Xu Hướng 2/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Cô Lập Tham Số # Top 4 View | Channuoithuy.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Cô Lập Tham Số # Top 4 View

Bạn đang xem bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Cô Lập Tham Số được cập nhật mới nhất trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thực hiện chương trình thay sách giáo khoa và đổi mới phương phương pháp dạy học việc rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng cơ bản và nâng cao là rất cần thiết. Trong chương trình Toan học phổ thông, hàm số giữ một vai trò quan trọng, trong đó việc xét tính đơn điệu của hàm số giúp học sinh có cái nhìn tổng quan về các tình chất của nó. Tuy nhiên bài toán tìm điều kiện của tham số để hàm số đồng biến trên một khoảng hiện nay thường khó thực hiện do không có công cụ tam thức bậc hai. Tuy nhiên chúng ta có thể sử dụng những kiến thức học sinh đã biết như đạo hàm, tìm giá trị lớn nhất nhỏ nhất để giải quyết một số bài toán này không quá phức tạp

Lời nói đầu Thực hiện chương trình thay sách giáo khoa và đổi mới phương phương pháp dạy học việc rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng cơ bản và nâng cao là rất cần thiết. Trong chương trình Toan học phổ thông, hàm số giữ một vai trò quan trọng, trong đó việc xét tính đơn điệu của hàm số giúp học sinh có cái nhìn tổng quan vrrf các tình chất của nó. Tuy nhiên bài toán tìm điều kiện của tham số để hàm số đồng biến trên một khoảng hiện nay thường khó thực hiện do không có công cụ tam thức bậc hai. Tuy nhiên chúng ta có thể sử dụng những kiến thức học sinh đã biết như đạo hàm, tìm giá trị lớn nhất nhỏ nhất để giải quyết một số bài toán này không quá phức tạp. Với nội dung Phương pháp cô lập tham số giải bài toán tìm điều kiện để hàm số đồng biến nghịch biến trên một khoảng, tôi hi vọng phần nào cung cấp cho học sinh một kĩ năng giải toán để có thể thực hiện được một số bài trong chương trình trung học phổ thông. Tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp của các đồng nghiệp và mong muốn các đồng nghiệp và học sinh tiếp tục hoàn thiện nội dung này. Mọi góp ý xin gửi về địa chỉ: Phương Xuân Trịnh Tổ Toán - Trường THPT Lương Tài - Bắc Ninh Điện thoại: 0972 859 879 E-mail: trinhcanhhieu@yahoo.com.vn Phương Xuân Trịnh I/ cơ sở khoa học Nghị quyết hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII - 1993 đã chỉ rõ: "Mục tiêu giáo dục - đào tạo phải hướng vào đào tạo những con người lao động tự chủ, sáng tạo, có năng lực giải quyết các vấn đề thường gặp, qua đó gớp phần tích cực thực hiện mục tiêu lớn của đất nước là đan giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh' Môn Toán có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của chương trình giáo dục phổ thông. chương trình Toán cung cấp có hệ thống vốn văn hoá Toán học phổ thông tương đối hoàn chỉnh, bao gồm kiến thức, kĩ năng, phương pháp, tư duy. Kiến thức toán còn là công cụ giúp cho học sinh học các môn khác như Vật lí, Hoá học, Sinh học, Địa lí Mục tiêu chung của môn Toán là: Cung cấp cho học sinh những kiến thức, kĩ năng, phương pháp Toán học phổ thông, cơ bản, thiết thực. Góp phần quan trọng vào việc phát triển năng lực trí tuệ, hình thành cho học sinh những khae năng suy luận đặc trưng của Toán học rất cần thiết cho thực tiễn cuộc sống. Góp phần hình thành và phát triển cho học sinh các phẩm chất, phong cách lao độngkhoa học, biết hợp tác lao động, ý chí và thói quen tự học thường xuyên. Tạo cơ sở để học sinh tiếp rục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và đi vào thực tiễn cuộc sống. Thực hiện mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học, thay thế phương pháp truyền thụ áp đặt bằng phương pháp tích cực, sáng tạo, người dạy tổ chức định hướng, phát huy vài trò chủ động tích cực của học sinhđể hóc inh tự chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng. Trong chương trình Toán Trung học phổ thông, hàm số chiếm một vị trí quan trọng. Có thể nói học sinh được tiếp xúc với hàm số từ rất sớm, song đến lớp 12 ta mới có công cụ đạo hàm để xét đầy đủ và tổng quát hơn về tính đơn điệu của hàm số. Việc xét được tính đơn điệu, lập bảng biến thiên của hàm số cho ta cái nhìn tổng thể về các tính chất của nó. Vì vậy học sinh cần phải thành thạo việc xét tính đơn điệu và một số bài toán tìm tham số để hàm số đơn điệu trên một khopảng K nào đó. II/ Cơ sở thực tiễn Chương.trình toán Trung học phổ thông cũ cung cấp cho học sinh phương pháp tam thức bậc hai. Đây là công cụ rất hữu ích để học sinh có thể làm được các bài tpán tìm điều kiện để phương trình bậc hai có hai nghiệm thuộc kloảng (a; b) . Vì thể việc xét bài toán tìm điều kiện để hàm số đơn điệu trên khoảng (a; b) nhờ tam thức bậc hai được thực hiện một cách dễ dạng. Tuy nhiên chương trình sách giáo khoa mới không cing cấp định lí đảo về dấu của tam thức bậc hai và phương pháp tam thức bậc hai nên học sinh cơ bản không làm được bài toán này. Nếu ra đề cho học sinh bắt buộc phải chọn đề bài mà đạo hàm của nó có thể tính được nghiệm theo tham số. Vì vậy phương pháp cô lập tham số đối với một số trường hợp tỏ ra có hiệu quả. Học sinh có thể giải quyết được bài toán đố , đồng thời rèn luyện được kĩ năng tìm giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của hàm số nhờ ứng dụng của đạo hàm. III/ Nội dung A/ Phương pháp Bài toán 1: Tìm tham số m để hàm số y = f(x, m) đồng biến trên khoảng (a; b) trong đó a có thể là -Ơ, b có thể là +Ơ) Phương pháp + Tính đạo hàm y' củ hàm số + hàm số đồng biến trên (a; b) Û y' Ê 0 " x ẻ (a; b) + Viết bất phương trình y' Ê 0 thành dạng g(x) Ê h(m). + Tìm giá trị lớn nhất của hàm số g(x) trên (a; b) + Yêu cầu bài toán Û + Tìm m và kết luận. Bài toán 2: Tìm tham số m để hàm số y = f(x, m) nghịc biến trên khoảng (a; b) trong đó a có thể là -Ơ, b có thể là +Ơ) Phương pháp + Tính đạo hàm y' củ hàm số + hàm số đồng biến trên (a; b) Û y' ³ 0 " x ẻ (a; b) + Viết bất phương trình y' ³ 0 thành dạng g(x) ³ h(m). + Tìm giá trị nhỏ nhất của hàm số g(x) trên (a; b) + Yêu cầu bài toán Û + Tìm m và kết luận. B/ Ví dụ minh hoạ. Ví dụ 1. Tìm m để hàm số nghịch biến trên ( -1; 1). Giải + + Hàm số nghich biến trên ( -1; 1) Û y' Ê 0 "x ẻ ( -1; 1) Û " xẻ ( -1; 1). Xét hàm số f(x) = -3x2 - 6x trên ( -1; 1) f'(x) = -6x - 6, f'(x) = 0 Û x = -1 Bảng biến thiên: x -1 1 y' - y 3 -9 Từ bảng biến thiên suy ra giá trị cần tìm là m Ê -9. Ví dụ2. Tìm m để hàm số đồng biến trên khoảng (2; +Ơ). Giải + Ta có + Hàm số đồng biến trên (2; +Ơ) Û y' ³ 0 " xẻ (2; +Ơ) Û Û Û " xẻ (2; +Ơ) Xét hàm số trên (2; +Ơ) f'(x) = 0 Û Û Û x = -3; x = 2 Bảng biến thiên: x 2 +Ơ y' + y +Ơ 3 Từ bảng biến thiên suy ra giá trị cần tìm là m Ê 3. Ví dụ3. Cho hàm số y = x3 - 3x2 + m2x + m Tìm m để hàm số nghịch biến trên (1; 2). Giải + Ta có y' = 3x2 - 6x + m2. Hàm số nghịch biến trên khoảng (1; 1) khi và chỉ khi " xẻ (1; 2) thì y' Ê 0 Û m2 Ê 6x - 3x2. Xét hàm số f(x) = 6x - 3x2 trên (1; 2) f'(x) = 6 - 6x ị f'(x) = 0 Û x = 1 Bảng biến thiên: x 1 2 y' - y 3 0 Từ bảng biến thiên suy ra giá trị cần tìm là m Ê 0. Ví dụ 4. Cho hàm số . Tìm m để hàm số nghịch biến trên (0; 1). Giải + Ta có = Hàm số nghịch biến trên (0; 1) Û y' Ê 0 " x ẻ (0; 1). + m = 0 ị y' = x + 3 (loại) + m ạ 0, y' Ê 0 vm ẻ (0; 1). Ta có và Û Û + Xét hàm số ị = Bảng biến thiên x 0 1 y' + y +Ơ 6 Từ bảng biến thiên suy ra không có giá trị nào của m để hàm số nghịc biến trên (0; 1). Ví dụ 5. Cho hàm số . Tìm m để hàm số nghịch biến trên ( -1; 1). Giải + = Hàm số nghịch biến trên ( -1; 1) Û y' Ê 0 " x ẻ ( -1; 1). Ta có y' Ê 0 Û Û + x = 0 ị y'(0) < 0. + x ạ 0, Û Xét hàm số g'(x) = 0 Û x = 1. Bảng biến thiên: x -1 0 1 y' + + y +Ơ -1 -Ơ Từ bảng biến thiên suy ra giá trị cần tìm là IV/ Kết quả thực hiện V/ Bài học kinh nghiệm. Qua nghiên cứu và thực tế giảng dạy chúng tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm sau: Ưu điểm: - Phương pháp này sử dụng các kĩ năng quen thuộc của học sinhm không cần cung cấp hay mở rộng thêm kiến thức mới, vì vậy học sinh có thể tiếp thu được và rèn luyện thành kĩ năng. - Phương pháp này giúp học sinh củng cố kiến thức, điều kiện để hàm số đồng biến, nghịch biến trên một khoảng K. - Phương pháp này còn củng cố kĩ năng tìm giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của học sinh bằng công cụ đạo hàm. Nhược điểm: -Phương pháp nêu trên không thể áp dụng cho tất cả các loại hàm số. Chẳng hạn những hàm số mà khi tính đạo hàm ta không biểu diền được thành dạng g(x) ³ h(x) hay g(x) Ê h(x) Tài liệu tham khảo 1/ Giải tích 12 - Trần Văn Hạo (Tổng chủ biên) - Nhà xuất bản Giáo dục 2008 2/ Bài tập Giải tích 12 - Vũ Tuấn (Chủ biên) - Nhà xuất bản Giáo dục 2008 3/ Hiải tích 12 - Đoàn Quỳnh (Tổng chủ biên) - Nhà xuất bản Giáo dục 2008 4/ Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Toán - Nhà xuất bản Giáo dục 2008 5/ Phương pháp dạy học môn Toán - Nguyễn Bá Kim, Vũ Dương Thuỵ - Nhà xuất bản Giáo dục Trang Lời nói đầu1 I/ Cơ sở thực khoa học2 II/ Cơ sở thực tiễn...3 III/ Nội dung...3 A/ Phương pháp ...3 Một số ví dụ..4 VI/ Kết quả thực hiện..9 V/ Bài học kinh nghiệm.10 VI/ Tài liệu tham khảo11

