Xu Hướng 3/2024 # Phát Hiện Mới Về Sự Khác Biệt Giữa Dna Và Rna # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Phát Hiện Mới Về Sự Khác Biệt Giữa Dna Và Rna được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

BioMedia

Một nghiên cứu mới đây cho thấy RNA (phân tử tương tự và có trước DNA) trong quá trình thích nghi với sự thay đổi sẽ tách ra, trong khi đó, DNA lại có thể tự biến đổi hình dạng để thích nghi với các yếu tố hóa học. Nghiên cứu này cuối cùng đã giải thích được lý do tại sao phân tử DNA đóng vai trò “mã hóa cho sự sống – the blueprint of life”, chứ không phải là RNA. Điều này sẽ thúc đẩy sự thay đổi các kiến thức hiện tại trong sách giáo khoa về sự khác biệt giữa DNA và RNA.

Nhà nghiên cứu chính, Hashim Al-Hashimi, trường Đại học Y Duke cho biết, “Giống như kiến thức căn bản về cấu trúc chuỗi xoắn kép, thật ngạc nhiên khi cho tới giờ chúng tôi mới phát hiện ra những đặc tính cơ bản này (điều mà đáng lẽ phải được phát hiện ra sớm hơn, như khi phát hiện ra cấu trúc chuỗi xoắn kép). Tuy nhiên, chúng tôi vẫn cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn để có thể nắm rõ về những phân tử nền tảng của sự sống này”.

Quay trở lại năm 1953, khi hai nhà khoa học Watson và Crick lần đầu tiên công bố mô hình chuỗi xoắn kép DNA, họ đồng thời cũng dự đoán được cơ chế các cặp bazơ kết hợp với nhau – A & T và G & C. Có lẽ mọi người khá quen với sự tạo thành của hai chuỗi DNA kết hợp với nhau bởi liên kết của các cặp bazơ, từ đó tạo thành các nấc thang duy trì cấu trúc chuỗi xoắn DNA. 

Trước đó, rất nhiều nhà nghiên cứu nỗ lực tìm ra bằng chứng những cặp bazơ liên kết với nhau giống như dự đoán Watson và Crick – gọi là cặp bazơ Watson-Crick. Sau đó, đến năm 1959, nhà hóa sinh Karst Hoogsteen đã nghiên cứu ra hình ảnh của cặp bazơ A – T, mô phỏng bằng hình hơi nghiêng, với một bazơ xoay 180 độ so với bazơ còn lại. Từ đó, các nhà nghiên cứu đã dựa trên cả hai mô hình cặp bazơ của Watson-Crick và Hoogsteen để có những hình ảnh của DNA.

Nhưng năm năm sau, Al-Hashimi và cộng sự đã phát hiện một điều chưa từng thấy trước đây: cặp bazơ của DNA liên tục chuyển đổi qua lại giữa hai cấu hình liên kết Watson-Crick và Hoogsteen. Điều này đã bổ sung thêm một khía cạnh mới về mức độ linh hoạt trong cấu trúc DNA. Nghiên cứu trên cho thấy khi có một protein bất kì gắn vào bề mặt DNA hoặc bất kì sự tổn thương về mặt hóa học ở bất kì nucleotide nào thì DNA sẽ sử dụng liên kết Hoogsteen. Và khi chỗ tổn thương đó được sữa chữa hay protein đã rời đi, DNA sẽ quay về lại cấu trúc với liên kết Watson-Crick.

Phát hiện này có giá trị rất to lớn. Và mới đây nhóm nghiên cứu đã lần đầu tiên chứng minh được rằng RNA không có khả năng như trên, chính điều này đã giải thích cho câu hỏi nan giải của các nhà khoa học trong nhiều năm qua: “Tại sao phân tử mã hóa cho sự sống là DNA, mà không phải RNA?” Chính vì DNA có thể chịu và khắc phục được những tổn thương về mặt hóa học, còn RNA lại trở nên cứng và bị tách ra nên DNA tốt hơn trong việc truyền đạt thông tin di truyền qua các thế hệ.

Một thành viên của nhóm nghiên cứu Huiqing Zhou cũng cho biết, “Sự biến đổi này trong DNA cũng là một dạng tổn thương, và nó có thể dễ dàng xảy ra bằng cách lật nhẹ các bazơ và tạo thành cặp bazơ Hoogsteen. Ngược lại, việc biến đổi tương tự trên sẽ gây phá vỡ nghiêm trọng đến cấu trúc xoắn kép của RNA”.

