Xu Hướng 3/2024 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Cô Lập Tham Số # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Cô Lập Tham Số được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Thực hiện chương trình thay sách giáo khoa và đổi mới phương phương pháp dạy học việc rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng cơ bản và nâng cao là rất cần thiết. Trong chương trình Toan học phổ thông, hàm số giữ một vai trò quan trọng, trong đó việc xét tính đơn điệu của hàm số giúp học sinh có cái nhìn tổng quan về các tình chất của nó. Tuy nhiên bài toán tìm điều kiện của tham số để hàm số đồng biến trên một khoảng hiện nay thường khó thực hiện do không có công cụ tam thức bậc hai. Tuy nhiên chúng ta có thể sử dụng những kiến thức học sinh đã biết như đạo hàm, tìm giá trị lớn nhất nhỏ nhất để giải quyết một số bài toán này không quá phức tạp

Lời nói đầu Thực hiện chương trình thay sách giáo khoa và đổi mới phương phương pháp dạy học việc rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng cơ bản và nâng cao là rất cần thiết. Trong chương trình Toan học phổ thông, hàm số giữ một vai trò quan trọng, trong đó việc xét tính đơn điệu của hàm số giúp học sinh có cái nhìn tổng quan vrrf các tình chất của nó. Tuy nhiên bài toán tìm điều kiện của tham số để hàm số đồng biến trên một khoảng hiện nay thường khó thực hiện do không có công cụ tam thức bậc hai. Tuy nhiên chúng ta có thể sử dụng những kiến thức học sinh đã biết như đạo hàm, tìm giá trị lớn nhất nhỏ nhất để giải quyết một số bài toán này không quá phức tạp. Với nội dung Phương pháp cô lập tham số giải bài toán tìm điều kiện để hàm số đồng biến nghịch biến trên một khoảng, tôi hi vọng phần nào cung cấp cho học sinh một kĩ năng giải toán để có thể thực hiện được một số bài trong chương trình trung học phổ thông. Tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp của các đồng nghiệp và mong muốn các đồng nghiệp và học sinh tiếp tục hoàn thiện nội dung này. Mọi góp ý xin gửi về địa chỉ: Phương Xuân Trịnh Tổ Toán - Trường THPT Lương Tài - Bắc Ninh Điện thoại: 0972 859 879 E-mail: [email protected] Phương Xuân Trịnh I/ cơ sở khoa học Nghị quyết hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII - 1993 đã chỉ rõ: "Mục tiêu giáo dục - đào tạo phải hướng vào đào tạo những con người lao động tự chủ, sáng tạo, có năng lực giải quyết các vấn đề thường gặp, qua đó gớp phần tích cực thực hiện mục tiêu lớn của đất nước là đan giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh' Môn Toán có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của chương trình giáo dục phổ thông. chương trình Toán cung cấp có hệ thống vốn văn hoá Toán học phổ thông tương đối hoàn chỉnh, bao gồm kiến thức, kĩ năng, phương pháp, tư duy. Kiến thức toán còn là công cụ giúp cho học sinh học các môn khác như Vật lí, Hoá học, Sinh học, Địa lí Mục tiêu chung của môn Toán là: Cung cấp cho học sinh những kiến thức, kĩ năng, phương pháp Toán học phổ thông, cơ bản, thiết thực. Góp phần quan trọng vào việc phát triển năng lực trí tuệ, hình thành cho học sinh những khae năng suy luận đặc trưng của Toán học rất cần thiết cho thực tiễn cuộc sống. Góp phần hình thành và phát triển cho học sinh các phẩm chất, phong cách lao độngkhoa học, biết hợp tác lao động, ý chí và thói quen tự học thường xuyên. Tạo cơ sở để học sinh tiếp rục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và đi vào thực tiễn cuộc sống. Thực hiện mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học, thay thế phương pháp truyền thụ áp đặt bằng phương pháp tích cực, sáng tạo, người dạy tổ chức định hướng, phát huy vài trò chủ động tích cực của học sinhđể hóc inh tự chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng. Trong chương trình Toán Trung học phổ thông, hàm số chiếm một vị trí quan trọng. Có thể nói học sinh được tiếp xúc với hàm số từ rất sớm, song đến lớp 12 ta mới có công cụ đạo hàm để xét đầy đủ và tổng quát hơn về tính đơn điệu của hàm số. Việc xét được tính đơn điệu, lập bảng biến thiên của hàm số cho ta cái nhìn tổng thể về các tính chất của nó. Vì vậy học sinh cần phải thành thạo việc xét tính đơn điệu và một số bài toán tìm tham số để hàm số đơn điệu trên một khopảng K nào đó. II/ Cơ sở thực tiễn Chương.trình toán Trung học phổ thông cũ cung cấp cho học sinh phương pháp tam thức bậc hai. Đây là công cụ rất hữu ích để học sinh có thể làm được các bài tpán tìm điều kiện để phương trình bậc hai có hai nghiệm thuộc kloảng (a; b) . Vì thể việc xét bài toán tìm điều kiện để hàm số đơn điệu trên khoảng (a; b) nhờ tam thức bậc hai được thực hiện một cách dễ dạng. Tuy nhiên chương trình sách giáo khoa mới không cing cấp định lí đảo về dấu của tam thức bậc hai và phương pháp tam thức bậc hai nên học sinh cơ bản không làm được bài toán này. Nếu ra đề cho học sinh bắt buộc phải chọn đề bài mà đạo hàm của nó có thể tính được nghiệm theo tham số. Vì vậy phương pháp cô lập tham số đối với một số trường hợp tỏ ra có hiệu quả. Học sinh có thể giải quyết được bài toán đố , đồng thời rèn luyện được kĩ năng tìm giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của hàm số nhờ ứng dụng của đạo hàm. III/ Nội dung A/ Phương pháp Bài toán 1: Tìm tham số m để hàm số y = f(x, m) đồng biến trên khoảng (a; b) trong đó a có thể là -Ơ, b có thể là +Ơ) Phương pháp + Tính đạo hàm y' củ hàm số + hàm số đồng biến trên (a; b) Û y' Ê 0 " x ẻ (a; b) + Viết bất phương trình y' Ê 0 thành dạng g(x) Ê h(m). + Tìm giá trị lớn nhất của hàm số g(x) trên (a; b) + Yêu cầu bài toán Û + Tìm m và kết luận. Bài toán 2: Tìm tham số m để hàm số y = f(x, m) nghịc biến trên khoảng (a; b) trong đó a có thể là -Ơ, b có thể là +Ơ) Phương pháp + Tính đạo hàm y' củ hàm số + hàm số đồng biến trên (a; b) Û y' ³ 0 " x ẻ (a; b) + Viết bất phương trình y' ³ 0 thành dạng g(x) ³ h(m). + Tìm giá trị nhỏ nhất của hàm số g(x) trên (a; b) + Yêu cầu bài toán Û + Tìm m và kết luận. B/ Ví dụ minh hoạ. Ví dụ 1. Tìm m để hàm số nghịch biến trên ( -1; 1). Giải + + Hàm số nghich biến trên ( -1; 1) Û y' Ê 0 "x ẻ ( -1; 1) Û " xẻ ( -1; 1). Xét hàm số f(x) = -3x2 - 6x trên ( -1; 1) f'(x) = -6x - 6, f'(x) = 0 Û x = -1 Bảng biến thiên: x -1 1 y' - y 3 -9 Từ bảng biến thiên suy ra giá trị cần tìm là m Ê -9. Ví dụ2. Tìm m để hàm số đồng biến trên khoảng (2; +Ơ). Giải + Ta có + Hàm số đồng biến trên (2; +Ơ) Û y' ³ 0 " xẻ (2; +Ơ) Û Û Û " xẻ (2; +Ơ) Xét hàm số trên (2; +Ơ) f'(x) = 0 Û Û Û x = -3; x = 2 Bảng biến thiên: x 2 +Ơ y' + y +Ơ 3 Từ bảng biến thiên suy ra giá trị cần tìm là m Ê 3. Ví dụ3. Cho hàm số y = x3 - 3x2 + m2x + m Tìm m để hàm số nghịch biến trên (1; 2). Giải + Ta có y' = 3x2 - 6x + m2. Hàm số nghịch biến trên khoảng (1; 1) khi và chỉ khi " xẻ (1; 2) thì y' Ê 0 Û m2 Ê 6x - 3x2. Xét hàm số f(x) = 6x - 3x2 trên (1; 2) f'(x) = 6 - 6x ị f'(x) = 0 Û x = 1 Bảng biến thiên: x 1 2 y' - y 3 0 Từ bảng biến thiên suy ra giá trị cần tìm là m Ê 0. Ví dụ 4. Cho hàm số . Tìm m để hàm số nghịch biến trên (0; 1). Giải + Ta có = Hàm số nghịch biến trên (0; 1) Û y' Ê 0 " x ẻ (0; 1). + m = 0 ị y' = x + 3 (loại) + m ạ 0, y' Ê 0 vm ẻ (0; 1). Ta có và Û Û + Xét hàm số ị = Bảng biến thiên x 0 1 y' + y +Ơ 6 Từ bảng biến thiên suy ra không có giá trị nào của m để hàm số nghịc biến trên (0; 1). Ví dụ 5. Cho hàm số . Tìm m để hàm số nghịch biến trên ( -1; 1). Giải + = Hàm số nghịch biến trên ( -1; 1) Û y' Ê 0 " x ẻ ( -1; 1). Ta có y' Ê 0 Û Û + x = 0 ị y'(0) < 0. + x ạ 0, Û Xét hàm số g'(x) = 0 Û x = 1. Bảng biến thiên: x -1 0 1 y' + + y +Ơ -1 -Ơ Từ bảng biến thiên suy ra giá trị cần tìm là IV/ Kết quả thực hiện V/ Bài học kinh nghiệm. Qua nghiên cứu và thực tế giảng dạy chúng tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm sau: Ưu điểm: - Phương pháp này sử dụng các kĩ năng quen thuộc của học sinhm không cần cung cấp hay mở rộng thêm kiến thức mới, vì vậy học sinh có thể tiếp thu được và rèn luyện thành kĩ năng. - Phương pháp này giúp học sinh củng cố kiến thức, điều kiện để hàm số đồng biến, nghịch biến trên một khoảng K. - Phương pháp này còn củng cố kĩ năng tìm giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của học sinh bằng công cụ đạo hàm. Nhược điểm: -Phương pháp nêu trên không thể áp dụng cho tất cả các loại hàm số. Chẳng hạn những hàm số mà khi tính đạo hàm ta không biểu diền được thành dạng g(x) ³ h(x) hay g(x) Ê h(x) Tài liệu tham khảo 1/ Giải tích 12 - Trần Văn Hạo (Tổng chủ biên) - Nhà xuất bản Giáo dục 2008 2/ Bài tập Giải tích 12 - Vũ Tuấn (Chủ biên) - Nhà xuất bản Giáo dục 2008 3/ Hiải tích 12 - Đoàn Quỳnh (Tổng chủ biên) - Nhà xuất bản Giáo dục 2008 4/ Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Toán - Nhà xuất bản Giáo dục 2008 5/ Phương pháp dạy học môn Toán - Nguyễn Bá Kim, Vũ Dương Thuỵ - Nhà xuất bản Giáo dục Trang Lời nói đầu1 I/ Cơ sở thực khoa học2 II/ Cơ sở thực tiễn...3 III/ Nội dung...3 A/ Phương pháp ...3 Một số ví dụ..4 VI/ Kết quả thực hiện..9 V/ Bài học kinh nghiệm.10 VI/ Tài liệu tham khảo11

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Phương Pháp Dạy Từ Vựng Môn Tiếng Anh Lớp 7