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu Kém

A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Đổi mới phương pháp dạy học là tổ chức các hoạt động tích cực cho người học, kích thích, thúc đẩy, hướng tư duy của người học vào vấn đề mà họ cần phải lĩnh hội. Từ đó khơi dậy lòng ham muốn, phát triển nhu cầu tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh trong tự thân của người học để phát huy khả năng tự học của họ. Đối với học sinh bậc THCS cũng vậy, các em là những đối tượng người học nhạy cảm việc đưa phương pháp học tập theo hướng đổi mới là cần thiết và thiết thực. Vậy làm gì để khơi dậy và kích thích nhu cầu tư duy, khả năng tư duy tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo phù hợp với đặc điểm của môn học đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh? Trước vấn đề đó người giáo viên cần phải không ngừng tìm tòi khám phá, khai thác, xây dựng hoạt động, vận dụng, sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học trong các giờ học sao cho phù hợp với từng kiểu bài, từng đối tượng học sinh, xây dựng cho học sinh một hướng tư duy chủ động, sáng tạo. Bên cạnh đó, vấn đề học sinh yếu kém hiện nay cũng được xã hội quan tâm và tìm giải pháp để khắc phục tình trạng này, để đưa nền giáo dục đất nước ngày một phát triển toàn diện thì người giáo viên không chỉ phải biết dạy mà còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu kém.  Vấn đề nêu trên cũng là khó khăn với không ít giáo viên nhưng ngược lại, giải quyết được điều này là góp phần xây dựng trong bản thân mỗi giáo viên một phong cách và phương pháp dạy học hiện đại giúp cho học sinh có hướng tư duy mới trong việc lĩnh hội kiến thức. II. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU Do điều kiện và thời gian nên phạm vi nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm chỉ gói gọn ở những đối tượng học sinh yếu kém năm học 2010 -2011 của trường THCS Phong Thạnh Tây – Giá Rai – Bạc Liêu. B. NỘI DUNG. I. THỰC TRẠNG Trường THCS Phong Thạnh Tây thuộc vùng nông thôn sâu của Huyện Giá Rai. Đa số học sinh đều chăm ngoan, vâng lời thầy cô, tích cực trong học tập. Bên cạnh đó vẫn còn một số học sinh thờ ơ với việc học và chưa xác định rõ mục đích của việc học tập là để làm gì dẫn đến kết quả học tập yếu kém. Sau khi kiểm tra chất lượng đầu năm xong, lãnh đạo trường thường chia ra một lớp điểm sáng và một, hai lớp còn lại là học sinh yếu kém. Những đối tượng này không thích học phụ đạo nên rất khó khăn trong việc giảng dạy của giáo viên. Hiểu được vấn đề đó và dưới sự chỉ đạo của Phòng GD&ĐT Giá Rai lãnh đạo trường phân công những đồng chí giáo viên có kinh nghiệm, nhiệt tình để dạy các lớp này. Năm học 2010-2011 tôi được phân công dạy môn Tiếng Anh khối 9 trong đó cũng có một lớp điểm sáng và một lớp học sinh yếu kém. Qua kết quả khảo sát đầu năm có đến 56,7% học sinh yếu-kém,Tôi đã tìm hiểu và nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, chỗ yếu của các em để từ đó tìm ra phương pháp phụ đạo cho phù hợp. Phần lớn các em cho biết không thích học phụ đạo sở dĩ đi học là do nhà trường bắt buột vì thời khóa biểu phụ đạo được xem như là buổi học chính khóa. Qua nhiều năm giảng dạy và làm công tác phụ đạo học sinh yếu kém, tôi nhận thấy muốn nâng dần chất lượng học sinh yếu kém không phải là chuyện một sớm một chiều mà nó đòi hỏi phải có sự kiên nhẫn và lòng quyết tâm của người giáo viên. Sau đây tôi xin phân tích một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém để từ những nguyên nhân đó có thể tìm ra hướng khắc phục khó khăn giúp học sinh vươn lên trong học tập. II. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HỌC SINH YẾU KÉM: 1. Về phía học sinh: Học sinh là người lĩnh hội những tri thức thì nguyên nhân học sinh yếu kém có thể kể đến là do cá nhân học sinh trong đó có thể kể đến một số nguyên nhân sau: – HS lười học: qua quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy rằng đa số các học sinh yếu kém là những học sinh cá biệt, vào lớp không chịu chú ý chuyên tâm vào việc học, về nhà thì không xem bài, không chuẩn bị bài, cứ đến giờ học thì cặp sách đến trường, nhiều khi học sinh còn không biết ngày đó học môn gì, vào lớp thì không chép bài vì lí do là không có đem tập học của môn đó. Còn một bộ phận không ít học sinh thì không xác định được mục đích của việc học, học để có điều kiện đi chơi, đến lớp thì lo chọc phá bạn bè, gọi đến thì không biết trả lời, đang giờ học thì xin ra ngoài để chơi. Theo sách giáo khoa hiện hành thì để dễ dàng tiếp thu bài, nhanh chóng lĩnh hội được tri thức thì người học phải biết tự tìm tòi, tự khám phá, có như thế thì khi vào lớp mới nhanh chóng tiếp thu và hiểu bài một cách sâu sắc được. Tuy nhiên, phần lớn học sinh hiện nay đều không nhận thức được điều đó. Học sinh chỉ đợi đến khi lên lớp, nghe giáo viên giảng bài rồi ghi vào những nội dung đã học rồi về về nhà lấy tập ra “học vẹt” mà không hiểu được nội dung đó nói lên điều gì. 2. Về phía giáo viên: Học sinh học yếu không phải nguyên nhân toàn là ở học sinh mà một phần ảnh hưởng không nhỏ là ở người giáo viên. Thầy hay thì mới có trò giỏi. Ngày nay, để có thể thực hiện tốt trong công tác giảng dạy thì đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Tuy nhiên, ở đây không phải giáo viên nào có trình độ học vấn cao, tốt nghiệp giỏi thì sẽ giảng dạy tốt mà ở đây đòi hỏi người giáo viên phải biết lựa chọn phương pháp dạy học nào là tốt với từng đối tượng học sinh và với từng nội dung kiến thức. Qua quá trình công tác tôi nhận thấy, vẫn còn một bộ phận giáo viên chưa thật tâm huyết với nghề, chỉ rập khuôn theo một khuôn mẫu nhất định mà chưa chú ý quan tâm đến các đối tượng học sinh. Chưa tìm tòi nhiều phương dạy học mới kích thích tích tích cực chủ động của học sinh. Chưa thật sự quan tâm tìm hiểu đến hoàn cảnh của học sinh, có khi học sinh hỏi một vấn đề gì đó thì giáo viên lại tỏ ra khó chịu hay trả lời cho học sinh với thái độ cọc cằn làm cho học sinh không còn dám hỏi khi có điều gì chưa rõ. – Gia đình không quan tâm: Một số gia đình có khả năng cho con đi học nhưng không quan tâm đến việc học hành của con em hàng ngày, không biết được thời gian học của các em bắt đầu lúc mấy giờ và kết thúc khi nào, thời khóa biểu hôm nay có mấy tiết gồm những môn gì? Không đôn đốc, nhắc nhở và tạo điều kiện học tập cho các em, họ cứ nghĩ học đến đâu hay đến đó, thích học thì cho học, chán thì cho nghỉ. – Do sức khỏe yếu: Một số em thể trạng yếu , không thích nghi với điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột đẽ mắc bệnh đẫn đến phải nghỉ học đến khi nào khỏi bệnh đi học lại dẫn đến tiếp thu không kịp bài. Hoặc một số em có bệnh bẩm sinh, trí tuệ kém thông minh cũng là nguyên nhân dẫn đến yếu kém. III. CÁC BIỆN PHÁP PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU KÉM: 1. Giáo dục ý thức học tập cho học sinh: – Giáo viên phải giáo dục ý thức học tập của học sinh ở bộ môn mình, tạo cho học sinh sự hứng thú trong học tập bộ môn từ đó sẽ giúp cho học sinh có ý thức vươn lên. Trong mỗi tiết dạy giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn. – Phải tạo cho không khí lớp học thoải mái nhẹ nhàng, đừng để cho học sinh sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu, tôn trọng mình. Giáo viên không nên dùng biện pháp đuổi học sinh ra ngoài không cho học sinh học tiết học đó khi học sinh không ngoan, không chép bài vì làm như thế học sinh sẽ không được học tiết đó thế là học sinh lại có một buổi học không thu hoạch được gì. Chúng ta phải tìm cách khuyên nhủ, nhắc nhở học sinh giáo dục ý thức học tập của học sinh hoặc dùng một biện pháp giáo dục đó chứ đừng đuổi học sinh ra ngoài trong giờ học. – Bên cạnh đó, việc giáo dục ý thức học tập của học sinh cũng phụ thuộc rất lớn vào giáo viên chủ nhiệm, giáo viên chủ nhiệm là người gần gủi với học sinh, phải tìm hiểu đối từng đối tượng học sinh, thường xuyên theo dõi các em về cả học lực và hạnh kiểm để kịp thời giáo dục, uốn nắn học sinh của mình.       Ví dụ 1: Học sinh Nguyễn Văn B, học lớp 9A2, không thích học nhưng vì bị gia đình ép buộc đi học nên đến lớp không chú ý nghe giảng mà chỉ lo nói chuyện, làm mất trật tự trong giờ học, kết quả là học sinh đó học tập kém.           Hướng giải quyết: Trước tiên, Giáo viên chủ nhiệm trao đổi với chính học sinh đó để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của học sinh, đồng thời hỏi bạn bè của học sinh đó về hoàn cảnh gia đình và sinh hoạt của học sinh. Từ đó giáo viên tìm hiểu được nguyên nhân và thường xuyên gần gủi, khuyên nhủ học sinh về thái độ học tập, tổ chức các trò chơi có lồng ghép việc giáo dục học sinh về ý thức học tập tốt và ý thức vươn lên trong học tập, làm cho học sinh nhận thấy tầm quan trọng của việc học. Bên cạnh đó, giáo viên trao đổi với gia đình, phối hợp với gia đình giáo dục ý thức của học sinh, khuyên nhủ gia đình không nên quá gò ép học sinh mà từ từ hướng dẫn học sinh học tập, thường xuyên gần gủi giúp đở em để em thấy được sự quan tâm của gia đình mà phấn đấu. 2. Kèm cặp học sinh yếu kém: – Ngay từ đầu năm, giáo viên phải lập danh sách học sinh yếu kém bộ môn mình ở năm học trước để nắm rõ các đối tượng học sinh, lập danh sách học sinh yếu kém và chú ý quan tâm đặc biệt đến những học sinh này trong mỗi tiết học như thường xuyên gọi các em đó lên trả lời, khen ngợi khi các em trả lời đúng, có thể cho điểm tối đa để khích lệ tinh thần học tập cho các em. – Khi soạn giáo án phụ đạo cho các em phải chú ý đến những điểm kiến thức mà các em đã hỏng trong năm học trước và trong năm học này để dần bổ sung những kiến thức đó cho các em. Ví dụ: ở bộ môn Tiếng Anh, khi học đến lớp 8 các em đã được học thì quá khứ đơn nhưng khi giáo viên cho bài tập các em làm không đúng, lúc này giáo viên phải giải thích lại cách dùng của thì này và ghi lại công thức cho các em và cho nhiều ví dụ mẫu để cho các em hiễu rõ và có thể làm được. – Phải thường xuyên kiểm tra sĩ số: Để nắm được nguyên nhân các em nghỉ học, răn đe đối với các em nghỉ học nhiều lần trong các buổi phụ đạo không có lý do, động viên đối với những trường hợp nghỉ có lí do chính đáng, phải kết hợp với GVCN trong việc theo dõi tỉ lệ chuyên cần của các em. Vì có đi học đều mới có thể lĩnh hội được kiến thức. – Kiểm tra vở học của các em vào cuối buổi học: Một số em ý thức học chưa tốt thường không chép bài đầy đủ, khi nghe hiệu lệnh trống là gấp vỡ lại ra chơi. Giáo viên có thể nhắc nhở ngay từ đầu giờ khi vào lớp để các em theo dõi và ghi chép đầy đủ nhưng khi có một dấu hiệu nghi ngờ nào đó thì cuối buổi gọi em đó mang vỡ ghi chép lên xem, nếu em đó chưa hoàn thành thì cho chép bài lại giờ ra chơi. Có như thế các em mới chép bài đầy đủ. – Kiểm tra kiến thức cũ trước khi bổ sung kiến thức mới: Vào đầu giờ giáo viên nên hỏi lại kiến thức cũ đã học ở tiết trước và cho các em 1, 2 câu bài tập để áp dụng, nếu các em làm được thì mới dạy kiến thức khác. Hay cuối giờ dành khoảng 5 đến 10 phút cho các em kiểm tra giấy xem các em có lĩnh hội được bài giảng hôm nay không. Từ đó có hướng thích hợp để phụ đạo cho các em tốt hơn. IV. KẾT QUẢ: Học sinh yếu kém đầu năm học 2010 – 2011: Moân Toång soá HS Gioûi Khaù Trung bình TB trôû leân Yeáu Keùm SL % SL % SL % SL % SL % SL % Tiếng Anh 9 60 6 23,0 20 33,3 26 43,3 22 36,7 12 20,0 Học sinh yếu kém học kỳ I, năm học 2010 – 2011: Moân Toång soá HS Gioûi Khaù Trung bình TB trôû leân Yeáu Keùm SL % SL % SL % SL % SL % SL % Tiếng Anh 9 59 4 6,8 12 20,3 33 55,9 49 83,1 10 16,9 Học sinh yếu kém cuối năm học 2010 – 2011: Moân Toång soá HS Gioûi Khaù Trung bình TB trôû leân Yeáu Keùm SL % SL % SL % SL % SL % SL % Tiếng Anh 9 58 3 5,2 21 23,0 30 51,7 54 93,1 4 6,9 C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I. KẾT LUẬN: – Giáo viên phải nhiệt tình giảng dạy, kiểm tra bài học của các em thường xuyên trên lớp. – Có kế hoạch phụ đạo càng sớm càng tốt. – Sử dụng nhiều đồ dùng dạy học, vận dụng nhiều phương pháp hay đa dạng để thu hút học sinh. – Ôn tập thật kỹ và phải có đề cương ôn thi cho học sinh trước khi làm bài kiểm tra , thi học kỳ. – Luôn là tấm gương tự học, sáng tạo để học sinh noi theo. Rèn cho học sinh tính hiếu học, cách học tập tốt, kiên trì vượt khó. – Làm cho học sinh hiểu rõ mục đích của việc học tập và trở nên yêu thích môn học. – Phụ huynh nên quan tâm đến việc học của con em mình, nắm bắt được thời khóa biểu, thời gian học hàng ngày và phải thường xuyên liên hệ với GVCN hay GV bộ môn để nắm bắt được việc học của các em. II. KIẾN NGHỊ: – Nhà trường cần chỉ đạo và theo dõi chặt chẽ công tác phụ đạo học sinh yếu kém, chỉ đạo cho các bộ phận đoàn thể trong nhà trường thực hiện tốt việc giáo dục ý thức đạo đức, học tập cho các em. – Phát động nhiều phong trào thi đua học tập trong học sinh đồng thời tạo sân chơi lành mạnh cho học sinh. – GVCN cần tăng cường công tác giáo dục ý thức học tâp của học sinh, phối hợp chặt chẽ với phụ huynh để kịp thời uốn nắn các em. – GV bộ môn phải tìm ra những biện pháp dạy có hiệu quả, thường xuyên theo dõi học lực của học sinh để so sánh và đánh giá mức tiến bộ của các em. Phong Thạnh Tây, ngày 20 tháng 5 năm 2011 HỘI ĐỒNG KHGD TRƯỜNG Người viết Huỳnh Thanh Tùng

