Xu Hướng 11/2022 # Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Khoa Học Xã Hội Và Khoa Học Giáo Dục / 2023 # Top 14 View | Channuoithuy.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Khoa Học Xã Hội Và Khoa Học Giáo Dục / 2023 # Top 14 View

Bạn đang xem bài viết Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Khoa Học Xã Hội Và Khoa Học Giáo Dục / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Phương pháp Nghiên cứu trong Khoa học Xã hội và Khoa học Giáo dục – Năm 2012

Chuỗi chuyên đề đào tạo 100% học bổng về:

“Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Khoa Học Xã Hội và Khoa Học Giáo dục” – Năm 2012

Vài thông tin của chương trình: Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục (Viện IRED), Trung tâm Phát triển Năng lực Lãnh đạo và Thay đổi Châu Á Thái Bình Dương (APCLC) thuộc Viện Giáo dục Hồng Kông, cùng với Trung tâm Thông tin Phát triển Việt Nam (VDIC) – Ngân hàng Thế Giới (WB)

Giảng viên phụ trách: GS Philip Hallinger – Viện Giáo Dục Hong Kong

3 buổi – 25/10/2012, 15/11/2012, và 11/12/2012 (13:30 – 17:00)

Địa điểm: 178 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Quận 3, TP. HCM (đối với học viên tại TP. HCM) Trung tâm Thông tin Phát triển Việt Nam (VDIC), lầu 2, 63 Lý Thái Tổ, Hà Nội (đối với học viên tại Hà Nội)

Ngôn ngữ: Song ngữ, Anh-Việt

Học phí: Học bổng toàn phần được trao tặng đến số lượng giới hạn những giảng viên đại học, nghiên cứu viên, và sinh viên sau đại học phù hợp nhất với tiêu chí của chương trình.

Đối tượng tham dự : Giáo sư/giảng viên của các trường đại học, nghiên cứu viên của các viện/trung tâm nghiên cứu, cũng như các nghiên cứu sinh tiến sĩ và học viên sau đại học mong muốn nâng cao kỹ năng nghiên cứu trong khoa học xã hội và khoa học giáo dục.

Mục tiêu của chương trình:

Truyền tải đến những người tham dự những kiến thức, nhận thức cốt lõi, và một số kỹ năng để thực hiện đề tài nghiên cứu thành công và công bố kết quả nghiên cứu này;

Kết nối những người đang và sẽ theo đuổi công tác nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực khoa học xã hội khác nhau và tạo điều kiện để học viên tiếp cận với các phương pháp nghiên cứu và cách tư duy, và nâng cao kỹ năng công bố kết quả nghiên cứu thành công trong các tập san khoa học uy tín quốc tế;

Khuyến khích cơ hội đối thoại, học hỏi và cùng nhau bàn luận về những khó khăn, thách thức mà các nhà nghiên cứu và những người làm giáo dục Việt Nam đang đối mặt.

Phương thức giảng dạy:

Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Giáo Dục – Kipkis / 2023

Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục

Khoa học giáo dục nghiên cứu những qui luật của quá trình truyền đạt (người giáo viên) và quá trình lĩnh hội (người học) tức là qui luật giữa người với người, nên thuộc phạm trù khoa học xã hội. Phương pháp của khoa học giáo dục nói riêng và khoa học xã hội nói chung là quan sát, điều tra, trắc nghiệm, phỏng vấn, tổng kết kinh nghiệm, thực nghiệm…

Chương I. Những cơ sở chung về khoa học giáo dục và nghiên cứu khoa học

I. Một số khái niệm

II. Nghiên cứu khoa học giáo dục

III. Các lĩnh vực nghiên cứu khoa học giáo dục

Khoa học giáo dục Việt Nam theo nhiều học giả như GS Dương Thiệu Tống nhận xét là một không gian chưa được nghiên cứu, khoa học giáo dục có rất nhiều lĩnh vực. Một số lĩnh vực cần thiết cần nghiên cứu để phục vụ công tác giáo dục đó là:

Chương II. Logic tiến hành một công trình nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học là một hoạt động được tổ chức đặc biệt, với một lôgic gồm các bước đi nghiêm ngặt. Logíc này được thể hiện ở hai mặt: lôgic tiến trình nghiên cứu và lôgic nội dung công trình nghiên cứu.

I. Lôgic tiến trình nghiên cứu

Hiệu quả của nghiên cứu khoa học phụ thuộc rất lớn vào phương diện tổ chức hợp lý các bước thực hiện mà trong tài liệu này gọi là lôgic tiến trình nghiên cứu. Logíc tiến trình nghiên cứu được thực hiện theo các bước sau:

II. Lôgic nội dung công trình khoa học

Lôgic nội dung công trình khoa học là trật tự các phần của nội dung luận văn hay báo cáo khoa học. Nội dung của công trình bao gồm các phần sau đây:

Chương III. Đề tài nghiên cứu và soạn đề cương nghiên cứu

I. Đề tài khoa học

II. Đề cương nghiên cứu khoa học

Khi bắt tay vào nghiên cứu một đề tài khoa học thì thao tác rất quan trọng là phải xây dựng cho được đề cương nghiên cứu. Đề cương nghiên cứu là một văn bản dự kiến các bước đi và nội dung của công trình nghiên cứu. Với những đề tài có tính chất làm kết quả đánh giá một trình độ đào tạo (luận văn, đồ án, lậun án) hay kết thúc một môn học (tiểu luận) thì đề cương nghiên cứu gồm các mục sau đây:

Chương IV. Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục

I. Những cơ sở chung về phương pháp nghiên cứu khoa học

II. Các phương pháp nghiên cứu thu thập thông tin

Chương V. Xử lý thông tin

II. Qui trình xử lý thông tin

Chương VI. Công bố và trình bày các kết quả nghiên cứu khoa học giáo dục

I. Khái niệm chung

II. Các loại kết quả nghiên cứu

III. Trình bày luận văn

Luận văn là kết quả của toàn bộ nỗ lực trong suốt thời gian học tập. đó sự thể hiện toàn bộ năng lực của người nghiên cứu. Trình bày một luận văn thể hiện ở cấu trúc và văn phong theo những khuôn mẫu nhất định.

Tác phẩm, tác giả, nguồn

Tác phẩm: Tài liệu bài giảng Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, 2007

Tác giả: Ts. Nguyễn Văn Tuấn, Đại học sư phạm kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh

“Like” us to know more!

Knowledge is power

Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Sư Phạm Ứng Dụng Trong Giáo Dục / 2023

, Student at Columbia University in the City of New York

Published on

Phương pháp nghiên cứu khoa học trong giáo dục

2. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Viết tắt Viết đầy đủ CBQL Cán bộ quản lí GV Giáo viên HS Học sinh NC Nghiên cứu NCKHSPƯD Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng NXB Nhà xuất bản SGK Sách giáo khoa THCS Trung học cơ sở TĐ Tác động PP Phương pháp PPDH Phương pháp dạy học 2

3. MỤC LỤC Lời nói đầu Trang 4 Phần thứ nhất: Lí thuyết và phương pháp nghiên cứu cơ bản 5 A. Giới thiệu về NCKHSPƯD 6 A1. Tìm hiểu về NCKHSPƯD 6 A2. Phương pháp NCKHSPƯD 10 B. Cách tiến hành NCKHSPƯD 12 B1. Xác định đề tài nghiên cứu 12 B2. Lựa chọn thiết kế nghiên cứu 18 B3. Đo lường – Thu thập dữ liệu 26 B4. Phân tích dữ liệu 45 B5. Báo cáo đề tài NCKHSPƯD 67 C. Lập kế hoạch nghiên cứu 75 D. Phản hồi 77 Phần thứ hai: Hướng dẫn áp dụng NCKHSPƯD trong điều kiện thực tế Việt Nam 83 A. Một số vấn đề chung 84 B. Hướng dẫn cụ thể 86 B1. Xác định đề tài nghiên cứu 86 B2. Lựa chọn thiết kế 88 B3. Đo lường – thu thập dữ liệu 90 B4. Phân tích dữ liệu 91 B5. Đánh giá đề tài NCKHSPƯD 93 Phần thứ ba: Phụ lục 95 I. Hướng dẫn cách sử dụng công thức tính toán trong phần mềm Excel 96 II. Mẫu báo cáo 104 III. Mẫu lập kế hoạch NC 105 IV. Mẫu phiếu đánh giá đề tài NCKHSPƯD 106 V. Tên một số đề tài NCKHSPƯD của GV Việt Nam và GV các nước trong khu vực 108 VI. Một số đề tài minh hoạ 109 3

4. LỜI NÓI ĐẦU Dự án Việt – Bỉ “Nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng giáo viên tiểu học, THCS các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam” với sự hỗ trợ về kĩ thuật và tài chính của Cơ quan Hợp tác Kĩ thuật Bỉ trân trọng giới thiệu cuốn tài liệu Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng. Cuốn tài liệu này được biên soạn với sự hợp tác tích cực của chuyên gia quốc tế, Tiến sĩ Christopher Tan (quốc tịch Hồng Kông) và các chuyên gia giáo dục trong nước, PGS,TS Trần Kiều, nguyên Viện trưởng Viện KHGDVN, GS,TS Trần Bá Hoành, nguyên Giám đốc Trung tâm nghiên cứu giáo viên và các chuyên gia GD của Viện KHGD, Bộ GD&ĐT Việt Nam. Tài liệu NCKHSPƯD nhằm giúp cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục Việt Nam hiểu rõ hơn về khái niệm, ý nghĩa, quy trình, phương pháp NCKHSPƯD đã được chuẩn hoá quốc tế hiện đang được thực hiện rộng rãi tại các nước trong khu vực như: Trung Quốc, Singapore, Hồng Kông, Thái Lan… Tại các nước này, NCKHSPƯD không chỉ là công việc của những nhà nghiên cứu giáo dục mà nó đã trở thành công việc thường xuyên của giáo viên. NCKHSPƯD nhằm nghiên cứu tìm kiếm các giải pháp/tác động để thay đổi những hạn chế, yếu kém của hiện trạng giáo dục (trong phạp vi hẹp, môn học, lớp học, trường học…). Đồng thời thông qua NCKHSPƯD, giáo viên, cán bộ quản lý được nâng cao về năng lực chuyên môn, có cơ hội để chia sẻ, học tập những bài học hay, những kinh nghiệm tốt để áp dụng vào thực tế, góp phần thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục. NCKHSPƯD còn có ý nghĩa quan trọng giúp cho GV, CBQL nhìn lại quá trình để tự điều chỉnh PP dạy & học, PP giáo dục học sinh cho phù hợp với đối tượng và hoàn cảnh cụ thể, góp phần đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đáp ứng yêu cầu của xã hội trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Tài liệu gồm 3 phần: Phần I: Lí thuyết và phương pháp nghiên cứu cơ bản Phần II: Áp dụng NCKHSPƯD vào thực tế Việt Nam Phần III: Phụ lục Hy vọng cuốn tài liệu này sẽ giúp ích cho GV, CBQL có cơ sở để thực hiện, chứng minh những sáng tạo của mình, từ những sáng kiến kinh nghiệm trở thành các nghiên cứu mang tính khoa học có sức thuyết phục và hiệu quả cao. Tài liệu không tránh khỏi những sai sót, hạn chế, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của GV, CBQL và những người quan tâm đến NCKHSPƯD. Xin trân trọng cảm ơn. Ban QLDA 4

5. PHẦN THỨ NHẤT LÍ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CƠ BẢN 5

6. A. GIỚI THIỆU VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG A1. TÌM HIỂU VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG I. Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng là gì? Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng (NCKHSPƯD) là một loại hình nghiên cứu trong giáo dục nhằm thực hiện một tác động hoặc can thiệp sư phạm và đánh giá ảnh hưởng của nó. Tác động hoặc can thiệp đó có thể là việc sử dụng PPDH, sách giáo khoa, PP quản lý, chính sách mới… của GV, cán bộ quản lý (CBQL) giáo dục. Người nghiên cứu (GV, CBQL) đánh giá ảnh hưởng của tác động một cách có hệ thống bằng phương pháp nghiên cứu phù hợp. Hai yếu tố quan trọng của NCKHSPƯD là tác động và nghiên cứu. 4 NCKHSPƯD là gì ? * Thực hiện những giải pháp thay thế nhằm cải thiện hiện trạng trong phương pháp dạy học, chương trình, SGK hoặc quản lý. * Vận dụng tư duy sáng tạo * So sánh kết quả của hiện trạng với kết quả sau khi thực hiện giải pháp thay thế bằng việc tuân theo quy trình nghiên cứu thích hợp. * Vận dụng tư duy phê phán TÁC ĐỘNG + NGHIÊN CỨU Khi lựa chọn biện pháp tác động (là một giải pháp thay thế cho giải pháp đang dùng) giáo viên cần tham khảo nhiều nguồn thông tin đồng thời phải sáng tạo để tìm kiếm và xây dựng giải pháp mới thay thế. Để thực hiện nghiên cứu, người làm công tác giáo dục (giáo viên – CBQL giáo dục) cần biết các phương pháp chuẩn mực để đánh giá tác động một cách hiệu quả. 6