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY TỪ VỰNG MÔN TIẾNG ANH LỚP 7 A. Mục đích, sự cần thiết của việc thực hiện sáng kiến Như chúng ta đã biết, từ nhiều năm nay Tiếng Anh đang được coi là ngôn ngữ chung , phổ biến nhất trên toàn thế giới. Việc học ngoại ngữ ngày càng được phổ biến rộng rãi và môn học này đang trở thành môn học bắt buộc trong các nhà trường. Bởi vậy yêu cầu đặt ra là làm thế nào để có được những giờ dạy ngoại ngữ đạt hiệu quả và chất lượng cao? Để đáp ứng được yêu cầu này người giáo viên phải luôn hoàn thiện mình không chỉ về trình độ chuyên môn mà còn cần phải thay đổi phương pháp dạy học .Theo quan điểm đổi mới phương pháp dạy học hiện nay tập trung hướng vào việc phát triển tính năng động, sáng tạo và tích cực của học sinh nhằm tạo được khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề cho các em. Và trong dạy học ngoại ngữ, những định hướng đổi mới này càng đúng vì không ai có thể thay thế người học trong việc nắm bắt các phương tiện ngoại ngữ và sử dụng chúng trong hoạt động giao tiếp bằng chính năng lực giao tiếp của mình. Giao tiếp là mục tiêu cuối cùng của việc dạy và học ngoại ngữ trong các nhà trường phổ thông. Nhưng để thực hành giao tiếp được bằng tiếng anh, ngoài các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết đòi hỏi các em phải có vốn từ vựng cần thiết. Tuy nhiên, việc học từ vựng tiếng anh đối với học sinh THCS hoàn toàn không đơn giản. Đa số các em cảm thấy việc học từ vựng rất khó và mau quên do hệ thống phát âm và chữ viết khác tiếng mẹ đẻ. Từ đó, dẫn đến việc học từ vựng của các em trở nên căng thẳng. Vậy làm thế nào để giúp các em cảm thấy thoải mái hơn, thích thú hơn, ghi nhớ từ nhanh hơn, lâu hơn và có thể sử dụng vốn từ đã học được vào thực hành giao tiếp. Chính do nhận thấy được sự cần thiết của việc học và ghi nhớ từ vựng nên ngay từ đầu năm học 2014-2024, khi được phân công giảng dạy môn Tiếng Anh 7 tôi đã tiến hành chọn nghiên cứu và áp dụng thực tế đề tài "MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY TỪ VỰNG MÔN TIẾNG ANH LỚP 7" nhằm nâng cao hơn chất lượng dạy và học đáp ứng được mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học. B. Phạm vi triển khai thực hiện Phạm vi của đề tài là nghiên cứu về thực trạng học tập của học sinh lớp 7 từ đó đưa ra một số phương pháp dạy từ vựng cho học sinh hai lớp 7 (7A1,7A2) trường THCS Rạng Đông - xã Rạng Đông - huyện Tuần Giáo - tỉnh Điện Biên trong năm học 2014-2024. C. Nội dung 1.Lí do chọn đề tài Giáo dục có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội và là tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển của một quốc gia. Vì giáo dục cung cấp nhân tài và nhân lực cho xã hội. Đặc biệt trong thời đại ngày nay, công nghệ, koa học, kỹ thuật đang phát triển rất nhanh. Để lĩnh hội được những tinh hoa văn hóa, khoa học kỹ thuật tiến bộ, hiện đại của các quốc gia phát triển đòi hỏi chúng ta phải có trình độ ngoại ngữ nhất định. Mà tiếng anh đang là ngôn ngữ quốc tế, là phương tiện giao lưu quốc tế hữu hiệu nhất. Vì thế, tiếng anh là môn học không kém phần quan trọng trong các nhà trường phổ thông. Nó giúp chúng ta có thể hội nhập cùng sự phát triển nhanh chóng của thế giới, về mọi mặt. Về bản thân, tôi nhận thấy việc học ngôn ngữ ngoài việc nắm vững kiến thức về hệ thống ngữ pháp, điều không thể thiếu để học tốt ngoại ngữ đó là vốn từ vựng. Nhưng để dạy và học từ vựng như thế nào cho thật hiệu quả, đó là lí do tôi chọn nghiên cứu đề tài này. 2. Mục đích đề tài. Đề tài này được nghiên cứu nhằm mục đích xây dựng ý kiến, đóng góp vào tiếng nói chung của công tác giảng dạy Tiếng Anh tại trường THCS, thông qua đó đưa ra một số phương háp dạy từ vựng môn tiếng anh lớp 7 giúp các em học sinh thật sự có hứng thú trong việc học tập môn Tiếng Anh. 3. Đối tượng nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các phương pháp dạy từ vựng phù hợp với từng nội dung đơn vị bài học của chương trình Tiếng Anh 7, cụ thể là nghiên cứu về khả năng tiếp thu và diễn biến học tập của các em học sinh lớp 7A1, 7A2. 4. Phạm vi nghiên cứu. - Về không gian: Các em học sinh lớp 7A1, 7A2 trường THCS Rạng Đông. -Về thời gian nghiên cứu được thực hiện theo 4 giai đoạn của năm học. Giai đoạn 1:Từ đầu năm đến giữa HKI. Giai đoạn 2:Từ giữa HKI đến hết HKI. Giai đoạn 3:Từ đầu HKII đến giữa HKII. Giai đoạn 4:Từ giữa HKII đến cuối năm học. 5.Phương pháp nghiên cứu. a.Phương pháp đọc tài liệu. b.Phương pháp điều tra. Tiến hành thực nghiệm, kiểm tra và so sánh kết quả đánh giá học sinh qua từng giai đoạn để kiểm chứng các phương pháp đã nghiên cứu có phù hợp chưa và có mang lại kết quả tốt không. c.Phương pháp đàm thoại. Thường xuyên trao đổi các kinh nghiệm hay từ các đồng nghiệp trong nhóm ngoại ngữ để tìm ra thêm các phương pháp dạy từ vựng hay. Trao đổi với các đồng nghiệp trong các buổi họp tổ để được đóng góp ý kiến. d. Phương pháp thực nghiệm. Đăng kí dạy chuyên đề, dạy rút kinh nghiệm, dự giờ thường xuyên để rút kinh nghiệm từ các phương pháp dạy từ đã dùng. II. PHẦN NỘI DUNG 1.Cơ sở lý luận Đổi mới phương pháp dạy học nói chung, phương pháp lên lớp nói riêng là việc làm quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu của đổi mới chương trình và sách giáo khoa hiện hành đồng thời từng bước nâng cao chất lượng dạy và học. Để làm được điều đó mỗi người giáo viên cần phải tìm tòi, sáng tạo trong từng hoạt động dạy học. " Lý luận dạy học hiện đại xem hứng thú là yếu tố co ý nghĩa to lớn không chỉ trong quá trình dạy học mà cả đối với sự phát triển toàn diện, sự hình thành nhân cách của trẻ. Hứng thú là yếu tố dẫn tới tự giác. Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tâm lý đảm bảo tính tích cực độc lập sáng tạo trong học tập. Ngược lại phong cách học tập tích cực, độc lập, sáng tạo có ảnh hưởng đến sự phát triển hứng thú và tự giác. F.Bruno cho rằng hứng thú nhận thức được hình thành qua việc tổ chức học tập như những hành động khám phá. Theo E.P.Brounovt, "Một niềm hứng thú thực sự biểu hiện ở sự bền bỉ, kiên trì và sáng tạo trong việc hoàn thành các công tác độc lập dài hơn.". Nếu học sinh được độc lập quan sát, so sánh, phân tích khái quát hóa các sự kiện hiện tượng thì các em sẽ hiểu sâu sắc và hứng thú bộc lộ rõ" ( Trích: Mối quan hệ giữa tích cực học tập và hứng thú nhận thức - Quyển Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS của Bộ giáo dục và đào tạo). 2. Cơ sở thực tiễn. Như chúng ta đã biết Tiếng Anh là một môn học tương đối khó với học sinh, nhất là học sinh vùng cao thậm chí nói tiếng phổ thông còn chưa rõ thì việc làm thế nào để gây được hứng thú cho học sinh trong giờ học ngoại ngữ luôn là câu hỏi mà các giáo viên dạy ngoại ngữ đều muốn tìm ra câu trả lời. Thực tế cho thấy, hầu hết các em học sinh là người dân tộc ít người, mới tiếp xúc với bộ môn Tiếng Anh nên còn nhiều e dè, ngại ngùng khi giao tiếp. Một số em biết nhưng không dám giơ tay, không dám nói vì ngại, một số em khác không dám phát biểu vì sợ nói sai bị các bạn chê, cô giáo cười. Theo tôi đây chính là yếu tố tâm lí mà giáo viên dạy ngoại ngữ cần phải xem xét để giúp các em có được hứng thú học tập hay ít ra là tích cực hơn trong các giờ học. 3. Thực trạng của đề tài nghiên cứu. * Thực trạng học sinh. Học sinh lớp 7A1 và 7A2 có tổng số là 64 em, trong đó bao gồm đủ các học sinh từ trung bình, khá, giỏi đến yếu, kém. Số học sinh khá, giỏi của lớp rất năng động, sáng tạo, tích cực học tập, tiếp thu bài tốt, tham gia tích cực vào các hoạt động của bài học. Ngược lại số học sinh yếu, kém lại rất lười học tiếp thu bài học một cách thụ động, chưa có khả năng tham gia vào các hoạt động của bài học. Có những phương pháp dạy từ vựng tạo được nhiều hứng thú cho học sinh khá, giỏi nhưng số học sinh yếu, kém lại không đủ khả năng tham gia tích cực, ngược lại có nhiều hình thức được sự hưởng ứng nhiệt tình của những học sinh yếu, kém nhưng lại gây nhàm chán cho số học sinh khá, giỏi. *Thực trạng cơ sở vật chất-đồ dùng dạy học. Trường THCS Rạng Đông vừa được xây dựng hoàn chỉnh, trường lớp khang trang, sạch đẹp. Nhà trường có phòng trình chiếu riêng nên giáo viên có thể sử dụng máy chiếu và dạy giáo án điện tử. Có điều kiện tương đối thuận lợi cho việc đổi mới thực hiện nhiều hình thức, phương pháp dạy học. Trường được trang cấp bảng từ ở các lớp rất thuận tiện cho việc sử dụng đồ dùng dạy học và các thiết bị hỗ trợ khác. Dựa trên những điều kiện thuận lợi đó nhà trường đã tổ chức thực hiện giảng dạy môn Tiếng Anh theo đúng quy định của chương trình. Tuy nhiên thực tế của việc dạy và học môn Tiếng Anh của nhà trường còn gặp nhiều khó khăn, bất cập nên hiệu quả còn thấp, chất lượng học tập chưa cao, số học sinh đạt điểm dưới trung bình còn nhiều. *Chất lượng khảo sát đầu năm của 2 lớp 7 như sau: TSHS Giỏi Khá TB Yếu Kém 64 4. Nguyên nhân của thực trạng. Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có một số nguyên nhân chính như sau: - Mức độ tiếp thu bài của các em không đồng đều gây khó khăn cho việc chọn lựa các phương pháp thật phù hợp. - Trăm phần trăm học sinh là con em các dân tộc ít người, nói tiếng phổ thông còn chưa rõ, môi trường giao tiếp ngoại ngữ của các em chưa có, các em không có điều kiện thực hành giao tiếp thường xuyên dẫn đến các em e dè, ngại nói, ngại thể hiện ý tưởng của mình bằng ngoại ngữ . 5. Biện pháp chủ yếu để thực hiện đề tài. Để giúp học sinh cảm thấy thoải mái, hứng thú học từ vựng, ghi nhớ từ nhanh hơn, lâu hơn, có thể sử dụng vốn từ mới học vào thực hành ở lớp trôi chảy và chủ động huy động vốn từ đã tích lũy được để bắt chước, tái hiện, tìm tòi cách ứng xử và ứng sử sáng tạo trong các tình huống giao tiếp. Thì vấn đề đặt ra đối với các giáo viên trong quá trình soạn giảng và dạy từ vựng là: Chọn từ để dạy. Sử dụng các thủ thuật phù hợp để làm rõ nghĩa của từ. Tăng cuờng sự tham gia của học sinh ở các buớc giới thiệu từ mới. Sử dụng phối hợp các kỹ năng ở các bước giới thiệu từ mới. Chọn từ để dạy. Thông thường trong mỗi bài học sẽ luôn có từ mới. Song không phải từ mới nào cũng đều đưa vào giảng dạy như nhau. Để lựa chọn từ để dạy, giáo viên cần xem xét những câu hỏi sau: * Từ chủ động hay từ bị động? - Từ chủ động (active/ productive vocabulary) là ngững từ học sinh hiểu, nhận biết và sử dụng được trong giao tiếp nói và viết. - Từ bi động (passive/ receptive vocabulary) là những từ mà học sinh chỉ hiểu và nhận biết được khi nghe và đọc Ex 1: Unit 12 Let's eat ! - tiết 73 (A1) trang114, từ mới cần dạy là: pork, stall, spinach, cucumber, papaya, durian, neither, either. Từ chủ động: pork, spinach, cucumber, papaya, durian Từ bị động: stall, neither, either Ex 2: Unit13 Activities tiết 80(A1) trang 129, Từ mới cần dạy: Skateboarding, roller-skating, rollerblading, survey, result, choice, eventhough, surprisingly. Từ chủ động: Skateboarding, roller-skating, rollerblading, survey, choice Từ bị động: result, eventhough, surprisingly *Học sinh đã biết từ này chưa? Giáo viên cần xác định rõ từ mình caanfdayj có thực sự là từ cần dạy hay không. Để tránh tình trạng giới thiệu những từ không cần thiết, và mất thời gian, giáo viên có thể dùng những thủ thuật nhằm phát hiện xem các em đã biết những từ này chưa. Giáo viên có thể dùng các thủ thuật như: eliciting, brainstorming, net work, thước khi giới thiệu từ mới. Ex: Unit 13 Activities Period 80 (A1) trang 129, giáo viên ôn lại từ đã học bằng thủ thuật: network. sports basketball badminton tennis football volleyball table tennis 2. Những thủ thuật làm rõ nghĩa của từ, Qua quá trình nghiên cứu tài liệu và thực nghiệm giảng dạy trên lớp, tôi đã rút ra đuợc một số thủ thuật làm rõ nghĩa từ như sau: *Dùng trực quan: Đồ vật thật (realia), tranh ảnh(picture), hình vẽ phác họa (hình que), hình cắt dán từ tạp chí, cử chỉ, điệu bộ (mime) có tác dụng mạnh mẽ đến hứng thú học tập của học sinh và giúp học sinh ghi nhớ từ nhanh hơn và lâu hơn Ex 1: Unit 5 Work and play- B1 trang 56: giáo viên sử dụng tranh vẽ hoặc tranh photo để giới thiệu các từ sau: play blindman's buff Play catch play marbles Chat (v) Ex 2: Unit 7 The world of work - B2 trang 72: giáo viên sử dụng tranh để giới thiệu các từ sau: Buffalo(n) Chicken coop Chicken coop (n) Buffallo shed(n) Feed (v) Feed (v) Pig (n) Ex 3: Unit 9 At home and away A 2 trang 87, 88: Giáo viên sử dụng tranh vẽ hoặc tranh sưu tầm từ sách, báo, tạp chí Shark(n) dolphin (n) turtle (n) crab (n) Ex 4: Unit 12Let's eat! A 3 trang 116: Giáo viên sử dụng đồ vaath thật hoặc vật mẫu để giới thiệu các từ sau: a plate, a pan, chopsticks, a spoon, soy sauce, salt, pepper. Ex 5: Unit 12 Let's eat! B 1 trang 119: Giáo viên dạy từ "dirty". Giáo viên giơ đồ lau bảng sạch lên và nói "It is clean". Sau Sau đó lấy đi lau bảng làm cho bẩn và nói "Now it is dirty" Ex 6: Giáo viên dùng cử chỉ điệu bộ để dạy các từ sau: to cut (Unit 9 - B1 trang 92), to comb (Unit 10 - A 3 trang 101) b) Dùng từ đã học b1. Định nghĩa (definition), miêu tả, giả ithích (explanation): Học sinh sẽ dựa vào từ đã học và hiểu biết cơ bản dời thường để đoán ra nghĩa của từ. thủ thuật này tạo cho học sinh sự tò mò và có nhu cầu tham gia vào quá trình học tập đồng thời rèn luyện kỹ năng nghe cho học sinh. Ex 1: Unit 6 After school - B2 trang 65 để dạy từ: teenager giáo viên định nghĩa như sau; A teenager who is a person aged between 13 and 19 years old. Ex 2: Unit 7 The world of work - B1 trang 76 để dạy từ: homeless people, a mechanic giáo viên định nghĩa như sau: Homeless people are people who have no house to live. A mechanic is a person whose job is to repair and work with machines. Ex 3: Unit 3 At home - A 1 trang 29 để dạy từ: a bathroom giáo viên miêu tả như sau: A bathroom is a room where there is a shower to take a shower, a toilet, a place to wash your hands, etc. ¯Lưu ý: Khi sử dụng định nghĩa, miêu tả để làm rõ nghĩa của từ, chúng ta có thể kết hợp thêm ví dụ thực tế để giúp học sinh nhận biết nghĩa dễ dàng hơn. Ex: Để dạy từ: forest, giáo viên mô tả và cho ví dụ như sau: A forest is a place where you can see many green tall trees and animals like tigers, birds, . Do you know Cuc Phương forest? b2. Dùng từ trái nghĩa (antonym), đồng nghĩa (synonym): ta sử dụng từ đồng nghĩa, trái nghĩa để làm rõ nghĩa khi học sinh đã biết được 1 từ trong cặp từ đồng nghĩa, trái nghĩa. Ex 1: Unit 8 Places- B5 trang 85 à sell (v)≠ buy (v) Ex 2: Unit 10 Health and hygiene - B1 trang 103 àhate (v)≠ like (v) Ex 3: Unit 9 At home and away - A 4 trang 89 à receive (v) ≠ give (v) Ex 4: Unit 10 Health and hygiene - B4 trang 105 à nervous (adj) = worried ( adj) b3. Dựa vào các quy tắc hình thành từ, tạo từ: học sinh đoán nghĩa cảu từ mới được hình thành qua từ gốc. Với quy tắc này giáo viên không những giúp học sinh nắm vững lại kiến thức mà còn giúp các em phát huy tính tích cực, tự học, biết mở rộng vốn từ cho mình. Ex : Unit 13 Activities - A 3 trang 131, Giáo viên dạy các từ sau: swimmer, player swim à swimmer (A swimmer is a person who can swim) play à player (A soccer player is a person who plays soccer) b4. Tạo tình huống (situation), ví dụ (example): giáo viên thiết lập tình huống cho ví dụ dễ hiểu bằng tiếng anh, học sinh đoán nghĩa qua tình huống và có thể bắt chước, sư dụng vào ngữ cảnh giao tiếp, đồng thời rèn luyện kỹ năng nghe Ex 1: Unit 7 The world of work - A 1 trang 72, giáo viên thiết lập tình huống để dạy cụm từ: be late for school như sau: Your classes start at one o'clock. You come to school at a quarter past one. You are late for school. Ex 2: Unit 9 At home and away - B1 trang 92, giáo viên thiết lập tình huống để dạy từ: clever như sau: Mrs. Mai always makes beautiful dress. She is very clever. Ex 3: Unit11 Keep fit, stay healthy- A 1 trang 107, giáo viên cho ví dụ để dạy từ: weight, height như sau: My weight is 46 kilos. My height is 1 meter 57 centimeters. Ex 4: Unit 14Freetime Fun - B1 trang 144, giáo viên cho ví dụ để dạy từ: cartoon như sau: I like cartoons such as: Tom and Jerry, Doremon, b5. Đoán nghĩa qua ngữ cảnh (context): học sinh đoán nghĩa của từ qua ngữ cảnh do giáo viên trích dẫn hoặc thiết kế. Ex: Unit12 Let's eat! - B1 trang 119, học sinh đoán nghĩa của từ: terrible, to make qua các ngữ cảnh sau: Ba has a stomachache. He feels terrible. Dirty vegetables can make people sick. *Dịch sang tiếng mẹ đẻ(translation): giáo viên chỉ sử dụng thủ thuật này khi dạy từ bị động hoặc các từ trừu tượng khó áp dụng những thủ thật trên. *Lưu ý: Để đảm bảo vận dụng hiệu quả những thủ thuật nêu trêngiáo viên nên linh động thay đổi những thủ thuật này một cách thích hợp tùy theo nội dung bài và đối tượng học sinh. c. Tăng cường sự tham gia của học sinh ở bước giới thiệu từ mới: Như đã đề cập điểm nổi bật ở phương pháp dạy học mới là tạo cho học sinh được tham gia vào quá trình học tập. Vậy tăng cường sự tham gia của học sinh ở bước giới thiệu từ mới là cần thiết