Sáng Kiến Kinh Nghiệm: “Một Số Biện Pháp Giáo Dục Lễ Giáo Cho Trẻ 4

I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1/ Đặt vấn đề:

Lứa tuổi Mầm non trẻ đã dần dần hình thành hoạt động giao tiếp với mọi người xung quanh. Chính vì vậy, ngay từ lứa tuổi này chúng ta phải chăm lo phát triển toàn diện cho trẻ, trên cơ sở đó mà từng bước hình thành nhân cách cho trẻ.

Giáo dục lễ giáo giúp trẻ làm quen một số hành vi, chuẩn mực đạo đức đơn giản, phổ biến, cần thiết với lứa tuổi Mầm non trong quan hệ của trẻ với bản thân, với mọi người xung quanh, với gia đình, nhà trường, môi trường thiên nhiên…Từ đó, hình thành ở trẻ một số nền nếp, thói quen và hành vi đẹp, biết phân biệt cái tốt, cái xấu, cái nào đáng chê trách, cái nào được khen, cái nào nên bỏ, cái nào nên noi theo…

Hẳn ai ai cũng đều mong muốn đứa con yêu của mình lớn lên sẽ được phát triển toàn diện về mọi mặt. Trong hành trang cho trẻ bước vào đời bên cạnh vốn kiến thức cơ bản về thế giới xung quanh, trẻ cần phải mang theo một nhân cách tốt. Vì vậy, trong nhiệm vụ trọng tâm của ngành học Mầm non là phát triển toàn diện cho các cháu về mọi mặt, thì giáo dục lễ giáo là một nội dung được đặt lên hàng đầu. Giáo dục lễ giáo cho trẻ mẫu giáo là một nhu cầu không thể thiếu, không thể xem nhẹ. Trăn trở với mục tiêu chung của giáo dục, là người giáo viên Mầm non tôi nguyện góp một phần sức nhỏ bé của mình vào việc giáo dục lễ giáo cho trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo nhằm góp phần hình thành nhân cách ban đầu cho trẻ. Tôi luôn tìm kiếm các biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục lễ giáo cho các cháu nhằm đạt kết quả tốt nhất.

Năm học 2016-2017tôi được phân công đứng lớp Chồi ở điểm chính, hầu hết các cháu chưa làm quen với môi trường sư phạm. Phần lớn bố mẹ của các cháu làm nông nên việc quan tâm đến con em còn hạn chế. Bên cạnh đó một phần vì mục tiêu của giảm tỷ lệ sinh con nên số con trong mỗi gia đình ít đi, thì trẻ ngày càng được nuông chiều thái quá. Một số phụ huynh chưa hiểu tầm quan trọng của giáo dục lễ giáo cho con em ở lứa tuổi Mầm non, nên thường khoán trắng cho giáo viên. Thời gian đầu trẻ đến lớp với thói quen tự do, hay nói lêu, trả lời có những câu cụt, câu què, ra vào lớp tự nhiên…Các cháu thường có thái độ hành vi chưa đúng, cách ứng xử với bạn bè chưa được thân thiện hòa nhã. Đứng trước tình hình như vậy, tôi rất lo lắng phải dạy trẻ như thế nào và bằng những biện pháp gì để tất cả trẻ lớp tôi có những thói quen và hành vi đạo đức phù hợp với chuẩn mực xã hội.

Đầu tiên cô giáo cần giáo dục trẻ những hành vi văn hoá trong cuộc sống hằng ngày như có thái độ đúng với cô giáo và người lớn, bạn bè, có tình yêu đối với mọi sự vật, hiện tượng xung quanh… Giáo dục lễ giáo nhằm hình thành cho trẻ cơ sở ban đầu về nhân cách của con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì thế, mỗi cô giáo chúng ta có trách nhiệm góp phần đào tạo thế hệ trẻ thành những con người phát triển toàn diện về nhân cách – trí tuệ. Do đó tôi chọn đề tài “Một số biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ 4-5 tuổi”

2/ Mục đích đề tài:

Giáo dục lễ giáo ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ngôn ngữ của trẻ. Qua giáo dục lễ giáo với nhiều hình thức khác nhau, trẻ sẽ tiếp thu và sẽ học theo sự thể hiện của từng nhân vật của các bài thơ, câu chuyện, hình ảnh… Biến những cái có trong bài thơ, câu chuyện thành sự hiểu biết và tiếp xúc hàng ngày của mình, trẻ sẽ ngoan hơn, giỏi hơn. Khi giao tiếp trẻ sẽ nói năng nhẹ nhàng, mạch lạc, có văn hóa trong các câu nói, cử chỉ, hành động của trẻ với mọi người.

Phương tiện tốt nhất để hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ là giáo dục lễ giáo. Qua các hình thức giáo dục lễ giáo có tác động rất mạnh đến sự phát triển đời sống tình cảm của trẻ đối với mọi người, đặc biệt là giao tiếp với cô giáo và bạn bè trong lớp.

Qua giáo dục lễ giáo, trẻ sẽ lĩnh hội được những mối quan hệ và tình cảm gia đình, bạn bè, thầy cô giáo trong các tác phẩm văn học và các hình ảnh có nội dung giáo dục trẻ cao, và qua giao tiếp với bạn bè, cô giáo. Đây là phương tiện giáo dục nhằm hình thành cho trẻ những tình cảm yêu thương gần gũi với mọi người, kính trọng, lễ phép với người thân của mình.

Giáo dục lễ giáo góp phần giúp cho các cháu có thể mạnh dạn tự tin hơn khi đến trường, khi giao tiếp với mọi người xung quanh. Giáo dục lễ giáo được các cháu thể hiện qua mọi hoạt động giao tiếp hàng ngày, qua các giờ hoạt động vui chơi và học tập. Giáo dục lễ giáo còn nhằm hình thành ở trẻ các kỹ xảo và thói quen đạo đức, thói quen có văn hóa với người lớn, với bạn bè, thói quen nói đúng sự thật, giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, ngăn nắp, làm các công việc có ích, có thói quen cố gắng lao động.

3/ Lịch sử đề tài:

Mỗi con người sinh ra và lớn lên luôn cần được sự quan tâm, sự giáo dục kịp thời, nhất là lứa tuổi mầm non. Do đó, ngay từ đầu năm học, nhiệm vụ giáo dục lễ giáo cho các cháu tôi luôn đưa lên đầu và dành nhiều nhiệt quyết để thực hiện mục tiêu này.

4/ Phạm vi đề tài:

Trong năm học 2016-2017 thực hiện nhiệm vụ năm học của ngành phát động và luôn lấy mục tiêu giáo dục lễ giáo cho trẻ là nhiệm vụ hàng đầu trong việc chăm sóc giáo dục trẻ, để góp một phần nhỏ bé của mình vào quá trình hình thành cho trẻ một nhân cách theo mục tiêu của ngành, của toàn xã hội. Chính vì thế tôi đã nghiên cứu và đã vận dụng phương pháp lồng ghép “ Giáo dục lễ giáo cho trẻ 4-5 tuổi” vào trong các môn học, giờ hoạt động vui chơi của các cháu, tuyên truyền đến phụ huynh, thông qua các chế độ sinh hoạt hằng ngày…ngay từ đầu năm học cho đến nay.

II/ NỘI DUNG CÔNG VIỆC ĐÃ LÀM

1/ Thực trạng đề tài:

Ở lớp Chồi 2 mà tôi đang phụ trách, đa phần các cháu là con nông dân, kinh tế gia đình phụ thuộc vào nghề nông là chủ yếu. Do bận rộn với công việc mưu sinh kiếm sống nên một phần phụ huynh chưa nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng của trẻ lứa tuổi mầm non. Các cháu đi học ăn mặc chưa sạch sẽ, đầu tóc chưa gọn gàng, một số cháu vào lớp chưa biết chào cô. Phần đông các cháu còn làm theo ý muốn của mình, chưa biết vâng lời. Khi cô yêu cầu cháu làm một điều gì đó đôi khi cháu tỏ ý không hài lòng, thậm chí còn cãi lại với cô.

Đa số các cháu ở điểm tôi đang phụ trách chưa ra lớp lần nào, chỉ có một số cháu năm học trước được học lớp chồi. Do đó, khi bước vào năm học, trẻ còn rụt rè, lo sợ, có trẻ lại khóc nhè. Một số khác lại xưng hô mày tao với bạn, giành đồ chơi với bạn, đánh bạn, nghịch phá, có cháu còn nói tục chửi thề… Cháu chưa có ý thức tập trung nghe cô giảng bài, luôn làm theo ý muốn của mình, cháu hay đùa giỡn, nói chuyện gây mất trật tự trong giờ học làm cho tiết học kém hiệu quả, ảnh hưởng đến các cháu khác.

Tôi luôn tìm cách khắc phục mọi khó khăn để tạo cho các cháu có một môi trường giáo dục tốt nhất. Thống kê khảo sát chất lượng chuyên đề “Giáo dục lễ giáo” đầu năm học của lớp tôi như sau:

                 Tiêu chí

Thời gian

Tiêu chí 1

Biết vâng lời, giúp đỡ bố mẹ, cô giáo những việc vừa sức.

Tiêu chí 2

Cố gắng tự hoàn thành công việc được giao.

Tiêu chí 3

Biết biểu lộ cảm xúc:vui ,buồn, sợ hãi, tức giận, ngạc nhiên, xấu hổ

Tiêu chí 4

Biết an ủi, chia vui với người thân và bạn bè

Tiêu chí 5

Biết nói lời cảm ơn, xin lỗi, chào hỏi lễ phép.