7. Hoạt động NCKHSPƯD là một phần trong quá trình phát triển chuyên môn của giáo viên – CBQLGD trong thế kỷ 21. Với NCKHSPƯD, giáo viên – CBQL giáo dục sẽ lĩnh hội các kỹ năng mới về tìm hiểu thông tin, giải quyết vấn đề, nhìn lại quá trình, giao tiếp và hợp tác. “Trong quá trình NCKHSPƯD nhà giáo dục nghiên cứu khả năng học tập của học sinh trong mối liên hệ với phương pháp dạy học. Quá trình này cho phép những người làm giáo dục hiểu rõ hơn về phương pháp sư phạm của mình và tiếp tục giám sát quá trình tiến bộ của học sinh” (Rawlinson, D., & Little, M. (2004). Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng trong lớp học Tallahassee, FL: Sở Giáo dục bang Florida). “Ý tưởng về NCKHSPƯD là cách tốt nhất để xác định và điều tra những vấn đề giáo dục tại chính nơi vấn đề đó xuất hiện: tại lớp học và trường học. Thông qua việc thực hiện NCKHSPƯD vào các bối cảnh này và để những người đang hoạt động trong môi trường đó tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, các phát hiện sẽ được ứng dụng ngay lập tức và vấn đề sẽ được giải quyết nhanh hơn” (Guskey, T. R. (2000). Đánh giá phát triển chuyên môn Thousand Oaks, CA: NXB Corwin). II. Vì sao cần nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng? NCKHSPƯD, khi được áp dụng đúng cách trong trường học, sẽ đem đến rất nhiều lợi ích, vì nó:  Phát triển tư duy của giáo viên một cách hệ thống theo hướng giải quyết vấn đề mang tính nghề nghiệp để hướng tới sự phát triển của trường học  Tăng cường năng lực giải quyết vấn đề và đưa ra các quyết định về chuyên môn một cách chính xác  Khuyến khích giáo viên nhìn lại quá trình và tự đánh giá  Tác động trực tiếp đến việc dạy học và công tác quản lý giáo dục (lớp học, trường học)  Tăng cường khả năng phát triển chuyên môn của giáo viên. Giáo viên tiến hành NCKHSPƯD sẽ tiếp nhận chương trình, phương pháp dạy học mới một cách sáng tạo có sự phê phán một cách tích cực (Soh, K. C. & Tan, C. (2008). Hội thảo về NCKHSPƯD. Hong Kong: EL21). 7

9. IV. Khung nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng Để giáo viên có thể tiến hành NCKHSPƯD có hiệu quả trong các tình huống thực tế, chúng tôi đã mô tả quy trình nghiên cứu dưới dạng một khung gồm 7 bước như sau: Bảng A1.1. Khung nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng Bước Hoạt động 1. Hiện trạng Giáo viên – người nghiên cứu tìm ra những hạn chế của hiện trạng trong việc dạy – học, quản lý giáo dục và các hoạt động khác trong nhà trường. Xác định các nguyên nhân gây ra hạn chế đó, lựa chọn 01 nguyên nhân mà mình muốn thay đổi 2. Giải pháp thay thế Giáo viên – người nghiên cứu suy nghĩ về các giải pháp thay thế cho giải pháp hiện tại và liên hệ với các ví dụ đã được thực hiện thành công có thể áp dụng vào tình huống hiện tại. 3. Vấn đề nghiên cứu Giáo viên – người nghiên cứu xác định các vấn đề cần nghiên cứu (dưới dạng câu hỏi) và nêu các giả thuyết. 4. Thiết kế Giáo viên – người nghiên cứu lựa chọn thiết kế phù hợp để thu thập dữ liệu đáng tin cậy và có giá trị. Thiết kế bao gồm việc xác định nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm, quy mô nhóm và thời gian thu thập dữ liệu. 5. Đo lường Giáo viên – người nghiên cứu xây dựng công cụ đo lường và thu thập dữ liệu theo thiết kế nghiên cứu. 6. Phân tích Giáo viên – người nghiên cứu phân tích các dữ liệu thu được và giải thích để trả lời các câu hỏi nghiên cứu. Giai đoạn này có thể sử dụng các công cụ thống kê. 7. Kết quả Giáo viên – người nghiên cứu đưa ra câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu, đưa ra các kết luận và khuyến nghị. Khung NCKHSPƯD này là cơ sở để lập kế hoạch nghiên cứu. Áp dụng theo khung NCKHSPƯD, trong quá trình triển khai đề tài, người nghiên cứu sẽ không bỏ qua những khía cạnh quan trọng của nghiên cứu. Xây dựng đề cương NCKHSPƯD 9

10. A2. PHƯƠNG PHÁP NCKHSPƯD Trong NCKHSPƯD có nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng: cả hai cách nghiên cứu này đều có điểm mạnh và điểm yếu nhưng đều nhấn mạnh việc nhìn lại quá trình của giáo viên về việc dạy và học, năng lực phân tích để đánh giá các hoạt động một cách hệ thống, năng lực truyền đạt kết quả nghiên cứu đến những người ra quyết định hoặc những nhà giáo dục quan tâm tới vấn đề này. Tài liệu này nhấn mạnh đến nghiên cứu định lượng trong NCKHSPƯD vì nó có một số lợi ích sau:  Trong nhiều tình huống, kết quả nghiên cứu định lượng dưới dạng các số liệu (ví dụ: điểm số của học sinh) có thể được giải nghĩa một cách rõ ràng. Điều này giúp người đọc hiểu rõ hơn về nội dung và kết quả nghiên cứu.  Nghiên cứu định lượng đem đến cho giáo viên cơ hội được đào tạo một cách hệ thống về kỹ năng giải quyết vấn đề, phân tích và đánh giá. Đó là những nền tảng quan trọng khi tiến hành nghiên cứu định lượng.  Thống kê được sử dụng theo các chuẩn quốc tế. Đối với người nghiên cứu, thống kê giống như một ngôn ngữ thứ hai và kết quả NCKHSPƯD của họ được công bố trở nên dễ hiểu. Xây dựng đề cương NCKHSPƯD 10

11. Câu hỏi phản hồi 1. Anh (chị) có hiểu biết gì về NCKHSPƯD? 2. Anh (chị) hãy suy nghĩ về một số vấn đề trong lớp học/trường học của mình có thể áp dụng NCKHSPƯD để thay đổi hiện trạng? 3. Anh/chị nhận thấy NCKHSPƯD có gì khác biệt so với các hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục mà anh/chị đã thực hiện từ trước tới nay? Đánh giá đề tài thực hành NCKHSPƯD 11

14. III. Xác định vấn đề nghiên cứu Đây là BƯỚC THỨ BA của quá trình NCKHSPƯD. Việc liên hệ với thực tế dạy học và đưa ra giải pháp thay thế cho tình huống hiện tại sẽ giúp giáo viên hình thành các vấn đề nghiên cứu. Một đề tài NCKHSPƯD thường có 1 đến 3 vấn đề nghiên cứu được viết dưới dạng câu hỏi. Ví dụ về xác định đề tài nghiên cứu Đề tài Nâng cao hứng thú và kết quả học tập của học sinh lớp 6 thông qua việc sử dụng hình ảnh và vật thật khi dạy từ ngữ Vấn đề nghiên cứu 1. Việc sử dụng hình ảnh và vật thật trong dạy từ ngữ có làm tăng hứng thú học tập của học sinh lớp 5 không? 2. Việc sử dụng hình ảnh và vật thật trong dạy từ ngữ có làm tăng kết quả học tập của học sinh lớp 5 không? Mỗi NCKHSPƯD khởi đầu bằng một vấn đề và đó phải là một vấn đề có thể nghiên cứu được. Muốn vậy, vấn đề cần: 1. Không đưa ra đánh giá về giá trị 2. Có thể kiểm chứng bằng dữ liệu Để có thể hiểu ý nghĩa của các nội dung này, chúng ta hãy xem xét một số vấn đề nghiên cứu được trình bày trong bảng bên. Vấn đề đầu tiên đề cập phương pháp tốt nhất để dạy học sinh đọc. Từ ” tốt nhất” chính là một nhận định về giá trị. ” Tốt nhất” ở đây nghĩa là gì? Dựa trên tiêu chí nào để đánh giá là ” tốt nhất” ? Liệu có phải ” tốt nhất” vì bản thân tôi cảm thấy thích hay không? Liệu có phải ” tốt nhất” vì phương pháp đó phổ biến hay không” ? Liệu có phải ” tốt nhất” vì đó là phương pháp duy nhất mà tôi được dạy? Những lý do này mang tính cá nhân hoặc chủ quan. Vì vậy vấn đề này không nghiên cứu được. Những vấn đề này có nghiên cứu được không? 1. Phương pháp dạy ngôn ngữ/ toán/khoa học xã hội tốt nhất là gì? “tốt nhất”: nhận định về giá trị  Không nghiên cứu được! 2. Liệu tóm tắt sau khi đọc có ích cho việc đọc hiểu hay không? “có ích hay không”: trung tính (không có nhận định về giá trị) Kiểm chứng bằng dữ liệu: so sánh điểm trung bình các bài kiểm tra đọc hiểu của 2 nhóm.  Có thể nghiên cứu được! 3. Có nên bắt buộc sử dụng mô hình hoá trong giải Toán hay không? Không nghiên cứu được! 4. Liệu học phụ đạo có giúp học sinh học tốt hơn không?  Có thể nghiên cứu được! 14

16. IV. Xây dựng giả thuyết nghiên cứu Khi xây dựng vấn đề nghiên cứu, người nghiên cứu đồng thời lập ra giả thuyết nghiên cứu tương ứng (xem ví dụ ở bảng dưới). Giả thuyết nghiên cứu là một câu trả lời giả định cho vấn đề nghiên cứu và sẽ được chứng minh bằng dữ liệu. Ví dụ về xây dựng giả thuyết nghiên cứu. Vấn đề nghiên cứu 1. Việc sử dụng hình ảnh và vật thật trong dạy từ ngữ có làm tăng hứng thú học từ ngữ của học sinh lớp 5 không? 2. Việc sử dụng hình ảnh và vật thật trong dạy từ ngữ có làm tăng kết quả học từ ngữ của học sinh lớp 5 không? Giả thuyết 1. Có, nó sẽ làm thay đổi hứng thú học tập của học sinh. 2. Có, nó sẽ làm tăng kết quả học từ ngữ của học sinh. Có hai dạng giả thuyết nghiên cứu chính: Giả thuyết không có nghĩa (Ho) Dự đoán hoạt động thực nghiệm sẽ không mang lại hiệu quả Giả thuyết có nghĩa (Ha) Dự đoán hoạt động thực nghiệm sẽ mang lại hiệu quả Hình B1.1 chỉ ra quan hệ của hai dạng giả thuyết này. Sơ đồ các dạng giả thuyết nghiên cứu Vấn đề nghiên cứu Giả thuyết không có nghĩa (Ho) Không có sự khác biệt giữa các nhóm Không định hướng Có định hướng Có sự khác biệt giữa các nhóm Một nhóm có kết quả tốt hơn nhóm kia Giả thuyết có nghĩa ( Ha: H1, H2, H3,..) 16

17. Giả thuyết có nghĩa (Ha) có thể có hoặc không có định hướng. Giả thuyết có định hướng sẽ dự đoán định hướng của kết quả, còn giả thuyết không định hướng chỉ dự đoán sự thay đổi. Ví dụ sau sẽ minh họa cho điều này. Có định hướng Có, nó sẽ làm tăng kết quả học từ ngữ của học sinh Không định hướng Có, nó sẽ làm thay đổi hứng thú học tập của học sinh 17