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Hệ Số Bất Định Và Ứng Dụng

2.Rút gọn biểu thức chứa căn

3.Đa thức phụ

4.Đặt ẩn phụ để giải phương trình vô tỉ

5.Biện luận phương có nghiệm duy nhất

6.Bất đẳng thức và cực trị

Trong toán học đây là 1 phương pháp rất hay khi ta muốn tìm các hệ số của 1 biểu

Trần Trung Hiếu(Học sinh trường THCS Chu Mạnh Trinh) 1 1.Phân tích đa thức thành nhân tử 2.Rút gọn biểu thức chứa căn 3.Đa thức phụ 4.Đặt ẩn phụ để giải phương trình vô tỉ 5.Biện luận phương có nghiệm duy nhất 6.Bất đẳng thức và cực trị Trong toán học đây là 1 phương pháp rất hay khi ta muốn tìm các hệ số của 1 biểu A.Cơ sở lý thuyết Cho P(x)= 2 30 1 2 3 ..... n na a x a x a x a x    và Q(x)= 2 3 0 1 2 3 ..... n nb b x b x b x b x    P(x)=Q(x)↔ 0 0 1 1 n n a b a b a b        Do đó khi P(x)=Q(x) thì ta có thể tìm được hệ số của P(x) nếu hệ số của Q(x) đã biết. B.Các ứng dụng I.Phân tích đa thức thành nhân tử 1.Hướng:Giả thiết đa thức phân tích được dưới dạng F(x)=G(x).Q(x) Rồi từ các hệ số của F(x) tìm hệ số của G(x),Q(x) sao cho chúng đơn giản nhất 2.Ví dụ:Phân tích đa thức F(x)= 4 3 23 6 5 3x x x x    thành nhân tử. Do hệ số 4x là 1 nên ta chọn F(x)=( 2 axx b  )( 2 xx c d  ) Khi đó ta có 4 3 2 4 3 23 6 5 3 ( ) ( ) ( )x x x x x a c x ac b d x ad bc x bd             Đồng nhất hệ số có 3 6 5 3 a c ac b d ad dc bd              Ta được 1 1 2 3 a b c d          →F(x)=( 2 1x x  )( 2 2 3x x  ) Trần Trung Hiếu(Học sinh trường THCS Chu Mạnh Trinh) 2 Chú ý :-Việc tìm a,b,c,d là dựa trên cơ sở ta thử chọn các giá trị đó sao cho đơn giản nhất mà thỏa mãn hệ thức. -Viết trên chỉ là những bước làm nháp còn khi trình bày thì ta chỉ cần thay a,b,c,d và biến đổi theo cách nhóm thông thường. 3.Bài tập tương tự:Phân tích đa thức thành nhân tử: a/ 4 2 1x x  b/ 4 3 22 4 2 3x x x x    II.Giải phương trình bậc 4 Nhận thấy rằng ứng dụng 1 cũng chính là cơ sở để giải phương trình bậc chúng tôi nhiên nếu làm theo cách đó thì việc thử hệ số rất khó.Do vậy theo ý tưởng của ferari ta có cách thực hiện sau: 1.Xét pt bậc 4 dạng đầy đủ : 4 3 2 0ax bx cx dx e     Ta đi thực hiện các bước sau: B1:-Khử hệ số bậc 4 và 3 bằng hằng đẳng thức 2 2 2 4 3 2 2( ) 2mx nx m x mnx n x    -Rồi đẩy các số hạng còn lại sang phải. B2: Cộng hai vế với 2 2( ) 4 y y mx nx  Ta được vế trái là 1 bình phương. B3:Tìm y để vế phải cũng ghép được thành 1 bình phương.(ta sẽ phải giải phương trình bậc 3 đưa vào máy tính) 2.Thực nghiệm: Giải phương trình 4 3 22 8 5 0x x x x     Nháp: Biến đổi thành 2 2( ) 8 5x x x   Thêm vào 1 lượng thành 2 2 2 2 2 2( ) ( ) 8 5 ( ) 4 4 y y x x y x x x y x x         Tìm y để 2 2 2 28 5 ( ) yx (8 ) 5 4 4 y y x y x x y x         ghép được thành 1 bình phương ↔ 2 2( 8) 4 ( 5) 0 4 y y=4. Lời giải: 4 3 2 4 3 2 2 2 2 2 2 2 8 5 0 2 4( ) 4 4 12 9 ( 2) (2 3) x x x x x x x x x x x x x x                    (Bạn đọc tự giải quyết tiếp) III.Rút gọn biểu thức chứa căn 1.Hướng:Viết biểu thức trong căn về dạng nA rồi tìm các hệ số trong A 2.Một số dạng căn bản: - 2 2 2( )a b c a b c ac b    - 3 3 2 3 2( ) ( 3 ) 3a b c b ba ac c bca     Trần Trung Hiếu(Học sinh trường THCS Chu Mạnh Trinh) 3 *Ví dụ :Bài 57(NCCĐ đại 9) Rút gọn 3 320 14 2 20 14 2   Lời giải bài này bạn có thể tham khảo giải nhưng làm theo hsbt với 20 14 2 có 3 2 3 2 2 3 14 6 20 a c a c ca       Chọn a=1 từ pt1 →c= 2 kết hợp 2 → c=2 → 320 14 2 (2 2)   Tương tự có 320 14 2 (2 3)   Nhắc lại : Việc chọn a=1 là thử chọn ngẫu nhiên nhưng tuân thao nguyên tắc đơn giản nhất va phải thỏa mãn hệ thức *Bài tập mở rộng Rút gọn 10 6 15 10   . (gợi ý: đưa biểu thức trong căn về dạng 2( 2 3 5)a b c  IV.Phương pháp đa thức phụ 1.Đầu tiên ta đi xét ví dụ: Cho đa thức f(x)= 4 3 2x ax bx cx d    .Và (1) (2) (3) ( 8) (12)10, 20, 30. ính P P P T P P    Lời giải : Xét đa thức Q(x)=P(x)-10x .Ta có (1) (1) 10 0Q P   (2) (2) 20 0Q P   (3) (3) 30 0Q P   →x=1,x=2,x=3 là ba nghiệm của Q(x).Do degQ(x)=degP(x) nên ta có Q(x)=(x-1)(x-2)(x-3)(x-a) →P(x)=(x-1)(x-2)(x-3)(x-a)+10x →P(12)+ P(-8)=19840 2.Nhận xét:Ta thấy khó nhất ở bài toán trên là việc tìm ra Q(x) mà thỏa mãn Q(n)=0.Tuy nhiên dưới con mắt HSBĐ ta thấy tìm Q(x) như sau: B1:Đặt Q(x)=P(x)-h(x).Trong đó h(x) là đa thức thỏa mãn : Degh(x)< degP(x) Degh(x)<số giá trị đã cho trước của P(x) (điều này bạn đọc hãy công nhận vì giải thích rất phức tạp) B2:Cho Q(n)=P(n)-h(n)=0.Rồi từ đó tìm các hệ số của h(x) 3.Ứng dụng thực nghiệm Cho đa thức f(x)= 4 3 2x ax bx cx d    . Và (1) (3) (5) ( 2) (0)3, 11, 27. ính P P P T P P    Nháp: Đặt Q(x)=P(x)-h(x)→ Degh(x)<4(bậc của P(x)) Degh(x)<3(số giá trị P(x) đã biết) Trần Trung Hiếu(Học sinh trường THCS Chu Mạnh Trinh) 4 →h(x)= 2ax bx c  .Ta có (1) (1) (1) (3) (3) (3) (5) (5) (5) 0 0 0 Q P h Q P h Q P h             → 3 9 3 11 25 5 27 a b c a b c a b c            → 1 0 2 a b c      →Q(x)=P(x)-(x2+2) (bạn đọc tự làm tiếp) Chú ý :Quy trịnh tìm h(x),Q(x)chỉ ở trên nháp cách trình bày như ví dụ đã nêu Cái này hơi ngoài lề nhưng ta thấy nếu đề bài cho tính P(x1)+p(x2)thì x1x2<0 còn 4.Một số bài tập ứng dụng Cho đa thức f(x)= 3 2ax bx cx d   . a/Cho (1999) (2000) 2001 2001 f f    CM:A= (2001) (1998)f f là hợp số. b/Cho (0) (1) (2) (3) 2 9 19 32 f f f f        Tìm f(x) Chắc hẳn khi đọc đến đây các bạn đã phần nào hiểu được cơ chế làm việc của HSBĐ.Các ứng dụng sau tôi sẽ chỉ nêu phương pháp còn việc cảm nhận nó theo hệ số bất định là việc của các bạn V.Đặt ẩn phụ để giải phương trình 1.Phương trình vô tỉ dạng 2ax b mx nx p    ^-^PP:Đặt ax b cy d   → 2 22 0cy cdy ax d b     (1) Thay ẩn phụ vào phương trình ta lại có 2 0mx nx cy p d     (2) Chọn c,d sao cho 2 2 c cd a b m n y d b c cd a b m n y d b            (*) Chú ý: tỉ lệ cuối có thể không xét nếu nó bằng 1 Khi đó (1) và (2) tạo thành hệ đối xứng *Thực nghiệm kiểm tra GPT: 2 4 3 5x x x    Nháp Trần Trung Hiếu(Học sinh trường THCS Chu Mạnh Trinh) 5 Thay các hệ số vào có 2 2 2 2 1 4 3 2 1 5 1 4 3 2 1 5 c d c cd d c d c cd d              → chọn c=1,d=2 Bài giải Đặt 5 2(2 )x y y    .Ta có hệ pt 2 2 4 1 0 4 1 0 x y x y x y           → 3 0 x y x y      (bạn đọc tự giải quyết tiếp) *Mở rộng :Hướng làm này còn đúng với pt dạng 3 33 ax b mx nx px e     2. Phương trình vô tỉ dạng 2 2 21 1 1 2 2 2 3 3 3a x b x c a x b x c a x b x c        *PP: *Ứng dụng: GPT 2 22 2 1 3 4 1x x x x x      Nháp Thay vào hệ có 1 1 3 n m     Lời giải: Trần Trung Hiếu(Học sinh trường THCS Chu Mạnh Trinh) 6 Chúng ta còn có thêm 1 dạng nữa các bạn hãy thử nghiên cứu Trần Trung Hiếu(Học sinh trường THCS Chu Mạnh Trinh) 7 Trần Trung Hiếu(Học sinh trường THCS Chu Mạnh Trinh) 8 Trần Trung Hiếu(Học sinh trường THCS Chu Mạnh Trinh) 9 VI.Biện luận phương có nghiệm duy nhất 1.Xét 1 ví dụ Tìm m để phương trình sau có nghiệm duy nhất 4 4 2 2x x x x m      (1) Nhận xét : (1) có nghiệm là x thì cũng có nghiệm là 2-x(không tin bạn thử mà xem) →để pt có nghiện duy nhất thì x=2-x →x=1→m=4. Thay m=4 rồi dùng AM-GM sẽ cm được (1) có nghiệm duy nhất là 1 →Ta thấy tìm 2 nghiệm có quan hệ với nhau cùng là nghiệm của (1) là bước khó nhất 2.PP: GS pt có nghiệm là x thì có nghiệm là ax+b rồi tìm a và b. Tìm tham số rồi thử tham số đó vào pt ban đầu cm nó có nghiệm duy nhất. 3.Thực nghiệm: Tìm m để phương trình sau có nghiệm duy nhất 4 5x x m    (1) Nháp x là nghiệm của (1) thì 4 5x x m    ax+b là nghiệm của (1) thì 4 5ax b ax b m      Để pt có nghiệm là x thì có nghiệm là ax+b thì 4 5 5 4 ax b x ax b x          → 1 1 a b      (lời giải chi tiết dành cho bạn đọc) VII.Bất đẳng thức và cực trị Hướng 1:Chỉ ra giá trị của cực trị rồi tìm nó. Bài yêu cầu tìm GTNN của A ta chỉ ra B là min rồi đi tìm B thỏa mãn 0A B  (tương tự với GTLN) *Một số ví dụ Tìm GTLN 2 ( ) 1 1 4 x f x x x      Nháp 2 2 4 2 4 2 2 2 2 1 1 0 1 1 4 4 4 2 1 ( 2 1 ) 0 16 2 16 2 x x x x B x x B x Bx x B x B x B x B                               Trần Trung Hiếu(Học sinh trường THCS Chu Mạnh Trinh) 10 Nhận thấy nếu 2 2 4 2 1x B x B    (#) viết được dưới dạng tổng 1 bình phương thì rất đẹp.Để làm được điều đó ta đặt 21 x y  rồi viết lại (#) theo y và B tìm B để pt mới có nghiệm kép .Ta tìm được B=2 Lời giải Đk:-1≤x≤1 Có 2 2 2 2 2 2 2 1 1 4 2 2 1 16 (1 1 ) 0( ) 16 x x x x x x x x ld                 →Max f(x)=2↔x=0 VD2.Cho 1a  .Tìm max f(x)= 23 7 22a a a    *Cực trị dạng 2 2 ax mx bx c nx p     với 2mx nx p  đã xác định dấu -PP giải: Xét B= 2 2 2 2 ax ( ) ( ) mx mx bx c a mA x b nA c pA A nx p nx p              Tìm A sao cho tử của B có nghiệm képtức 2 0 (@) ( ) 4( )( ) 0 a mA b nA a mA c pA           Khi đó A là GTNN hoặc GTLN -Thực nghiệm: Tìm cực trị của 2 4 3 1 x x   Nháp Thay vào (@) có 0 ( 1)( 4) 0 A A A      → 4 1 A A     Lời giải : Có 2 2 2 4 3 ( 2) 1 0 1 1 x x x x        2 2 2 4 3 (2 1) 4 0 1 1 x x x x         (Bạn đọc tự giải tiếp) Hướng 2: Chọn điểm rơi Trần Trung Hiếu(Học sinh trường THCS Chu Mạnh Trinh) 11 Khác với việc ta cho biểu thức B làm GTNN hay GTLN.Bây giờ ta cho biểu thức đạt cực trị khi biến x=m. *Một số ví dụ Tìm GTNN của 4 2( ) 2 40 101f x x x x    Nháp Giả sử fmin khi x=m 4 2 2 2 2 2 2 4 4 2 2 2 2 2 2 4 2 2 2 2 2 2 2 2 2 ( ) 2 40 101 ( ) 2( 1) 40 101 10 101 ( ) 2 1 2( 1) 10 101 100 ( ) ( ) 1 2( 1) ( 1) f x x x x x m m x x m m x m x x m m m x m x m m m                              → 2 10 2 1 x m m m      Lời giải: 4 2 2 2 2( ) 2 40 101 ( 4) ( 2) 45 45f x x x x x x          Dấu bằng xảy ra khi x=2 PP này còn có ứng dụng rất lớn trong các bất đẳng thức AM-GM ,B.C.S,Holder, C.Một số mở rộng 1.Trong tính giá trị biểu thức bằng pp quy nạp Tính 2 2 2 21 3 5 ... (2 1)nS n      Nháp Giả sử Sn= 3 2an bn cn d   . Do S0=1 nên d=1 Thay n=1,2,3.Ta có hệ 9 8 4 2 34 27 9 3 83 a b c a b c a b c            ↔ 4 3 4 1 3 a b c         Thay vào có Sn= 3 24 14 1 3 3 n n n   . Lời giải : Dùng quy nạp mà cm 100% ra 2.Tìm quy luật dãy số Tìm số hạng tổng quát dãy :2,5,9,14,20.. Gọi Un= 2an bn c  .Thay n=1,2,3 .Tính như mở rộng 1 có Un= 21 3 2 2 n n D.Kết thúc Chắc các bạn đã hiểu cách áp dụng của kĩ thuật này trong giải toán.Do đó sau mỗi bài toán hãy thử dừng lại hỏi :"Lời giải được nghĩ với ý tưởng chủ đạo là gì ? Liệu với các bộ số khác bài toán có được giải tương tự ? Nếu có hãy lập ra 1 pp nhờ HSBĐ ".À nói thêm Trần Trung Hiếu(Học sinh trường THCS Chu Mạnh Trinh) 12 cái này rất quan trọng các pp tôi đưa ra luôn có thể mở rộng bởi bậc của các đa thức đa dạng tùy từng bài.