Tiêu chí 6

Thích chăm sóc cây, con vật quen thuộc.

Tiêu chí 7

Biết nhắc nhở người khác giữ gìn và bảo vệ môi trường.

Tháng 9/2014

14/28

50%

17/28

60,7%

16/28

57,1%

14/28

50%

18/28

64,3%

19/28

67,9%

16/28

57,1%

Dựa vào những vấn đề nêu ở trên, tôi đã tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra một số biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ trong nhà trường Mầm non. Vì thiết nghĩ nhà trường là nơi giáo dục đạo đức cho các cháu tốt nhất.

2/ Những vấn đề cần giải quyết:

Tôi luôn tự hỏi phải giáo dục các cháu như thế nào để các cháu có được những nền tản cơ bản của chuẩn mực đạo đức xã hội, góp phần vào hành trang cho các cháu bước vào lớp một. Từ những thực tế trên tôi nhận thấy để giáo dục cho trẻ Mầm non có những hành vi chuẩn mực ban đầu cần thực hiện các nội dung sau:

– Lồng ghép giáo dục lễ giáo thông qua các hoạt động học tập.

– Xây dựng góc tuyên truyền, nêu cao vai trò của phụ huynh trong việc giáo dục trẻ.              

– Giáo dục lễ giáo thông qua các tác phẩm văn học, thơ ca.

– Giáo dục lễ giáo thông qua các hoạt động tập thể.                        

3/ Biện pháp giải quyết:

Trong trường Mầm non không có giờ đạo đức riêng, mà thông qua sử dụng hình thức tích hợp với nội dung bài dạy của các lĩnh vực để hướng trẻ tới cảm xúc, tình cảm, hành vi lễ giáo. Nắm được đặc điểm tình hình của từng cháu, tôi chọn ra một số biện pháp như sau:

Hoạt động chủ đạo của trẻ ở lứa tuổi Mầm non là vui chơi. Chơi là hoạt động của trẻ mẫu giáo tạo ra những nét tâm lý mới tiêu biểu là sự hình thành nhân cách trong mối quan hệ giữa trẻ em cùng chơi với nhau. Đối với trẻ mẫu giáo chơi là cuộc sống của trẻ, không chơi trẻ không thể phát triển đuợc, trong trò chơi trẻ học cách sử dụng đồ vật, học những quy tắc ứng xử giữa con người với con người. Vì vậy, trong công tác giáo dục lễ giáo cho các cháu trò chơi là phương tiện giáo dục mạnh mẽ nhất.

Ví dụ:

– Chủ điểm “Gia đình”, trẻ chơi trò chơi đóng vai “Gia đình của bé”. Trẻ biết tự phân vai chơi cho nhau: một trẻ đóng vai mẹ, một trẻ đóng vai bố và một trẻ đóng vai con. Trẻ biết được:

          + Bố thường đi làm việc, bố luôn thương yêu mẹ và các con, chăm sóc cho các con, dạy con học, đưa con đến trường.

          + Mẹ là người nấu cơm cho con ăn, tắm rửa cho con, đưa con đi học, dạy con học bài…

          + Con lúc nào cũng phải yêu thương, kính trọng bố mẹ, vâng lời bố mẹ, khi nói chuyện phải biết dạ thưa, khi có khách đến nhà phải biết chào hỏi. Biết giúp đỡ bố mẹ những công việc vừa sức: rửa chén, quét nhà, phụ mẹ nấu cơm, trông em…

Thông qua trò chơi trẻ được tiếp xúc với đồ dùng đồ chơi. Cô nên tạo ra những đồ dùng đồ chơi mang tính thẩm mỹ, hấp dẫn trẻ bằng vẻ trong sáng giản dị giúp trẻ hình thành thị hiếu thẩm mỹ. Qua đó giáo dục các cháu biết giữ gìn đồ dùng đồ chơi cẩn thận, biết lau chùi sạch sẽ, lấy và cất dọn gọn gàng đúng nơi quy định, nhằm hình thành ở trẻ nền nếp thói quen trong sinh hoạt vui chơi. Đồng thời qua đó giúp các cháu yêu thích đồ dùng đồ chơi, cảm thụ được cái đẹp, yêu thích các sản phẩm của mình và bạn tạo ra trong quá trình chơi.

Ví dụ:

– Ở chủ điểm “Vật nuôi trong gia đình” quan sát trẻ chơi ở góc xây dựng, tôi thấy: Cháu lấy đồ chơi xây dựng (hàng rào, cây xanh, chuồng trại…) một cách nhẹ nhàng, cẩn thận. Cháu xây được mô hình “Nông trại vui vẻ” với các chuồng trại: chuồng heo, chuồng bò, chuồng gà…Cháu biết cảm nhận được cái đẹp từ mô hình cháu xây dựng nên, từ đó giúp cháu yêu thích các đồ dùng đồ chơi và vai chơi của mình. Sau giờ chơi, tôi thấy cháu biết phân công nhau cất đồ chơi vào đúng nơi ban đầu lấy xuống.

– Cũng ở chủ điểm “Vật nuôi trong gia đình”, cháu vào góc nghệ thuật và nặn một số vật nuôi đơn giản. Cháu tạo ra được chú gà con màu vàng xinh xắn, chú heo con màu hồng mũm mĩm. Quan sát tôi thấy cháu rất thích thú và trân trọng sản phẩm mình tạo ra, biết cất dọn học cụ vào kệ gọn gàng ngay ngắn.

          Trò chơi cũng giúp cho các em nâng cao tính kỷ luật, tự giác thông qua việc ý thức được các vai trò trong cuộc chơi, chấp hành các quy định của trò chơi một cách tự nguyện. Dần dần điều đó sẽ hình thành ở trẻ một thói quen tốt là tự đặt ra cho mình những nguyên tắc về kỷ luật, làm nền tảng cho các hoạt động sau này.

Để vai chơi luôn đạt kết quả cao trong giáo dục đạo đức cho các cháu tôi chú trọng cách sắp xếp, bố trí các góc chơi gọn gàng, hấp dẫn trẻ; sân chơi luôn sạch sẽ, thoáng mát, đầy đủ ánh sáng và không khí trong lành. Tôi luôn tìm tòi sáng tạo trong việc làm ra đồ dùng đồ chơi cho trẻ. Với tôi đồ chơi phải phong phú nhiều dáng vẻ để có thể sử dụng vào nhiều loại trò chơi. Đồng thời đồ chơi còn phải mang tính thẩm mỹ hấp dẫn trẻ bằng vẻ trong sáng giản dị, giúp trẻ hình thành thị hiếu thẩm mỹ. Tôi chú trọng sử dụng nhiều đồ chơi dân gian. Cần tránh những đồ chơi sắc nhọn dễ gây thương tích hoặc những thứ độc hại, những đồ chơi bạo lực. Việc tiếp xúc với đồ dùng đồ chơi trong quá trình chơi giúp các cháu biết yêu quý, trân trọng giữ gìn bảo vệ các đồ dùng đồ chơi, sau khi chơi xong biết sắp xếp đồ dùng đồ chơi vào đúng nơi quy định.

Ví dụ:

Trò chơi ĐVTCĐ có tác động rất mạnh đến sự phát triển đời sống tình cảm trẻ mẫu giáo. Trẻ lao vào chơi với tất cả tinh thần say mê của nó. Trong khi vui chơi trẻ tỏ ra vui sướng và nhiệt tình. Khi phản ánh vào trò chơi những mối quan hệ giữa người và người và nhập vào những mối quan hệ đó thì những rung động mang tính người của trẻ được gợi lên. Trong trò chơi trẻ đã thể hiện được tình người, như thái độ chu đáo, ân cần, sự đồng cảm, tinh thần tương trợ và một số phẩm chất đạo đức khác.

Ví dụ:

– Ở góc bán hàng, trẻ đóng vai người mua hàng và người bán hàng.

          + Người bán hàng: Biết chào hỏi, mời khách mua hàng, bán đúng giá, không bán giá đắt. Thái độ ân cần vui vẻ với khách hàng, biết cảm ơn khi bán được hàng và nhận tiền…

          + Người mua hàng: Bên cạnh việc biết gọi tên các mặt hàng cần mua, người mua phải vui vẻ, biết đưa tiền và nhận hàng bằng hai tay, biết cảm ơn khi nhận hàng và trả tiền cho người bán…

Hoạt động vui chơi, mà trung tâm là trò chơi ĐVTCĐ ở tuổi mẫu giáo thực sự đóng vai trò chủ đạo. Ý nghĩa chủ đạo thể hiện trước hết là ở chỗ nó giúp tẻ giải quyết mâu thuẫn trong bước phát triển từ tuổi ấu nhi lên tuổi mẫu giáo. Trò chơi là phương tiện góp phần phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Trò chơi tạo ra những nét tâm lý đặc trưng cho tuổi mẫu giáo, mà nổi bật là tính hình tượng và tính dễ xúc cảm, khiến cho nhân cách của trẻ mẫu giáo mang tính độc đáo khó tìm thấy ở các lứa tuổi khác. Do đó tổ chức trò chơi chính là tổ chức cuộc sống của trẻ. Trò chơi là phương tiện để trẻ học làm người.

3.2/Lồng ghép giáo dục lễ giáo cho trẻ thông qua các hoạt động học tập.

Như chúng ta đã biết, ở trường mầm non không có giờ đạo đức riêng, mà thông qua sử dụng hình thức tích hợp, lồng ghép với nội dung bài dạy của các lĩnh vực để dạy và hướng trẻ tới cảm xúc, tình cảm, hành vi lễ giáo. Qua các tiết học hằng ngày trẻ được tham gia vào nhiều hoạt động như: Hát- múa, đọc thơ, kể chuyện, làm quen môi trường xung quanh, toán,… Chính vì vậy, lồng ghép nội dung giáo dục lễ giáo vào các hoạt động có nhiều ưu thế nhằm hình thành cho trẻ những thói quen, hành vi lễ phép, có văn hoá .

Ví dụ : qua giờ khám phám khoa học (về cây xanh )

Cô giáo có thể đàm thoại: cây xanh để làm gì? cây xanh có lợi như thế nào ?

Muốn có nhiều cây xanh chúng ta phải làm gì ?

Qua lợi ích của cây xanh, cô giáo dục cháu không ngắt ngọn bẻ cành, mà phải biết bảo vệ chăm sóc cây xanh để cây cho ta  nhiều  lợi ích và phê phán những tệ nạn chặt cây phá rừng gây ô nhiễm môi trường, gây ra những thảm hoạ thiên tai như: cháy rừng, lũ quét.

   Đối với giờ học tạo hình : tô màu người thân trong gia đình

Cô có thể đàm thoại .

Gia đình cháu gồm có những ai ?

Gia đình cháu thuộc gia đình nhỏ hay gia đình lớn ?

Mọi người sống trong gia đình phải như thế nào với nhau ?

Giáo dục trẻ biết yêu thương, kính trọng hiếu thảo với ông bà, cha mẹ ngoan ngoãn, vâng lời chăm chỉ học hành, lễ phép .

+ Giờ làm quen văn học :qua câu chuyện bác gấu đen và hai chú thỏ

Cô đàm thoại với trẻ :

Thỏ xám có tính cách như thế nào ?

Thỏ trắng có tính cách như thế nào ?

Con thích nhân vật nào nhất ?vì sao ?

Cô giáo dục cháu lòng thật thà, chăm lo lao động, dạy, hình thành cho trẻ lòng nhân ái đối với mọi người xung quanh, giúp đỡ các bạn cùng lớp, bảo vệ những bạn mới đến lớp bằng cách chơi với các bạn, nhường đồ chơi  và biết hướng dẫn bạn cách chơi.

+ Giờ học âm nhạc :Bài hát “Bông hoa mừng cô”

Đàm thoại :

Đối với cô giáo các con phải như thế nào ?

Khi tặng hoa cho cô, các con tặng bằng mấy tay ?

Thông qua đó giáo dục trẻ khi nhận hoặc trao vật gì với người lớn nên trao hoặc nhận bằng hai tay, khi nhận các con nói lời cám ơn. Vì thế mà cô giáo luôn là người mẹ thứ hai để giáo dục chăm sóc và nuôi dạy trẻ những kỹ năng sống  ở trong trường mầm non cũng như ở ngoài xã hội trẻ luôn có thái độ lễ phép ngoan như gặp người lớn tuổi ở nhà hay ngoài đường trẻ sẽ khoanh tay chào con chào ông, bác, cô, chị ạ .

