Sau một tiết học tôi thường củng cố lại cho học sinh những cái vừa học bằng các dạng bài tập trắc nghiệm giúp học sinh nắm lại bài, học sinh có thể phân biệt được lệnh, các biểu tượng và nắm ý nghĩa của các biểu tượng. Ví dụ: Dạy bài "Làm quen với soạn thảo văn bản", Nối các ý của cột A, B, C, D sao cho hợp lý. A B C D Ctrl + O Ctrl + N Ctrl + S Alt + F4 File Open File Save File Exit File New Tạo tập tin văn bản mới Đóng tập tin văn bản Mở văn bản đã có Lưu văn bản * Bài "Chỉnh sửa văn bản": Dùng các từ, cụm từ điền vào chổ trống cho phù hợp. (1) Edit Copy (2) Edit Cut (3) Edit Paste (4) Delete (5) Ctrl + V (6) Ctrl + C (7) Ctrl + X Các bước sao chép khối Bước1. Chọn khối Bước3. Đưa con trỏ đến vị trí mới. Các bước chuyển khối Bước1. Chọn khối Bước3. Đưa con trỏ đến vị trí mới. Các bước xoá khối Bước1. Chọn khối 1.3.2. Rèn luyện kĩ năng thao tác trên máy Để việc học Tin học của học sinh đạt kết quả tốt, chất lượng cao, học sinh nắm chắc bài, biết thao tác trên máy tính cần cho học sinh học tại phòng máy, học sinh vừa nghe giáo viên giảng bài vừa ghi bài và thực hiện trên máy tính theo từng bước một. Với cách tổ chức học như thế này kết quả cho thấy học sinh nắm chắc bài học, đa số các em đều thực hiện được các thao tác thực hành. * Hiệu quả của biện pháp 3: Sau khi áp dụng biện pháp xây dựng các kĩ năng, thực hành học sinh dễ dàng phân biệt được các biểu tượng các nút lệnh mà vốn học sinh rất khó nhớ và dễ nhầm lẫn. Tránh được hiện tượng học sinh khi thực hành phải mò mẫm các công cụ, các biểu tượng khi sử dụng phần mềm để làm bài tập thực hành cũng như vận dụng vào thực tiễn. 1.4. Biện pháp 4: Sử dụng phần mềm hỗ trợ quản lý phòng máy (Netop School hoặc Italic và mạng LAN). Các phần mềm hỗ trợ quản lý phòng máy giúp cho giáo viên và học sinh dễ dàng giao tiếp và trao đổi thông tin với nhau bằng cách quan sát nhiều màn hình làm việc của học sinh cùng lúc hay truyền tải hình ảnh từ máy giáo viên đến từng máy học sinh. Đây là biện pháp hay đã được sử dụng ở một số nước trên thế giới. Tuy nhiên, hiện tại việc áp dụng các phần mềm này chưa thật sự đem lại hiệu quả cao do điều kiện bản quyền hay một số yêu cầu khác. * Bài học kinh nghiệm: Để đạt hiệu quả trong mỗi tiết học trên lớp, giáo viên sử dụng triệt để mạng thông tin trên kênh hình (tranh vẽ, ảnh chụp, đồ dùng trực quan, phần mềm dạy học .). Sau mỗi lần thử nghiệm nên có một thời gian nhìn nhận đánh giá kết quả và rút kinh nghiệm cho lần sau. * Hiệu quả: Qua phần kiểm tra đánh giá khả năng nhận thức của học sinh kết quả tương đối khả quan. Lần kiểm tra sau kết quả cao hơn lần kiểm tra trước. Chứng tỏ học sinh đã có nhiều tiến bộ, tuy nhiên tỉ lệ học sinh mắc những sai sót còn khá cao. 2. Khả năng áp dụng Phương pháp dạy học trực quan cùng với những phương pháp kĩ thuật dạy học tích cực khác giúp nâng cao chất lượng dạy và học, đưa chất lượng giáo dục đi lên. Đặc biệt trong bộ môn tin học, dạy học trực quan là rất cần thiết và đóng góp không nhỏ vào kết quả giảng dạy. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có một số khó khăn: -Người giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới tổ chức, hướng dẫn được tốt các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên. -Trang thiết bị nghe nhìn, phương tiện dạy học... còn nhiều hạn chế. -Các tài liệu, tư liệu minh họa, trình bày, tranh ảnh cần tìm hiểu sưu tầm và cập nhật thường xuyên để theo kịp thời đại. 3. Lợi ích kinh tế- xã hội Qua một thời gian thực hiện ứng dụng phương pháp dạy học trực quan vào dạy học tin học lớp 6 tôi nhận thấy: - Việc ứng dụng giúp giáo viên truyền thụ kiến thức cho học sinh một cách tích cực và trực quan, tiết kiệm thời gian trong tiết dạy lí thuyết từ đó HS có thời gian thực hành nhiều hơn và trong quá trình thực hành học sinh nhớ kiến thức lâu hơn - Đối với học sinh tôi nhận thấy học sinh học tập tích cực hơn, hào hứng hơn, chú ý hơn, tham gia xây dựng bài sôi nổi hơn. Đặc biệt các em ghi nhớ kiến thức lâu hơn, chất lượng đi lên rõ rệt. Sau khi áp dụng các biện pháp trên vào các tiết dạy thể hiện chất lượng các mức như sau: * Kết quả khảo sát đầu năm Lớp Tổng số Giỏi Khá TB Yếu Kém SL % SL % SL % SL % SL % 6a6 38 7 18 5 13 8 21 13 34 5 13 6a7 40 4 10 5 12 11 27 16 40 4 10 6a8 39 4 10 14 36 4 10 15 39 2 5 Kết quả học kì 1 Lớp Tổng số Giỏi Khá TB Yếu Kém SL % SL % SL % SL % SL % 6a6 38 7 19 22 58 9 23 6a7 40 4 10 19 48 16 40 1 2 6a8 39 4 10 22 57 13 33 Qua thời gian nghiên cứu đề tài trong năm học bằng nhiều phương pháp khác nhau, qua dự giờ đồng nghiệp và dạy thể nghiệm. Tôi đã tìm ra một số kinh nghiệm áp dụng vào trong giảng dạy và thu được những kết quả nhất định. Trong giờ học các em chú ý hơn, tích cực hơn, đã kích thích được khả năng tư duy sáng tạo, tự tin của các em, các em nắm bài một cách chủ động không máy móc. Kết quả số học sinh khá, giỏi tăng lên, số học sinh trung bình, yếu giảm đi rõ rệt. C. Kết luận 1.Những điều kiện, kinh nghiệm áp dụng, sử dụng giải pháp. Dạy học là một nghệ thuật. Sử dụng tốt phương pháp dạy học trực quan là con đường tốt nhất để đạt được mục đích yêu cầu tiết dạy trong đó phương tiện dùng công cụ trực quan đặc biệt có hiệu quả tốt giúp người học hiểu và nắm chắc thông tin cần thiết. Việc sử dụng dụng cụ trực quan vào quá trình dạy học là cần thiết đối với mỗi giáo viên vì nó mang lại hiệu suất, hiệu quả của giáo dục cao. Muốn học sinh học tốt các môn học nói chung và môn Tin học nói riêng thì điều đầu tiên người giáo viên phải tạo được ở học sinh niềm say mê, hứng thú học tập bộ môn. Giờ học phải thu hút sự chú ý ham học hỏi của học sinh, tạo cho các em lòng tin vào khả năng của mình, nhiệt tình ham mê học tập. 2. Những triển vọng trong việc vận dụng và phát triển giải pháp. Qua một thời gian nghiên cứu đề tài bằng nhiều phương pháp khác nhau, qua dự giờ của các đồng nghiệp, qua dạy thể nghiệm, đối chứng, tôi đã tìm ra được một số kinh nghiệm áp dụng vào trong giảng dạy và thu được những kết quả nhất định, trong giờ học các em đã chú ý hơn, tích cực hơn, đã kích thích phát huy được khả năng tư duy, tính tích cực của các em, các em nắm bài một cách chủ động không máy móc. Việc sử dụng phương pháp trực quan vừa giúp giáo viên dễ dàng tổ chức, hướng dẫn học sinh học tập, vừa giúp học sinh dễ dàng hiểu bài và khắc sâu kiến thức. Trong quá trình dạy học môn tin học hiện nay, kênh hình được coi là một công cụ, một phương tiện cho việc dạy và học môn tin học, phương pháp mà người giáo viên tin học sử dụng trong quá trình dạy học cũng phải dựa trên cơ sở kênh hình, có như vậy mới phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh. Do vậy, kết quả học tập cuối năm số học sinh khá giỏi tăng lên, số học sinh yếu giảm rõ rệt. Tóm lại, việc áp dụng đề tài này đã góp phần một cách tích cực nâng cao chất lượng học tập bộ môn Tin học của học sinh. 3 Những bài học kinh nghiệm Để áp dụng thành công đề tài này vào thực tiễn môn Tin học lớp 6, giáo viên phải thật sự hiểu rõ tầm quan trọng của phương pháp trực quan trong dạy học. Kinh nghiệm thực tiễn dạy học và kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy để nâng cao chất lượng dạy học cần có các điều kiện sau: - Tạo không khí học tập tích cực, giáo viên phải tạo ra mỗi giờ học là một niềm vui niềm say mê trong học tập của học sinh. Giáo viên luôn tạo ra những thách thức vừa sức, tổ chức những họat động tự lực của học sinh trong từng tiết học. - Kết hợp nhiều phương pháp dạy học với phương pháp dạy học trực quan có nhằm gây hứng thú với học sinh và giúp học sinh chủ động nắm bắt kiến thức. - Qua mỗi lần thử nghiệm nên có một thời gian nhìn nhận đánh giá kết quả và rút kinh nghiệm cho lần sau, biết cách khai thác trí lực của học sinh theo hướng tích cực, chủ động thì việc tiếp thu kiến thức, rèn luyện lỹ năng của học sinh sẽ trở nên thuận lợi và có kết quả hơn. - Các thiết bị dạy học rất có ý nghĩa giáo viên phải luôn phát huy hết tác dụng của các thiết bị dạy học, đặc biệt là dụng cụ trực quan có như vậy mới gây được hứng thú học tập của các em. Bên cạnh mỗi tiết dạy giáo viên luôn nỗ lực chuẩn bị các đồ dùng trực quan đầy đủ phù hợp với nội dung bài dạy từ đó vậy giáo viên mới tạo được sự hứng thú bộ môn cho các em. 4. Kiến nghị: Qua quá trình thực hiện giảng dạy bản thân tôi có một số kiến nghị sau: Đề nghị nhà trường trang bị thêm các trang thiết bị học tập (bàn, ghế, máy vi tính, ) ở phòng thực hành để học sinh có đủ điều kiện học tập tập tốt hơn. Tam Quan Bắc, ngày 15 tháng 02 năm 2016 Người thực hiện Võ Nhật Trường