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu Kém

A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Đổi mới phương pháp dạy học là tổ chức các hoạt động tích cực cho người học, kích thích, thúc đẩy, hướng tư duy của người học vào vấn đề mà họ cần phải lĩnh hội. Từ đó khơi dậy lòng ham muốn, phát triển nhu cầu tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh trong tự thân của người học để phát huy khả năng tự học của họ. Đối với học sinh bậc THCS cũng vậy, các em là những đối tượng người học nhạy cảm việc đưa phương pháp học tập theo hướng đổi mới là cần thiết và thiết thực. Vậy làm gì để khơi dậy và kích thích nhu cầu tư duy, khả năng tư duy tích cực, chủ động, độc lập, sáng tạo phù hợp với đặc điểm của môn học đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh? Trước vấn đề đó người giáo viên cần phải không ngừng tìm tòi khám phá, khai thác, xây dựng hoạt động, vận dụng, sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học trong các giờ học sao cho phù hợp với từng kiểu bài, từng đối tượng học sinh, xây dựng cho học sinh một hướng tư duy chủ động, sáng tạo. Bên cạnh đó, vấn đề học sinh yếu kém hiện nay cũng được xã hội quan tâm và tìm giải pháp để khắc phục tình trạng này, để đưa nền giáo dục đất nước ngày một phát triển toàn diện thì người giáo viên không chỉ phải biết dạy mà còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu kém.  Vấn đề nêu trên cũng là khó khăn với không ít giáo viên nhưng ngược lại, giải quyết được điều này là góp phần xây dựng trong bản thân mỗi giáo viên một phong cách và phương pháp dạy học hiện đại giúp cho học sinh có hướng tư duy mới trong việc lĩnh hội kiến thức. II. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU Do điều kiện và thời gian nên phạm vi nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm chỉ gói gọn ở những đối tượng học sinh yếu kém năm học 2010 -2011 của trường THCS Phong Thạnh Tây – Giá Rai – Bạc Liêu. B. NỘI DUNG. I. THỰC TRẠNG Trường THCS Phong Thạnh Tây thuộc vùng nông thôn sâu của Huyện Giá Rai. Đa số học sinh đều chăm ngoan, vâng lời thầy cô, tích cực trong học tập. Bên cạnh đó vẫn còn một số học sinh thờ ơ với việc học và chưa xác định rõ mục đích của việc học tập là để làm gì dẫn đến kết quả học tập yếu kém. Sau khi kiểm tra chất lượng đầu năm xong, lãnh đạo trường thường chia ra một lớp điểm sáng và một, hai lớp còn lại là học sinh yếu kém. Những đối tượng này không thích học phụ đạo nên rất khó khăn trong việc giảng dạy của giáo viên. Hiểu được vấn đề đó và dưới sự chỉ đạo của Phòng GD&ĐT Giá Rai lãnh đạo trường phân công những đồng chí giáo viên có kinh nghiệm, nhiệt tình để dạy các lớp này. Năm học 2010-2011 tôi được phân công dạy môn Tiếng Anh khối 9 trong đó cũng có một lớp điểm sáng và một lớp học sinh yếu kém. Qua kết quả khảo sát đầu năm có đến 56,7% học sinh yếu-kém,Tôi đã tìm hiểu và nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, chỗ yếu của các em để từ đó tìm ra phương pháp phụ đạo cho phù hợp. Phần lớn các em cho biết không thích học phụ đạo sở dĩ đi học là do nhà trường bắt buột vì thời khóa biểu phụ đạo được xem như là buổi học chính khóa. Qua nhiều năm giảng dạy và làm công tác phụ đạo học sinh yếu kém, tôi nhận thấy muốn nâng dần chất lượng học sinh yếu kém không phải là chuyện một sớm một chiều mà nó đòi hỏi phải có sự kiên nhẫn và lòng quyết tâm của người giáo viên. Sau đây tôi xin phân tích một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém để từ những nguyên nhân đó có thể tìm ra hướng khắc phục khó khăn giúp học sinh vươn lên trong học tập. II. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HỌC SINH YẾU KÉM: 1. Về phía học sinh: Học sinh là người lĩnh hội những tri thức thì nguyên nhân học sinh yếu kém có thể kể đến là do cá nhân học sinh trong đó có thể kể đến một số nguyên nhân sau: – HS lười học: qua quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy rằng đa số các học sinh yếu kém là những học sinh cá biệt, vào lớp không chịu chú ý chuyên tâm vào việc học, về nhà thì không xem bài, không chuẩn bị bài, cứ đến giờ học thì cặp sách đến trường, nhiều khi học sinh còn không biết ngày đó học môn gì, vào lớp thì không chép bài vì lí do là không có đem tập học của môn đó. Còn một bộ phận không ít học sinh thì không xác định được mục đích của việc học, học để có điều kiện đi chơi, đến lớp thì lo chọc phá bạn bè, gọi đến thì không biết trả lời, đang giờ học thì xin ra ngoài để chơi. Theo sách giáo khoa hiện hành thì để dễ dàng tiếp thu bài, nhanh chóng lĩnh hội được tri thức thì người học phải biết tự tìm tòi, tự khám phá, có như thế thì khi vào lớp mới nhanh chóng tiếp thu và hiểu bài một cách sâu sắc được. Tuy nhiên, phần lớn học sinh hiện nay đều không nhận thức được điều đó. Học sinh chỉ đợi đến khi lên lớp, nghe giáo viên giảng bài rồi ghi vào những nội dung đã học rồi về về nhà lấy tập ra “học vẹt” mà không hiểu được nội dung đó nói lên điều gì. 2. Về phía giáo viên: Học sinh học yếu không phải nguyên nhân toàn là ở học sinh mà một phần ảnh hưởng không nhỏ là ở người giáo viên. Thầy hay thì mới có trò giỏi. Ngày nay, để có thể thực hiện tốt trong công tác giảng dạy thì đòi hỏi người giáo viên phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Tuy nhiên, ở đây không phải giáo viên nào có trình độ học vấn cao, tốt nghiệp giỏi thì sẽ giảng dạy tốt mà ở đây đòi hỏi người giáo viên phải biết lựa chọn phương pháp dạy học nào là tốt với từng đối tượng học sinh và với từng nội dung kiến thức. Qua quá trình công tác tôi nhận thấy, vẫn còn một bộ phận giáo viên chưa thật tâm huyết với nghề, chỉ rập khuôn theo một khuôn mẫu nhất định mà chưa chú ý quan tâm đến các đối tượng học sinh. Chưa tìm tòi nhiều phương dạy học mới kích thích tích tích cực chủ động của học sinh. Chưa thật sự quan tâm tìm hiểu đến hoàn cảnh của học sinh, có khi học sinh hỏi một vấn đề gì đó thì giáo viên lại tỏ ra khó chịu hay trả lời cho học sinh với thái độ cọc cằn làm cho học sinh không còn dám hỏi khi có điều gì chưa rõ. – Gia đình không quan tâm: Một số gia đình có khả năng cho con đi học nhưng không quan tâm đến việc học hành của con em hàng ngày, không biết được thời gian học của các em bắt đầu lúc mấy giờ và kết thúc khi nào, thời khóa biểu hôm nay có mấy tiết gồm những môn gì? Không đôn đốc, nhắc nhở và tạo điều kiện học tập cho các em, họ cứ nghĩ học đến đâu hay đến đó, thích học thì cho học, chán thì cho nghỉ. – Do sức khỏe yếu: Một số em thể trạng yếu , không thích nghi với điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột đẽ mắc bệnh đẫn đến phải nghỉ học đến khi nào khỏi bệnh đi học lại dẫn đến tiếp thu không kịp bài. Hoặc một số em có bệnh bẩm sinh, trí tuệ kém thông minh cũng là nguyên nhân dẫn đến yếu kém. III. CÁC BIỆN PHÁP PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU KÉM: 1. Giáo dục ý thức học tập cho học sinh: – Giáo viên phải giáo dục ý thức học tập của học sinh ở bộ môn mình, tạo cho học sinh sự hứng thú trong học tập bộ môn từ đó sẽ giúp cho học sinh có ý thức vươn lên. Trong mỗi tiết dạy giáo viên nên liên hệ nhiều kiến thức vào thực tế để học sinh thấy được ứng dụng và tầm quan trọng của môn học trong thực tiễn. – Phải tạo cho không khí lớp học thoải mái nhẹ nhàng, đừng để cho học sinh sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu, tôn trọng mình. Giáo viên không nên dùng biện pháp đuổi học sinh ra ngoài không cho học sinh học tiết học đó khi học sinh không ngoan, không chép bài vì làm như thế học sinh sẽ không được học tiết đó thế là học sinh lại có một buổi học không thu hoạch được gì. Chúng ta phải tìm cách khuyên nhủ, nhắc nhở học sinh giáo dục ý thức học tập của học sinh hoặc dùng một biện pháp giáo dục đó chứ đừng đuổi học sinh ra ngoài trong giờ học. – Bên cạnh đó, việc giáo dục ý thức học tập của học sinh cũng phụ thuộc rất lớn vào giáo viên chủ nhiệm, giáo viên chủ nhiệm là người gần gủi với học sinh, phải tìm hiểu đối từng đối tượng học sinh, thường xuyên theo dõi các em về cả học lực và hạnh kiểm để kịp thời giáo dục, uốn nắn học sinh của mình.       Ví dụ 1: Học sinh Nguyễn Văn B, học lớp 9A2, không thích học nhưng vì bị gia đình ép buộc đi học nên đến lớp không chú ý nghe giảng mà chỉ lo nói chuyện, làm mất trật tự trong giờ học, kết quả là học sinh đó học tập kém.           Hướng giải quyết: Trước tiên, Giáo viên chủ nhiệm trao đổi với chính học sinh đó để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của học sinh, đồng thời hỏi bạn bè của học sinh đó về hoàn cảnh gia đình và sinh hoạt của học sinh. Từ đó giáo viên tìm hiểu được nguyên nhân và thường xuyên gần gủi, khuyên nhủ học sinh về thái độ học tập, tổ chức các trò chơi có lồng ghép việc giáo dục học sinh về ý thức học tập tốt và ý thức vươn lên trong học tập, làm cho học sinh nhận thấy tầm quan trọng của việc học. Bên cạnh đó, giáo viên trao đổi với gia đình, phối hợp với gia đình giáo dục ý thức của học sinh, khuyên nhủ gia đình không nên quá gò ép học sinh mà từ từ hướng dẫn học sinh học tập, thường xuyên gần gủi giúp đở em để em thấy được sự quan tâm của gia đình mà phấn đấu. 2. Kèm cặp học sinh yếu kém: – Ngay từ đầu năm, giáo viên phải lập danh sách học sinh yếu kém bộ môn mình ở năm học trước để nắm rõ các đối tượng học sinh, lập danh sách học sinh yếu kém và chú ý quan tâm đặc biệt đến những học sinh này trong mỗi tiết học như thường xuyên gọi các em đó lên trả lời, khen ngợi khi các em trả lời đúng, có thể cho điểm tối đa để khích lệ tinh thần học tập cho các em. – Khi soạn giáo án phụ đạo cho các em phải chú ý đến những điểm kiến thức mà các em đã hỏng trong năm học trước và trong năm học này để dần bổ sung những kiến thức đó cho các em. Ví dụ: ở bộ môn Tiếng Anh, khi học đến lớp 8 các em đã được học thì quá khứ đơn nhưng khi giáo viên cho bài tập các em làm không đúng, lúc này giáo viên phải giải thích lại cách dùng của thì này và ghi lại công thức cho các em và cho nhiều ví dụ mẫu để cho các em hiễu rõ và có thể làm được. – Phải thường xuyên kiểm tra sĩ số: Để nắm được nguyên nhân các em nghỉ học, răn đe đối với các em nghỉ học nhiều lần trong các buổi phụ đạo không có lý do, động viên đối với những trường hợp nghỉ có lí do chính đáng, phải kết hợp với GVCN trong việc theo dõi tỉ lệ chuyên cần của các em. Vì có đi học đều mới có thể lĩnh hội được kiến thức. – Kiểm tra vở học của các em vào cuối buổi học: Một số em ý thức học chưa tốt thường không chép bài đầy đủ, khi nghe hiệu lệnh trống là gấp vỡ lại ra chơi. Giáo viên có thể nhắc nhở ngay từ đầu giờ khi vào lớp để các em theo dõi và ghi chép đầy đủ nhưng khi có một dấu hiệu nghi ngờ nào đó thì cuối buổi gọi em đó mang vỡ ghi chép lên xem, nếu em đó chưa hoàn thành thì cho chép bài lại giờ ra chơi. Có như thế các em mới chép bài đầy đủ. – Kiểm tra kiến thức cũ trước khi bổ sung kiến thức mới: Vào đầu giờ giáo viên nên hỏi lại kiến thức cũ đã học ở tiết trước và cho các em 1, 2 câu bài tập để áp dụng, nếu các em làm được thì mới dạy kiến thức khác. Hay cuối giờ dành khoảng 5 đến 10 phút cho các em kiểm tra giấy xem các em có lĩnh hội được bài giảng hôm nay không. Từ đó có hướng thích hợp để phụ đạo cho các em tốt hơn. IV. KẾT QUẢ: Học sinh yếu kém đầu năm học 2010 – 2011: Moân Toång soá HS Gioûi Khaù Trung bình TB trôû leân Yeáu Keùm SL % SL % SL % SL % SL % SL % Tiếng Anh 9 60 6 23,0 20 33,3 26 43,3 22 36,7 12 20,0 Học sinh yếu kém học kỳ I, năm học 2010 – 2011: Moân Toång soá HS Gioûi Khaù Trung bình TB trôû leân Yeáu Keùm SL % SL % SL % SL % SL % SL % Tiếng Anh 9 59 4 6,8 12 20,3 33 55,9 49 83,1 10 16,9 Học sinh yếu kém cuối năm học 2010 – 2011: Moân Toång soá HS Gioûi Khaù Trung bình TB trôû leân Yeáu Keùm SL % SL % SL % SL % SL % SL % Tiếng Anh 9 58 3 5,2 21 23,0 30 51,7 54 93,1 4 6,9 C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I. KẾT LUẬN: – Giáo viên phải nhiệt tình giảng dạy, kiểm tra bài học của các em thường xuyên trên lớp. – Có kế hoạch phụ đạo càng sớm càng tốt. – Sử dụng nhiều đồ dùng dạy học, vận dụng nhiều phương pháp hay đa dạng để thu hút học sinh. – Ôn tập thật kỹ và phải có đề cương ôn thi cho học sinh trước khi làm bài kiểm tra , thi học kỳ. – Luôn là tấm gương tự học, sáng tạo để học sinh noi theo. Rèn cho học sinh tính hiếu học, cách học tập tốt, kiên trì vượt khó. – Làm cho học sinh hiểu rõ mục đích của việc học tập và trở nên yêu thích môn học. – Phụ huynh nên quan tâm đến việc học của con em mình, nắm bắt được thời khóa biểu, thời gian học hàng ngày và phải thường xuyên liên hệ với GVCN hay GV bộ môn để nắm bắt được việc học của các em. II. KIẾN NGHỊ: – Nhà trường cần chỉ đạo và theo dõi chặt chẽ công tác phụ đạo học sinh yếu kém, chỉ đạo cho các bộ phận đoàn thể trong nhà trường thực hiện tốt việc giáo dục ý thức đạo đức, học tập cho các em. – Phát động nhiều phong trào thi đua học tập trong học sinh đồng thời tạo sân chơi lành mạnh cho học sinh. – GVCN cần tăng cường công tác giáo dục ý thức học tâp của học sinh, phối hợp chặt chẽ với phụ huynh để kịp thời uốn nắn các em. – GV bộ môn phải tìm ra những biện pháp dạy có hiệu quả, thường xuyên theo dõi học lực của học sinh để so sánh và đánh giá mức tiến bộ của các em. Phong Thạnh Tây, ngày 20 tháng 5 năm 2011 HỘI ĐỒNG KHGD TRƯỜNG Người viết Huỳnh Thanh Tùng