Cô luôn hướng trẻ đến những điều tốt đẹp, đến cái thiện trong cuộc sống, tránh xa những cái xấu, cái ác. Dạy trẻ phải biết học tập và làm theo tấm gương của Bác Hồ. Cô giúp cháu biết được Bác là vị lãnh tụ vĩ đại của nước Việt Nam, Bác giản dị và hiền từ, nhưng giàu tình thương yêu, nhân ái. Lúc sinh thời Bác luôn lo cho dân cho nước, quan tâm chăm sóc các cháu thiếu nhi. Bác là một người cha mà tất cả mọi ngưòi đều kính mến, yêu quý.

Ví dụ:

– Qua câu chuyện “Niềm vui bất ngờ”, cô giúp các cháu biết đuợc Bác rất giản dị, hiền từ, luôn thuơng yêu các cháu thiếu nhi. Và các cháu thiếu nhi cũng vậy, ai cũng xúc động khi được gặp Bác vì ai cũng yêu quý Bác. Qua đó, cô giáo dục các cháu phải biết chăm ngoan học giỏi, vâng lời cô để xứng đáng là cháu ngoan Bác Hồ.

Qua các tiết học cô dạy các cháu biết yêu quý thầy cô giáo của mình, những người đã yêu thương, lo lắng cho các cháu, trang bị cho các cháu hành trang kiến thức để bước vào đời. Giúp các cháu biết ơn và yêu kính các cô chú bộ đội đang bảo vệ biên giới, các chú công an đang giữ gìn trật tự xã hội để cho các cháu có được cuộc sống yên bình. Giúp các cháu biết ơn các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh để bảo vệ đất nước, cho các cháu được cắp sách đến trường.

Ví dụ:

– Qua sự kiện ngày 20/11 với đề tài “Cô giáo của em”. Cô dạy trẻ biết được công việc của người giáo viên là dạy cho các cháu học. Lúc nào cô cũng thương yêu các cháu, mong các cháu học cho thật giỏi để sau này trở thành người có ích cho xã hội. Qua đó, trẻ biết yêu kính thầy cô của mình, ý thức được sẽ vâng lời cô và luôn chăm ngoan học giỏi.

– Qua sự kiện ngày 22/12- ngày thành lập quân đội nhân dân Việt Nam. Trẻ biết đuợc công việc của các cô chú bộ đội là rất vất vả. Các cô chú phải ngày đêm canh giữ đất trời ở tận nơi rừng núi cao hay nơi hải đảo xa xôi để cho các cháu có được cuộc sống yên bình mà an tâm học tập. Qua đó, trẻ biết ơn các cô chú bộ đội và sẽ chăm học hơn nữa để không phụ lòng các cô chú ấy.

Trong hoạt động tổ chức các tiết học, các nhóm trẻ phải biết giúp đỡ lẫn nhau, mở rộng tìm năng và thành tựu đạt được bằng những năng lực tình cảm mới, chia sẻ tình cảm yêu thương chăm sóc những người gần gũi. Qua đó giáo dục lễ giáo cho các cháu, giúp cháu có ý thức trong cuộc sống hàng ngày và giúp trẻ có cách ứng xử tốt để trưởng thành và thể hiện sự yêu thương những người thân trong gia đình, những người xung quanh trẻ.

3.3/ Xây dựng góc tuyên truyền, nêu cao vai trò của phụ huynh trong việc giáo dục trẻ.

Trường tôi mỗi lớp đều có góc tuyên truyền. Ở góc tuyên truyền của lớp tôi thường xuyên cắt dán thay đổi hình ảnh có nội dung giáo dục lễ giáo cho các cháu, hoặc cắt dán một số bài thơ, câu đố, truyện thơ, bài hát, ca dao…về chuyên đề giáo dục lễ giáo cho các cháu và phụ huynh cùng xem. Trẻ em có đặc điểm dễ nhớ nhưng lại mau quên. Song, trẻ được trực quan bằng hình ảnh những gương tốt, hoặc qua thơ, qua chuyện thì trẻ dễ tiếp thu, dễ phân biệt việc làm nào tốt, việc làm nào xấu.

Ví dụ:

Từng tháng tôi lên kế hoạch có yêu cầu nội dung cao hơn, bên cạnh đó tôi thay tranh ảnh bài thơ có nội dung phù hợp với chủ điểm từng tháng. Góc tuyên truyền thường để ngoài cửa tiện cho phụ huynh dễ nhìn, qua đó giúp cho các bậc phụ huynh biết được kế hoạch chăm sóc của nhà trường để có hướng nhắc nhở con cái.

Ngoài ra tôi còn sưu tầm tranh truyện, sách báo nhi đồng có hình ảnh và nội dung về lễ giáo phù hợp với trẻ làm thành một album, để đến giờ hoạt động chơi trẻ về góc học tập có thể mở ra xem.

Thường xuyên trao đổi với phụ huynh về thói quen của trẻ, về sự thay đổi của trẻ trong ngày để có hướng giáo dục trẻ tốt hơn, thuận lợi hơn.

Ví dụ:

– Vào giờ đón trẻ hoặc trả trẻ, cô có thể trò chuyện, trao đổi với phụ huynh về đặc điểm, thói quen hàng ngày của trẻ như: sáng trẻ đi học có thưa ông bà không, khi có khách đến nhà trẻ có thưa không, khi nhận vật gì đó từ người lớn trẻ có nhận bằng hai tay không, trẻ có nói tục chửi thề hay nói những câu trổng không không…Từ đó, cô biết được thói quen của trẻ, biết được đặc điểm tâm lý của trẻ mà tìm ra biện pháp giáo dục trẻ có hiệu quả.

Mời phụ huynh tham gia dự giờ các tiết thao giảng, thanh tra để phụ huynh nắm được tình hình học cũng như các mặt khác của trẻ mà kịp thời giáo dục thêm cho trẻ lúc ở nhà.

Ví dụ:

– Mời phụ huynh dự giờ tiết hoạt động chơi giúp cho phụ huynh thấy được cách trẻ giao tiếp, ứng xử, chơi với nhau. Phụ huynh sẽ thấy được mặt mạnh cũng như mặt yếu của con mình để có phương pháp dạy thêm cho trẻ ở nhà.

     Muốn giáo dục lễ giáo cho trẻ được tốt thì bản thân giáo viên và phụ huynh phải là tấm gương sáng, gương mẫu cho trẻ noi theo. Mọi hoạt động của cô, của người lớn đều ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ vì vậy khi giao tiếp với phụ huynh lời nói của cô phải luôn chuẩn mực, lịch sự, nhằm làm gương cho trẻ noi theo. Đồng thời phải luôn tôn trọng lắng nghe ý kiến của phụ huynh để tạo cho phụ huynh sự tin tưởng.

Phụ huynh phải luôn là tấm gương để trẻ noi theo. Trong cuộc sống hàng ngày, trẻ thường hay học hỏi và bắt chước theo người lớn rất nhanh, nhất là các lời nói và hành động của bố mẹ. Do đó phụ huynh cần phải tránh những hành động lời nói thiếu văn hóa trước mặt trẻ.

Ví dụ:

– Người lớn luôn dạy trẻ không được xưng mày tao, thế nhưng có một số gia đình lại gọi con bằng mày, hay có một số phụ huynh có thói quen nói những câu thiếu văn minh trong giao tiếp làm cho trẻ cũng học hỏi theo… Chính điều này đã gây không ít khó khăn trong việc uốn nắn trẻ.

Kết hợp với phụ huynh và nhà trường giúp trẻ có lối sống biết giao tiếp, ứng xử với mọi người xung quanh. Khi nói chuyện với người lớn phải biết trả lời “dạ thưa”. Khi người lớn hỏi phải trả lời “vâng dạ”, không được chỉ gật hay lắc đầu. Trong giờ học nếu muốn phát biểu trẻ phải giơ tay, khi được đưa cho vật gì phải nhận bằng hai tay và phải biết cảm ơn, khi có lỗi phải biết nhận lỗi và xin lỗi.

Các bậc phụ huynh và cô giáo có ảnh hưởng nhiều nhất đến trẻ, luôn là những tấm gương cho trẻ nhìn vào mà học tập. Trẻ con bắt chước rất nhanh nhất là các thói xấu của người lớn. Do đó, người lớn nên để ý các hành vi ứng xử của mình trong khi giao tiếp với bạn bè, họ hàng xung quanh. Cha mẹ có lối sống tốt là cách tốt nhất và thuận lợi nhất để giáo dục con cái có lối sống tốt. Qua những tính cách đó sẽ giúp nuôi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp làm tăng sự phát triển của con trẻ. Để việc giáo dục đạt hiệu quả tốt nhất tôi đã phối hợp chặt chẽ với phụ huynh (trò chuyện trao đổi trong các giờ đón và trả trẻ, thông qua sổ bé ngoan…). Việc tuyên truyền giáo dục lễ giáo cho phụ huynh nắm là điều rất cần thiết, từ đó phụ huynh có ý thức giáo dục lễ giáo cho trẻ lúc ở nhà. Qua thời gian trẻ lớp tôi tiến bộ rõ rệt như xưng hô lễ phép lịch sự trong giao tiếp nhờ sự giáo dục bằng phương châm “Trường học là nhà, nhà là trường học”.

3.4/Giáo dục lễ giáo thông qua các tác phẩm văn học, thơ ca.

Tôi nhận thấy giáo dục lễ giáo cho trẻ thông qua các tác phẩm văn học, thơ ca đạt kết quả cao nhất và trẻ hứng thú nhất.

Ví dụ: Dạy kể truyện “ Ai đáng khen nhiều hơn ”Tôi nhấn mạnh cho trẻ biết những hành vi và việc làm tốt của thỏ anh như vâng lời mẹ, biết giúp mọi người khi gặp khó khăn, biết nhường nhịn em nhỏ…. Giáo dục trẻ phải ngoan ngoãn vâng lời bố mẹ, nhường nhịn em nhỏ, biết yêu thương giúp đỡ mọi người. Tôi gợi ý hỏi trẻ để trẻ xin phép được kể những việc làm của mình đã giúp bố mẹ ở nhà như: Trông em quét nhà xứng đáng với lời Bác Hồ đã dạy “ Tuổi nhỏ làm việc nhỏ tuỳ theo sức của mình ”vì vậy giờ học rất sinh động, gây hứng thú lôi cuốn trẻ vào giờ học đạt kết quả cao.

Với câu chuyện “ Đôi bạn tốt” tôi tìm tòi nghiên cứu, sưu tầm về tính cách các nhân vật với các biểu hiện sắc thái khác nhau, để tìm ra cái hay, cái sáng tạo qua nhân vật nhằm thu hút trẻ, kích thích sự hứng thú của trẻ, giúp trẻ dễ dàng cảm nhận được nội dung câu chuyện.Tôi nghiên cứu làm rối que, rối tay để biểu diễn cho trẻ xem để trẻ hiểu rõ hơn các nhân vật, hiểu nội dung câu chuyện.

Ngoài ra, tôi còn cho trẻ đóng vai các nhân vật trong câu chuyện nhằm giúp trẻ hiểu rõ hơn các nhân vật, hiểu nội dung câu chuyện.Thông qua câu chuyện giáo dục trẻ không chê bai bạn bè, biết yêu thương, quan tâm, giúp đỡ bạn khi bạn gặp khó khăn.

     

Thông qua các bài thơ, câu chuyện tôi thường giáo dục trẻ như hằng ngày bố mẹ làm việc vất vả để nuôi các con, vì vậy các con phải biết phụ giúp, đỡ đần cho bố mẹ bớt những công việc vừa sức của mình như: quét  nhà , cho gà ăn, tưới nước cho hoa, chăm sóc nhổ cỏ cho các cây  và còn phải học hành thật là chăm chỉ. Tôi dán tranh “Bé quét nhà”, “Bé cho gà ăn thóc”, “Bé cùng chị tưới nước, bắt sâu cho hoa” và ghép với bài thơ

Buổi sáng

Sáng nào cũng vậy

Bé dậy cùng bà

Ra trước sân nhà

Tập bài thể dục

Đánh răng rửa mặt

Lấy chổi quét nhà

Cho gà ăn thóc

Thương ba khó nhọc

Bé học chuyên cần

Thương mẹ tảo tần

Bé ngoan lễ phép.