19. Thiết kế này rất phổ biến vì dễ thực hiện. Nó thông dụng nhưng trong thực tế ẩn chứa nhiều nguy cơ đối với giá trị của dữ liệu nghiên cứu. Đối với thiết kế này, việc kết quả kiểm tra sau tác động cao hơn kết quả kiểm tra trước tác động có thể khiến chúng ta nhầm tưởng và kết luận rằng tác động mang lại kết quả tốt. Cách đưa ra kết luận như vậy là khá chủ quan vì kết quả kiểm tra tăng lên có thể do ảnh hưởng của các yếu tố khác. Chúng ta gọi các yếu tố hoặc nguyên nhân này là những nguy cơ có thể xảy ra với nhóm duy nhất vì chúng làm ảnh hưởng đến giá trị của dữ liệu nghiên cứu. Những nguy cơ với nhóm duy nhất: – Nguy cơ tiềm ẩn. Những yếu tố bên ngoài giải pháp tác động đã được thực hiện có ảnh hưởng làm tăng giá trị trung bình của bài kiểm tra sau tác động. – Sự trưởng thành. Sự phát triển hoặc trưởng thành bình thường của các đối tượng tham gia nghiên cứu làm tăng giá trị trung bình của bài kiểm tra sau tác động. – Kinh nghiệm làm bài kiểm tra. Làm bài kiểm tra là một trải nghiệm học tập. Các học sinh sẽ có nhiều kinh nghiệm hơn khi làm lại bài kiểm tra trước tác động ở lần kiểm tra sau tác động. – Việc sử dụng công cụ đo. Các bài kiểm tra trước và sau tác động không được chấm điểm giống nhau do người chấm có tâm trạng khác nhau. – Sự vắng mặt. Một số học sinh, đặc biệt là những em có điểm số thấp trong bài kiểm tra trước tác động không tiếp tục tham gia nghiên cứu. Bài kiểm tra sau tác động được thực hiện mà không có sự tham gia của các em học sinh này. Đây là một thiết kế đơn giản nhưng không hiệu quả. Do những nguy cơ đối với giá trị của dữ liệu nên nếu chúng ta có lựa chọn khác thì không nên sử dụng thiết kế này. Trong trường hợp sử dụng, chúng ta cần cẩn trọng trước những nguy cơ ảnh hưởng đến độ giá trị của dữ liệu. 19

23. V. Thiết kế cơ sở AB hoặc thiết kế đa cơ sở AB Ngoài 4 dạng thiết kế trên, còn có dạng thiết kế được gọi là thiết kế cơ sở AB hoặc thiết kế đa cơ sở AB. Trong lớp học/trường học thường có hiện tượng một số học sinh có hành vi, thái độ thiếu tích cực hoặc kết quả học tập chưa tốt – gọi là trường hợp “cá biệt”. Ví dụ : học sinh thường không hoàn thành bài tập về nhà, học sinh hay đi học muộn, học sinh không tập trung chú ý trong giờ học… Người NC chọn những học sinh ở cùng loại “cá biệt” để tác động. Đối với những trường hợp này, người NC có thể sử dụng thiết kế cơ sở AB/ thiết kế đa cơ sở AB. – A là giai đoạn cơ sở (hiện trạng chưa có tác động/can thiệp) – B là giai đoạn tác động/can thiệp Thiết kế chỉ có một giai đoạn cơ sở A, một giai đoạn tác động B được gọi là thiết kế AB. Có thể ngừng tác động sau giai đoạn B, hoặc lặp lại một giai đoạn cơ sở A và một giai đoạn tác động B thứ hai (có nghĩa là bắt đầu từ A2 và sau đó tiếp tục giai đoạn B2), khi đó thiết kế này được mở rộng để trở thành thiết kế ABAB. Với thiết kế phức tạp hơn này, có thể khẳng định chắc chắn hơn về ảnh hưởng của giai đoạn B. Có thể thời gian của giai đoạn cơ sở A đối với các học sinh được nghiên cứu có sự khác nhau. Ví dụ đề tài “Tăng tỷ lệ hoàn thành bài tập và độ chính xác trong giải bài tập Toán bằng việc sử dụng thẻ báo cáo hằng ngày”. 22 Thiết kế đa cơ sở AB Tại sao lại là đa cơ sở? Kiểm chứng độ giá trị của dữ liệu bằng việc xem xét nguy cơ tiềm ẩn: – Một yếu tố nào đó (ngoài biện pháp tác độn được sử dụng) cũng đã có thể thay đổi hành của Jeff. – Vì hai em học sinh cùng lớp nên những gì là thay đổi Jeff cũng có thể làm thay đổi David. Trong đề tài này, giai đoạn cơ sở (A) đối với 2 học sinh Jeff và David là khác nhau. Giai đoạn cơ sở (A) đối với Jeff là 4 ngày nhưng đối với David là 10 ngày. Trong thiết kế nghiên cứu này, do có hai giai đoạn cơ sở khác nhau nên được gọi là thiết kế đa cơ sở AB. 23

24. Mô hình thiết kế cơ sở AB 18 Thiết kế cơ sở AB Giai đoạn cơ sở (A) Giai đoạn có tác động (B)  Bắt đầu có tác động Ngày Jeff Tỷ lệ hoàn thành Độ chính xác Thiết kế AB: Kết quả nghiên cứu trong giai đoạn cơ sở và giai đoạn có tác động Mô hình thiết kế đa cơ sở AB 20 Jeff GĐ cơ sở GĐ bắt đầu nghiên cứu Tỷ lệ hoàn thành Độ chính xác David GĐ cơ sở GĐ bắt đầu nghiên cứu Tỷ lệ hoàn thành Độ chính xác Tại sao lại có các giai đoạn cơ sở khác nhau? Lý do chính là để tăng độ giá trị của dữ liệu bằng việc kiểm soát nguy cơ tiềm ẩn, do một yếu tố bên ngoài có thể gây ảnh hưởng tới biến số phụ thuộc này. Trong trường hợp này, nguy cơ tiềm ẩn đề cập tới những yếu tố khác cũng đã có thể thay đổi hành vi của HS mà chúng ta nghiên cứu. Vì hai học sinh cùng lớp nên về mặt lôgíc, những gì xảy ra trong lớp học làm thay đổi hành vi HS này thì cũng sẽ thay đổi hành vi của HS khác. Lưu ý: có thể sử dụng thiết kế này cho hai học sinh trở lên (ví dụ: 2 hoặc 4 học sinh). Trong trường hợp đó, chúng ta có thể có nhiều giai đoạn cơ sở hơn (ví dụ: 2 hoặc 4 giai đoạn cơ sở (A)). (Để hiểu rõ hơn, xem ví dụ về thiết kế này ở phần phụ lục) 24

25. Tóm lại: Người nghiên cứu sẽ lựa chọn thiết kế phù hợp theo điều kiện thực tế của môi trường nghiên cứu. Bất kể mô hình nào được lựa chọn, cần lưu ý đến những hạn chế của mỗi thiết kế và ảnh hưởng của nó tới nghiên cứu. Đánh giá đề tài thực hành NCKHSPƯD 25

27. Trong nghiên cứu có 3 dạng dữ liệu cần thu thập. Căn cứ vào vấn đề nghiên cứu để sử dụng dạng dữ liệu cần thu thập phù hợp. 1. Kiến thức Biết, hiểu, áp dụng 2. Kĩ năng Kỹ năng, sự tham gia, thói quen, khả năng 3. Thái độ Hứng thú, tích cực tham gia, quan tâm, ý kiến Các phương pháp được sử dụng để thu thập các dạng dữ liệu. Đo lường Phương pháp 1. Kiến thức Sử dụng các bài kiểm tra thông thường hoặc các bài kiểm tra được thiết kế đặc biệt. 2. Kĩ năng Thiết kế thang xếp hạng hoặc bảng kiểm quan sát 3. Thái độ Thiết kế thang thái độ 1. Đo kiến thức Các bài kiểm tra có thể sử dụng trong NCKHSPƯD thay đổi nhận thức gồm: * Các bài thi cũ * Các bài kiểm tra thông thường trong lớp Theo cách này giáo viên không phải mất công xây dựng và chấm điểm bài kiểm tra mới. Các kết quả nghiên cứu có tính thuyết phục cao hơn vì đó là các hoạt động bình thường trong lớp học. Điều này làm tăng độ giá trị của dữ liệu thu được. Trong một số trường hợp, cần có các bài kiểm tra được thiết kế riêng. Thứ nhất, khi nội dung nghiên cứu nằm ngoài chương trình giảng dạy bình thường (không có trong sách giáo khoa hoặc trong phân phối chương trình). Thứ hai, nghiên cứu sử dụng một phương pháp mới, chẳng hạn giải toán sáng tạo. Khi đó, cần điều chỉnh bài kiểm tra cũ cho phù hợp hoặc thiết kế bài kiểm tra mới. Nên sử dụng các câu hỏi nhiều lựa chọn (CHNLC) trong trường hợp có thể. Lý do là (1) bài kiểm tra sử dụng CHNLC bao quát được nội dung rộng hơn và đầy đủ hơn, (2) chấm điểm khách quan hơn, giúp tăng độ tin cậy của dữ liệu, và (3) chấm điểm nhanh hơn để có kết quả cho việc nhìn lại quá trình học tập và viết báo cáo. CHNLC đặc biệt hữu ích trong các NCKHSPƯD với mục đích nâng cao mức độ lĩnh hội kiến thức của học sinh. Tuy vậy, không nên sử dụng câu hỏi nhiều lựa chọn trong một số lĩnh vực của môn Ngữ văn như viết bài luận hoặc viết sáng tạo. 27

28. 2. Đo kĩ năng hoặc hành vi a, Đo kỹ năng Các NCKHSPƯD về kĩ năng, căn cứ vào vấn đề nghiên cứu có thể đo các kĩ năng của học sinh như: * Sử dụng kính hiển vi (hoặc các dụng cụ khác) * Sử dụng công cụ trong xưởng thực hành kỹ thuật * Chơi nhạc cụ * Đánh máy * Đọc một trích đoạn * Đọc diễn cảm bài thơ hoặc đoạn hội thoại * Thuyết trình * Thể hiện khả năng lãnh đạo… b, Đo hành vi Các NCKHSPƯD để thay đổi hành vi, căn cứ vào vấn đề nghiên cứu có thể đo các hành vi của học sinh như: * Đi học đúng giờ * Sử dụng ngôn ngữ * Ăn mặc phù hợp * Giơ tay trước khi phát biểu * Nộp bài tập đúng hạn * Tham gia tích cực vào hoạt động nhóm * … Để đo các hành vi hoặc kỹ năng, người nghiên cứu có thể sử dụng Thang xếp hạng hoặc Bảng kiểm quan sát. Thang xếp hạng có cấu trúc tương tự thang đo thái độ, nhưng mô tả chi tiết hơn về các hành vi được quan sát. 10 Đo hành vi/ kỹ năng Collect data on student’s performance or behavior Rating scales Thu thập dữ liệu về hành vi/kỹ năng của học sinh Obs a tserv tion ChecklisB kiThang ếp hạngx ảng ểm quan sát Tương tự thang đo thái độ nhưng tập trung vào hành vi có thể quan sát được. Liệt kê theo trình tự các hành vi/ kỹ năng cụ thể để HS trả lời. Các câu hỏi có dạng câu lựa chọn Có/ Không hoặc Có mặt/ Vắng mặt… 28

29. Bảng kiểm quan sát dạng đơn giản nhất chỉ có hai loại phản hồi: có/ không, quan sát được/không quan sát được, có mặt/vắng mặt, hoặc quan trọng/không quan trọng. Tập hợp một bộ các câu hỏi dưới dạng này được gọi là một bảng kiểm. Vì bảng kiểm gồm nhiều kỹ năng nhỏ trong phạm vi kỹ năng cần đo, cần có số lượng câu hỏi phù hợp. 11 Đo hành vi/ kỹ năng Học sinh đó xung phong lên bảng giải bài tập toán trong lớp. Có Không Tần suất mượn sách trong thư viện nhà trường của HS đó trong 1 tháng vừa qua thế nào? Rất thường xuyên Thường xuyên Thỉnh thoảng Hiếm khi Không bao giờ Ví dụCông cụ đo Bảng kiểm quan sát 2 Thang xếp hạng 1 Quan sát công khai và không công khai Quan sát có thể công khai hoặc không công khai. Trong quan sát công khai, đối tượng quan sát hoàn toàn ý thức được việc các em đang được đánh giá. Ví dụ, giáo viên yêu cầu học sinh đọc to một đoạn văn. Học sinh này biết giáo viên đang đánh giá kỹ năng đọc của mình. Quan sát công khai có thể khiến người quan sát thấy được hành vi của HS ở trạng thái tốt nhất. Trong trường hợp này, học sinh đó có thể cố hết sức để đọc to, mặc dù bình thường HS đó có thể không làm như vậy. Do đó, dữ liệu thu được có thể không phải hành vi tiêu biểu của học sinh này. Ngược lại, quan sát không công khai được thực hiện khi đối tượng không biết mình đang được đánh giá. Các hành vi quan sát được đặc trưng cho các hành vi thông thường của học sinh. Ví dụ, hành vi học sinh tự giác nhặt rác trên sân trường trong giờ ra chơi. 12 Đo hành vi/ kỹ năng ObservationQuan sát ObtrusiveCông khai Unobt usivr eKhông ông hai Học sinh biết mình được quan sát Học sinh không biết mình được quan sát  Có thể ảnh hưởng đến hành vi của HS, giảm độ giá trị của dữ liệu; những hành vi/kĩ năng quan sát được có thể không phải hành vi tiêu biểu của HS.  Quan sát trong điều kiện tự nhiên đem lại các dữ liệu tin cậy hơn, phản ánh các hành vi/kĩ năng tiêu biểu của HS. c k 29