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Phương Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt Ở Cấp Thcs

Ví dụ: Năm học này 2024-2024 có học sinh Tuấn, Tới, Khánh, rất hiếu động, nghịch ngợm, hay bỏ tiết ra ngoài,nghỉ học không lý do, trong giờ học thì nói chuyện riệng hoặc ngủ trong lớp,vi phậm nội quỵ đi xe máy, đánh nhau, thường dùng tay đập vào bàn trong giờ học, tóc để chỏm thỉnh thoảng doạ cờ đỏ khi bị ghi tên vì phạm lỗi, khi bị các thầy cô nhắc nhở thì thường tỏ ra chống đối, tỏ thái độ bất cần. Qua tìm hiểu tôi đã dùng nhiều biện pháp khuyên bảo răn đe. Thấy được sự quan tâm của giáo viên chủ nhiệm em đã có tiến bộ rõ rệt. Trong đợt thi đua hội khỏe phù đổng cấp trường, có môn đẩy gậy em Tuấn cũng tham gia. Hay như học sinhTới, Khánh nghỉ học vì ham chơi không thích đi học, lúc này tôi cần tăng cường các hoạt động tập thể để thu hút học sinh mặt khác kết hợp chặt chẽ với phụ huynh, nhà trường và chính quyền địa phương để đưa ra những biện pháp kịp thời.