Khi giáo dục trẻ hành vi không tham lam, khi thấy vật gì của ai đánh rơi thì nhặt trả lại cho người mất, tôi cho trẻ đọc bài thơ đồng dao:

“ Bà hai đi chợ mua rau

Cái tôm cái tép đi sau lưng bà

Tiền bà trong túi rơi ra

Tép, tôm nhặt được trả bà mua rau”

Giáo dục trẻ hành vi trong lớp không được nói chuyện riêng, khi có cô giáo hoặc có người vào lớp thì phải biết chào hỏi lễ phép. Tôi dán tranh “ Bé chào bà” và ghép với bài thơ:

Trong lớp

Thấy cô vào lớp

Nhớ khoanh tay chào

Đừng làm ồn ào

Khi nghe cô hỏi

Lúc nào muốn nói

Em nhớ thưa cô

Trong các hoạt động tôi rèn cách nói năng, cách chào hỏi, biết cảm ơn, xin lỗi. Để trẻ nhớ lâu tôi dạy trẻ qua bài thơ:

Cảm ơn và xin lỗi

“Ai giúp cho cái gì

Nhớ cảm ơn ngay đi

Lỡ làm điều sai trái

Dù với ai cũng vậy

Xin lỗi cho đàng hoàng

Muốn trẻ thành bé ngoan

Phải biết làm như vậy”.

Muốn trẻ nắm được nội quy ra vào lớp tôi dạy trẻ thuộc bài thơ:

Ra vào lớp

“Khi đi em bước nhẹ nhàng

Không làm xô ghế động bàn mới ngoan

Ra vào lớp nhẹ chân tay

Không như lúc ở ngoài sân nô đùa

Nhắc nhau nhường bước người già

Những người mang nặng mới là bé ngoan”.

Thông qua các bài thơ câu chuyện chúng ta có thể truyền tải những kiến thức, những kỹ năng cần thiết của cuộc sống cho trẻ một cách nhẹ nhàng không gò bó.Qua những bài thơ câu truyện giúp trẻ hình thành một số thói quen, hành vi văn minh trong cuộc sống hằng ngày.

3.5. Giáo dục lễ giáo thông qua các hoạt động tập thể.                        

Ông cha ta có câu ”Tiên học lễ, hậu học văn” nghĩa là nhiệm vụ học đầu tiên của mỗi con người phải là lễ nghĩa, học cách làm người sau đó mới đến văn hoá, kiến thức. Chính vì vậy giáo dục lễ giáo cho trẻ mầm non có một vai trò quan trọng bởi trẻ mầm non là lứa tuổi dễ tiếp thu nhất. Xác định rõ được điều đó tôi luôn chú trọng việc giáo dục lễ giáo cho trẻ thông qua các hoạt động tập thể thông qua tổ chức ngày hội, ngày lễ .

Qua “Ngày hội đến trường của bé” các bé được biết ý nghĩa của ngày khai trường là ngày đầu tiên của năm học, được giao lưu gặp gỡ bạn bè, được tham gia vào các tiết mục văn nghệ, được cô yêu thương vỗ về, được làm quen với bạn mới… Từ đó, giáo dục cho trẻ yêu trường, yêu lớp, kính trọng cô giáo, quan tâm tới bạn bè. Hay qua ngày hội “Vui trung thu nhớ Bác Hồ” để mọi người, mọi gia đình và toàn xã hội dành cho các bé sự quan tâm, chăm lo và những tình cảm yêu thương trìu mến. Từ đó, giáo dục trẻ biết bày tỏ lòng cảm ơn đối với những người đã quan tâm đến mình, giáo dục trẻ tinh thần đoàn kết với bạn, biết xếp hàng đợi đến lượt mình… Qua tổ chức kỷ niệm ngày nhà giáo Việt Nam giáo dục trẻ biết qúy trọng, nghe lời cô giáo.

Qua các Hội thi để giáo dục trẻ tính mạnh dạn trong giao tiếp, nói năng lễ phép, biết phối hợp với bạn, chơi trò chơi đúng luật,…

Qua tổ chức “Kỉ niệm ngày sinh nhật Bác 19/5” để giáo dục trẻ biết nhớ ơn, yêu quý, kính trọng Bác Hồ,  kính yêu người luôn dành sự quan tâm đến các cháu khi Bác còn sống.

Thông qua việc tổ chức cho trẻ tham gia vào hoạt động ngày hội, ngày lễ  ngoài giúp trẻ hiểu ý nghĩa của những ngày lễ lớn, truyền thống của dân tộc mà thông qua đó giáo dục trẻ lòng tự hào dân tộc, biết ơn những người đi trước, người lớn tuổi, từ đó khuyến khích trẻ học tập và phấn đấu thành người có ích sau này.

– Giáo dục trẻ có ý thức biết giữ gìn bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp như nhặt rác, thu gom lá cây khô, ý thức bỏ rác vào sọt rác không vứt rác bừa bãi,…

– Tổ chức cho trẻ chăm sóc cây, hoa ở góc thiên nhiên của trường, lớp.Giáo dục trẻ biết yêu quí và chăm sóc cây xanh, hoa của trường, lớp.

4/ Kết quả chuyển biến của đối tượng.

Sau những biện pháp tôi nghiên cứu và thực hiện chất lượng giáo dục về lễ giáo tăng lên rõ rệt đó là điều làm tôi phấn khởi, yêu nghề, yêu trẻ càng nhiều, giúp tôi có nghị lực trong công tác.

Trẻ đã ngoan hơn, lễ phép hơn, trẻ được hình thành những thói quen vệ sinh văn minh, biết chào hỏi khi có khách đến, biết trao nhận bằng hai tay, biết quan tâm giúp đỡ bạn bè, cô giáo, ba mẹ, không nói tục, đánh bạn, kính trọng cô giáo và người lớn, biết trung thực thật thà, yêu mến tất cả mọi người xung quanh và yêu quê hương đất nước.

Các bậc phụ huynh cũng có những chuyển biến rõ rệt về lời ăn tiếng nói, về phong cách và quan tâm ngày càng nhiều đến con em mình hơn.

Bản thân tôi được trao đổi kiến thức và kinh nghiệm dạy trẻ qua các môn học, các hoạt động, được phụ huynh và các đồng nghiệp quý mến và tin yêu hơn.

Qua khảo sát các tiêu chí lớp tôi đạt được kết quả như sau:

        Tiêu chí

Giai đoạn

Tiêu chí 1

Biết vâng lời, giúp đỡ bố mẹ, cô giáo những việc vừa sức.

Tiêu chí 2

Cố gắng tự hoàn thành công việc được giao.

Tiêu chí 3

Biết biểu lộ cảm xúc:vui ,buồn, sợ hãi, tức giận, ngạc nhiên, xấu hổ

Tiêu chí 4

Biết an ủi, chia vui với người thân và bạn bè

Tiêu chí 5

Biết nói lời cảm ơn, xin lỗi, chào hỏi lễ phép.

Tiêu chí 6

Thích chăm sóc cây, con vật quen thuộc.

Tiêu chí 7

Biết nhắc nhở người khác giữ gìn và bảo vệ môi trường.

I

18/28

64,3%

22/28

78,6%

21/28

75%

22/28

78,6%

20/28

71,4%

21/28

75%

20/28

71,4%

II

22/28

78,5%

23/28

82,1%

24/28

85,7%

23/28

82,1%

23/28

82,1%

24/28

85,7%

22/28

78,5%

III

26/20

92,8%

26/20

92,8%

27/28

96,4%

26/20

92,8%

26/20

92,8%

26/20

92,8%

26/20

92,8%

III/ KẾT LUẬN

1/ Tóm lược giải pháp

Qua việc thực hiện giáo dục lễ giáo cho các cháu, tôi rút ra được một số kinh nghiệm như sau:

Cô giáo cùng các bậc phụ huynh phải luôn là tấm gương sáng cho trẻ noi theo. Người lớn đóng vai trò vừa là nhà giáo dục vừa là một người bạn gần gũi thân thiết với trẻ. Thông qua giao tiếp, người lớn sẽ dễ dàng hướng trẻ đến những điều hay, lẽ phải của cuộc sống .

Mọi hoạt động trong nhà trường, trong lớp học đều giúp trẻ hình thành thói quen tốt. Vì vậy cô nên tìm cách sắp xếp các hoạt động cho trẻ, bố trí các góc chơi, sân chơi và lồng ghép giáo dục lễ giáo vào sao cho thích hợp và có hiệu quả nhất.

Bên cạnh đó, cô giáo luôn phối hợp với phụ huynh để nắm được những đặc điểm yếu kém về hành vi đạo đức cho cháu mà giáo dục, uốn nắn cháu kịp thời.

Cô luôn động viên khuyến khích trẻ làm điều tốt. Tuyên dương trẻ khi trẻ làm được việc để trẻ thấy được mình cũng quan trọng, việc làm của mình có ích, trẻ sẽ có niềm vui và động lực để làm những việc sau nữa tốt hơn.

2/ Phạm vi đối tượng áp dụng

Đề tài “Một số biện pháp giáo dục lễ giáo cho trẻ 4-5tuổi” đã và đang áp dụng cho lớp Chồi 2 của tôi phụ trách. Tôi nhận thấy những biện pháp nêu trên rất đơn giản, bất cứ người giáo viên nào cũng có thể áp dụng thực hiện được cho lớp mình. Nội dung giáo dục phù hợp với tất cả trẻ ở độ tuổi 4-5 tuổi. Tuy nhiên tùy theo điều kiện của từng lớp, cô giáo xây dựng kế hoạch khác nhau nhằm mang lại hiệu quả giáo dục cao cho lớp mình.

                                                         

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Sử Dụng Phương Pháp Qui Nạp Để Giải Một Số Bài Toán Không Mẫu Mực