Các Nguyên Tắc Và Phương Pháp Dạy Học Tiếng Việt

I. CÁC NGUYÊN TẮC.

I.1. Khái niệm về nguyên tắc dạy học tiếng mẹ đẻ.

“nguyên tắc giảng dạy tiếng mẹ đẻ là những tiền đề cơ bản xác định nội dung, phương pháp và cách tổ chức hoạt động dạy học tiếng mẹ đẻ của thầy giáo và học sinh”

– Dựa vào qui luật của quá trình thủ đắc ngôn ngữ ( acquisition ), Fêđôrenkô đề xuất 5 nguyên tắc: (xem Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Lê A chủ biên, trang 47)

– Các nguyên tắc chiến lược và nguyên tắc chiến thuật, theo Duđnhicôp: (xem Giáo trình như trên trang 49)

I.2. Sự chi phối của các nguyên tắc dạy học đối với quá trình tổ chức dạy học tiếng Việt trong nhà trường.

a. Dựa vào các nguyên tắc dạy học tiếng cho học sinh bản ngữ, SGK xác định và sắp xếp nội dung dạy học cho phù hợp với đối tượng học tiếng mẹ đẻ ở từng cấp học, từng lớp học.

b. Việc lựa chọn phương pháp dạy học để thực hiện tiến trình lên lớp phải sao cho bảo đảm tốt nhất các nguyên tắc dạy học. Hơn nữa, việc sử dụng và thể hiện phương pháp dạy học bao giờ cũng phải được thực hiện trong khuôn khổ những nguyên tắc thì mới bảo đảm được hiệu quả dạy học.

c. Các nguyên tắc dạy học không chỉ được biểu hiện qua nội dung dạy học, phương pháp dạy học mà còn biểu hiện qua việc lựa chọn hình thức dạy học. Diễn giảng hoặc đàm thoại, đọc sách giáo khoa hay làm bài tập tiếng Việt.đều phải lưu ý đúng mức đến vai trò của giao tiếp, của mục đích phát triển kĩ năng ngôn ngữ và rèn luyện tư duy.