giải pháp để thực hiện kế hoạch đó. - Người giáo viên chủ nhiệm tốt không những là người quản lí học sinh tốt mà còn là người bạn biết cảm thông và chia sẻ những khó khăn cùng học sinh. - Đầu tiên là tìm hiểu học sinh lớp mình chủ nhiệm có tổng bao nhiêu học sinh, bao nhiêu học sinh dân tộc thiểu số, phát hiện ra những học sinh có năng khiếu văn nghệ hoặc thể thao trong lớp, tìm hiểu em nào có thành tích gì hay thường vi phạm những gì, từ đó định hướng xây dựng những biện pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh. - Tiếp theo để xây dựng đội ngũ ban cán sự lớp,‎ tôi cho các em bàn bạc, bình bầu ban cán sự lớp và tạm thời chấp nhận đội ngũ ấy kèm theo điều kiện sẽ có thưởng và có phạt rõ ràng. Giáo viên chủ nhiệm có hướng đưa các bạn dân tộc thiểu số có lực học khá nằm trong ban cán sự lớp. Sự phân công nhiệm vụ cụ thể như sau: Nhiệm vụ của lớp trưởng: + Theo dõi, kiểm tra mọi hoạt động của lớp. + Điểm danh và ghi sĩ số của lớp vào góc trên (bên phải bảng) ngay sau khi xếp hàng vào lớp. + Điều khiển các bạn xếp hàng vào lớp, xếp hàng chào cờ đầu tuần, xếp hàng tập thể dục. + Đề nghị giáo viên tuyên dương, phê bình cá nhân hoặc tập thể. Nhiệm vụ của lớp phó học tập: + Tổ chức lớp truy bài 15 phút đầu giờ; giúp đỡ các bạn học yếu học bài, làm bài. + Theo dõi việc học tập của lớp trong các tiết chuyên. + Làm mọi việc của lớp trưởng khi lớp trưởng vắng mặt hoặc nghỉ học. Nhiệm vụ của lớp phó văn thể: + Tổ chức lớp hát múa 15 phút đầu giờ. + Tổ chức và tham gia các hoat động Văn - Thể - Mĩ của lớp do nhà trường tổ chức. + Tham gia các buổi tập huấn múa hát tập thể của liên đội về tập huấn lại cho lớp. Nhiệm vụ của lớp phó lao động: + Phân công, theo dõi và kiểm tra các tổ trực nhật và chịu trách nhiệm tắt đèn, quạt khi ra về. + Phân công các bạn tưới cây trong lớp, chăm sóc bồn hoa và cây trồng của lớp. + Theo dõi, kiểm tra các bạn khi tham gia các buổi lao động do trường, lớp tổ chức. + Phối hợp với lớp trưởng, lớp phó học tập giữ trật tự lớp. Nhiệm vụ của mỗi em, tôi ghi rõ ràng trong một cuốn sổ, sau đó phát cho các em. Tôi hướng dẫn từng em cách ghi chép trong sổ một cách khoa học, cụ thể, rõ ràng. Mỗi em sẽ làm đúng các nhiệm vụ của mình. Ngoài ra lớp trưởng và 2 lớp phó phải đoàn kết và hợp tác chặt chẽ với nhau trong công việc chung. Sau một thời gian giáo viên nắm bắt được năng lực của mỗi em từ đó có thể điều chỉnh đội ngũ ban cán sự lớp năng lực hơn (Năng lực ở đây là cả về mặt học tập và năng lực quản lý‎). - Để xây dựng chỗ ngồi phù hợp, sau một thời gian theo dõi tôi sắp xếp lại chỗ ngồi sao cho chỗ nào cũng có bạn học sinh giỏi, khá, trung bình, yếu, xếp chỗ ngồi xen kẽ giữa các bạn dân tộc thiểu số với các bạn khác trong lớp. Trong mỗi bàn cần sắp xếp em học giỏi cạnh em học yếu, em ngoan ngồi cạnh em chưa ngoan, biết giúp đỡ nhau, phát huy được vai trò tự quản của học sinh. b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp Trường THCS Phan Đình Phùng tiếp tục thực hiện nghiêm túc phong trào thi đua làm theo Bác Hồ dạy: "Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua học tốt dạy tốt" Phát huy tính gương mẫu, tinh thần tự học, sáng tạo của cán bộ, giáo viên, nhân viên, đảm bảo kỉ cương trong nhà trường, khơi dạy và phát huy tinh thần trách nhiện, tình thương của thầy cô giáo đối với học sinh. Trong phạm vi nghiên cứu của mình tôi đưa ra một số giải pháp trong công tác chủ nhiệm lớp 9 có ý thức học tập tốt hơn. Tôi đã áp dụng những giải pháp sau đây Xây dựng được một tập thể lớp vững mạnh, đoàn kết Đây là yếu tố vô cùng quan trọng nhằm tạo ra một không khí học tập, vui chơi lành mạnh, giúp các em mạnh dạn không tự ti, giáo viên chủ nhiệm tạo không khí lớp học đầm ấm, nhẹ nhàng để tất cả học sinh không phải " sợ" đến trường mà các em luôn cảm nhận được: " Mỗi ngày đến trường là một ngày vui". Có như vậy mới thu hút được sự tham gia tích cực của tất cả các em học sinh. Khi các em tham gia các hoạt động tập thể sẽ giúp giáo viên chủ nhiệm nắm bắt được hoàn cảnh của các em, nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng của các em để đưa ra những biện pháp giúp đỡ. Giáo viên chủ nhiệm phải làm sao để các em coi lớp học như một gia đình, thầy cô như là cha mẹ, các bạn trong lớp như anh em một nhà. Bất cứ một ai khi đã chọn ngành nghề cho mình thì đều xác định cái đích mình cần đạt đến. Cái đích đó tưởng như rất gần, rất dễ thực hiện, nhưng trong thực tiễn không phải như vậy, mà nhiều khi để đạt được phải đổ nhiều mồ hôi, nước mắt và thậm chí cả tính mạng để đạt được nó. Học sinh lớp 9 ở lứa từ 14 đến 15 tuổi, các em rất nghịch, hiếu động, chưa làm chủ được bản thân, chưa nhận thức được điều gì là đúng và điều gì là sai, hay bắt chước và chịu tác động của mọi việc xảy ra xung quanh mình. Chính vì thế, nếu môi trường tác động tốt thì các em sẽ có những hành vi và đạo đức tốt, còn ngược lại thì sẽ rất tồi tệ, có thể các em sẽ hư hỏng, dối trá, mất tư cách, đạo đức kém.Tuy nhiên ở lứa tuổi này, các em cũng rất thích được tán dương, khen ngợi. Vì vậy chúng ta cần những giải pháp thích hợp để giáo dục và định hướng đúng đắn cho các em. Có như vậy, chúng ta mới giáo dục học sinh ở bậc trung học cơ sở phát triển một cách đúng nhất về nhân cách cũng như nhận thức của lứa tuổi mình, đặc biệt là các học sinh dạng cá biệt, giáo viên cần có cần có những biện pháp riêng, phù hợp với hoàn cảnh của từng em, mà từ đó mới hướng các em đi vào nề nếp. Muốn làm điều đó giáo viên cần phải có những hiểu biết nhất định về từng hoàn cảnh, từng nguyên nhân tạo nên những học sinh cá biệt đó và từ đó xây dựng các biện pháp riêng cụ thể áp dụng cho từng em học sinh cá biệt. 2, Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình và tâm sinh lí của từng học sinh: Đây là một yếu tố cũng không kém phần quan trọng. Ngay sau khi được phân công làm công tác chủ nhiệm lớp việc đầu tiên là tôi xem hồ sơ lí lịch học sinh. Sau đó tranh thủ thời gian đi thăm các gia đình học sinh có hoàn cảnh đặc biệt như: học sinh mồ côi, học sinh thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo, những học sinh nhà ở xa trường. Khi đến thăm gia đình học sinh sẽ giúp chúng ta nắm bắt được hoàn cảnh để chúng ta có biện pháp giúp đỡ. Những năm trước tỷ lệ học sinh bỏ học ở trường tôi khá cao, đây là một vấn đề hết sức nan giải là việc làm khó nhưng không phải là chúng ta không làm được. Trước hết giáo viên phải tìm hiểu nguyên nhân học sinh bỏ học, sau đó cùng với các học sinh trong lớp đến nhà vận động. Nếu nguyên nhân do bố mẹ bắt bỏ học thì phải giải thích cho cho phụ huynh hiểu trẻ em có quyền được đến trường, được ăn, được học, được vui chơi ,như thế là vi phạm pháp luật, đồng thời huy động các đoàn thể tại địa phương cùng vào cuộc. Nếu vì hoàn cảnh gia đình khó khăn thì có thể vận động giúp đỡ như tặng xe đạp, áo quần, sách vở Trường hợp học sinh không muốn học nữa thì phải làm công tác tư tưởng để em đó nhận thức ra tầm quan trọng của việc học. Mặt khác một số học sinh do nhà xa trường nên không có xe đạp để đi học. Do không nhận thức đầy đủ về việc học của con em nên gia đình thiếu sự quan tâm đối với học sinh. Về nhà phụ huynh chưa nhắc nhở các em học bài, không định hướng được cho các em, nhiều lúc các em có suy nghĩ tiêu cực là không biết học để làm gì. Có nhiều trường hợp khi giáo viên đến vận động thì không nhận được sự hợp tác của phụ huynh, bỏ mặc cho các em thích đi học thì đi, không thích đi học thì thôi. Giáo viên phải tạo được mối liên hệ mật thiết với gia đình học sinh. Đây là yếu tố hết sức quan trọng, giáo viên chủ nhiệm nên dành nhiều thời gian đến thăm gia đình học sinh để cùng với phụ huynh quan tâm đến con em mình hơn. Đặc biệt tại các buổi gặp gỡ này giáo viên cũng cần trao đổi với phụ huynh định hướng nghề nghiệp cho con em đồng bào dân tộc, tạo động lực , sống có mục tiêu để phấn đấu trong học tập hướng tới tương lai. Cho nên, giáo viên chủ nhiệm cần lưu ý một số học sinh cá biệt khiến cho chính bản thân của học sinh cảm thấy không hứng thú tập trung học tập, vì thế sự động viên của giáo viên chủ nhiệm có vai trò rất quan trọng. Giáo viên chủ nhiệm phối kết hợp chặt chẽ với các đoàn thể trong nhà trường, các giáo viên bộ môn để giáo dục học sinh không đi học chuyên cần và có ý định bỏ học, giáo viên chủ nhiệm cần thường xuyên báo cáo, trao đổi để tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình công tác với ban giám hiệu nhà trường để đề ra các biện pháp giáo dục học sinh cá biệt lớp mình. Khi giáo viên chủ nhiệm vào các gia đình các em có ý định bỏ học, đã được ban giám hiệu nhà trường quan tâm 3. Giáo viên chủ nhiện cần tổ chức, khuyến khích học sinh mạnh dạn tham gia các phong trào, hoạt động tập thể. Ví dụ: Năm học này 2024-2024 có học sinh Tuấn, Tới, Khánh, rất hiếu động, nghịch ngợm, hay bỏ tiết ra ngoài,nghỉ học không lý do, trong giờ học thì nói chuyện riệng hoặc ngủ trong lớp,vi phậm nội quỵ đi xe máy, đánh nhau, thường dùng tay đập vào bàn trong giờ học, tóc để chỏm thỉnh thoảng doạ cờ đỏ khi bị ghi tên vì phạm lỗi, khi bị các thầy cô nhắc nhở thì thường tỏ ra chống đối, tỏ thái độ bất cần. Qua tìm hiểu tôi đã dùng nhiều biện pháp khuyên bảo răn đe. Thấy được sự quan tâm của giáo viên chủ nhiệm em đã có tiến bộ rõ rệt. Trong đợt thi đua hội khỏe phù đổng cấp trường, có môn đẩy gậy em Tuấn cũng tham gia. Hay như học sinhTới, Khánh nghỉ học vì ham chơi không thích đi học, lúc này tôi cần tăng cường các hoạt động tập thể để thu hút học sinh mặt khác kết hợp chặt chẽ với phụ huynh, nhà trường và chính quyền địa phương để đưa ra những biện pháp kịp thời. Giáo viên chủ nhiệm phải gần gũi, quan tâm và sẵn sàng chia sẻ và gương mẫu trước học sinh. Giáo viên nên dành thời gian trao đổi với từng học sinh một hoặc từng nhóm học sinh để nắm bắt, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của các em. Hàng tuần vào các buổi sinh hoạt 15 phút đầu giờ, tiết sinh hoạt lớp cuối tuần hoặc thông qua các buổi hoạt động ngoài giờ lên lớp, giáo viên chủ nhiệm nên dành chút thời gian thăm hỏi các em, đặc biệt là các em có biểu hiện e ngại, rụt rè giúp các em hòa đồng cùng bạn bè và cảm thấy mình không bị xa lánh. Hoặc thường xuyên tổ chức các hoạt động tập thể để các em được tham gia. 4. Giáo dục đạo đức cho học sinh ( đặc biệt học sinh cá biệt ) Căn cứ vào những thực trạng đã điều tra, cả những nguyên nhân dẫn đến thực trạng ấy. Tôi nhận thấy rằng, bởi lẽ các em trở thành học sinh cá biệt như vậy là do nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến những nguyên chính là do : hoàn cảnh gia đình, sự thờ ơ của xã hội và gia đình trong việc giáo dục và dạy dỗ các em. Từ đó tôi có cơ sở để đề xuất các giải pháp như sau: *Về phía giáo viên : + Trước hết phải có cái "Tâm". Xuất phát từ chữ tâm ấy sẽ dễ dàng tiếp cận được các em học sinh, sự bao dung và sự chịu khó sẽ giúp cho giáo viên dễ dàng thuyết phục giáo dục được các học sinh cá biệt. Cũng từ chữ tâm ấy, sẽ đẩy trách nhiệm, nghĩa vụ của giáo viên chủ nhiệm lên tầm cao hơn, từ đó trăn trở, suy nghĩ đưa ra biện pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng. + Giáo viên phải tôn trọng học sinh dạng cá biệt này, dù các hành vi của chúng có thể gây xúc phạm đến danh dự của mình. Đồng thời phải có lòng tin với các em, tin tưởng các em để giao một số công việc phù hợp của lớp cho các em phụ trách. + Tuyệt đối, giáo viên không được xúc phạm danh dự đến các em học sinh trước tập thể lớp. + Giáo viên phải chịu khó lắng nghe tâm sự của các em, thường xuyên quan tâm và hỏi thăm, chăm sóc các em trong các điều kiện có thể. Từ đó mới tìm hiểu được nguyên nhân chính dẫn đến sự cá biệt của các em mà tìm giải pháp cho phù hợp. an ủi và động viên kịp thời các em khi phát hiện những bi kịch, chuyện buồn mà gia đình cũng như xã hội mang lại. + Giáo viên phải giữ được chữ tín đối với học sinh cả chuyên môn lẫn nhân cách sống. Đã hứa làm việc gì thì phải làm đến nơi đến chốn. Với những vấn đề trên, nếu giáo viên áp dụng được sẽ rất dễ dàng tiếp cận và tìm hiểu mọi vấn đề phát sinh khi cần thiết. Thực tế trong những năm qua, với những vấn đề ấy, bản thân tôi đã được các em học sinh cá biệt phải tôn trọng. Ban đầu các học sinh cá biệt sống rất tách rời tập thể, thấy cô giáo thì ghét cay, ghét đắng, xong dần dần, tôi đã giúp cho các em hiểu được vấn đề và hiện nay đa số các em sống rất gần gũi với lớp. Đặc biệt bất kỳ chuyện gì xảy ra, dù lớn hay nhỏ các em này cũng đều tâm sự và chia sẻ với tôi từ niềm vui đến nỗi buồn. Chính đều đó dần dần, tôi đã giúp các em tránh được tự ti và mặc cảm ban đầu. *Về phía học sinh : + Giáo viên chủ nhiệm phải nắm được đặc điểm, hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình học sinh cá biệt. Để từ đó cảm thông, tránh sự xúc phạm vô tình đến các em và đồng thời tạo nhiều điều kiện hơn để các em phát huy học tập và rèn luyện. + Giáo viên phải tìm hiểu, khai thác những điểm tốt và điểm yếu cơ bản nhất của học sinh để tác động làm thay đổi tính cách của học sinh cá biệt. + Giáo viên phải hiểu những suy nghĩ và những điều học sinh muốn. Có như vậy mới giúp các em tháo gỡ được những điểm yếu của mình để đạt được điều mình mong muốn chính đáng. *Về phía gia đình: + Giữa nhà trường và gia đình phải có sự kết hợp chặc chẽ, sự kết hợp giáo dục này phải diễn ra thật tế nhị và thường xuyên. Tránh những hành động nóng nảy của gia đình đối với học sinh như : đánh con khi nghe cô giáo đến thưa chuyện . + Phải thuyết phục được gia đình tạo mọi điều kiện tốt nhất để con, em mình học tập, đồng thời nhắc nhở phụ huynh phải thường xuyên quan tâm đến việc học của con em mình. Gia đình phải xem việc giáo dục con em không phải là chỉ riêng nhà trường mà cần phải có một phần trách nhiệm rất lớn từ gia đình. *Các giải pháp chủ yếu: - Tìm hiểu được căn nguyên của từng học sinh cá biệt : Sau khi đã xác định được các đối tượng học sinh thuộc dạng cá biệt trong lớp cần tổ chức theo dõi và đánh giá một cách khách quan, trung thực, đúng bản chất của vấn đề. Liệt kê ra các nguyên nhân, các lý do mà các em thường vi phạm và mắc phải; liệt kê số lần các em vi phạm, sau mỗi lần đó đã có ai nhắc nhở, giáo dục chưa? Đã cho các em suy ngẫm về lỗi của mình và đã hứa khắc phục hay chưa ?. Cần phải ghi chép rõ ràng để làm cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp giáo dục. Trở lại với tình hình học sinh dạng cá biệt của lớp tôi đang chủ nhiệm, nổi lên có 2 học sinh rất cá biệt. 2 em này vi phạm nhiều lần, nhắc nhở nhiều lần mà các em vẫn cứ tái phạm. Qua tìm hiểu từ bạn bè và đặc biệt tôi đến từng nhà của từng học sinh tìm hiểu và trao đổi trực tiếp với phụ huynh của các em học sinh này. Xây dựng biện pháp giáo dục cho từng đối tượng Sau khi tìm hiểu nguyên nhân của từng đối tượng học sinh cá biệt, tôi đã đưa ra các phương án cụ thể cho từng em. Đặc biệt là *Các học sinh cá biệt về đạo đức : Đây là các em thường có học lực yếu, đi đôi với hành vi không tốt, thường ảnh hưởng đến sự học tập của lớp. Biện pháp đưa ra : + Gặp riêng từng em, hỏi thăm việc học tập và gia đình của các em. Sau đó phân tích những hành vi mà các em đã gây ra đúng sai như thế nào? Tìm hiểu lý do vì sao các em đó lại có hành vi ấy? + Gặp gia đình, trao đổi và thống nhất các biện pháp giáo dục như : Hạn chế cho các em tham gia vào các nhóm thanh niên hư hỏng ở địa phương cũng như không cho tham gia vào các tệ nạn như : đánh bài, uống rượu, theo bạn bè xấu bỏ lớp, chơi game, đánh nhau, . Thiết lập sổ theo dõi giữa gia đình và lớp. Ngày nào giáo viên cũng đánh giá nhận xét việc học tập cũng như hành động của các em vào sổ gửi về cho bố mẹ. Và đồng thời cũng lấy ý kiến từ gia đình để giáo viên có biện pháp giáo dục khác, từ đó gia đình luôn nắm bắt được tình hình học tập của con em mình, cùng với nhà trường kèm cặp học sinh tốt hơn. + Giao cho các em một số nhiệm vụ ở lớp. Trong các giờ sinh hoạt lớp giao cho hai em nhận xét tình hình lớp trong tuần, có bạn nào vi phạm khuyết điểm hay không . Giáo viên nhận xét lại và tìm hiểu thêm các chi tiết để nhận định, biểu dương. Từ những nhiệm vụ được giao đó, tạo cho các em có ý thức hơn trong học tập, tư cách đạo đức của mình với tập thể , dần dần các em sẽ nhận ra những sai phạm của mình với bàn bè xung quanh để mà sửa đổi thành những người tốt với bản thân và với tập thể lớp. + Một biện pháp cũng không kém phần quan trọng đó là việc biểu dương, khen thưởng, kịp thời. Từ những nhiệm vụ được giao, giáo viên phải biết tán dương, khen thưởng, động viên các em khi thực hiện tốt nhiệm vụ. Từ đó giúp cho các em hiểu được mình vẫn còn có giá trị trong lớp, có khả năng thực hiện tốt các việc khác. Bên cạnh đó cũng nghiêm khắc kiểm điểm, thẳng thắn phê bình các em học sinh vẫn còn vi phạm các hành vi đạo đức. Buộc các em phải ghi ra những lời hứa khắc phục và thời gian khắc phục. + Một số em có tính nóng nảy, hay gây sự, nếu giáo dục nhiều lần không thay đổi, gia đình buông xuôi, thì nên liên hệ với Đoàn thanh niên thôn, công an xã . Để kết hợp giáo dục. Một học sinh có bản chất tốt nhưng do đua đòi theo bạn mà việc học sa sút giáo viên chủ nhiệm nên báo với gia đình tìm biện pháp tốt nhất để khuyên răn dạy bảo hướng các em nhận ra các điều sai và khắc phục sữa chữa. Năm học 2024-2024, ở lớp 9A7 lớp tôi chủ nhiệm có em Lê Minh Tuấn thường xuyên cúp tiết bỏ giờ đi chơi game, thường xuyên xin tiền và lừa dối gia đình là đ

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Dạy Học Âm Nhạc Lớp 4

Giáo dục thẩm mỹ cho con người không thể thiếu được trong mục đích giáo dục hiện nay của chúng ta. Việc giáo dục một con người toàn diện không chỉ giáo dục cho họ có đạo đức tốt, có trình độ hiểu biết, nắm chắc các kiến thức khoa học và xã hội, có sức khoẻ, biết lao động, sẵn sàng lao động mà còn phải giáo dục cho họ biết nhìn nhận, phân biệt, biết thưởng thức cái đẹp và biết làm đẹp cho cuộc sống. Một trong những con đường giáo dục thẩm mỹ nhanh và hiệu quả nhất là giáo dục thông qua các môn học nghệ thuật. Trong đó có môn Âm nhạc.

Âm nhạc là phương tiện hiệu quả nhất trong giáo dục thẩm mỹ, đặc biệt là ở bậc tiểu học, thông qua môn học này đã hình thành cho các em những kiến thức ban đầu về ca hát, về kiến thức Âm nhạc, đặc biệt là trang bị cho các em có một thế giới tinh thần thoải mái hơn, giúp các em phát triển toàn diện hơn, từ đó giúp các em học tốt các môn học khác.

Ở lớp 1, 2, 3 Âm nhạc là một phần của môn nghệ thuật (gồm cả mĩ thuật và thủ công). Phương pháp dạy học Âm nhạc ở lớp 1, 2, 3 tương đối giống nhau và chỉ 2 phân môn là học hát và phát triển khả năng nghe nhạc. Sang đến lớp 4 Âm nhạc là môn học riêng có sách giáo khoa cho học sinh và sách hướng dẫn giảng dạy dành cho giáo viên. Ở lớp 4 các em bắt đầu chuyển sang một giai đoạn mới, ngoài học hát các em còn có thêm phân môn là tập đọc nhạc, học hát và học những ký hiệu ghi chép nhạc và đọc được bài tập đọc nhạc.

Xuất phát từ thực tế giảng dạy môn Âm nhạc cho học sinh ở lứa tuổi tiểu học để các em có thể học tốt và đạt kết quả tốt hết sức quan trọng, điều đó không chỉ phụ thuộc vào chương trình giảng dạy phù hợp mang tính vừa sức, xoay vòng mà còn phụ thuộc vào phương pháp truyền đạt của người thầy. Hơn nữa còn phụ thuộc vào ý thức học tập của các em cùng với sự quan tâm và chăm sóc tạo điều kiện của gia đình và xã hội.

Âm nhạc cho học sinh tiểu học nói chung và lớp 4 nói riêng mặc dù không nhằm đào tạo các em thành những con người hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp mà chủ yếu là giáo dục văn hóa Âm nhạc, làm cho các em yêu thích nghệ thuật Âm nhạc, bước đầu giúp các em làm quen một số kỹ năng đơn giản về ca hát và thói quen tập hát đúng nhằm phát triển trí tuệ, bồi dưỡng tình cảm trong sáng lành mạnh, hướng tới cái tốt đẹp, góp phần làm thư giãn và cân bằng các nội dung học tập khác ở tiểu học.

Vậy làm thế nào để các em hát đúng giai điệu, đúng độ cao, trường độ, tiết tấu và đúng tính chất các bài hát? Muốn làm được điều đó, người giáo viên phải biết xác định giọng cho phù hợp lứa tuổi học sinh, giúp các em có một chút kiến thức về nhạc lý các em hiểu và phân biệt được những âm thanh cao, thấp, dài, ngắn hình nốt như nốt móc đơn, nốt đen, nốt trắng tốc độ thể hiện khác nhau để phát triển năng lực nghe nhạc và cảm thụ Âm nhạc .Ngoài ra người giáo viên phải biết tạo cho các em một tâm thế thoải mái, tự tin một hứng thú tràn đầy khi học Âm nhạc.