ố kinh nghiệm , kiến thức về giải các bài toán không mẫu mực bằng phương pháp qui nạp nên xin được trao đổi chút ít kinh nghiệm của mình để có thể giúp các bạn tham khảo. Đồng thời mong muốn được trưng cầu ý kiến đóng góp bổ sung của các đồng nghiệp để ngày càng hoàn thiện hơn giúp chúng ta đạt được kết quả ngày càng cao hơn trong công tác bồi dưỡng học sinh khá giỏi. II/ Thực trạng của vấn đề nghiên cứu : ở cấp trung học cơ sở khi hướng dẫn bồi dưỡng học sinh giỏi, đa số giáo viên chỉ dừng ở mức độ thông báo về cách giải bài tập bằng phương pháp qui nạp, các bước của giải bài toán bằng phương pháp qui nạp, các dạng bài tập chỉ ở mức độ đơn giản ít khai thác, phân tích mở rộng bài toán dẫn đến khi người học gặp bài -Giúp học sinh học tập môn toán nói chung và việc giải các bài toán không mẫu mực nói riêng một cách chủ động và sáng tạo hơn, nhằm nâng cao năng lực học môn toán giúp các em chủ động trong việc tiếp thu các kiến thức mơí đặc biệt là kiến thức khó. -Gây hứng thú cho học sinh trong việc tìm ra lời giải của bài toán khó bằng phương pháp độc đáo qua đó vun đắp lòng say mê học toán của học sinh. -Rèn luyện tính cần cù, năng động sáng tạo trong giải toán của học sinh. B. Giải quyết vấn đề: I/ Các giải pháp thực hiện : - Thông qua bài toán cụ thể giúp học sinh hiểu rõ bản chất của phương pháp giải bài toán bằng qui nạp, các bước giải bài toán bằng qui nạp và cách giải bài toán bằng qui nạp -Giải một số bài toán mẫu để giúp học sinh áp dụng dễ dàng hơn phương pháp này vào việc giải các bài toán khó đặc biệt chỉ rõ cho học sinh thấy và nhận biết được từng bước cụ thể trong phương pháp giải bài toán bằng qui nạp. II/ Các biện pháp để tổ chức thực hiện: 1/ Hướng dẫn học sinh giải một bái toán cụ thể bằng phương pháp qui nạp. -Xét đẳng thức 1 + 8 + 27 + 64 = 100. -Ta có thể nhận xét gì về vế trái của đẳng thức này ? +Vế trái của đẳng thức này là lập phương của những số nguyên liên tiếp còn vế phải là một bình phương. -Vậy ta có thể viết đẳng thức trên ở dạng nào? + 13 + 23 + 33 + 43 = 102 *Vậy vấn đề đặt ra là tổng những lập phương của những số tự nhiên liên tiếp có luôn là một bình phương không? -Xét tổng các lập phương liên tiếp. 13 +23 + 33 +....+ n3 -Như vậy chúng ta đã đi từ trường hợp riêng n=4 mà đi tới bài toán tổng quát . -Hãy giải bài toán tổng quát đó ? +Xét những trường hợp riêng khác ta có bảng sau. 1 = 1 = 12 1 + 8 = 9 = 32 1 + 8 + 27 = 36 =62 1 + 8 + 27 + 64 = 100 = 102 1 + 8 + 27 + 64 +125 = 225 = 152 ...... -Như vậy ta có thể suy ra tính chất nào ? "Tổng của lập phương n số tự nhiên khác 0 đầu tiên là một bình phương" -Vậy tại sao tổng các lập phương liên tiếp lại là một bình phương? - Ta xét thêm những trường hợp mới n = 6 ; 7...kết quả cũng nhận được tương tự. Quay về những trường hợp n = 1 ; 2 ; 3 ; 4 ; 5 mà ta đã sắp xếp thành một bảng. -Tại sao tất cả những tổng đó đều là những bình phương? -Ta có thể nói gì về những bình phương đó? +Căn bậc hai của chúng theo thứ tự bằng : 1 ; 3 ; 6 ; 10 ; 15. -Ta có nhận xét gì về những căn bậc hai đó? +Chúng tăng dần và theo một qui luật nhất định . Đó là hiệu giữa hai căn liên tiếp của chuỗi đó cũng tăng dần: 3 - 1 = 2 6 - 3 = 3 10 - 6 = 4 15 - 10 = 5 -Những hiệu đó tăng theo qui luật nào? +Ta có thể nhận thấy qui luật của dãy số 1 , 3 , 6 , 10 , 15 như sau 1 = 1 3 = 1 + 2 6 = 1 + 2 + 3 10 = 1 + 2 + 3 + 4 15 = 1 + 2 + 3 + 4 + 5 -Nếu sự đều đặn đó là tổng quát thì tính chất trên chúng ta vẫn chưa chắc chắn rằng với n bất kì thì định lí trên vẫn đúng. Vậy để khẳng định tính chất đó ta xét thêm một trường hợp nữa chính xác hơn. Với n = 1 , 2 , 3 ,... ta có 13 +23 + 33 +....+ n3 = (1 + 2 + 3 + ... + n)2 -Hãy chứng minh kết quả này là đúng ? +Ta đã biết rằng: 1 +2 + 3 +....+ n = +Như vậy có thể biến đổi kết quả trên như sau: 13 +23 + 33 +....+ n3 = (1) +Thử cho trường hợp đầu tiên chưa xét tức là với n=6 với giá trị này công thức cho ta. 1 + 8 + 27 + 64 + 125 + 216 = ()2 +Đẳng thức này đúng vì cả hai vế đều bằng 441 ta có thể tiếp tục thử nhiều nữa. Công thức có thể là tổng quát tức là đúng với mọi giá trị của n. -Nhưng nó còn đúng không khi ta đi từ một giá trị n bất kì tới giá trị tiếp theo là n+1? +áp dụng công thức trên ta phải có. 13 +23 + 33 +....+ n3 + (n + 1)3 = -Hãy kiểm tra xem công thức này có đúng không? +Trừ đẳng thức này với đẳng thức (1) ở trên ta có: (n+1)3 = Vế phải = = Vế trái +Như vậy công thức ta tìm được bằng thực nghiệm đã được thử lại chặt chẽ. -Vậy đẳng thức sau đây có đúng không ? 13 +23 + 33 +....+ n3 = -Nếu công thức này đúng thì bằng cách thêm vào đẳng thức đã thiết lập được ở trên suy ra đẳng thức sau đây cũng đúng. 13 +23 + 33 +....+ n3 + (n + 1)3 = -Đây chính là biểu thức (1) chỉ khác là thay n bằng n+1, nhưng ta đã biết rằng điều giả định của ta đã đúng với n= 1 , 2, 3, 4 , 5 , 6. theo công thức trên đã đúng với n=6 thì phải đúng với n=7, đúng với n=7 cũng sẽ đúng với n=8 và cứ như thế mà tiếp tục. Công thức đúng với mọi giá trị của n vậy nó là tổng quát. -Chứng minh trên có thể áp dụng cho rất nhiều trường hợp tương tự. -Vậy những nét cơ bản của nó là gì? + Điều khẳng định mà ta cần chứng minh phải được phát biểu rõ ràng , chính xác trước. + Nó phụ thuộc một số tự nhiên n. + Điều khẳng định đó phải được xác định đến mức khiến ta có thể thử được là nó còn đúng không khi đi từ số tự nhiên n sang số tự nhiên n+1 +Nếu ta thử được điều đó thì ta có thể kết luận rằng điều khẳng định phải đúng với n+1 nếu như nó đã đúng với n, có được điều đó rồi thì nếu điều khẳng định đúng với n=1 , khi đó nó sẽ đúng với n=2, n=3 , ... và cứ thế tiếp tục. Bằng cách đi từ một số nguyên bất kì tới một số nguyên liền sau nó, ta đã chứng minh tính chất tổng quát của điều khẳng định . -Phương pháp chứng minh này có thể gọi là phép chứng minh từ n tới n+1 hay là phép chuyển tới một số nguyên tiếp sau trong toán học gọi chung lại là "qui nạp toán học". -Như vậy nguyên lí qui nạp là: -Nếu khẳng định S(n) thoã mãn hai điều kiện sau. 1) Đúng với n=k0 (số tự nhiên nhỏ nhất mà S(n) xác định) . 2) Từ tính đúng đắn của S(n) đối với n=t suy ra tính đúng đắn của S(n) đối với n=t+1 , thì S(n) đúng đối với mọi nk0 +Phương pháp chứng minh bằng qui nạp là -Giả sử khẳng định T(n) xác định với mọi nto . Để chứng minh T(n) đúng với mọi nt0 bằng qui nạp, ta cần thực hiện hai bước. a) Cơ sở qui nạp +Thực hiện bước này tức là ta thử xem sự đúng đắn của T(n) với n=t0 nghĩa là xét T(t0) có đúng hay không? b) Qui nạp +Giả sử khẳng định T(n) đã đúng đối với n=t .Trên cơ sở giả thiết này mà suy ra tính đúng đắn của T(n) đối với n=t+1, tức T(t+1) đúng. -Nếu cả hai bước trên đều thoã mãn, thì theo nguyên lí qui nạp T(n) đúng với mọi nt0 Chú ý: Trong quá trình qui nạp nếu không thựchiện đầy đủ cả hai bước : cơ sở qui nạp và qui nạp thì có thể dẫn đến kết luận sai lầm, chẳng hạn. -Do bỏ bứơc cơ sở qui nạp, ta đưa ra kết luận không đúng: "Mọi số tự nhiên đều bằng nhau" Bằng cách qui nạp như sau. +Giả sử các số tự nhiên không vượt quá k + 1 đã bằng nhau. Khi đó ta có: k = k + 1 Thêm vào mỗi vế của đẳng thức trên một đơn vị ta sẽ có: k + 1 = k + 1 +1 = k + 2 Cứ như vậy suy ra mọi số tự nhiên không nhỏ hơn k đều bằng nhau. Kết hợp với giả thiết qui nạp : Mọi số tự nhiên không vượt quá k đều bằng nhau, đi đến kết luận sai lầm : Tất cả các số tự nhiên đều bằng nhau! -Một ví dụ rất thực tế là do bỏ qua khâu qui nạp nên nhà toán học Pháp P.Fermat (1601-1665) đã cho rằng các số có dạng + 1 đều là số nguyên tố. P.Fermat xét 5 số đầu tiên: Với n = 0 cho + 1 = 21 + 1 = 3 là số nguyên tố n = 1 cho + 1 = 22 + 1 = 5 là số nguyên tố n = 2 cho + 1 = 24 + 1 = 17 là số nguyên tố n = 3 cho + 1 = 28 + 1 = 257 là số nguyên tố n = 4 cho + 1 = 216+ 1 = 65537 là số nguyên tố. Nhưng vào thế kỉ 18 Euler đã phát hiện với n = 5 khẳng định trên không đúng bởi vì: = 4294967297 = 641 x 6700417 là hợp số. 2/ áp dụng phương pháp qui nạp để giải một số bài toán không mẫu mực a/ Giải một số bài toán logic bằng qui nạp Bài 1: Chứng minh rằng : Nếu trong túi có một số tiền nguyên (nghìn) không ít hơn 8000đ, thì luôn luôn có thể tiêu hết bẳng cách mua vé sổ số loại 5000đ và 3000đ. Giải: 1) Cơ sở qui nạp: Nếu trong túi có số tiền ít nhất, tức 8000đ thì ta mua một vé sổ số loại 5000đ và một vé sổ số loại 3000đ. Khi đó: 1 x 5000đ + 1 x 3000đ = 8000đ và ta đã tiêu hết được số tiền có trong túi. 2) Qui nạp: Giả sử với k (k 8000đ) ta đã tiêu hết bằng cách mua các vé sổ số loại 5000đ và loại 3000đ . Nếu có thêm 1000đ nữa ta cung có thể tiêu được bằng cách sau đây. * Nếu trong các vé sổ số đã mua có ít nhất ba vé loại 3000đ , thì trả lại ba vé 3000đ đưa thêm 1000đ và lấy về hai vé loại 5000đ. Khi đó: 3 x 3000đ + 1000đ = 2 x 5000đ * Nếu trong các vé sổ số đã mua có không quá hai vé loại 3000đ, thì phải có ít nhất một vé loại 5000đ. Bởi vì số tiền trong túi không ít hơn 8000đ mà đã tiêu hết . Khi đó đem trả lại một vé loại 5000đ , đưa thêm 1000đ và lấy về hai vé loại 3000đ, ta có: 1 x 5000đ + 1000đ = 2 x 3000đ Như vậy trong mọi trường hợp từ kết quả tiêu k nghìn đầu tiên đã suy ra được cách tiêu nghìn thứ k+1, nên bài toán đã được giải quyết./. Bài 2: Em An cầm một tờ giấyvà lấy kéo cắt thành 7 mảnh . Sau đó nhặt một trong những mảnh giấy đã cắt và lại cắt thành 7 mảnh . Và em An cứ tiếp tục cắt nhưvậy. Sau một hồi em An thu tất cả các mẩu giấy đã cắt ra và đếm được 122 mảnh. Liệu em An đếm đúng hay sai? Giải: * Mỗi lần cắt một mảnh giấy thành 7 mảnh tức là ta đã tạo thêm 6 mảnh giấy, nên công thức tính số mảnh giấy theo n bước thực hiện một mảnh giấy thành 7 mảnh có dạng: S(n) = 6n + 1 * Ta khẳng định tính đúng đắn của công thức S(n) bằng qui nạp theo n. 1) Cơ sở qui nạp. Với n = 1 , em An cắt mảnh giấy có trong tay thành 7 mảnh nên ta có: S(1) = 6.1 + 1 = 6 + 1 = 7 2) Qui nạp. Giả sử sau k bước em An đã nhận được số mảnh giấy là: S(k) = 6k + 1 Sang bước k + 1 em An lấy một trong những mảnh giấy nhận được trong k bước trước và cắt thành 7 mảnh, tức em An đã lấy đi một trong S(k) mảnh và thay vào đó 7 mảnh được cắt ra nên: S(k+1) = S(k) - 1 + 7 = 6k + 1 - 1 + 7 = 6k + 7 = 6k + 6 + 1 = 6(k + 1) + 1 Vậy số mảnh giấy em An nhận được sau n bước cắt giấy là S(n). * Do S(n) = 6n + 1 1 (mod 6), nhưng 122 = 6.20 + 2 2 (mod 6). Nên em An đếm không đúng./. Bài3: Chứng minh rằng trên một mặt phẳng n đường thẳng khác nhau cùng đi qua một điểm, chia mặt phẳng thành 2n phần khác nhau. Giải: 1) Cơ sở qui nạp. Với n = 1 ta có một đường thẳng . Nó chia mặt phẳng thành hai phần , nên khẳng định đúng. 2) Qui nạp. Giả sử với n = k khẳng định đã đúng , nghĩa là k đường thẳng tuỳ ý cùng đi qua một điểm M đã chia mặt phẳng thành 2k phần khác nhau. Xét n = 2k + 1 đường thẳng khác nhau tuỳ ý cùng đi qua một điểm. Kí hiệu các đường này, một cách tương ứng là . Theo giả thiết qui nạp k đường thẳng đã chia mặt phẳng thành 2k phần khác nhau: Vì các đường thẳng đều khác nhau và cùng đi qua điểm I , nên tồn tại các chỉ số s , t ( 1 s , t k ) để là đường thẳng duy nhất nằm trong góc được lập nên bởi và . Khi đó chia hai phần mặt phẳng được giới hạn bởi và thành 4 phần .Bởi vậy k + 1 đường thẳng chia mặt phẳng thành. 