Bài 3. CÁC NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT I. CÁC NGUYÊN TẮC. I.1. Khái niệm về nguyên tắc dạy học tiếng mẹ đẻ. "nguyên tắc giảng dạy tiếng mẹ đẻ là những tiền đề cơ bản xác định nội dung, phương pháp và cách tổ chức hoạt động dạy học tiếng mẹ đẻ của thầy giáo và học sinh" - Dựa vào qui luật của quá trình thủ đắc ngôn ngữ ( acquisition ), Fêđôrenkô đề xuất 5 nguyên tắc: (xem Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Lê A chủ biên, trang 47) - Các nguyên tắc chiến lược và nguyên tắc chiến thuật, theo Duđnhicôp: (xem Giáo trình như trên trang 49) I.2. Sự chi phối của các nguyên tắc dạy học đối với quá trình tổ chức dạy học tiếng Việt trong nhà trường. a. Dựa vào các nguyên tắc dạy học tiếng cho học sinh bản ngữ, SGK xác định và sắp xếp nội dung dạy học cho phù hợp với đối tượng học tiếng mẹ đẻ ở từng cấp học, từng lớp học. b. Việc lựa chọn phương pháp dạy học để thực hiện tiến trình lên lớp phải sao cho bảo đảm tốt nhất các nguyên tắc dạy học. Hơn nữa, việc sử dụng và thể hiện phương pháp dạy học bao giờ cũng phải được thực hiện trong khuôn khổ những nguyên tắc thì mới bảo đảm được hiệu quả dạy học. c. Các nguyên tắc dạy học không chỉ được biểu hiện qua nội dung dạy học, phương pháp dạy học mà còn biểu hiện qua việc lựa chọn hình thức dạy học. Diễn giảng hoặc đàm thoại, đọc sách giáo khoa hay làm bài tập tiếng Việt...đều phải lưu ý đúng mức đến vai trò của giao tiếp, của mục đích phát triển kĩ năng ngôn ngữ và rèn luyện tư duy... I.3. Các nguyên tắc đặc thù của Phương pháp dạy tiếng. I.3.1. Nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với phát triển năng lực tư duy. - Mệnh đề " ngôn ngữ là hiện thực của tư tưởng" thể hiện quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ và tư duy. Ngôn ngữ là công cụ để tư duy và biểu hiện tư duy. - Tính khái quát và hệ thống của tri thức ngôn ngữ đòi hỏi các thao tác tư duy tương ứng. - Thực hành ngôn ngữ không chỉ gắn liền với tầng bậc của hình thức ngữ pháp mà còn thường xuyên rèn luyện tư duy về nội dung ngữ nghĩa lôgic, tư duy biện chứng, kể cả tư duy hình ảnh. - Suy cho cùng, biểu hiện rõ rệt nhất của năng lực ngôn ngữ ở một cá nhân là sự biểu hiện của trình độ tư duy thông qua sản phẩm giao tiếp mà cá nhân đó tổ chức nên. Hệ quả của năng lực tạo sinh văn bản tất yếu đồng thời với năng lực tiếp nhận văn bản. I.3.2. Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp. - Giao tiếp là nhu cầu tồn tại của xã hội. Lịch sử nhân loại đã trải qua giao tiếp với nhiều phương tiện khác nhau, trong đó, quan trọng nhất là ngôn ngữ. - Như vậy, ngôn ngữ luôn luôn tồn tai và phát triển trong giao tiếp và qua giao tiếp. Điều này dẫn đến cách hiểu tự nhiên là dạy học ngôn ngữ phải dạy học trong giao tiếp. - Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là trực quan sinh động của hoạt động dạy và học ngôn ngữ. Việc rèn luyện năng lực ngôn ngữ cá nhân lấy đó làm phương tiện, làm môi trường rèn luyện của mình. - Sản phẩm của hoạt động giao tiếp, tức các ngôn bản là công cụ trực quan của tiến trình dạy học tiếng. Đồng thời, vì người học phải phấn đấu để có khả năng tạo ra hoặc khả năng tiếp nhận các ngôn bản đó khi giao tiếp nên chúng cũng có tính mục đích đối với người học. Do vậy, có thể nói rằng hoạt động giao tiếp là môi trường học tập vừa mang tính phương tiện vừa mang tính mục đích. - Hướng về hoạt động giao tiếp, dạy học tiếng gặp những thuận lợi sau: + Là một ngôn ngữ không biến hình, tiếng Việt chỉ có thể bộc lộ đặc điểm ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp trong các phát ngôn cụ thể. Nhờ đó, người học xác lập một cách rõ ràng mối liên hệ giữa lí thuyết với thực tế sử dụng ngôn ngữ. + Là sản phẩm của hoạt động giao tiếp, ngôn bản ( nói, viết ) là chỉnh thể thống nhất của yếu tố ngôn ngữ và yếu tố phi ngôn ngữ. Nói cách khác, nếu tách yếu tố ngôn ngữ khỏi ngữ cảnh, tách tác phẩm khỏi hoàn cảnh sáng tác, người tiếp nhận sẽ không thể hiểu đúng được nội dung. Dạy học gắn với giao tiếp chính là gắn với đời sống tâm lí cộng đồng dân tộc, với đặc điểm xã hội - lịch sử...; ở đó, lời nói cá nhân vừa phù hợp với tâm lí chung vừa có cá tính của chủ thể nói năng. - Nhằm tạo thuận lợi cho việc bảo đảm nguyên tắc này, ngoài việc ứng dụng các phương pháp dạy học thích hợp, vai trò của cấu trúc nội dung bài dạy của sách giáo khoa có ý nghĩa rất quan trọng. I.3.3. Nguyên tắc chú ý đến trình độ tiếng Việt đã có của học sinh. - Mỗi người bình thường có một bộ thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ. Bộ thói quen này bao gồm những thói quen đúng và thói quen sai, bao gồm vốn từ tích cực và vốn từ tiêu cực, bao gồm kinh nghiệm và khả năng phân tích lẫn tính nhạy cảm bản ngữ. Quá trình học tập tiếng mẹ đẻ ở nhà trường và ngoài đời là quá trình ý thức hoá bộ thói quen đó về các mặt cấu trúc ngôn ngữ, tổ chức lời nói, ý nghĩa xã hội...kể cả kinh nghiệm dùng lời trong các bối cảch giao tiếp khác nhau. - Mỗi học sinh ở cấp học, lớp học cụ thể hiện có một trình độ tiếng Việt cụ thể cùng với một bộ thói quen tương ứng như vừa nói ở trên. Đây là đặc điểm đáng lưu ý của học sinh bản ngữ mà người thầy dạy học tiếng mẹ đẻ có thể tận dụng như là một thuận lợi lớn trong dạy học. Đặc điểm này loại biệt khá rõ nội dung, phương pháp và hình thức dạy học tiếng mẹ đẻ cho học sinh bản ngữ với dạy học ngoại ngữ. + Nội dung dạy học tiếng mẹ đẻ là nội dung tích hợp nhằm rèn luyện năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ. Đó là nội dung tri thức về hệ thống ngôn ngữ, về cách sử dụng ngôn ngữ trong bối cảnh xã hội - lịch sử cụ thể, trong đời sống tâm lí và tinh thần dân tộc, trong truyền thống đạo đức và vẻ đẹp nhân văn...Dạy học ngoại ngữ phải vượt qua chặng đường dài mới có thể vươn tới sự tương thích trên. + Nếu như học ngôn ngữ thứ hai, người học cảm thấy xa lạ với mọi yếu tố trong ngôn bản, từ hình thức diễn đạt đến nội dung ngữ nghĩa thì học tiếng mẹ đẻ, nội dung và hình thức của ngôn bản đều quen thuộc. Mục đích dạy học tiếng mẹ đẻ là làm sao giúp học sinh ý thức được qui tắc của cách nói cho phù hợp với nội dung quen thuộc trên. Theo tinh thần dạy học như vậy, trình độ tiếng mẹ đẻ sẵn có ở học sinh, đặc biệt là năng lực tiếp nhận nội dung ngữ nghĩa chính là phương tiện giúp học sinh học cách tổ chức hình thức diễn đạt cho nội dung đó. Nói gọn lại, về phương pháp dạy học, thầy giáo dạy tiếng mẹ đẻ có thể dựa vào trình độ tiếng Việt sẵn có của học sinh để giúp học sinh ý thức hoá và hoàn thiện bộ thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình. - Một khía cạnh cần quan tâm khi chú ý đến trình độ tiếng Việt đã có ở học sinh bản ngữ là tính nhạy cảm bản ngữ. Đây là khả năng tiếp nhận ngữ nghĩa tiếng mẹ đẻ cùng với mọi sắc thái