30. Trung gian giữa quan sát công khai và không công khai là Quan sát có sự tham gia, thường sử dụng trong các nghiên cứu định tính hoặc nghiên cứu về phong tục. Quan sát có sự tham gia đòi hỏi giáo viên – người nghiên cứu hoà mình vào đối tượng đang được quan sát trong một thời gian nhất định. Khi thực hiện quan sát có sự tham gia, giáo viên – người nghiên cứu có thể đạt được sự hiểu biết sâu sắc hơn so với việc sử dụng bảng kiểm quan sát. 3. Đo thái độ Người nghiên cứu cũng rất quan tâm đến việc đo thái độ của HS đối với việc học tập vì thái độ tích cực có ảnh hưởng đến hành vi và kết quả học tập của HS. Để đo thái độ, có thể sử dụng thang đo gồm từ 8-12 câu dưới dạng thang Likert. Trong thang này, mỗi câu hỏi gồm một mệnh đề đánh giá và một thang đo gồm nhiều mức độ phản hồi. Trong thực tế, thường sử dụng thang đo gồm 5 mức độ. Điểm của thang được tính bằng tổng điểm của các mức độ được lựa chọn hoặc đánh dấu. Các dạng phản hồi của thang đo thái độ có thể sử dụng là: đồng ý, tần suất, tính tức thì, tính cập nhật, tính thiết thực Các dạng phản hồi: Đồng ý Hỏi về mức độ đồng ý Tần suất Hỏi về tần suất thực hiện nhiệm vụ Tính tức thì Hỏi về thời điểm bắt đầu thực hiện nhiệm vụ Tính cập nhật Hỏi về thời điểm thực hiện nhiệm vụ gần nhất Tính thiết thực Hỏi về cách sử dụng nguồn lực (ví dụ: sử dụng thời gian rảnh rỗi, sử dụng tiền thưởng…) 30

33. Khi thang đo thái độ được thiết kế cho đối tượng nhỏ tuổi hoặc thiếu kinh nghiệm, có thể sử dụng thang gồm 4 mức hoặc thậm chí chỉ 2 mức độ phản hồi. Điều này khiến cho khoảng điểm thu hẹp lại nên cần bổ sung các mệnh đề. Với đối tượng này, cần nêu đầy đủ các mức độ phản hồi. Đối với các đối tượng lớn tuổi và có kinh nghiệm hơn, có thể chỉ cần đặt tên cho mức cao nhất, thấp nhất và mức trung bình, hoặc chỉ cần đặt tên cho mức cao nhất và thấp nhất. Việc xây dựng thang đo mới không hề đơn giản. Chúng ta có thể cần tìm các thang sẵn có trong các bài báo hoặc trên mạng internet. Có thể cần điều chỉnh lại các thang này cho phù hợp với mục đích nghiên cứu và đối tượng điều tra. Trong mọi trường hợp, cần tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ. 22 Hướng dẫn xây dựng thang đo * Nếu có nhiều câu hỏi để đo thì cần phân chúng thành một số hạng mục. Mỗi mục cần có tên rõ ràng. * Nêu đầy đủ tất cả các mức độ phản hồi, đặc biệt trong thang đo sử dụng với đối tượng nhỏ tuổi và ít kinh nghiệm. * Sử dụng hoặc điều chỉnh lại các thang sẵn có cho phù hợp; chỉ xây dựng thang đo mới trong trường hợp thực sự cần thiết. * Tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ. 5. Thử nghiệm thang đo mới Thành ngữ có câu “Trăm hay không bằng tay quen”, điều này rất đúng đối với việc xây dựng thang đo. Giáo viên – người nghiên cứu thực hiện xây dựng và điều chỉnh thang đo có trình độ cao hơn nhiều so với đối tượng điều tra hoặc học sinh, cả về mặt ngôn ngữ lẫn khái niệm. Vì vậy, các câu hỏi dễ hiểu và có nghĩa đối với người nghiên cứu không phải lúc nào cũng dễ hiểu đối với người trả lời. Việc thử nghiệm thang đo mới xây dựng là một cách hiệu quả để đảm bảo độ giá trị của dữ liệu thu thập được. 23 Thử nghiệm thang đo mới * Khi điều chỉnh lại hoặc xây dựng một thang đo mới, cần thử nghiệm các thang đó. * Số lượng mẫu thử không cần nhiều, khoảng từ 10 đến 20 HS là đủ. * Mẫu thử phải tương đương với nhóm thực nghiệm. * Mục đích chính của việc thử nghiệm là đánh giá liệu các câu hỏi có dễ hiểu và có ý nghĩa với nhóm thực nghiệm hay không. 33

34. Hoạt động thử nghiệm có thể được thực hiện với 10-20 học sinh có đặc điểm tương tự với đối tượng tham gia nghiên cứu. Nếu không thể lấy học sinh trong trường vì lý do học sinh toàn trường đều tham gia nghiên cứu, có thể chọn học sinh tương đương ở trường lân cận. Mục đích chính của hoạt động thử nghiệm là đảm bảo hình thức và ngôn ngữ sử dụng trong câu hỏi phù hợp với đối tượng học sinh. Qua việc quan sát các học sinh tham gia thử nghiệm trả lời câu hỏi, có thể yêu cầu học sinh khoanh tròn các nội dung các em không hiểu, và có thể phỏng vấn hỏi ý kiến các em. 34

35. II. Độ tin cậy và độ giá trị Các dữ liệu thu thập được thông qua việc kiểm tra kiến thức, đo kỹ năng và đo thái độ có thể không đáng tin về độ tin cậy và độ giá trị. Dữ liệu không đáng tin cậy không thể được sử dụng vào bất kỳ mục đích nào trong thực tế. 1. Độ tin cậy Độ tin cậy là tính nhất quán, có sự thống nhất của các dữ liệu giữa các lần đo khác nhau và tính ổn định của dữ liệu thu thập được. Ví dụ, khi bạn cân trọng lượng của mình trong 3 ngày liên tiếp và có các dữ liệu về cân nặng gồm 58 kg, 65 kg và 62 kg. Vì cân nặng của bạn khó có thể thay đổi trong khoảng thời gian ngắn như vậy, nên bạn sẽ nghi ngờ tính chính xác của chiếc cân đã sử dụng. Chúng ta có cơ sở nghi ngờ về sự không đáng tin cậy của chiếc cân, kết quả không có khả năng lặp lại, không ổn định và nhất quán giữa các lần đo khác nhau. 25 Độ tin cậy và độ giá trị Tình huống: Đo trọng lượng của bạn 623 652 581 Trọng lượng (kg) Ngày Có điều gì đó bất ổn bởi trọng lượng không thể thay đổi quá nhanh như vậy! Thang đo trọng lượng không đưa ra các số liệu đáng tin cậy, có khả năng lặp lại, ổn định, hoặc nhất quán giữa các lần đo khác nhau. Không thể sử dụng các dữ liệu này vào bất kỳ mục đích nào trong thực tiễn. 2. Độ giá trị Độ giá trị là tính xác thực của dữ liệu thu được, các dữ liệu có giá trị là phản ánh trung thực của nhận thức/thái độ/ hành vi được đo. Ví dụ khi đo chiều cao bằng thước, bạn được các kết quả gần giống nhau là 1,55 m, 1,60 m và 1,50 m. Trong thực tế các số đo này tương đối thống nhất. Nhưng khi nhớ lại số đo của bạn cách đó 2 tháng là 1,70 m, bạn bắt đầu nghi ngờ thước đo đã làm bạn thấp đi. Bạn biết mình sẽ không thể thấp đi được vì bạn còn trẻ. Các kết quả đo đã không phản ánh chính xác chiều cao của bạn. Cuối cùng bạn phát hiện ra thước đo bị gãy một đầu. Trong trường hợp này, các số đo đáng tin cậy nhưng không có giá trị. Các số đo tương đối thống nhất nhưng không phản ánh thực tế. 35

36. 3. Mối quan hệ giữa độ tin cậy và độ giá trị Ba mối liên hệ quan trọng giữa độ tin cậy và độ giá trị là: 1. Độ tin cậy và độ giá trị là chất lượng của dữ liệu, không phải là công cụ để thu thập dữ liệu 2. Độ tin cậy là điều kiện tiên quyết của độ giá trị 3. Độ tin cậy và độ giá trị có liên hệ với nhau. Để hiểu rõ các mối liên hệ giữa độ tin cậy và độ giá trị, chúng ta sử dụng phép loại suy trong việc bắn súng. Mục tiêu đặt ra là bắn đạn trúng vào hồng tâm. Do đó, xạ thủ nào đạt được mục tiêu này sẽ cho các kết quả đáng tin cậy và có giá trị (bia số 4). 28 Độ tin cậy và độ giá trị http://trochim.human.cornell.edu/kb/rel&val.htm Tin cậy Không có giá trị Giá trị Không tin cậy Không tin cậy Không có giá trị Tin cậy Có giá trị Bia 1 2 3 4 Trong trường hợp hầu hết các viên đạn đều tập trung vào một điểm xa hồng tâm, có thể khẳng định rằng các kết quả đáng tin cậy nhưng không có giá trị (bia số 1). Dữ liệu tin cậy là dữ liệu có khả năng lặp lại và nhất quán giữa các lần đo. Trong trường hợp này, xạ thủ đã lặp lại việc bắn đạn vào cùng một điểm. Tuy nhiên, dữ liệu ở đây thiếu giá trị vì các điểm bắn nằm xa hồng tâm. 36

37. Bia số 2 và số 3 là các tình huống thường gặp phải khi thu thập dữ liệu trong NCKHSPƯD. Các dữ liệu có độ tin cậy và có độ giá trị trong phạm vi hạn chế. Với bia số 2, mặc dù một số điểm bắn gần hồng tâm (có độ giá trị), nhưng các điểm bắn lại tản ra khắp bia bắn. Xạ thủ không thể lặp lại các lần bắn vào trúng hồng tâm. Do đó, các điểm bắn không đáng tin cậy. Đối với bia số 3, mặc dù một số điểm nằm trong bia bắn, nhưng có một số điểm nằm ngoài bia. Những điểm nằm trong bia lệch về nửa phía trên. Trong trường hợp này, dữ liệu vừa không đáng tin cậy vừa không có giá trị. Đối với các dữ liệu thu thập được trong NCKHSPƯD, mục tiêu của người nghiên cứu là nâng cao cả độ tin cậy và độ giá trị của dữ liệu (bia số 4). 4. Kiểm chứng độ tin cậy của dữ liệu Giáo viên – người nghiên cứu có thể sử dụng một số cách để kiểm chứng độ tin cậy của dữ liệu: – kiểm tra nhiều lần, – sử dụng các dạng đề tương đương – chia đôi dữ liệu a, Kiểm tra nhiều lần Trong phương pháp kiểm tra nhiều lần, một nhóm đối tượng sẽ làm một bài kiểm tra hai lần tại hai thời điểm khác nhau. Nếu dữ liệu đáng tin cậy, điểm của hai bài kiểm tra phải tương tự nhau hoặc có độ tương quan cao. 29 Kiểm chứng độ tin cậy của dữ liệu 1. Kiểm tra nhiều lần 2. Các dạng tương đương 3. Chia đôi dữ liệu Các phương pháp kiểm chứng độ tin cậy của dữ liệu:  Chia đôi dữ liệu là phương pháp thiết thực hơn để áp dụng trong bối cảnh nhà trường! b, Sử dụng các dạng đề tương đương Trong phương pháp sử dụng các dạng đề tương đương, cần tạo ra hai dạng đề khác nhau của một bài kiểm tra. Một nhóm đối tượng thực hiện cả hai bài kiểm tra cùng một thời điểm. Tính độ tương quan giữa điểm số của hai bài kiểm tra để kiểm tra tính nhất quán của hai dạng đề kiểm tra. 37