2k - 2 + 4 = 2(k + 1) phần khác nhau và khẳng định đã được chứng minh. b/ Tô màu bằng qui nạp. Trên mặt phẳng cho n hình tròn (n1) . Chứng minh rằng với bất kì cách sắp đặt nào, thì hình nhận được cũng có thể tô bằng hai màu, để cho hai phần mặt phẳng kề nhau (có biên chung) cũng được tô bằng hai màu khác nhau. Giải: 1) Cơ sở qui nạp: Với n=1 , trên mặt phẳng chỉ có một hình tròn. Ta tô hình tròn bằng màu đen. Khi đó phần mặt phẳng còn lại kề với hình tròn được để trắng, nên hai phần của mặt phẳng kề nhau có màu khác nhau. 2) Qui nạp: Giả sử khẳng định đã đúng với bức tranh gồm n hình tròn . Giả sử trên mặt phẳng cho n + 1 hình tròn tuỳ ý. Xoá đi một trong những hình tròn sẽ được bức tranh gồm n hình tròn (H.1) . Theo giả thiết qui nạp, bức tranh này chỉ cần sơn bằng hai màu, chẳng hạn , đen và trắng mà hai miền kề nhau đều có màu khác nhau. Khôi phục lại hình đã xoá đi, tức là trở lại hình xuất phát gồm n + 1 hình tròn, rồi theo một phía đối với hình tròn vừa khôi phục, chẳng hạn phía trong của hình tròn này thay đổi các màu đã tô bằng màu ngược lại, sẽ được bức tranh gồm n + 1 hình tròn được tô bằng hai màu , mà hai miền kề nhau tuỳ ý đều có màu khác nhau (H.2) H .1 H .2 c/ Chắp hình bằng qui nạp. Cho n ( ) hình vuông tuỳ ý. Chứng minh rằng từ các hình vuông này có thể cắt và chắp thành một hình vuông lớn. Giải: 1) Cơ sở qui nạp. Với n = 1. Khi đó có một hình vuông nên hiển nhiên, khẳng định đúng. Với n = 2, có hai hình vuông : ABCD và abcd. Khi đó có thể cắt và chắp thành một hình vuông như sau: Giả sử hình vuông ABCD không nhỏ hơn hình abcd. Kí hiệu x là độ dài cạnh hình vuông ABCD, y là độ dài cạnh hình vuông abcd (). Ta cắt các hình vuông ABCD và chắp thành hình vuông A'B'C'D' (như hình vẽ) 2) Qui nạp. Giả sử khẳng định đã đúng với n ( n1) hình vuông. Nếu có n + 1 hình vuông tuỳ ý V1, V2, ...., Vn , Vn+1. Chúng ta chọn hai hình vuông tuỳ ý, chẳng hạn Vn và Vn+1, rồi cắt và chắp thành hình vuông V'n. Theo giả thiết qui nạp, đối với n hình vuông: V1, V2, ...., Vn , V'n. Ta có thể cắt và chắp thành một hình vuông V. Như vậy, từ n + 1 hình vuông V1, V2, ...., Vn , Vn+1. Ta đã cắt và chắp thành hình vuông V. Bài toán được giải quyết. d/ Chứng minh tính chất bằng qui nạp. VD. Cho , là một số nguyên. Chứng minh rằng với mọi số nguyên dương n, số cũng là số nguyên. Giải: 1) Cơ sở qui nạp. -Với n=1 có là số nguyên, theo giả thiết. 2) Qui nạp. Giả sử T(n,x) đúng với mọi số nguyên k nghĩa là. là số nguyên Với n=k+1 số theo giả thiết qui nạp các số đều nguyên, nên T(k+1,x) là số nguyên và công thức đúng với mọi số nguyên dương n. e/ Chứng minh tính chia hết bằng qui nạp. VD; Chứng minh rằng với mọi số nguyên dương n số + 1 chia hết cho 3n+1 và không chia hết cho 3n+2 Giải: Đặt + 1 = An. 1) Cơ sở qui nạp . với n=1 ta có nên và Với n=2 ta có , nên và 2) Qui nạp Giả sử khẳng đinh đúng với , nghĩa là và Vì nên (1) Xét n=k+1 . * Khi đó , nên với mọi sốnguyên dương n đều có . * a) Vì [theo(1)] , nên (2) b) Do nên và Bởi vậy : (3) Giả sử .Khi đó , nhưng nên (4) Từ (3) và (4) suy ra : (5) Từ (2) và (5) suy ra: , nên với mọi số nguyên dương n số An không chia hết cho 3n+2./ g/ Chứng minh bất đẳng thức bằng qui nạp. VD. Cho n (n1) số dương x1 , x2 , ... , xn thoã mãn. x1.x2....xn-1.xn = 1 chứng minh rằng : x1 + x2 + ... + xn-1 + xn n và dấu bằng xảy ra khi x1 = x2 = ... = xn Giải: 1) Cơ sở qui nạp: Với n= 1 ta chỉ có số x1 = 1 nên x1 thoã mãn bất đẳng thức x11. 2)Qui nạp: Giả sử khẳng đinh đã đúng với k số dương tuỳ ý có tích bằng 1. Xét k+1 số dương tuỳ ý x1 , x2 , ... , xk , xk+1 , Với x1.x2...xk.xk+1 = 1 Có hai khả năng đặt ra. a) Nếu x1 = x2 = ... = xk = xk+1 , thì xi = 1 Khi đó: x1 + x2 + ... + xk + xk+1 = k+1 và khẳng định được chứng minh. b) Nếu k+1 số được xét x1 , x2 , ... , xk+1 không đồng thời bằng nhau, thì do tích của chúng bằng 1 và các số này đều dương, nên phải có ít nhất một số lớn hơn 1 và một số bé hơn 1. Không mất tính tổng quát, giả sử xk1. Khi đó: Từ đẳng thức: x1.x2...xk-1.(xk.xk+1) = x1.x2....xk-1xk.xk+1 = 1 suy ra k số dương x1 , x2 , ... , xk-1 , xkxk+1 có tích bằng 1 , nên theo giả thiết qui nạp, ta có: x1 + x2 + ... + xk + xk+1 x1 + x2 + ... + xk.xk+1 k (2) Từ bất đẳng thức (1) và (2) ta có: x1 + x2 + ... + xk + xk+1 x1 + x2 + ... + xk.xk+1 + 1 k + 1 Khẳng định đã được chứng minh. Với n số dương tuỳ ý x1 = x2 = ... = xn và x1.x2 ... xn = 1 suy ra xi = 1 nên x1 + x2 + ... + xn = n. e/ Tìm chữ số tận cùng bằng qui nạp: VD. Với mọi số nguyên k ≥ 2 hãy tìm chữ số tận cùng của số 1) Cơ sở qui nạp. Với k = 2 số A2 = + 1 = 17 . 2) Qui nạp. Giả sử với k = n ≥ 2 số An đã có chữ số tận cùng là 7. Xét số An+1 = Do An tận cùng số 7 nên tồn tại số nguyên dương m, để An = 10m + 7. Từ đó An - 1 = 10m + 6 An+1 = = (10m + 6)2 + 1 = 100m2 + 120m + 36 +1 = 10(10m2 + 12m) +37 = 10(10m2 + 12m + 3) +7 Nên An+1 tận cùng bằng chữ số 7 . Vậy với mọi k 2 số Ak có tận cùng bằng chữ số 7./. 3/ Một số đề tự giải Bài 1: Cho n hình vuông tuỳ ý. Chứng minh rằng từ các hình vuông này có thể cắt và chắp thành một hình vuông lớn. Bài 2 : Trên mặt phẳng cho 2n + 1 điểm, không có ba điểm nào thẳng hàng. Hãy dựng một đa giác 2n + 1 đỉnh, sao cho 2n + 1 điểm đã cho trở thành trung điểm thuộc các cạnh của đa giác. Bài 3 : Hãy tính số tam giác (T(n)) của một đa giác n đỉnh được chia bởi các đường chéo không cắt nhau. Bài 4 : Các số a1 ; a2 ; .... ; an thoả mãn quan hệ chứng minh rằng có thể chọn các dáu trong tổng để Bài 5 : Cho n số nguyên dương x1 ; x2 ; chúng tôi thoả mãn điều kiện : x1.x2......xn-1.xn = 1 Chứng minh rằng: x1 + x2 + ... + xn-1 + xn n và dấu bằng chỉ xảy ra khi x1 = x2 = .... = xn-1 = xn = 1. C. Kết luận 1/ Kết quả đạt được: -Sau khi hướng dẫn học giải các bài toán không mẫu mực bằng phương pháp qui nạp trong quá trình giảng dạy bản thân đã đạt được các kết quả hết sức khả quan. * Học sinh chủ động sáng tạo hơn trong việc giải các bài toán khó. * Học sinh hứng thú hơn trong việc giải các bài toán khó, cẩn thận hơn trong khi giải toán. -Cụ thể áp dụng đối với 20 học sinh khá và giỏi môn toán của lớp 9B năm học 2006-2007 thì kết quả đạt được là: *Trước khi chưa hướng dẫn học sinh phương pháp giải này thì trong số 20 em học sinh này chỉ có 2 học sinh là biết giải bài toán bằng phương pháp qui nạp nhưng cũng chỉ ở dạng đơn giản, 5 học sinh nắm được các bước để trình bày bài toán bằng phương pháp qui nạp và hiểu thế nào là qui nạp còn lại chỉ lơ mơ không rõ giải bằng phương pháp này như thế nào. *Sau khi hướng dẫn học sinh cụ thể về như thế nào là qui nạp, nguyên lí qui nạp là gì và đặc biệt là học sinh hiểu được phương pháp chứng minh bằng qui nạp là gì, cách trình bày các bước như thế nào thì kết quả thật bất ngờ. +Trong 20 em được học về phương pháp này đã có tới 10 em biết giải bài toán bằng phương pháp qui nạp trong đó 7 em biết và say mê giải các bài toán khó, bài toán không mẫu mực bằng phương pháp qui nạp. Số còn lại cũng đã hiểu được thế nào là qui nạp, nắm được các bước trình bày bài toán qui nạp đơn giản. 2/ Bài học kinh nghiệm: Trong việc giải một bài toán cũng như phát minh ra một vấn đề mới, nếu khơi gợi được trí tò mò , sự sáng tạo của học sinh để có thể có được niềm vui thắng lợi khi giải được bài toán khó.những tình huống như vậy có thể khuấy động sự ham thích những suy nghĩ, cá tính của học sinh đặc biệt là những học sinh yêu thích môn toán. Nếu người thầy cứ mãi chú trọng vào các bài toán dễ, tầm thường thì sẽ làm học sinh đặc biệt là những học sinh giỏi toán mất hết hứng thú không phát huy hết được những khả năng tốt nhất của mình. Ngược lại nếu người thầy khêu gợi được trí tò mò của học sinh bằng cách ra cho học sinh những bài tập những câu hỏi hợp trình độ, giúp học sinh giải bằng các phương pháp khác nhau để mang lại cho học sinh cái hứng thú về suy nghĩ độc lập, độc đáo trong từng bài toán cụ thể thì có thể đạt được kết quả như mình mong muốn./. D. tài liệu tham khảo 1) Một số phương pháp giải toán sơ cấp. 2) Tài liệu thực hành giải toán dùng trong các trường CĐSP. 3) Một số phương pháp giải bài toán logic (Đặng Huy Ruận)

Cập nhật thông tin chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Cô Lập Tham Số trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!