của nó một cách gần như trực cảm không qua phân tích. Dựa vào năng lực tiếp nhận nội dung của học sinh bản ngữ để dạy học cách tổ chức hình thức lời nói, giáo viên không thể không coi trọng tính nhạy cảm bản ngữ ở họ. - Ngoài các đặc điểm chung về trình độ tiếng Việt đã có ở học sinh như đã nói ở trên, giáo viên còn phải khảo sát và phân lập được trình độ cụ thể của từng lớp, từng học sinh mình phụ trách để có kế hoạch dạy học thích hợp. I.3.4. Nguyên tắc so sánh và phát triển hài hoà ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. - Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết là hai dạng tồn tại của ngôn bản. Chúng có những đặc điểm khác nhau và cần thiết phải phân biệt trên cơ sở đối chiếu, so sánh để diễn đạt cho phù hợp. - Tuy có đặc điểm khác nhau nhưng một vài sắc thái riêng của ngôn ngữ nói có thể bổ sung cho hiệu quả diễn đạt của ngôn ngữ viết và ngược lại. Do đó, phát triển hài hoà cả hai loại ngôn bản này vừa phù hợp với yêu cầu giao tiếp xã hội vừa phù hợp với việc tăng cường hiệu quả diễn đạt của chúng. Để có thể bảo đảm được nguyên tắc này, giáo viên nên thường xuyên giúp học sinh ý thức rõ đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, cũng như sự ảnh hưởng tích cực và tiêu cực lẫn nhau giữa chúng trong diễn đạt. - Về vai trò của thầy giáo, nguyên tắc này được tuân thủ bằng việc điều khiển tốt bài tập thực hành miệng, các tiến trình giao tiếp xây dựng bài học, trả và hướng dẫn sửa chữa bài tập viết, v.v... II. CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH BẢN NGỮ. II.1. Về khái niệm phương pháp dạy học. - Nhiệm vụ chủ yếu của môn Phương pháp dạy học là trả lời câu hỏi: dạy như thế nào để đạt hiệu quả dạy học tốt nhất? Nội dung trả lời chính là sự cụ thể hoá lí thuyết cũng như sự ứng dụng các phương pháp dạy học. II.2. Một số cách tiếp cận khác nhau đối với việc xây dựng hệ thống phương pháp dạy học tiếng. II.2.1. Các bình diện khác nhau của phương pháp dạy học: a- điều hành quá trình giảng dạy b- theo các con đường nhận thức và đặc trưng hoạt động tư duy c- theo các hình thức tổ chức dạy học d- theo phương thức đặc thù tiếp nhận các nội dung tri thức II.2.2. Một số tổ hợp phương pháp dạy tiếng thường được nói tới. II.3. Các phương pháp dạy học tiếng Việt thường dùng. II.3.1. Phương pháp thông báo - giải thích. - Đây là một phương pháp dạy học truyền thống, còn có tên gọi là phương pháp truyền thụ (transmission). Phương pháp này từng đóng vai trò và có đóng góp đáng kể cho giáo dục trong nhiều thế kỉ. - Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, phương pháp này trở nên bất lực trước một khối lượng tri thức khổng lồ cần chuyển tải đến người học. Tuy vậy, trong vài điều kiện cụ thể của môi trường giáo dục, của đối tượng giáo dục...như học sinh cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở chẳng hạn, phương pháp thông báo giải thích vẫn mang lại hiệu quả tốt. Hiện nay, không phải bất cứ đâu và bất cứ ai cũng có thể tiếp cận được nguồn thông tin khổng lồ của nhân loại. Hơn nữa, có người thầy có kinh nghiệm tham khảo tài liệu, lựa chọn, tổng kết một nội dung thuộc một phạm vi tri thức nào đó cũng là điều tốt, vừa tiết kiệm thời gian, vừa khắc phục được tình trạng thiếu điều kiện tiếp cận thông tin của người học. - Để hỗ trợ cho phương pháp này, giáo viên thường dùng các công cụ trực quan như bảng biểu, sơ đồ...nhằm giúp người học tiếp thu kiến thức một cách có hệ thống. - Như đã nói ở trên, phương pháp này đã không còn phổ biến như trước nữa do môi trường xã hội học tập đã đổi khác. Giáo viên không nên l ... ngữ. - Dù sử dụng biện pháp nào, quan sát - phân tích ngôn ngữ cũng phải thực hiện các thao tác sau: + Phân tích - phát hiện + Phân tích - chứng minh + Phân tích - phán đoán + Phân tích - tổng hợp - Để có thể ứng dụng được phương pháp này, giáo viên cần phải có kĩ năng phân tích ngữ pháp và ngữ nghĩa logic, phải chuẩn bị kĩ càng, tỉ mỉ hệ thống câu hỏi gợi tìm theo định hướng bài học. + Về kĩ năng phân tích ngữ pháp và ngữ nghĩa logic + Về yêu cầu của hệ thống câu hỏi gợi tìm II.3.3. Phương pháp rèn luyện theo mẫu. - Mô phỏng, bắt chước theo kinh nghiệm giao tiếp gắn liền với quá trình hình thành và phát triển ngôn ngữ của con người. Phương pháp rèn luyện theo mẫu là cách dạy học một cách có ý thức về thói quen và kinh nghiệm ấy. - Đối với học sinh trung học phổ thông, phương pháp này nên ứng dụng cho dạy học tạo sinh lời nói. Thầy giáo chọn và giới thiệu các mẫu hoạt động ngôn ngữ rồi hướng dẫn học sinh phân tích để hiểu và nắm vững cơ chế của chúng; sau đó, bắt chước mẫu đó một cách sáng tạo vào lời nói của mình. - Phương pháp rèn luyện theo mẫu có thể được áp dụng theo các bước sau đây: + Cung cấp mẫu lời nói hoặc hành động lời nói. + Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích mẫu theo một số yêu cầu. + Học sinh mô phỏng mẫu để tạo ra lời nói của mình. + Kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm. II.3.4. Phương pháp giao tiếp. - Giao tiếp là chức năng trọng yếu của hoạt động ngôn ngữ. Dạy học tiếng cho học sinh cũng là nhằm giúp các em có năng lực tham gia vào hoạt động giao tiếp. Do đó, phương pháp giao tiếp lấy giao tiếp làm phương thức dạy học vùa phù hợp với mục đích dạy học, lại vừa phù hợp với nguyên tắc trực quan trong dạy học. Chỉ có dạy học trong môi trường giao tiếp, học sinh mới dễ dàng tiếp cận mối quan hệ giữa lí thuyết và thực hành, giữa cụ thể và khái quát, giữa kiến thức cục bộ và tổng quan về hệ thống ngôn ngữ, giữa hệ thống ngôn ngữ và hoạt động lời nói. - Lấy giao tiếp làm phương thức dạy học, phương pháp giao tiếp mặc nhiên thừa nhận vai trò trung tâm của người học (centered - learner ) theo quan điểm truyền động ( transaction ) của giáo dục học hiện đại. Theo đó, người học là chủ thể nhận thức của quá trình học tập; thầy giáo có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo, giúp đỡ người học theo phương hướng và mục đích đã định. Vậy dạy học theo phương pháp giao tiếp, ta phải làm thế nào? + Tạo các tình huống dùng hoạt động ngôn ngữ có bối cảnh giao tiếp thực nhằm kích thích nhu cầu giao tiếp và định hướng giao tiếp cho học sinh. * bao gồm các yếu tố ngôn ngữ trong ngữ cảnh (context): từ, cấu trúc ngữ, cấu trúc câu, các yếu tố ngôn điệu, yếu tố tu từ, phong cách... * bao gồm các yếu tố phi ngôn ngữ trong bối cảnh ( situation ): người nói, người nghe, không gian, thời gian, mục đích giao tiếp, ảnh hưởng của lịch sử - xã hội đối với các thành viên giao tiếp và quan hệ giữa họ với nhau... * bao gồm đặc điểm tâm lí , đặc điểm văn hoá dân tộc qua ngôn ngữ dân tộc. + Hướng dẫn quan sát - phân tích tình huống dùng hoạt động ngôn ngữ có bối cảnh giao tiếp thực: * Dưới sự dẫn dắt theo định hướng bài học bằng hệ thống câu hỏi của thầy giáo và qua hội thoại giữa thầy - trò, giữa trò - trò, học sinh cùng nhau nhận thức qui tắc, qui luật hoạt động của các hiện tượng ngôn ngữ trong mối tương quan với các yếu tố phi ngôn ngữ như đã nêu trên: ai nói, ( viết )? ai nghe ( đọc )? về cái gì? trong hoàn cảnh nào?... * Theo đó, học sinh rèn luyện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết bằng cách xác định hướng và nhiệm vụ giao tiếp cho từng tình huống cụ thể. * Có thể có nhiều hình thức tổ chức dạy học theo phương pháp giao tiếp như dạy học chính khoá, câu lạc bộ ứng xử theo tình huống giao tiếp, giải bài tập trắc nghiệm tình huống... III. Các thủ pháp thường dùng trong dạy học tiếng Việt. III.1. Phân tích và tổng hợp. - Phân tích là tách một hiện tượng nào đó thành các bộ phận cấu thành để có thể xem xét tất cả các mặt của nó, lí giải đặc trưng của chúng và trên cơ sở đó mà đánh giá hiện tượng đó một cách trọn vẹn. Tổng hợp là thao tác tư duy nhằm phát hiện ra các mối liên hệ giữa các mặt, các bộ phận của hiện tượng; trên cơ sở đó mà hình dung ra cả chỉnh thể sự vật, hiện tượng. - Như vậy, phân tích và tổng hợp luôn luôn đi kèm với nhau, giúp con người nhận thức toàn diện hiện thực khách quan. Bản chất của quá trình dạy học tri thức mới là quá trình tư duy nhằm nắm được tri thức đó toàn diện và chi tiết. Bởi vậy, phân tích và tổng hợp trở thành thủ pháp dạy học... III.2. So sánh đối chiếu. So sánh đối chiếu là thao tác tư duy để phân biệt hiện tượng, khái niệm với các hiện tượng, khái niệm khác. Một khái niệm ngôn ngữ, một qui tắc ngôn ngữ chỉ trở thành yếu tố tâm lí của học sinh khi các em biết đặt nó vào hệ thống các yếu tố tâm lí của mình. Nói một cách khác, các em cần phải so sánh đối chiếu chúng với các khái niệm và qui tắc đã có của mình. Mặt khác, tiếng Việt là một hệ thống giá trị và bản chất của các yếu tố cấu thành nó chỉ được xác định trong mối quan hệ với các yếu tố khác trong hệ thống. III.3. Khái quát hoá. Khi tiến hành phân tích ngôn ngữ để rút ra các khái niệm và qui tắc, ta cần khái quát hoá vì khái quát hoá là thao tác tư duy nhằm rút ra các đặc điểm bản chất nhất của nhiều hiện tượng được phân tích. III.4. Qui loại và phân loại. Gắn bó mật thiết với thủ pháp khái quát hoá là thủ pháp phân loại và qui loại. Khi rút ra cái chung của các sự kiện ngôn ngữ, học sinh đã phát hiện khả năng phân chia chúng ra từng nhóm và qui loại chúng vào các nhóm riêng biệt. Việc chia các hiện tượng ngôn ngữ thành các nhóm dựa vào sự giống nhau và khác nhau của chúng được gọi là sự phân loại. Tiếp đó, việc đưa các hiện tượng ngôn ngữ vào các nhóm thích hợp gọi là sự qui loại. Thủ pháp phân loại và qui loại thường được ứng dụng đối với phương pháp thông báo - giải thích, phương pháp quan sát - phân tích ngôn ngữ trong giờ lí thuyết. III.5. Tạo tình huống có vấn đề. Để tăng cường tính chủ động, tích cực tư duy, cần phải tạo nhu cầu nhận thức cho học sinh. Nhu cầu này xuất hiện trong những trường hợp mà trong quá trình hoạt động học tập học sinh gặp phải khó khăn và trở ngại về nhận thức. Qua quá trình đó, các em sẽ tìm tòi, phát hiện ra các tri thức mới. Việc tạo các tình huống như vậy gọi là tình huống có vấn đề. Trong dạy học, các thủ pháp này thường được áp dụng khi nghiên cứu tài liệu mới. Giáo viên tạo ra và đặt học sinh vào tình huống có vấn đề, cung cấp những tài liệu ngôn ngữ để các em quan sát. Học sinh tự quan sát, phân tích, so sánh và rút ra những kết luận cần thiết, từ đó, phát biểu định nghĩa về các khái niệm và qui tắc. IV. Các hình thức thể hiện của phương pháp. IV.1. Hình thúc diễn giảng cần được bảo đảm các yêu cầu sau: - Nội dung trình bày cần khoa học, chính xác. Lí lẽ nêu ra có tính thuyết phục và được trình bày một cách hợp lí. - Ngôn ngữ diễn giảng phải mẫu mực: đúng chuẩn, trong sáng, bảo đảm tính giáo dục. Âm thanh nhịp điệu phải vừa phải. - Thái độ cử chỉ của giáo viên phải mẫu mực. Tuyệt đối tránh lối phô trương, sáo rỗng hoặc gắt gỏng đối với học sinh. IV.2. Hình thức đàm thoại. Khi tiến hành đàm thoại, cần lưu ý một số yêu cầu sau: - Học sinh phải có ý thức về toàn bộ hay một phần lớn cuộc đàm thoại. - Chủ đề đàm thoại phải là hệ thống những vấn đề được lựa chọn và sắp xếp hợp lí nhằm hướng tới mục đích của bài học. - Số lượng, nội dung và tính chất phức tạp của câu hỏi chủ yếu phụ thuộc vào kiến thức cần thiết, trình độ học sinh. Khi học sinh không trả lời được, giáo viên cần thêm các câu hỏi phụ để gợi mở. - Bảo đảm lôi cuốn mọi học sinh tham gia vào đàm thoại. IV.3. Hình thức đọc sách giáo khoa. Sách giáo khoa là tài liệu học tập chủ yếu của học sinh. Thầy giáo và học sinh cần biết sử dụng có hiệu quả phương tiện học tập này. IV.4. Hình thức làm bài tập tiếng Việt. Bài tập tiếng Việt là một đơn vị nội dung định hướng cho việc dạy học tiếng Việt. Thông qua việc hướng dẫn học sinh làm bài tập và quá trình làm bài tập của các em, giáo viên kiểm tra kết quả hoạt động dạy của mình. V. Về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học tiếng Việt hiện nay. - Tại sao phải đổi mới? + Thích nghi với điều kiện xã hội - lịch sử thay đổi. + Nội dung chương trình và sách giáo khoa thay đổi. + Trên hết là cần phải cải thiện tình hình dạy và học tiếng Việt chưa tốt hiện nay. - Đổi mới theo phương hướng nào? + Quan điểm tích hợp. + Sách giáo khoa Ngữ văn. - Nội dung đổi mới cụ thể như thế nào? + Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học đã có trên ngữ liệu mới. + Giảm lí thuyết, tăng cường thời gian thực hành cho học sinh. - Quan hệ giữa đổi mới và các phương pháp đã nêu như thế nào? + Xử lí ngữ liệu theo quan điểm tích hợp khi vận dụng các phương pháp, biện pháp, thủ pháp dạy học là vấn đề mấu chốt hiện nay. Tích hợp nhưng không làm lu mờ mục đích yêu cầu riêng của từng bài dạy thuộc từng phân môn Tiếng Việt, Đọc văn, Làm văn. (tham khảo phần giới thiệu chương trình Ngữ văn THPT, phần phụ lục) 1. Việc nêu các nguyên tắc dạy học có ý nghĩa như thế nào đối với các phương pháp và thủ pháp dạy học? 2. Có ý kiến cho rằng chỉ có nguyên tắc giao tiếp chứ không có "cái gọi là phương pháp giao tiếp", anh, chị nghĩ thế nào? 3. Quan điểm giao tiếp trong dạy học tiếng là gì? Phải chăng ý nghĩa trực quan của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ đóng vai trò cốt lỏi trong quan điểm này? (hay đây chính là chức năng chính của ngôn ngữ?) 4. Thử bàn về quan hệ giữa dạy học tiếng và rèn luyện, phát triển tư duy cho học sinh. 5. Phương pháp quan sát-phân tích ngôn ngữ và việc ứng dụng ngữ pháp tạo sinh của N. Chomsky vào mô hình hoá cấu trúc câu tiếng Việt; ưu, nhược điểm của nó là gì? 6. Lí thuyết hoạt động ngôn ngữ chi phối nội dung chương trình và phương pháp dạy học tiếng Việt ở THPT như thế nào?