41. Độ giá trị nội dung có tính mô tả nhiều hơn là thống kê. Các nhận xét của giáo viên có kinh nghiệm thường được sử dụng để kiểm chứng độ giá trị về nội dung của dữ liệu. b, Độ giá trị đồng quy Về mặt logic, điểm số của các bài kiểm tra trong NCKHSPƯD phải có độ tương quan cao với điểm số các bài kiểm tra trên lớp trong cùng môn học. Độ tương quan ở đây có nghĩa là những em học sinh đạt kết quả tốt trong các bài kiểm tra môn học thông thường (ví dụ: môn Toán) thì cũng làm tốt các bài kiểm tra môn Toán trong NCKHSPƯD. Do đó, xem xét tương quan giữa điểm số các bài kiểm tra sử dụng trong NCKHSPƯD và điểm các bài kiểm tra thông thường là một cách kiểm chứng độ giá trị của dữ liệu. 35 2. Độ giá trị đồng quy * Về mặt logic, điểm số đạt được trong nghiên cứu phải có độ tương quan cao với các điểm số hiện tại của cùng môn học. * Tính hệ số tương quan của hai tập hợp điểm số là một cách kiểm chứng độ giá trị. 3. Độ giá trị dự báo * Tương tự như độ giá trị đồng quy nhưng có định hướng tương lai. * Các điểm số đạt được trong nghiên cứu phải tương quan với điểm số bài kiểm tra sắp tới của môn học. c, Độ giá trị dự báo Tương tự như độ giá trị đồng quy với định hướng tương lai. Các số liệu kiểm tra của NC phải tương quan với một bài kiểm tra của môn học trong tương lai. Đối với giá trị đồng quy và giá trị dự báo, tương quan càng lớn biểu thị độ giá trị càng cao. Độ tương quan cao thể hiện các kiến thức và kỹ năng của học sinh đo được trong nghiên cứu tương đương với kiến thức và kỹ năng trong các môn học. Ví dụ về độ giá trị dự báo: Tên đề tài: Áp dụng PPDH “X” trong dạy môn Toán lớp 5 Thiết kế: Chỉ kiểm tra sau tác động với nhóm ngẫu nhiên Nhóm đối chứng: 40 HS 41

44. 3. Một NCKHSPƯD sử dụng thang đo hứng thú đọc. Theo bạn có thể sử dụng các điểm số nào để kiểm chứng độ giá trị của dữ liệu? Các điểm số dùng để kiểm chứng độ giá trị có thể là điểm các bài kiểm tra đọc thông thường trên lớp của học sinh. Các điểm số này phải có độ tương quan cao với kết quả kiểm tra trong NCKHSPƯD. 44

47. I. Mô tả dữ liệu Hai cách chính để mô tả dữ liệu là Độ hướng tâm và Độ phân tán. Độ hướng tâm mô tả “trung tâm” của dữ liệu nằm ở đâu. Các tham số thống kê của Độ hướng tâm là Mốt, Trung vị và Giá trị trung bình. 8 Sử dụng thống kê trong nghiên cứu tác động Độ lệch chuẩn (SD)2. Độ phân tán Mode Trung vị (Median) Giá trị trung bình (Mean) 1. Độ hướng tâm Tham số thống kêMô tả 1. Mô tả dữ liệu – Mốt (Mode, viết tắt là Mo) là giá trị có tần suất xuất hiện nhiều nhất trong một dãy điểm số. – Trung vị (Median) là điểm nằm ở vị trí giữa trong dãy điểm số xếp theo thứ tự. – Giá trị trung bình (Mean) là điểm trung bình cộng của các điểm số. Các tham số thống kê của Độ phân tán là Độ lệch chuẩn, cho biết mức độ phân tán của các dữ liệu. Có thể minh hoạ độ lệch chuẩn bằng một ví dụ trong thực tế. Khi hai thành phố (một thành phố trong đất liền và một thành phố ven biển) của một nước cùng có nhiệt độ trung bình trong một năm là 200 C, chúng ta có thể nghĩ rằng biên độ dao động nhiệt độ ở hai thành phố đó là như nhau. Nhưng khi xác định biên độ dao động nhiệt độ của hai thành phố trong năm đó, chúng ta có kết quả như sau: Nhiệt độ (0 C) Thấp nhất Cao nhất Trung bình TP trong đất liền 10 30 20 TP ven biển 15 25 20 Rõ ràng, dữ liệu về nhiệt độ trung bình của hai thành phố đã khiến chúng ta hiểu chưa đúng vì nó không đưa ra một bức tranh toàn diện. Cần có thêm một phép đo khác là tính độ lệch chuẩn để có thông tin đầy đủ hơn về nhiệt độ của hai thành phố. Trong trường hợp này, độ lệch chuẩn của thành phố trong đất liền cao hơn so với thành phố ven biển. Nhiệt độ của thành phố trong đất liền có biên độ dao động lớn hơn so với thành phố ven biển. Đây chính là một trong những tác dụng thực tiễn của việc tính độ lệch chuẩn. 47

49. Mode, trung vị, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của nhóm đối chứng: Áp vào công thức trong phần mềm Excel Giá trị N2 Mốt =Mode(C2:C16) 75 Trung vị =Median(C2:C16) 75 Giá trị trung bình =Average(C2:C16) 75,5 Độ lệch chuẩn =Stdev(C2:B16) 3,62 Thông qua mô tả dữ liệu, chúng ta có thông tin cơ bản về dữ liệu thu thập được. Chúng ta cần có những thông tin này trước khi thực hiện so sánh và liên hệ dữ liệu. II. So sánh dữ liệu Chức năng thứ hai của thống kê trong NCKHSPƯD là so sánh dữ liệu, bao gồm hai câu hỏi chính: * Kết quả của các nhóm có khác nhau không? * Mức độ ảnh hưởng của chênh lệch này lớn tới mức nào? Các phép đo để so sánh dữ liệu bao gồm phép kiểm chứng t-test (sử dụng với dữ liệu liên tục), phép kiểm chứng Khi bình phương (sử dụng với dữ liệu rời rạc), và Độ chênh lệch giá trị trung bình chuẩn (đo mức độ ảnh hưởng). Cả hai phép kiểm chứng t-test và Khi bình phương đều được sử dụng để xác định xem tác động mang lại tiến bộ về điểm số có ý nghĩa (hay chỉ xảy ra ngẫu nhiên). Độ chênh lệch giá trị trung bình chuẩn (SMD) là phép đo mức độ ảnh hưởng, cho biết độ lớn ảnh hưởng của tác động. 12 2. So sánh dữ liệu 1. Các nhóm có kết quả khác nhau không? Phép kiểm chứng t-test (dữ liệu liên tục) Phép kiểm chứng Khi bình phương (dữ liệu rời rạc) 2. Ảnh hưởng lớn tới mức nào? Độ chênh lệch giá trị trung bình chuẩn Dữ liệu liên tục là dữ liệu có giá trị nằm trong một khoảng. Ví dụ, điểm một bài kiểm tra của học sinh có thể có giá trị nằm trong khoảng thấp nhất (0 điểm) và cao nhất (100 điểm). Dữ liệu rời rạc có giá trị thuộc các hạng mục riêng biệt, ví dụ: 49

50. Tôi thích môn Toán Đồng ý Bình thường Không đồng ý Số học sinh 10 15 5 Trong trường hợp này, học sinh có thể lựa chọn câu trả lời nằm trong 3 hạng mục khác nhau. Một trường hợp phổ biến khác của dữ liệu rời rạc là phân loại học sinh dựa vào điểm kiểm tra trong từng miền riêng biệt ví dụ: Kết quả kiểm tra môn Toán Miền 1 (70 – 100 điểm) Miền 2 (40 – 69 điểm) Miền 3 (<40 điểm) Số học sinh 10 15 5 Phép kiểm chứng t-test độc lập được sử dụng để so sánh giá trị trung bình của hai nhóm khác nhau (nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng), qua đó biết được liệu chênh lệch về giá trị trung bình có xảy ra ngẫu nhiên hay không. Chênh lệch xảy ra hoàn toàn ngẫu nhiên nghĩa là nếu không thực hiện tác động, chênh lệch vẫn có thể xảy ra. Trong trường hợp này, chúng ta không coi chênh lệch đó là có ý nghĩa. Chênh lệch không có ý nghĩa cho biết tác động không đem lại thay đổi kết quả giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Một ví dụ về việc sử dụng phép kiểm chứng t-test là so sánh giá trị trung bình bài kiểm tra sau tác động giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm trong thiết kế kiểm tra trước và sau tác động với các nhóm tương đương hoặc thiết kế chỉ kiểm tra sau tác động với các nhóm ngẫu nhiên. Phép kiểm chứng này cũng có thể áp dụng 13 2. So sánh dữ liệu Đánh giá độ lớn ảnh hưởng của tác động được thực hiện trong nghiên cứu Mức độ ảnh hưởng (ES) c So sánh các giá trị trung bình của cùng một nhóm Phép kiểm chứng t-test phụ thuộc (theo cặp) b So sánh các giá trị trung bình của hai nhóm khác nhau Phép kiểm chứng t-test độc lập a Mục đíchQuy trình 50

53. KT ngôn ngữ KT trước tác động KT sau tác động Nhóm thực nghiệm (a) 76,3 24,9 27,6 Nhóm đối chứng (b) 75,5 24,8 25,2 Giá trị chênh lệch (c = a – b) 0,8 0,1 2,4 Nhìn vào chênh lệch giá trị trung bình (c), có vẻ như đã có sự tiến bộ trong cả 3 kết quả kiểm tra. Tuy nhiên, chúng ta chưa thể đưa ra kết luận khi chưa thực hiện phép kiểm chứng t-test. Công thức tính giá trị p của phép kiểm chứng t-test trong phần mềm Excel: p =ttest(array1,array2,tail,type) ( array là cột điểm số mà chúng ta định so sánh) Trong đó: tail (đuôi), type (dạng) là các tham số Đuôi Dạng 1: Đuôi đơn (giả thuyết có định hướng): nhập số 1 vào công thức. 2: Đuôi đôi (giả thuyết không có định hướng): nhập số 2 vào công thức. T-test theo cặp: nhập số 1 vào công thức Biến đều (độ lệch chuẩn) nhập số 2 vào công thức Biến không đều: nhập số 3 vào công thức (lưu ý 90% các trường hợp là biến không đều, nhập số 3 vào công thức) Áp dụng công thức vào ví dụ ta có: 53 Soh K C (2006) AR(4) 19 a. Phép kiểm chứng t-test độc lập = TTEST (b3:b17, f3:f15, 2, 2) = 0.56

54. KT ngôn ngữ KT trước tác động KT sau tác động Nhóm thực nghiệm (a) 76,3 24,9 27,6 Nhóm đối chứng (b) 75,5 24,8 25,2 Giá trị chênh lệch (c = a – b) 0,8 0,1 2,4 Giá trị p 0,56 0,95 0,05 Có ý nghĩa (p≤ 0,05) Không có ý nghĩa Không có ý nghĩa Có Ý nghĩa Giá trị p trong phép kiểm chứng t-test cho thấy chênh lệch giá trị trung bình giữa các bài kiểm tra ngôn ngữ và bài kiểm tra trước tác động của hai nhóm lần lượt là 0,56 và 0,95. Điều này có nghĩa là chênh lệch này có khả năng xảy ra ngẫu nhiên cao. Do vậy, chúng ta coi chênh lệch này KHÔNG có ý nghĩa. Giá trị p của phép kiểm chứng t-test cho biết chênh lệch giữa giá trị trung bình của các bài kiểm tra sau tác động của hai nhóm là 0,05, có nghĩa là chênh lệch không có khả năng xảy ra ngẫu nhiên. Chúng ta coi chênh lệch này là CÓ Ý NGHĨA. Kết luận của nghiên cứu này là không có chênh lệch có ý nghĩa giữa kết quả bài kiểm tra ngôn ngữ và bài kiểm tra trước tác động của hai nhóm. Chênh lệch giữa kết quả hai bài kiểm tra sau tác động của hai nhóm là có ý nghĩa, nghiêng về nhóm thực nghiệm. Điều này cho thấy tác động đã mang lại kết quả, bài kiểm tra sau tác động có kết quả cao hơn bài kiểm tra trước tác động. 2. Phép kiểm chứng t-test phụ thuộc T-test phụ thuộc (theo cặp) được sử dụng để kiểm chứng sự khác biệt giá trị trung bình của cùng một nhóm Cùng ví dụ trên, cả nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng cùng làm một bài kiểm tra hai lần (Bài kiểm tra trước và sau tác động). Chênh lệch giá trị trung bình của bài kiểm tra trước tác động và sau tác động được tính như sau: KT trước tác động (a) KT sau tác động (b) Giá trị chênh lệch (c=b-a) Giá trị p Có ý nghĩa (p≤ 0,05) Nhóm thực nghiệm 24,9 27,6 2,7 0,01 Có ý nghĩa Nhóm đối chứng 24,8 25,2 0,4 0,4 Không có ý nghĩa 54

Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Và Phương Pháp Luận Nghiên Cứu Khoa Học / 2023

Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ đã góp phần thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học ngày càng trở nên sôi nổi hơn và cấp thiết hơn trên phạm vi toàn cầu. Việc càng ngày càng xuất hiện thêm nhiều phương pháp mới trong nghiên cứu khoa học đã chứng tỏ con người ngày càng có nhiều khả năng hơn để nhận thức thế giới khách quan. Khoa học và công nghệ đã trở thành động lực thúc đẩy sự tiến bộ nhân loại. Cùng với nghiên cứu khoa học hiện đại, càng ngày phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học càng được chú ý đến và nó còn được coi là một trong những nhân tố quan trọng để phát triển khoa học.