ừng bài cụ thể. Lưu ý các bài hát có nhịp lấy đà. Phần kết hợp vận động và phụ họa không đòi hỏi nhất thiết HS phải thực hiện thật thành thạo vì vận động và phụ họa có thể tiến hành ở tiết tiếp theo ở phần ôn tập bài hát. Tiết học hát chủ yếu HS biết kết hợp gõ đệm, GV hướng dẫn một vài động tác cho các em làm quen với nhịp của bài, ở tiết tiếp theo khi đã thuộc lời ca các em kết hợp thực hiện vận động và phụ họa dễ dàng hơn. 3. Giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh nắm rõ về lý thuyết nhạc : Ở lớp 3 các em đã được học cơ bản về nhạc lý như khuông nhạc, khóa son, dòng kẻ, khe nhạc, các hình nốt nhạc.Để có thể học tập đọc nhạc tốt phải nắm rõ các kiến thức cơ bản về nhạc lý khi nhìn vào bài tập đọc nhạc các em mới đọc nhạc tốt được. Lên lớp 4, giáo viên cần ôn tập lại kiến thức cũ cho học sinh. Giúp các em nhận biết lại các hình nốt nhạc như nốt đen, nốt trắng, nốt móc đơn...dấu lặng đen, lặng đơn... Có thể ôn tập với nhiều hình thức thông qua trò chơi nhận biết các nốt nhạc và tên nốt nhạc (Đô, rê, mi, pha, son, la, si) hoặc cho học sinh đọc tên nốt nhạc bằng trò chơi khuông nhạc bàn tay đã học ở lớp 3. Cho học sinh lên bảng đính tên nốt nhạc theo yêu cầu của giáo viên ví dụ: giáo viên nói son đen, la trắng, mi móc đơn học sinh đính nốt nhạc bằng bảng nam châm đính nốt nhạc vào khuông nhạc đúng vị trí từ đó sẽ khắc sâu kiến thức trí nhớ về vị trí nốt nhạc cho các em. Hoặc cho các em nhớ lại vị trí các nốt nhạc bằng khuông nhạc bàn tay đã học ở lớp 3. Giáo viên giới thiệu về cách đánh nhịp, vạch nhịp, vạch kết thúc bài về dấu luyến, dấu quay lại A. Thực hiện đúng cao độ và trường độ . a) Luyện tập về cao độ: Học sinh tiểu học chưa quen với độ cao các nốt nhạc nên luyện tập về cao độ là rất khó đối với các em. Giáo viên dùng đàn organ đánh giai điệu một lần cho học sinh nghe sau đó đàn từng câu học sinh nghe nhìn từng nốt nhạc để đọc. Với các em phải tiến hành từ những âm dễ đọc nhất phù hợp tầm giọng các em rồi mới mở rộng thành 5 âm, 6 âm. Trước hết tập những vần ít âm với âm son làm trung tâm như (mi son la son đô) đến quãng 5 (Rê mi pha son la hay Đô rê mi pha son). Sau khi hình thành thang 5 âm ta dạy tiếp quãng 6 ghép lại (Đô rê mi pha son la) và tùy vào từng bài tập đọc nhạc mà ta luyện cao độ cho phù hợp. b) Luyện tập về trường độ: Học sinh tiểu học nếu kết hợp đọc cao độ và tiết tấu ngay cùng một lúc sẽ làm cho các em lúng túng nhất là đối với những học sinh không có năng khiếu. Để học sinh tiếp thu một cách dễ dàng, giáo viên dạy luyện tập trường độ riêng bằng cách gõ tiết tấu lấy đơn vị phách làm cơ sở có thể vỗ tay theo phách hoặc theo tiết tấu. Giáo viên ghi tiết tấu của bài nhạc vào bảng phụ cho học sinh luyện tập tiết tấu của bài. Có thể cho học sinh vỗ tay hoặc dùng thanh phách nhạc cụ để gõ. Để học sinh thích thú tạo không khí sinh động giáo viên có thể cho các em gõ tiết tấu và đọc bằng các tiếng tượng thanh ví dụ như: rinh, tùng, cắc, ếch, ộp. Hoặc đọc các âm với những tên gần gũi với ký hiệu Âm nhạc như nốt đen đọc là "đen", nốt móc đơn đọc là "đơn", dấu lặng đọc là "lặng", nốt trắng đọc là "trắng". Luyện tập tiết tấu giúp các em biết độ dài các nốt nhạc, luyện bằng tiết tấu âm tượng thanh kết hợp vỗ tay hoặc gõ đệm bằng nhạc cụ sẽ làm cho lớp học sinh động học sinh khắc sâu kiến thức. Khi học sinh luyện tập tiết tấu tốt thì áp dụng vào bài cũng sẽ tốt hơn. Trong quá trình giảng dạy thực hành luyện tập tiết tấu giáo viên phải vận dụng các phương pháp linh hoạt hoặc dưới dạng trò chơi tổ chức nhóm, tổ, bàn học sinh luyện tập phù hợp với từng bài. c) Hướng dẫn học sinh đọc nhạc và ghép lời ca đều giọng, diễn cảm rõ lời: Các em đọc nhạc và ghép lời ca không đều do các em không tập trung lắng nghe khi giáo viên bắt giọng và các em bị cuốn nhịp không đọc đúng nhịp không giữ được nhịp độ ban đầu và có xu hướng nhanh dần lên. Muốn học sinh đọc đúng nhạc hát lời ca đều giọng diễn cảm giáo viên phải chú ý bắt giọng tạo được sự chú ý của học sinh. Dạy học sinh chính xác về cao độ và trường độ, cho học sinh đọc nhạc và hát lời ca kết hợp gõ đệm theo phách, tiết tấu lời ca đều chính xác sẽ giúp học sinh hát lời chính xác và đúng nhịp. Kết hợp với âm thanh trên đàn để kiểm tra chính xác cao độ của học sinh khi đọc bài. Học sinh nghe và nhận xét bạn, giáo viên nhận xét chung sửa sai uốn nắn kịp thời động viên học sinh hát sai để giúp các em hát đúng. Ở một số câu đọc nhạc ở cuối câu có chỗ ngân dài 2 hoặc 3 phách thì giáo viên nên đếm phách để học sinh ngân cho đủ và kết hợp vỗ tay theo phách học sinh sẽ hát và ngân cho đủ, kết hợp vỗ tay theo phách học sinh sẽ hát đúng trường độ . Sau khi tập đọc nhạc xong muốn ghép lời ca diễn cảm và đúng trước hết các em phải thực hiện đúng cao độ, trường độ như đã nêu trên. Giáo viên nên giới thiệu nội dung bài nhạc nói về gì, sắc thái thể hiện ra sao vui hay êm dịuNhất là khi hát phải thể hiện được giai điệu tiết tấu của bài hát phải đưa tâm hồn của mình hòa quyện vào lời hát, phải có cảm xúc khi hát thể hiện được tâm hồn của mình vào nội dung tác phẩm như (tình bạn bè, cha mẹ, thầy cô quê hương, mái trường). Hướng dẫn các em phát âm rõ lời, chính xác gọn tiếng chỗ nào luyến lên hay luyến xuống phải thể hiện được. Trong lúc tập hát cũng như tập đọc nhạc không nên cho các em hát to quá gây ra khan tiếng mệt giọng ảnh hưởng đến giọng hát và không thể hiện nội dung bài tập. Giáo viên khi bắt giọng cho học sinh đọc nhạc hoặc hát giáo viên nên bắt giọng cho chuẩn xác hoặc có thể bắt giọng bằng sử dụng nhạc cụ để bắt giọng vào cho đúng và chuẩn xác như đàn organ hoặc kèn Melodiontiếng hát sẽ không bị quá cao hoặc quá thấp. Về tư thế đứng hát chúng ta phải cho các em đứng đầu thẳng, hai tay buông thả tự nhiên hoặc đứng lắc người và nhún nhẹ nhàng thân người thật thoải mái. Tư thế ngồi hát cũng như khi đứng hát giáo viên chú ý đến các em là lưng không tựa vào phía sau, không ngồi ngả nghiêng dựa dẫm vào nhau hoặc là tỳ ngực vào bàn, ngồi thẳng thoải mái, hai tay để ở đùi hoặc trên bàn một cách tự nhiên để dùng tay vỗ tay hoặc gõ đệm các loại nhạc cụ cho tiếng hát. Trong hai tư thế đứng hát và ngồi hát nên cho các em tư thế đứng hát là tốt nhất. Nhưng lưu ý một điều là không nên cho các em đứng lâu quá nếu không sẽ làm cho các em mệt mỏi gây ảnh hưởng đến chất lượng của tiết học, nên linh động luân phiên giữa tư thế đứng hát và ngồi hát và phân bố thời gian cho hợp lý. vLuyện hát đúng giai điệu: Giới thiệu bài hát một cách sinh động, gây sự chú ý, tò mò cho học sinh. Các em nghe hát mẫu và đọc lời ca, giải nghĩa những từ khó để giúp các em hiểu được ý nghĩa của lời ca. Ví dụ: Trong bài "Lớp chúng ta đoàn kết" (Nhạc và lời của Mộng Lân). Khi đọc lời ca phải hướng dẫn các em đọc theo tiết tấu và ngắt ở cụm từ như sau: Lớp chúng mình / rất rất vui,/ anh em ta chan hòa tình thân./ Để các em đọc đúng tiết tấu, giáo viên chỉ bảng phụ và hướng dẫn các em đọc câu theo mẫu. Sau khi giúp học sinh đọc đúng lời ca giáo viên phải hướng dẫn các em khởi động giọng. Ví dụ: Khi tập hát cần sự đồng đều hoà giọng chính xác và diễn cảm với những trạng thái khác nhau. Để các em cảm nhận giai điệu của từng câu hát, giáo viên đàn, hát mẫu. Việc tập hát từng câu và kết nối theo lối móc xích sẽ giúp các em mau nhớ lời ca và hát chuẩn xác giai điệu hơn. Việc củng cố luyện tập từng đoạn của bài hát giúp các em cảm nhận giai điệu và lời ca, tự tin. Đặc biệt là giúp các em loại bỏ sự chán nản khi chưa thực hiện được bài tập. 4. Hướng dẫn học sinh hát kết hợp gõ đệm: Việc sử dụng các nhạc cụ để gõ đệm theo khi hát làm cho bài hát sinh động, gây hứng thú, giúp các em giữ được nhịp độ của bài mà không bị cuốn nhanh. Thông thường, có 3 cách gõ đệm để luyện tập củng cố bài hát đó là: Hát gõ đệm theo nhịp, phách, tiết tấu. Tuy nhiên tuỳ theo từng bài hát cụ thể mà vận dụng cho phù hợp. Ví dụ: Bài "Quê hương tươi đẹp" dân ca Nùng, sử dụng cách gõ đệm theo phách và gõ đệm theo tiết tấu đã được viết sẵn vào bảng phụ trên khuông nhạc chia làm 2 cách gõ đệm khác nhau. *Gõ theo tiết tấu: X X X X X X X *Gõ đệm theo phách: X X X X x x Mỗi nốt trên khuông nhạc giáo viên đã đánh dấu (x) tương ứng với tiếng được gõ trong ô nhịp. Không giải thích vì sao chỉ nhận xét về hai cách gõ. Sau đó hướng dẫn học sinh cách tự xác định tiết tấu, phách ở những câu còn lại trong bài hát. Để phân biệt hai cách gõ trên giáo viên chia lớp thành hai nhóm, mỗi nhóm thực hiện gõ một cách, khi đã được gõ và được nghe các em sẽ nhận biết được điểm khác của hai cách gõ trên. Ví dụ: Bài hát : "Gà gáy" dân ca Cống, lời mới nhạc sĩ Huy Trân. Để các em hát và gõ đúng nhịp, phách, tiết tấu thì lần lượt cho học sinh nêu 3 cách gõ đệm với câu hát 1 *Gõ đệm theo tiết tấu: x x x x x x x x x x *Gõ đệm theo phách: x x x x x x x x *Gõ đệm theo nhịp 2: x x x x Để củng cố kĩ năng gõ đệm giáo viên tổ chức trò chơi thi đua trong các nhóm. Bằng cách chia lớp thành 3 nhóm, mỗi nhóm chịu trách nhiệm một cách gõ. Hát theo kiểu nối tiếp đến câu hát nào ở nhóm đó sẽ có cách gõ riêng về nhịp, tiết tấu hay phách. Nhằm tạo một không khí sôi động khi các em hát và tạo điều kiện cho học sinh nắm vững giai điệu của bài hơn. Với bài hát viết ở nhịp 3/4 hoặc 3/8 có 3 phách trong một nhịp thì giáo viên chọn cho học sinh cách gõ theo phách là phù hợp, thông qua 2 cách gõ sau để giữ vững phách. Ví dụ: Bài "Cùng múa hát dưới trăng" Giáo viên luyện cho học sinh cách gõ thứ nhất: x - - x - - x - - Giáo viên giải thích: Đây là bài hát được viết ở nhịp 3/8 nên mỗi phách được tính bằng một nốt móc đơn. Tiếng " Mặt" là phách lấy đà ta không gõ. Tiếng "trăng" là phách mạnh hai tay vỗ vào nhau (x) ở phách 1, tiếng "tròn", 'nhô" là phách nhẹ hai tay vỗ nhẹ lên mặt bàn (-) ở phách 2 và 3 cứ như vậy cho đến hết bài. Giáo viên luyện cho học sinh cách gõ thứ hai: Hai học sinh ngồi gần nhau quay mặt vào nhau hát và gõ phách 1 hai tay mình tự vỗ vào nhau, phách 2 và 3 hai tay của hai bạn sẽ chạm vào nhau. Thực hiện đều đặn như vậy sẽ giữ vững được nhịp độ bài hát. Đồng thời góp phần tạo thêm sự hào hứng cho học sinh. Không phải bài hát nào cũng có tiết tấu đơn giản và giống nhau mà còn có những bài hát viết ở dạng đảo phách trong ô nhịp. Ví dụ: bài "Tập tầm vông". Có đảo phách chỗ tiếng "vó, tay". x x x x x x x x x x xx Những bài hát có sử dụng đảo phách thuộc loại bài khó. Để dạy cho học sinh nắm chắc được tiết tấu, nhịp, phách trong bài hát, giáo viên phải tạo cho học sinh tư thế chủ động, hướng dẫn học sinh biết cách xác định nhịp, phách trong bài. 5. Luyện hát thể hiện tính chất nhạc điệu, kết hợp vận động: Tiết 2 trọng tâm là luyện tập, cho HS nghe bài hát qua băng để nhớ lại giai điệu của bài. Giáo viên dạo đàn, học sinh hát lại bài hát. Phát hiện những câu, từ trong bài các em hát chưa đúng để sửa. Giáo viên đàn đúng theo bản nhạc khoảng 2 lần, hát mẫu lại câu hát đó và bắt nhịp cho tập lại. Thực hiện hát gõ đệm theo tiết tấu, thể hiện tính chất nhạc điệu của bài. Hát ôn dưới dạng trò chơi: hát đuổi, hát đối đáp, bên hát lời, bên gõ đệm theo phách, nhịp, hát kết hợp vận động. Ví dụ: Giáo viên đàn lại bài hát, yêu cầu học sinh gõ đệm theo nhịp, theo phách hoặc tiết tấu. Giáo viên yêu cầu học sinh hát câu 1, nhẩm và gõ theo phách câu 2 rồi lại hát câu 3, gõ đệm câu 4... cũng có thể chỉ cho các em gõ theo tiết tấu của bài. Các hình thức luyện tập này vừa hiệu quả lại vừa thu hút học sinh tham gia. * Một số thủ pháp dạy học sinh hát chuẩn xác một bài hát: Thủ pháp "Trò chơi": Tôi đã linh hoạt sử dụng Trò chơi âm nhạc tuỳ vào từng bài học, mục tiêu tiết học, cảm nhận của học sinh. Học sinh rất hưng phấn khi học tiết âm nhạc và còn giúp các em thư giãn giữa các tiết học. Ví dụ: Trong tiết ôn tập bài hát Đếm sao tôi sử dụng trò chơi hát bằng nguyên âm (O, A, U, I). Tôi dùng kí hiệu tay cho các em nhìn và hát nhằm củng cố về tiết tấu và cao độ cho học sinh... Thủ pháp " phiên âm": (cho những tiếng hát có âm láy, luyến) - Giáo viên chỉ ra những tiếng hát có âm luyến, láy trong câu hát. Vừa giải thích cách luyến, láy vừa phiên âm trên bảng cho học sinh nhận biết. Ví dụ: Bài Em yêu hoà bình- Nhạc và lời: Nguyễn Đức Toàn "... yêu từng gốc đa, bờ tre đường làng" tiếng hát "tre" và "đường" là hai âm luyến giáo viên phiên âm giải thích như sau: " Tre"= tre...è (son-pha) " đường"= đường...ương ( rề-la). GV hát mẫu vài lần, tập riêng các tiếng hát có âm luyến vài lần rồi mới chuyển sang dạy cả câu hát. Thủ pháp " thêm bớt đấu thanh": (sử dụng cho những câu hát có âm vực trầm, cao, nửa cung nhằm giúp cho học sinh hát đúng cao độ): - Sau khi đàn giai điệu và hát mẫu câu hát cần tập, giáo viên chỉ ra những tiếng hát cần thêm bớt dấu thanh. - Dùng phấn màu thêm hoặc bỏ dấu thanh những tiếng khó hát. Ví dụ: Dạy bài "Chị Ong Nâu và Em bé" Nhạc và lời Tân Huyền có các câu hát "Chị Ong Nâu nâu nâu nâu" ( đồ,pha,pha,pha,pha) ta dùng thanh huyền thêm vào tiếng " Chị" = chì .Câu " Ông mặt trời mới dậy" ( pha, rê-đồ, rê-pha, rê) ta thêm bớt dấu thanh như sau: " Mới dậy" = mơi dầy ( bỏ thanh sắc ở tiếng "mới", thêm thanh huyền ở tiếng " dậy". *Giáo viên đàn giai điệu và hát mẫu câu hát đó rồi bắt giọng cho học sinh tập hát. Thủ pháp "gõ đệm theo phách": Những chỗ có đảo phách, nghịch phách trường hợp rất khó dạy cho HS hát đúng vì trọng âm của tiết tấu không trùng với trọng âm của nhịp như bài "Tiếng hát bạn bè mình" Nhạc và lời Lê Hoàng Minh. Bài "Em yêu hoà bình". Nhạc và lời Nguyễn Đức Toàn. Với trường hợp này GV cần phân tích rõ cách gõ phách và dùng mũi tên (à) ghi vào bên dưới các tiếng hát. Phân tích cho HS nắm được tiếng hát nào rơi vào lúc động tác gõ phách xuống, tiếng hát nào rơi vào lúc động tác đưa phách lên, tiếng hát nào ngân dài cả 2 động tác gõ xuống và đưa lên. - GV hát mẫu kết hợp dùng thước đánh theo mũi tên đã ghi vài lần. - Bắt giọng cho HS tập hát từ tốc độ chậm đến nhanh cho thật thuần thục rồi mới chuyển sang câu hát khác. Thủ pháp " đếm phách": Có những tiếng hát phải ngân dài 3 phách trở lên, các em thường ngân dài không đủ phách nên vào hát câu hát tiếp sau thường bị sai nhịp. Muốn khắc phục trường hợp này, giáo viên cần phải tập chính xác ngay từ đầu các câu hát đó: Khi HS hát tới chỗ có ngân dài, giáo viên và HS cùng đếm, gõ phách bằng những tiếng đếm "Hai-ba" hay " Một- hai", " Hai-một" hoặc "hai-ba-bốn-năm" ( đếm thành tiếng những lần đầu sau đó tập đếm thầm) Mỗi một học sinh phải đảm bảo có một Thanh phách nhằm luyện tập tốt khả năng phân biệt nhịp, phách và tiết tấu. Ví dụ: Dạy bài hát " Đếm sao" Nhạc và lời Văn Chung... Trước khi cho HS hát nối từ câu 1 sang câu 2, từ câu 2 sang câu 3, GV lưu ý các em phải ngân dài tiếng "sao" (son trắng chấm dôi) tiếng vàng (mi trắng chấm dôi) trong thời gian đếm "hai-ba" mới vào hát tiếp câu sau. Hoặc bài "Tre ngà bên lăng Bác" Nhạc và lời Hàn Ngọc Bích. Trong khi HS đang ngân dài tiếng " hoa" cuối câu "đón nắng đâu về mà thêu hoa thêu hoa" giáo viên liền đếm "hai-ba-bốn-năm" giúp các em vào câu hát "rất trong là tiếng chim..." được đúng nhịp. Thủ pháp "chỉ huy" (làm nhạc trưởng) Một nhược điểm mà HS hay mắc phải trong bài hát tập thể là hát bị "cuốn nhịp" tức là các em không giữ được theo nhịp độ ban đầu và có xu thế hát nhanh dần lên do cảm thụ âm nhạc còn yếu cùng với sự ồ ạt khi hát tập thể nên việc này rất khó khắc phục. Muốn hạn chế tối đa nhược điểm này, giáo viên lưu ý ngay từ lúc bắt đầu dạy hát và thực hiện tốt các việc sau: - Dạy chính xác về trường độ và cao độ. - Cho các em vừa hát, vừa gõ đệm theo nhịp hoặc theo phách - GV có thể chia lớp thành các nhóm nhỏ để luyện về nhịp độ - Lần lượt hát với tốc độ hơi chậm, hơi nhanh, vừa phải. Mục tiêu là để HS có thể hát với mọi tốc độ mà vẫn làm chủ về nhịp độ. - Hát theo chỉ huy, GV đánh nhịp thật chắc chắn. Khi phát hiện ra những chỗ nào có xu thế nhanh dần, phải cho ngừng lại nhắc nhở, uốn nắn kịp thời. Ví dụ: Khi dạy bài " Ước mơ" nhạc: Trung Quốc, tôi cần luyện tập và tạo cho các em gõ phách một cách chính xác, nhất là ở những chỗ nghỉ một phách rưỡi. Thủ pháp "Tập đọc nhạc": Để tiết học được sôi nổi và gây hào hứng cho các em trong tiết học tôi luôn kết hợp với trò chơi hay đố vui. Gõ tiết tấu để đoán bài hát. Rèn luyện cho học sinh có thói quen nhận biết vị trí các nốt nhạc trên khuông nhạc ( khe, dòng, nốt đen, nốt trắng, nốt móc đơn, nốt móc kép). Tập cho các em gõ phách đều đặn, nhiều lần. Với cách làm như vậy, tôi nhận thấy không khí lớp học sinh động, sôi nổi hẳn lên. Em nào cũng muốn trình bày bài hát vừa được học, hăng hái tìm ra được những câu hát hay, đồng thời cũng vui vẻ sửa lại lỗi hát chưa chuẩn. Điều đó chứng tỏ giờ học đạt hiệu quả cao hơn. IV.KẾT QUẢ: Khối Tổng số học sinh Hoàn thành tốt các nội dung bài học Hoàn thành các nội dung bài học Chưa hoàn thành các nội dung bài học SL % SL % SL % Khối 4 53 18 34% 29 54,7% 6 11,3% V. KẾT LUẬN: Âm nhạc là một môn học mang tính nghệ thuật cao nên việc dạy học môn Âm nhạc ở trường tiểu học nói chung và các học sinh lớp 4 nói riêng. Với khả năng nhận thức của các em qua môn Âm nhạc tôi đã đưa vào thực tế các biện pháp trên để học sinh thực hiện tốt giờ học Âm nhạc và thu được kết quả đáng khích lệ. Học sinh càng yêu mến môn học, các em mạnh dạn tự tin đứng trước lớp để biểu diễn, bước đầu thể hiện được tình cảm của mình khi hát và các em rất hào hứng tham gia học tập tuy nhiên trong quá trình giảng dạy người giáo viên cũng phải biết linh hoạt, tùy theo từng đối tượng học sinh mà ta có thể tạo ra những cách thức, biện pháp giảng dạy thích hợp để đạt được hiệu quả cuối cùng là học sinh hiểu bài, nắm được kiến thức, tiếp thu và thực hiện tốt bài học nói riêng và đạt được mục tiêu của chương trình Âm nhạc nói chung. Eahu, ngày 20 tháng 12 năm 2024 Người viết Nguyễn Văn Thảo

Cập nhật thông tin chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Cô Lập Tham Số trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!