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Học Tiếng Anh Nhanh Chóng Và Dễ Nhớ

Để học từ vựng dễ nhớ bạn có thể thử học bằng những cách sau đây:

1. Cách một: chuẩn bị một cuốn sổ tay nhỏ vừa để được trong túi áo hoặc quần của bạn, bất cứ đi đâu, bất cứ khi nào bạn gặp một từ mới, hay bạn ghi ngay vào sổ, nếu bạn chưa biết được nghĩa cử từ thì về nhà bạn mở từ điển ra xem rồi bổ sung ngay nghĩa vao sổ. Bạn nên nhớ, mỗi lần bạn tra từ điển là một lần giúp bạn khắc sâu đươc từ đó về cả cách đọc, cách dùng và nghĩa chính xác của nó.Thỉnh thoảng bạn lấy nó ra xem. Cứ như vậy, vốn từ của bạn ngày càng dồi dào hơn.

2. Cách hai: chuẩn bị một cây bút xạ ( hightlight), khi nào bạn học bài và gặp từ mới bạn sử dụng nó để tô lên chữ cần học thuộc. Và cứ mỗi lần bạn mở vở ra , bạn thấy những chữ nỗi bật nhất trong trang vở, tự dưng bạn chú ý đến nó, khoảng 3 đến 4 lần như vậy bạn sẻ học thuộc được từ đó mà thôi.