Phương pháp nghiên cứu khoa học và phương pháp luận nghiên cứu khoa học MỤC LỤC Lời nói đầu 2 I. Phương pháp nghiên cứu khoa học và phương pháp luận nghiên cứu khoa học 3 1. Phương pháp nghiên cứu khoa học 3 a. Khái niệm 3 b. Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học 4 2. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học 6 3. Phân loại phương pháp 7 a. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 7 b. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 9 II. Một số phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể 10 1. Phương pháp phân tích và tổng hợp 10 2. Phương pháp quy nạp và diễn giải 12 3. Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc 13 a. Phương pháp lịch sử 13 b. Phương pháp lôgíc 15 c. Tính thống nhất giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc 17 Kế luận 19 Tài liệu tham khảo 20 LỜI NÓI ĐẦU Chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên mà mọi thành tựu khoa học và công nghệ đều xuất hiện một cách hết sức mau lẹ và cũng được đổi mới một cách cực kỳ nhanh chóng. Ngày nay nghiên cứu khoa học là một trong những hoạt động có tốc độ phát triển nhanh nhất thời đại. Bộ máy nghiên cứu khoa học đã trở thành khổng lồ, nó đang nghiên cứu tất cả các góc cạnh của thế giới. Các thành tựu nghiên cứu khoa học đã được ứng dụng vào mọi lĩnh vực của cuộc sống. Khoa học đã làm đảo lộn nhiều quan niệm truyền thống, nó làm cho sức sản xuất xã hội tăng lên hàng trăm lần so với vài thập niên gần đây. Về phần mình, bản thân khoa học càng cần được nghiên cứu một cách khoa học. Một mặt, phải tổng kết thực tiễn nghiên cứu khoa học để khái quát những lý thuyết về quá trình sáng tạo khoa học; mặt khác, phải tìm ra được các biện pháp tổ chức, quản lý và nghiên cứu khoa học tốt hơn làm cho bộ máy khoa học vốn đã mạnh, lại phát triển mạnh hơn và đi đúng quỹ đạo hơn. Có lẽ không phải ngẫu nhiên, nhà tương lai học Thierry Gaudin đã đưa ra một thông điệp khẩn thiết: “ Hãy học phương pháp chứ đừng học dữ liệu!”. Sự phát triển của khoa học hiện đại không những đem lại cho con người những hiểu biết sâu sắc về thế giới, mà còn đem lại cho con người cả những hiểu biết về phương pháp nhận thức thế giới. Chính vì vậy mà phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học đã gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới.Và cũng chính vì vậy mà hiện nay việc nghiên cứu phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học ngày càng trở nên cần thiết nhằm giúp cho công tác nghiên cứu khoa học đạt hiệu quả hơn, phát triển mạnh mẽ hơn. Đó cũng chính là vấn đề tôi xin được trình bày trong bài viết này: “Phương pháp nghiên cứu khoa học và phương pháp luận nghiên cứu khoa học.” I. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1. Phương pháp nghiên cứu khoa học a. Khái niệm Trước hết để hiểu được thế nào là phương pháp nghiên cứu khoa học, các khái niệm, các đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học, chúng ta cần phải hiểu được khái niệm khoa học là gì? Khoa học là một khái niệm có nội hàm phức tạp, tùy theo mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận ta có thể phân tích ở nhiều khía cạnh khác nhau. ở mức độ chung nhất, khoa học được hiểu như sau: Khoa học là hệ thống tri thức được rút ra từ hoạt động thực tiễn và được chứng minh, khẳng định bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học. Phương pháp không chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn, bởi vì chính phương pháp góp phần quyết định thành công của mọi quá trình nghiên cứu khoa học.Phương pháp là công cụ, giải pháp, cách thức, thủ pháp, con đường, bí quyết, quy trình công nghệ để chúng ta thực hiện công việc nghiên cứu khoa học. Bản chất của nghiên cứu khoa học là từ những hiện tượng chúng ta cảm nhận được để tìm ra các quy luật của các hiện tượng đó. Nhưng bản chất bao giờ cũng nằm sâu trong nhiều tầng hiện tượng, vì vậy để nhận ra được bản chất nằm sâu trong nhiều tầng hiện tượng và nhận ra được quy luật vận động của chúng đòi hỏi chúng ta phải có phương pháp nghiên cứu khoa học. Như vậy phương pháp chính là sản phẩm của sự nhận thức đúng quy luật của đối tượng nghiên cứu. Đến lượt mình, phương pháp là công cụ có hiệu quả để tiếp tục nhận thức sâu hơn và cải tạo tốt hơn đối tượng đó. Trong thực tế cuộc sống của chúng ta người thành công là người biết sử dụng phương pháp. Như vậy, bản chất của phương pháp nghiên cứu khoa học chính là việc con người sử dụng một cách có ý thức các quy luật vận động của đối tượng như một phương tiện để khám phá chính đối tượng đó. Phương pháp nghiên cứu chính là con đường dẫn nhà khoa học đạt tới mục đích sáng tạo. b. Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu khoa học Phương pháp bao giờ cũng là cách làm việc của chủ thể nhằm vào các đối tượng cụ thể, ở đây có hai điều chú ý là: chủ thể và đối tượng. ãPhương pháp là cách làm việc của chủ thể, cho nên nó gắn chặt với chủ thể và như vậy phương pháp có mặt chủ quan. Mặt chủ quan của phương pháp chính là năng lực nhận thức, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo của chủ thể, thể hiện trong việc ý thức được các quy luật vận động của đối tượng và sử dụng chúng để khám phá chính đối tượng. ãPhương pháp là cách làm việc của chủ thể và bao giờ cũng xuất phát từ đặc điểm của đối tượng, phương pháp gắn chặt với đối tượng, và như vậy phương pháp có mặt khách quan. Mặt khách quan quy định việc chọn cách này hay cách kia trong hoạt động của chủ thể. Đặc điểm của đối tượng chỉ dẫn cách chọn phương pháp làm việc, Trong nghiên cứu khoa học cái chủ quan phải tuân thủ cái khách quan. Các quy luật khách quan tự chúng chưa phải là phương pháp, nhưng nhờ có chúng mà ta phát hiện ra phương pháp. Ý thức về sự sáng tạo của con người phải tiếp cận được các quy luật khách quan của thế giới. Phương pháp có tính mục đích vì hoạt động của con người đều có mục đích, mục đích nghiên cứu các đề tài nghiên cứu khoa học chỉ đạo việc tìm tòi và lựa chọn phương pháp nghiên cứu và ngược lại nếu lựa chọn phương pháp chính xác, phù hợp sẽ làm cho mục đích nghiên cứu đạt tới nhanh hơn, và đôi khi vượt qua cả yêu cầu mà mục đích đã dự kiến ban đầu. Phương pháp nghiên cứu gắn chặt với nội dung của các vấn đề cần nghiên cứu. Phương pháp là hình thức vận động của nội dung. Nội dung công việc quy định phương pháp làm việc. Trong mỗi đề tài khoa học đều có phương pháp cụ thể, trong mỗi ngành khoa học có một hệ thống phương pháp đặc trưng. Phương pháp nghiên cứu khoa học có một cấu trúc đặc biệt đó là một hệ thống các thao tác được sắp xếp theo một chương trình tối ưu. Sự thành công nhanh chóng hay không của một hoạt động nghiên cứu chính là phát hiện được hay không lôgíc tối ưu của các thao tác hoạt động và sử dụng nó một cách có ý thức. Phương pháp nghiên cứu khoa học luôn cần có các công cụ hỗ trợ, cần có các phương tiện kỹ thuật hiện đại với độ chính xác cao. Phương tiện và phương pháp là hai phạm trù khác nhau nhưng chúng lại gắn bó chặt chẽ với nhau căn cứ vào đối tượng nghiên cứu mà ta chọn phương pháp nghiên cứu, theo yêu cầu của phương pháp nghiên cứu mà chọn các phương tiện phù hợp, nhiều khi còn cần phải tạo ra các công cụ đặc biệt để nghiên cứu một đối tượng nào đó. Chính các phương tiện kỹ thuật hiện đại đảm bảo cho quá trình nghiên cứu đạt tới độ chính xác cao. 2. Phương pháp luận nghiên cứu khoa học Các quan điểm phương pháp luận nghiên cứu khoa học có tính lý luận cho nên thường mang màu sắc triết học, tuy nhiên nó không đồng nhất với triết học( như thế giới quan) để tiếp cận và nhận thức thế giới. Phương pháp luận được chia thành phương pháp bộ môn – lý luận về phương pháp được sử dụng trong một bộ môn khoa học và phương pháp luận chung cho các khoa học. Phương pháp luận chung nhất, phổ biến cho hoạt động nghiên cứu khoa học là triết học. Triết học Mác-Lênin là phương pháp luận đáp ứng những đòi hỏi của nhận thức khoa học hiện đại cũng như hoạt động cải tạo và xây dựng thế giới mới. Những phương pháp nghiên cứu khoa học riêng gắn liền với từng bộ môn khoa học( toán học, vật lý học, sinh vật học, kinh tế học v.v…). Do vậy những phương pháp riêng này sẽ được làm sáng tỏ khi nghiên cứu những môn học tương ứng. Dựa trên những đặc điểm cơ bản của phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học, chúng ta đi vào việc phân loại các phương pháp. 3. Phân loại phương pháp Căn cứ vào mức độ cụ thể của phương pháp, các phương pháp nghiên cứu chung trước hết được phân chia thành hai loại: Các phương pháp tổng quát và các phương pháp nghiên cứu cụ thể. Có nhiều phương pháp nghiên cứu tổng quát ( khái quát, trừu tượng) khác nhau. Căn cứ vào đặc điểm của quá trình tư duy, phương pháp tổng quát được chia thành các phương pháp như : phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn giải, lôgic-lịch sử, hệ thống-cấu trúc… Nếu căn cứ vào cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu, sự khác nhau của những lao động cụ thể trong nghiên cứu khoa học, phương pháp tổng quát được chia thành loại phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và loại phương pháp nghiên cứu lý thuyết. a. Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm Loại phương pháp này bao gồm các phương pháp quan sát, thí nghiệm thực nghiệm. Quan sát là phương pháp nghiên cứu để xác định các thuộc tính và quan hệ của sự vật, hiện tượng riêng lẻ xét trong điều kiện tự nhiên vốn có của nó nhờ khả năng thụ cảm của các giác quan, khả năng phân tích tổng hợp, khái quát trìu tượng hoá. Thực nghiệm, thí nghiệm là việc người nghiên cứu khoa học sử dụng các phương tiện vật chất tác động lên đối tượng nghiên cứu nhằm kiểm chứng các giả thiết, lý thuyết khoa học, chính xác hoá, bổ sung chỉnh lý các phỏng đoán giả thiết ban đầu tức là để xây dựng các giả thiết, lý thuyết khoa học mới. Thí nghiệm, thực nghiệm bao giờ cũng được tiến hành theo sự chỉ đạo của một ý tưởng khoa học nào đấy. Như vậy để tiến hành thí nghiệm, thực nghiệm phải có tri thức khoa học và điều kiện vật chất. Phương pháp thực nghiệm được áp dụng khá phổ biến trong các ngành khoa học tự nhiên kỹ thuật-công nghệ- là những ngành khoa học có khả năng định lượng chính xác. Trong những lĩnh vực này, sự phát triển của khoa học kỹ thuật còn cho phép tạo ra những môi trường nhân tạo, khác với môi trường bình thường để nghiên cứu sự vận động biến đổi của đối tượng. Các ngành khoa học xã hội là lĩnh vực khó có khả năng tiến hành các thí nghiệm khoa học, áp dụng phương pháp thử nghiệm. Song thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Mọi khái quát, trìu tượng, mọi lý thuyết nếu không được thực tiễn chấp nhận đều không có chỗ đứng trong khoa học. Ở đây quan sát, tổng kết thực tiễn người nghiên cứu khoa học có khả năng nhận thức nhanh hơn con đường do lịch sử tự vạch ra. Trong những phạm vi nhất định, người ta cũng có thể tiến hành các thí nghiệm xã hội học. Ở đây cần lưu ý rằng tính toán xã hội của khoa học xã hội đòi hỏi những phương tiện, điều kiện vật chất, môi trường thử nghiệm phải là những điều kiện phổ biến ( đã có trong toàn xã hội, hoặc chắc chắn được tạo ra trong toàn xã hội). Trong phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, nhiều trường hợp người ta còn sử dung phương pháp mô hình hoá mà đối tượng nghiên cứu không cho phép quan sát thực nghiệm trực tiếp. Cơ sở để áp dụng phương pháp mô hình hoá là sự giống nhau về các đặc điểm, chức năng, tính chất đã được xác lập vững chắc giữa các sự vật hiện tượng, quá trình xảy ra trong tự nhiên xã hội, tư duy. Dựa trên cơ sở này, từ những kết quả nghiên cứu đối với mô hình người ta rút ra những kết luận khoa học về đối tượng cần nghiên cứu. Trong nghiên cứu thực nghiệm người ta cũng còn vận dụng cả các phương pháp phân tích tổng hợp, quy nạp-diễn giải và lôgíc-lịch sử. b. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết Loại phương pháp nghiên cứu lý thuyết bao gồm các phương pháp khái quát, trìu tượng hoá, diễn dịch, quy nạp, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, v.v… Loại phương pháp lý thuyết được dùng cho tất cả các ngành khoa học. Khác với nghiên cứu thực nghiệm phải sử dụng các yếu tố, điều kiện vật chất tác động vào đối tượng nghiên cứu, trong nghiên cứu lý thuyết quá trình tìm kiếm phát hiện diễn ra thông qua tư duy trìu tượng, sử dụng các phương tiện ngôn ngữ, chữ viết, v.v…Do vậy loại phương pháp này giữ một vị trí rất cơ bản trong nghiên cứu khoa học xã hội- nhân văn. Điểm xuất phát của nghiên cứu thực nghiệm là quan sát thực tiễn, quan sát sự vận động của đối tượng nghiên cứu. Trong nghiên cứu lý thuyết, nền tảng và điểm xuất phát của quá trình nghiên cứu là tri thức lý luận( các quan điểm, các lý thuyết). Do vậy việc nắm vững hệ thống lý luận nền tảng đóng vai trò rất quyết định trong loại phương pháp này. Nắm vững lý thuyết nền là cơ sở hình thành định hướng trong nghiên cứu hình thành các trường phái khoa học. Học thuyết Mác-Lênin là hệ thống lý luận nền tảng đối với toàn bộ khoa học xã hội ở nước ta. Người nghiên cứu khoa học xã hội do vậy phải được trang bị vững chắc lý luận Mác-Lênin là cơ sở cho toàn bộ quá trình sáng tạo phát triển tiếp theo. Tri thức khoa học là tri thức chung, tài sản chung của nhân loại. Bất cứ lý thuyết nào nếu được thực tiễn chấp nhận, đều có hạt nhân khoa học, hợp lý của nó. Bên cạnh việc nắm vững học thuyết Mác-Lênin làm điểm xuất phát, nền tảng, người nghiên cứu khoa học xã hội ở ta còn phải tiếp thu được các lý luận, học thuyết khác. Tiếp thu các lý luận, học thuyết khác vừa để tiếp thu được những khía cạnh hợp lý, khoa học, tức là những tinh hoa trong kho tàng tri thức nhân loại, giúp cho mình tiếp tục phát triển lý luận Mác-Lênin, vừa để nhìn thấy những khiếm khuyết bất cập của các lý luận ấy, góp phần vào cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin. Cần lưu ý rằng nếu không nắm vững lý luận nền tảng là học thuyết Mác-Lênin, người nghiên cứu khoa học rất khó khăn trong việc tìm ra cái đúng, cái sai của các lý luận khác. Đó là một nguyên nhân gây ra tình trạng rối loạn trong lĩnh vực tư tưởng lý luận khi chuyển sang kinh tế thị trường mở cửa ở nước ta hiện nay. Nếu như các quy luật tự nhiên tồn tại một cách lâu dài, thì các quy luật xã hội tồn tại, vận động trên những điều kiện xã hội nhất định. Thoát ly tính lịch sử cụ thể luôn là một nguy cơ dẫn phương pháp lý thuyết trong nghiên cứu khoa học xã hội rơi vào tình trạng duy tâm, siêu hình, bám giữ lấy những nguyên lý, công thức lỗi thời lạc hậu trở thành giáo điều kinh viện, kìm hãm khoa học. Trong phương pháp lý thuyết do đặc tính của quá trình sáng tạo khoa học diễn ra thông qua tư duy trìu tượng, suy luận, khái quát hoá, lại không được thực tiễn kiểm chứng ngay, mà phải trải qua một thời gian khá dài đúng sai mới sáng tỏ. Điều đó dễ dẫn người làm khoa học phạm vào sai lầm chủ quan duy ý chí, tự biện. Coi trọng phương pháp lý thuyết trong nghiên cứu khoa học xã hội, người làm khoa học cần chú ý kết hợp phương pháp này với phương pháp quan sát, tổng kết thực tiễn.Sự kết hợp này là yếu tố bổ sung, giúp người nghiên cứu khoa học tránh được những hạn chế do phương pháp lý thuyết đưa lại. II. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỤ THỂ 1. Phương pháp phân tích và tổng hợp Phân tích trước hết là phân chia cái toàn thể của đối tượng nghiên cứu thành những bộ phận, những mặt, những yếu tố cấu thành giản đơn hơn để nghiên cứu, phát hiện ra từng thuộc tính và bản chất của từng yếu tố đó, và từ đó giúp chúng ta hiểu được đối tượng nghiên cứu một cách mạch lạc hơn, hiểu được cái chung phức tạp từ những yếu tố bộ phận ấy. Khi chúng ta đứng trước một đối tượng nghiên cứu, chúng ta cảm giác được nhiều hiện tượng đan xen nhau, chồng chéo nhau làm lu mờ bản chất của nó.Vậy muốn hiểu được bản chất của một đối tượng nghiên cứu chúng ta cần phải phân chia nó theo cấp bậc. Nhiệm vụ của phân tích là thông qua cái riêng để tìm ra được cái chung, thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, thông qua cái đặc thù để tìm ra cái phổ biến. Khi phân chia đối tượng nghiên cứu cần phải: + Xác định tiêu thức để phân chia. + Chọn điểm xuất phát để nghiên cứu. + Xuất phát từ mục đích nghiên cứu để tìm thuộc tính riêng và chung. Bước tiếp theo của phân tích là tổng hợp. Tổng hợp là quá trình ngược với quá trình phân tích, nhưng lại hỗ trợ cho quá trình phân tích để tìm ra cái chung cái khái quát. Từ những kết quả nghiên cứu từng mặt, phải tổng hợp lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn cái chung, tìm ra được bản chất, quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu. Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp gắn bó chặt chẽ quy định và bổ sung cho nhau trong nghiên cứu, và có cơ sở khách quan trong cấu tạo, trong tính quy luật của bản thân sự vật. Trong phân tích, việc xây dựng một cách đúng đắn tiêu thức phân loại làm cơ sở khoa học hình thành đối tượng nghiên cứu bộ phận ấy, có ý nghĩa rất quan trọng. Trong nghiên cứu tổng hợp vai trò quan trọng thuộc về khả năng liên kết các kết quả cụ thể( có lúc ngược nhau) từ sự phân tích, khả năng trìu tượng, khái quát nắm bắt được mặt định tính từ rất nhiều khía cạnh định lượng khác nhau. Với các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật do tính chính xác quy định, mặt phân tích định lượng có vai trò khá quyết định kết quả nghiên cứu. Quá trình tổng hợp, định tính ở đây hoặc giả là những phán đoán, dự báo thiên tai, chỉ đạo cả quá trình nghiên cứu, hoặc giả là những kết luận rút ra từ phân tích định lượng.Trong các ngành khoa học xã hội- nhân văn, sự hạn chế độ chính xác trong phân tích định lượng làm cho kết quả nghiên cứu lệ thuộc rất nhiều vào tổng hợp, định tính. Song chính đặc điểm này dễ làm cho kết quả nghiên cứu bị sai lệch do những sai lầm chủ quan duy ý chí. 2. Phương pháp quy nạp và diễn giải Phương pháp quy nạp là phương pháp đi từ những hiện tượng riêng lẻ, rời rạc, độc lập ngẫu nhiên rồi liên kết các hiện tượng ấy với nhau để tìm ra bản chất của một đối tượng nào đó. Từ những kinh nghiệm, hiểu biết các sự vật riêng lẻ người ta tổng kết quy nạp thành những nguyên lý chung. Cơ sở khách quan của phương pháp quy nạp là sự lặp lại của một số hiện tượng này hay hiện tượng khác do chỗ cái chung tồn tại, biểu hiện thông qua cái riêng. Nếu như phương pháp phân tích-tổng hợp đi tìm mối quan hệ giữa hình thức và nội dung thì phương pháp quy nạp đi sâu vào mối quan hệ giữa bản chất và hiện tượng. Một hiện tượng bộc lộ nhiều bản chất. Nhiệm vụ của khoa học là thông qua hiện tượng để tìm ra bản chất, cuối cùng đưa ra giải pháp. Phương pháp quy nạp đóng một vai trò quan trọng trong việc phát hiện ra các quy luật, rút ra từ những kết luận tổng quát đưa ra các giả thuyết. Trong nghiên cứu khoa học, người ta còn có thể xuất phát từ những giả thuyết hay từ những nguyên lý chung để đi sâu nghiên cứu những hiện tượng cụ thể nhờ vậy mà có nhận thức sâu sắc hơn từng đối tượng nghiên cứu. Phương pháp diễn giải ngược lại với phương pháp quy nạp. Đó là phương pháp đi từ cái bản chất, nguyên tắc, nguyên lý đã được thừa nhận để tìm ra các hiện tượng, các biểu hiện, cái trùng hợp cụ thể trong sự vận động của đối tượng. Phương pháp diễn giải nhờ vậy có ý nghĩa rất quan trọng trong những bộ môn khoa học thiên về nghiên cứu lý thuyết, ở đây người ta đưa ra những tiền đề, giả thuyết, và bằng những suy diễn lôgic để rút ra những kết luận, định lý, công thức. Quy nạp và diễn giải là hai phương pháp nghiên cứu theo chiều ngược nhau song liên hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Nhờ có những kết quả nghiên cứu theo phương pháp quy nạp trước đó mà việc nghiên cứu có thể tiếp tục, phát triển theo phương pháp diễn giải. Phương pháp diễn giải, do vậy mở rộng giá trị của những kết luận quy nạp vào việc nghiên cứu đối tượng. 3. Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc là hai mặt biểu hiện của phương pháp biện chứng mácxít . Tính thống nhất và tính khác biệt của nó cũng bắt nguồn từ tính thống nhất và tính khác biệt của hai phạm trù lịch sử và lôgíc. a. Phương pháp lịch sử Các đối tượng nghiên cứu( sự vật, hiện tượng) đều luôn biến đổi, phát triển theo những hoàn cảnh cụ thể của nó, tạo thành lịch sử liên tục được biểu hiện ra trong sự đa dạng, phức tạp, nhiều hình nhiều vẻ có cả tất nhiên và ngẫu nhiên. Phương pháp lịch sử là phương pháp thông qua miêu tả tái hiện hiện thực với sự hỗn độn, lộn xộn, bề ngoài của các yếu tố, sự kiện kế tiếp nhau, để nêu bật lên tính quy luật của sự phát triển. Hay nói cách khác,phương pháp lịch sử là phương pháp nghiên cứu bằng cách đi tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình phát triển và biến hoá của đối tượng, để phát hiện ra bản chất và quy luật của đối tượng. Do đó phương pháp lịch sử có những đặc điểm sau: ¨ Nó phải đi sâu vào tính muôn màu muôn vẻ của lịch sử, tìm ra cái đặc thù, cái cá biệt ở trong cái phổ biến. Và trên cơ sở nắm được những đặc thù cá biệt đó mà trình bày thể hiện cái phổ biến của lịch sử. Phương pháp lịch sử còn yêu cầu chúng ta phải tìm hiểu cái không lặp lại bên cái lặp lại. Các hiện tượng lịch sử thường hay tái diễn, nhưng không bao giờ diễn lại hoàn toàn như cũ. Phương pháp lịch sử phải chú ý tìm ra cái khác trước, cái không lặp lại để thấy những nét đặc thù lịch sử. Thí dụ, cũng là khởi nghĩa nông dân, nhưng khởi nghĩa nông dân Nguyễn Hữu Cầu có khác khởi nghĩa nông dân Hoàng Hoa Thám về đối tượng, quy mô và hình thức đấu tranh… Phương pháp lịch sử lại yêu cầu chúng ta phải theo dõi những bước quanh co, thụt lùi tạm thời…của phát triển lịch sử. Bởi vì lịch sử phát triển muôn màu muôn vẻ, có khi cái cũ chưa đi hẳn, cái mới đã nảy sinh. Hoặc khi cái mới đã chiếm ưu thế, nhưng cái cũ hãy còn có điều kiện và nhu cầu tồn tại trong một chừng mực nhất định. Phương pháp lịch sử phải đi sâu vào những uẩn khúc đó. Phương pháp lịch sử yêu cầu chúng ta đi sâu vào ngõ ngách của lịch sử, đi sâu vào tâm lý, tình cảm của quần chúng, hiểu lịch sử cả về điểm lẫn về diện, hiểu từ cá nhân, sự kiện, hiện tượng đến toàn bộ xã hội. Chẳng hạn như nói về cách mạng Tháng Tám, nếu chỉ nêu lên những đặc điểm, quy luật và sự kiện điển hình thì chưa đủ để thấy được sắc thái đặc biệt của nó khác với các cuộc cách mạng khác. Tâm lý của quần chúng trước ngày khởi nghĩa, tình cảm đối với Đảng, với cách mạng, những hành vi biểu lộ tâm lý, tình cảm đó lại là những nét mà lịch sử phải chú ý để cho sự miêu tả được sinh động, tránh khô khan, công thức, gò bó. Phương pháp lịch sử phải chú ý những tên người, tên đất, không gian, thời gian, thời gian cụ thể, nhằm dựng lại quá trình lịch sử đúng như nó diễn biến. Tóm lại, mọi sự vật và hiện tượng của tự nhiên và xã hội đều có lịch sử của mình, tức là có nguồn gốc phát sinh, có quá trình vận động phát triển và tiêu vong. Quy trình phát triển lịch sử biểu hiện toàn bộ tính cụ thể của nó, với mọi sự thay đổi, những bước quanh co, những cái ngẫu nhiên, những cái tất yếu, phức tạp, muôn hình muôn vẻ, trong các hoàn cảnh khác nhau và theo một trật tự thời gian nhất định. Đi theo dấu vết của lịch sử chúng ta sẽ có bức tranh trung thực về bản thân đối tượng nghiên cứu. Phương pháp lịch sử yêu cầu làm rõ quá trình phát triển cụ thể của đối tượng, phải nắm được sự vận động cụ thể trong toàn bộ tính phong phú của nó, phải bám sát sự vật, theo dõi những bước quanh co, những ngẫu nhiên của lịch sử, phát hiện sợi dây lịch sử của toàn bộ sự phát triển. Từ cái lịch sử chúng ta sẽ phát hiện ra cái quy luật phát triển của đối tượng.Tức là tìm ra cái lôgíc của lịch sử, đó chính là mục đích của mọi hoạt động nghiên cứu khoa học. b. Phương pháp lôgíc Nếu phương pháp lịch sử là nhằm diễn lại toàn bộ tiến trình của lịch sử thì phương pháp lôgíc nghiên cứu quá trình phát triển lịch sử, nghiên cứu các hiện tượng lịch sử trong hình thức tổng quát, nhằm mục đích vạch ra bản chất quy luật, khuynh hướng chung trong sự vận động của chúng. Do đó phương pháp lôgíc có những đặc điểm sau: Phương pháp lôgíc nhằm đi sâu tìm hiểu cái bản chất, cái phổ biến, cái lặp lại của các hiện tượng. Muốn vậy, nó phải đi vào nhiều hiện tượng, phân tích, so sánh, tổng hợp…để tìm ra bản chất của hiện tượng. Nếu phương pháp lịch sử đi sâu vào cả những bước đường quanh co, thụt lùi tạm thời của lịch sử, thì phương pháp lôgíc lại có thể bỏ qua những bước đường đó, mà chỉ nắm lấy bước phát triển tất yếu của nó, nắm lấy cái xương sống phát triển của nó, tức là nắm lấy quy luật của nó. Như Anghen đã nói: lôgíc không phải là sự phản ánh lịch sử một cách đơn thuần, mà là sự phản ánh đã được uốn nắn lại nhưng uốn nắn theo quy luật mà bản thân quá trình lịch sử đem lại. Khác với phương pháp lịch sử là phải nắm lấy từng sự việc cụ thể, nắm lấy không gian, thời gian, tên người, tên đất…cụ thể, phương pháp lôgíc lại chỉ cần đi sâu nắm lấy những nhân vật, sự kiện, giai đoạn điển hình và nắm qua những phạm trù quy luật nhất định. Thí dụ, trong khi viết Tư bản luận, Mác có thể đi ngay vào giai đoạn phát triển điển hình cao nhất của lịch sử lúc đó là xã hội tư bản. Khi phát hiện ra được quy luật cơ bản của chủ nghĩa tư bản là quy luật thặng dư giá trị, tức là nắm được sâu sắc các giai đoạn điển hình, thì từ đó có thể dễ dàng tìm ra các quy luật phát triển của các xã hội trước tư bản chủ nghĩa, mà không nhất thiết phải đi từ giai đoạn đầu của lịch sử xã hội loài người. Nhờ những đặc điểm đó mà phương pháp lôgíc có những khả năng riêng là: Phương pháp lôgíc giúp chúng ta nhìn nhận ra cái mới. Bởi vì, lôgíc là sự phản ánh của thế giới khách quan vào ý thức con người, mà thế giới khách quan thì không ngừng phát triển, cái mới luôn luôn nảy sinh. Do luôn luôn chú ý đến cái phổ biến, cái bản chất mà tư duy lôgíc dễ nhìn thấy những bước phát triển nhảy vọt và thấy cái mới đang nảy sinh và phát triển như thế nào. Đặc điểm của cái mới là nó khác về chất với cái cũ. Mặc dù là hình thức thì chưa thay đổi, nhưng chất mới đã nảy sinh. Do thấy được mầm mống của cái mới mà phương pháp lôgíc có thể giúp ta thấy được hướng đi của lịch sử,nhằm chỉ đạo thực tiễn, cải tạo thế giới. Phương pháp lôgíc còn có ưu điểm là giúp chúng ta tác động tích cực vào hiện thực, nhằm tái sản sinh ra lịch sử ở một trình độ cao hơn, nghĩa là chủ động cải tạo, cải biến lịch sử, nhờ đó nắm được những quy luật khách quan đó. Cụ thể hiện nay, một số xí nghiệp quốc doanh được cổ phần hoá đã giúp công nhân có thể trở thành người vừa sản xuất, vừa làm chủ xí nghiệp, lại cải thiện nhanh chóng được đời sống. Nhà nước đã chủ động tác động tới quá trình đó, đưa lịch sử tiến lên. c. Tính thống nhất giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc Trên thực tế công tác nghiên cứu theo phương pháp biện chứng mácxít, không bao giờ có phương pháp lịch sử hay phương pháp lôgíc thuần tuý tách rời nhau, mà là trong cái này có cái kia, hai cái thâm nhập vào nhau, ảnh hưởng lẫn nhau. Giới hạn giữa chúng chỉ là tương đối. Cụ thể, phương pháp lịch sử tuy phải theo sát tiến trình phát triển của lịch sử của sự vật hiện tượng, diễn lại những bước quanh co, ngẫu nhiên, thụt lùi tạm thời của quá trình phát triển hiện thực, nhưng không phải là miêu tả lịch sử đó một cách kinh nghiệm chủ nghĩa, mà là miêu tả theo một sợi dây lôgíc nhất định của sự phát triển lịch sử; không phải miêu tả lịch sử một cách mù quáng, mà là phát triển một cách có quy luật. Cũng vậy, phương pháp lôgíc tuy không nói đến những chi tiết lịch sử, những bước đường quanh co, ngẫu nhiên của lịch sử đối tượng, nhưng không phải vì thế mà nó bỏ qua việc nghiên cứu lịch sử cụ thể của đối tượng. Phương pháp lôgíc là sự phản ánh cái chủ yếu được rút ra từ trong lịch sử sự vật, và làm cho cái chủ yếu ấy thể hiện được bản chất của quá trình lịch sử. Tóm lại, phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc có tính thống nhất và cũng có mục đích thống nhất là cùng nhằm phơi bày rõ chân lý khách quan của sự phát triển lịch sử, nên trong công tác nghiên cứu, tổng kết khoa học, chúng ta không chỉ vận dụng một phương pháp riêng rẽ nào, vì thực ra chúng chỉ là hai mặt biểu hiện khác nhau của phương pháp biện chứng mácxít mà thôi. Tuy vậy, trong công tác nghiên cứu chúng ta vẫn cần chú ý đến tính độc lập tương đối của hai phương pháp này như đã nói ở trên. KẾT LUẬN Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học-công nghệ đã góp phần thúc đẩy công tác nghiên cứu khoa học ngày càng trở nên sôi nổi hơn và cấp thiết hơn trên phạm vi toàn cầu. Việc càng ngày càng xuất hiện thêm nhiều phương pháp mới trong nghiên cứu khoa học đã chứng tỏ con người ngày càng có nhiều khả năng hơn để nhận thức thế giới khách quan. Khoa học và công nghệ đã trở thành động lực thúc đẩy sự tiến bộ nhân loại. Cùng với nghiên cứu khoa học hiện đại, càng ngày phương pháp và phương pháp luận nghiên cứu khoa học càng được chú ý đến và nó còn được coi là một trong những nhân tố quan trọng để phát triển khoa học. Chúng ta đã biết khoa học càng phát triển bao nhiêu thì phương pháp, cách thức nghiên cứu càng đa dạng phong phú bấy nhiêu. Càng có nhiều phương pháp càng tăng khả năng lựa chọn phương pháp của người nghiên cứu, càng làm cho việc lựa chọn phương pháp có ý nghĩa quan trọng hơn cả về mặt nhận thức khoa học lẫn hiệu quả kinh tế. Phương pháp nói chung đóng vai trò chủ đạo trong nghiên cứu khoa học công nghệ. Phương pháp cụ thể gắn với các môn, lĩnh vực nghiên cứu cụ thể. Chính sự phát triển của khoa học, kỹ thuật ngày càng nảy sinh nhiều phương pháp cụ thể khác nhau để nghiên cứu cùng một đối tượng. Do vậy sẽ là sai lầm nếu quá nhấn mạnh một phương pháp đặc thù, cụ thể nào đó trong nghiên cứu.Vì vậy chúng ta phải có một cái nhìn khách quan về các phương pháp nghiên cứu khoa học cũng như phải có một phương pháp luận đúng đắn, để từ đó biết áp dụng một cách khoa học và chính xác các phương pháp nghiên cứu khoa học vào mỗi đối tượng khác nhau và để phục vụ cho các mục tiêu nghiên cứu khác nhau. TÀI LIỆU THAM KHẢO Vũ Cao Đàm, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học (Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật,2003). Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh- Bộ môn khoa học luận, Đề cương bài giảng môn Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Phạm Viết Vượng, Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục( Nhà xuất bản giáo dục, 1997). Văn Tạo, Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc( Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia- Viện Sử học, 1995).

Các file đính kèm theo tài liệu này:

da282_0257_4613.doc

Cập nhật thông tin chi tiết về Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Khoa Học Xã Hội Và Khoa Học Giáo Dục / 2023 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!