3. Cách ba: chuẩn bị một cuộn băng dán nhỏ và những mẫu giấy nhỏ. Bạn viết chữ bằng tiếng Anh nhũng đồ vật trong nhà bạn và dán vào từng đồ vật ấy ở những chổ dễ thấy nhất. Như vậy, cứ mỗi lần bạn sử dụng đến đồ vật đó bạn sẽ vô tình nhìn thấy những chữ đó và bạn học thuộc nó lúc nào mà bạn cũng không hay. Ví dụ: bạn viết lên cái thước kẻ bằng chữ: RULER; cái chổi quét nhà chữ: BROOM; cái lược chải tóc chữ: COMB .v.v.

4. Cách bốn: một ngày bạn viết vào một mẩu giấy 3 đến 4 từ , hoặc cấu trúc mà bạn cần học thuộc, cỡ chữ vừa đủ để bạn đứng cách khoảng 2m mà bạn vẫn thấy. Bạn nên viết bằng mực màu gì mà bạn thích, hoặc màu thật nỗi bật, dễ thấy. Rồi bạn dán lên tường trước bàn bạn hay ngồi học hoặc nơi nào bạn hay lui tới. Cứ mỗi lần bạn ngồi vào bàn, bạn vô tình hoặc cố tình nhìn thấy nó, bạn cố gắng là trước khi đi ngủ bạn xem qua lại một lần rồi lên giường, trước khi ngủ bạn nên đọc nhẩm lại một lần cho nhớ, sáng sớm thức dậy bạn nhớ lại xem mình đã thuộc hay chưa. Ngày khác bạn cũng làm tương tự và dán chồng lên mẩu giấy ngày hôm qua, phòng khi bạn quên từ , cấu trúc đã học thì bạn có thể ôn lại những từ, cấu trúc đó.

Sáng kiến kinh nghiệm môn Anh văn Cách học từ vựng tiếng Anh thật dễ nhớ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM TRONG VIỆC DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH THCS ĐỀ TÀI: PHƯƠNG PHÁP HỌC TIẾNG ANH NHANH CHÓNG VÀ DỄ NHỚ I- Phần mở đầu: II- Lí do chọn đề tài: Trong tình hình hiện nay, việc học tiếng Anh ở các vùng đồng bằng , nhất là các thành phố lớn đang là một phong trào rất mạnh. Xu hướng này phù hợp với tất cả các đối tượng, từ học sinh tiểu học cho đến các em học sinh THPT, sinh viên và các cán bộ, công nhân.v.v Nhìn lại bộ môn tiếng Anh đang được giảng dạy ở trường ta, một trường ở vùng sâu, vùng xa thì thấy rằng, phong trào học tiếng Anh ở đây đang còn rất nhỏ,yếu. Lí do dẫn đến tình trạng này có lẽ là do các em chưa tìm thấy cách học thích hợp cho bản thân mình, hay cũng có thể là do các em thấy khó khăn trong việc học từ vựng, cấu trúcNhằm giúp các em cảm thấy dễ dàng hơn, thoải mái hơn trong việc học tiếng Anh, giúp các em học nhanh và dễ tìm thấy niềm vui khi học tiếng Anh và ngày càng thích học bộ môn này. III- Giới thiệu chung: Đề tài này gồm có 4 phần: Phần thứ nhất: học từ vựng ( Vocabulary- New words) Phần thứ hai: học quy tắc nhấn trọng âm chung ( Stress) Phần thứ ba: học quy tắc phát âm của động từ tận cùng bằng ED, danh từ, động từ sau khi thêm S/ES ( V-ed; N-s/es; V-s/es) Phần thứ tư: học quy tắc dùng mạo từ AN( Article- AN) IV- Nội dung: A- Phần thứ nhất: HỌC TỪ VỰNG ( Vocabulary- New words): Để học từ vựng dễ nhớ bạn có thể thử học bằng những cách sau đây: 1. Cách một: chuẩn bị một cuốn sổ tay nhỏ vừa để được trong túi áo hoặc quần của bạn, bất cứ đi đâu, bất cứ khi nào bạn gặp một từ mới, hay bạn ghi ngay vào sổ, nếu bạn chưa biết được nghĩa cử từ thì về nhà bạn mở từ điển ra xem rồi bổ sung ngay nghĩa vao sổ. Bạn nên nhớ, mỗi lần bạn tra từ điển là một lần giúp bạn khắc sâu đươc từ đó về cả cách đọc, cách dùng và nghĩa chính xác của nó.Thỉnh thoảng bạn lấy nó ra xem. Cứ như vậy, vốn từ của bạn ngày càng dồi dào hơn. 2. Cách hai: chuẩn bị một cây bút xạ ( hightlight), khi nào bạn học bài và gặp từ mới bạn sử dụng nó để tô lên chữ cần học thuộc. Và cứ mỗi lần bạn mở vở ra , bạn thấy những chữ nỗi bật nhất trong trang vở, tự dưng bạn chú ý đến nó, khoảng 3 đến 4 lần như vậy bạn sẻ học thuộc được từ đó mà thôi. 3. Cách ba: chuẩn bị một cuộn băng dán nhỏ và những mẫu giấy nhỏ. Bạn viết chữ bằng tiếng Anh nhũng đồ vật trong nhà bạn và dán vào từng đồ vật ấy ở những chổ dễ thấy nhất. Như vậy, cứ mỗi lần bạn sử dụng đến đồ vật đó bạn sẽ vô tình nhìn thấy những chữ đó và bạn học thuộc nó lúc nào mà bạn cũng không hay. Ví dụ: bạn viết lên cái thước kẻ bằng chữ: RULER; cái chổi quét nhà chữ: BROOM; cái lược chải tóc chữ: COMB.v.v. 4. Cách bốn: một ngày bạn viết vào một mẩu giấy 3 đến 4 từ , hoặc cấu trúc mà bạn cần học thuộc, cỡ chữ vừa đủ để bạn đứng cách khoảng 2m mà bạn vẫn thấy. Bạn nên viết bằng mực màu gì mà bạn thích, hoặc màu thật nỗi bật, dễ thấy. Rồi bạn dán lên tường trước bàn bạn hay ngồi học hoặc nơi nào bạn hay lui tới. Cứ mỗi lần bạn ngồi vào bàn, bạn vô tình hoặc cố tình nhìn thấy nó, bạn cố gắng là trước khi đi ngủ bạn xem qua lại một lần rồi lên giường, trước khi ngủ bạn nên đọc nhẩm lại một lần cho nhớ, sáng sớm thức dậy bạn nhớ lại xem mình đã thuộc hay chưa. Ngày khác bạn cũng làm tương tự và dán chồng lên mẩu giấy ngày hôm qua, phòng khi bạn quên từ , cấu trúc đã học thì bạn có thể ôn lại những từ, cấu trúc đó. 6. Cách sáu: bạn cũng có thể học từ vựng nhanh bằng vài câu thơ ( có thể những câu thơ này là do Giáo viên bạn cung cấp) ví dụ như: Xe hơi du lịch là car Sir ngài, Lord đức, thưa bà Madam Thousand là đúng...mười trăm Ngày day, tuần week, year năm, hour giờ Wait there đứng đó đợi chờ Nightmare ác mộng, dream mơ, pray cầu Hoặc SKY trời, EARTH đất, CLOUD mây RAIN mưa WIND gió, DAY ngày NIGHT đêm HIGH cao HARD cứng SOFT mềm REDUCE giảm bớt, ADD thêm, HI chào B- Phần thứ hai: HỌC QUY TẮC NHẤN TRỌNG ÂM CHUNG (stress): Quy ước: Dấu huyền, nặng = thanh bằng ( ) Dấu sắc =thanh trắc (/) Không dấu = thanh ngang (_) Quy tắc: - Nếu trong từ có thanh trắc thì trọng âm rơi vào thanh trắc đó. Ví dụ: khi đọc từ : TEACHER là: tích-chờ tương dương với: / . Như vậy, trọng âm sẻ rơi vào thanh trắc, là âm đầu tiên. Hoặc trong từ: HUSBAN đọc là: hớt-bần tương đương với: / Như vậy, trọng âm sẻ rơi vào thanh trắc, là âm đầu tiên.Hoặc trong từ: EXPECT đọc là: ịt-x-péc-t tương đương với: / Như vậy, trọng âm sẻ rơi vào thanh trắc, là âm thứ hai. - Nếu trong từ không có thanh trắc, chỉ có thanh bằng và thanh ngang thì trọng âm rơi vào thanh ngang đó. Ví dụ: từ RULER đọc là: ru-lờ tương đương với: _ . như vậy, trọng âm sẻ rơi vào thanh ngang, là âm thứ nhất. Hoặc từ DINNER đọc là: din-nờ tương đương với: _ . như vậy, trọng âm sẻ rơi vào thanh ngang, là âm thứ nhất. Hoặc từ PREPARE đọc là: pri-pea tương đương với: _ _ . như vậy, trọng âm sẻ rơi vào thanh ngang thứ nhất, là âm thứ hai. - Nếu trong từ có không thanh trắc, chỉ có hai hoặc ba thanh ngang liên tiếp thì trọng âm rơi vào thanh ngang đầu tiên. Ví dụ: từ SCHOOLBOY đọc là xcun-boi tương đương với: _ _ . Như vậy, trọng âm rơi vào thanh ngang đầu tiên, là âm thứ nhất. C- Phần thứ ba: HỌC QUY TẮC PHÁT ÂM ĐỐI VỚ ĐỘNG TỪ TẬN CÙNG BẰNG ED; DANH TỪ, ĐỘNG TỪ SAU KHI THÊM S/ES ( V-ed; N-s/es; V-s/es): C1. V-ed: Theo qui tắc, khi thêm ED vào cuối các động từ thì có 3 cách phát âm đối với ED, đó là: - /id/ đối với các động từ có tận cùng bằng âm /t/ và /d/ tương đương với chữ t và d. ví dụ: với động từ WANT có tận cùng bằng chữ t hay âm /t/ , như vậy khi thêm ED vào đằng sau nó ta có từ WANTED . Theo quy tắc thì nó được phát âm thành goăn-tịd. Hoặc với động từ DISCARD có tận cùng bằng chữ d hay âm /d/ , như vậy khi thêm ED vào đằng sau nó ta có từ DISCARDED . Theo quy tắc thì nó được phát âm thành dị-x-ca-dịd. - /t/ đối với các động từ có tận cùng bằng âm : /k/, /f/, /p/, /k/, /ʃ/, /s/, /ʤ/ tương đương với các chữ: k,f,p,c,ch,sh,gh,ph,ss,x,tr,z. Ví dụ: với động từ WORK có tận cùng bằng chữ k hay âm /k/ , như vậy khi thêm ED vào đằng sau nó ta có từ WORKED . Theo quy tắc thì nó được phát âm thành guốc-k-t. Hoặc với động từ STOP có tận cùng bằng chữ p hay âm /p/ , như vậy khi thêm ED vào đằng sau nó ta có từ STOPPED . Theo quy tắc thì nó được phát âm thành x-tóp-t.v.v. Với quy tắc này hơi khó nhớ, vì vậy, bạn có thể nhớ bằng hai câu thơ sau: phảng fất còn ghi t(r)ình kô phượng s(h)ông xưa zờ chạnh ghé xem ssao. - /d/ đối vớ các âm hay chữ cái còn lại. Ví dụ: với động từ PLAY có tận cùng bằng chữ y hay âm /i/ , như vậy khi thêm ED vào đằng sau nó ta có từ PLAYED . Theo quy tắc thì nó được phát âm thành p-lây-d. Hoặc với động từ LIVE có tận cùng bằng chữ ve hay âm /v/ , như vậy khi thêm ED vào đằng sau nó ta có từ LIVED . Theo quy tắc thì nó được phát âm thành li-v-d. C2. N-s/es; V-s,es: Các danh từ hoặc động từ có tận cùng bằng S/ES có ba cách phát âm, đó là: - /iz/ đối với các danh từ hoặc động từ có tận cùng bằng các chữ cái: sh, ch, o, ss, x, z. ví dụ: với từ GLASS, có tận cùng bằng SS thì ta thêm ES vào cuối từ, ta có từ GLASSES, đọc là g-lax-xiz. Hoặc với từ WASH, có tận cùng bằng SH thì ta thêm ES vào cuối từ, ta có từ WASHES, đọc là goăt-siz. Như vậy, để dễ nhớ quy tắc này bạn có thể nhớ câu: Sháng chiều zò xổ ss ố - /s/ đối với các danh từ hoặc động từ có tận cùng bằng các chữ cái: k, f, p, t, gh tương đương với các âm: /k/, /f/, /p/, /t/.ví dụ: với từ LAUGH, có tận cùng bằng GH thì ta thêm S vào cuối từ, ta có từ LAUGHS, đọc là la-f-s. Hoặc với từ START, có tận cùng bằng T thì ta thêm S vào cuối từ, ta có từ STARTS, đọc là x-tát-x. - /z/ đối với các danh từ hoặc động từ có tận cùng bằng các chữ cái: còn lại , ví dụ như với từ OPEN, có tận cùng bằng Nthì ta thêm S vào cuối từ, ta có từ OPENS, đọc là âu-pần-z. Hoặc với từ STAY, có tận cùng bằng Y thì ta thêm S vào cuối từ, ta có từ STAYS, đọc là x-tây-z. Giáo Viên: Phạm Song Hào

Cập nhật thông tin chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm Tuân Thủ Nguyên Tắc Trực Quan Trong Dạy Học Tiếng Việt trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!