Ở hình bên dưới, bạn có thể nhận thấy phân tử DNA (bên trái) có các liên kết Hoogsteen gắn kết với các cặp bazơ bị tổn thương, trong khi RNA phía bên phải lại bị rời ra: 

Các nhà nghiên cứu đã chứng minh điều này bằng cách tạo ra các đôi xoắn từ RNA và DNA, đồng thời sử dụng các kĩ thuật chụp ảnh tiên tiến để quan sát quá trình các cặp bazơ được liên kết với nhau. Họ cũng chỉ ra rằng, ở bất kì một thời điểm nào, luôn có khoảng 1% các bazơ của DNA thay đổi thành cặp cơ bản Hoogsteen. Tuy nhiên, điều này lại không thấy ở chuỗi RNA. Các nhà khoa học đã tiến hành thử nghiệm ở các mạch xoắn kép RNA dưới tất cả các điều kiện khác nhau, nhưng không có bất cứ cái nào biến đổi thành cặp bazơ Hoogsteen. Họ thậm chí còn thúc đẩy RNA hình thành các cặp cơ bản Hoogsteen chỉ để xem rằng nó có thể xảy ra không, nhưng ngay sau đó, các chuỗi RNA đều bị tách ra. Để lý giải cho điều này, các nhà nghiên cứu cho rằng do cấu trúc xoắn đôi của RNA đóng chặt hơn so với DNA, nên một bazơ của RNA không thế thay đổi hướng mà không va chạm với một bazơkhác hay chuyển các nguyên tử và bị tách ra khỏi toàn bộ cấu trúc.

Al-Hashimi cho biết, “Trong cấu trúc đơn giản tuyệt vời này có một sự phức tạp đáng ngạc nhiên, tuy nhiên hiện nay chúng ta vẫn chưa thể quan sát được toàn bộ các lớp và cấu trúc vì chưa đủ công cụ để nhìn thấy nó”. Do đó, vẫn cần phải có các nghiên cứu sâu hơn để kiểm chứng lại giả thuyết rằng chính sự linh hoạt của DNA, chứ không phải RNA, là yếu tố quyết định DNA là phân tử mã hóa cho sự sống. Nếu điều này được xác nhận, nó có thể giúp chúng ta hiểu được tại sao con đường tiến hóa của sự sống trên Trái Đất lại diễn ra như vậy.

Fiona Macdonald, “Scientists have just uncovered a major difference between DNA and RNA“, sciencealert, 3 August 2024.

Lược dịch và tổng hợp Lê Văn Trình

Biên tập Biomedia Việt Nam

Khám Phá Mới Về Sự Khác Biệt Giữa Dna Và Rna

Ngày 1.8.2024 vừa qua, tạp chí Nature Structural & Molecular Biology công bố một công trình đáng chú ý của các nhà khoa học Mỹ và Áo. Theo đó, lần đầu tiên người ta quan sát rằng RNA tách ra khi chúng cố dung nạp một sự thay đổi, trong khi DNA có thể thay đổi hình dạng để tương thích với bất kì tổn thương hóa học (chemical damage) nào.

Nghiên cứu này giúp giải thích rằng bản thiết kế (blueprint) của sự sống là DNA chứ không phải RNA, và khám phá này có thể sẽ khiến các giáo sư phải cập nhật nội dung của sách giáo khoa.

“Với những khái niệm cơ bản chẳng khác gì việc xoắn kép, thật đáng ngạc nhiên khi chúng ta lại khám phá những đặc tính cơ bản này trễ như vậy,” theo lời của Hashim Al-Hashimi từ Đại Học Y Duke.

Trở lại năm 1953, Watson và Crick lần đầu tiên công bố mô hình chuỗi xoắn kép DNA và dự đoán cách thức các cặp base – A & T và G & C – liên kết với nhau.

Một thông tin quen thuộc mà độc giả hẳn đã từng được nghe nhiều lần là: hai sợi DNA được liên kết với nhau bằng các liên kết của các cặp base, tạo thành các nấc thang giữ vững thang xoắn DNA.

Nhưng phải mất nhiều năm các nhà khoa học mới tìm thấy bằng chứng cho thấy các cặp base được liên kết theo cách mà Watson và Crick đã dự đoán – họ gọi là cặp base Watson-Crick. Sau đó, vào năm 1959, nhà sinh hóa Karst Hoogsteen đã thành công trong việc chụp được hình ảnh của một cặp base A-T, cho thấy sự bất cân đối hình học trong đó một base xoay 180 độ so với base khác. Người ta gọi đây là cặp base Hoogsteen.

Kể từ đó, các nhà nghiên cứu quan sát sự hiện diện của cả hai cặp base Watson-Crick và Hoogsteen dựa trên hình ảnh của DNA.

Tuy nhiên, năm năm trước, Al-Hashimi và nhóm nghiên cứu tại Duke khám phá một hiện tượng chưa hề được biết đến trước đó: cặp base DNA liên tục thay đổi từ mô hình của Hoogsten sang Watson-Crick và ngược lại. Điều này đã bổ sung thêm một chiều hướng mới về sự linh hoạt của cấu trúc DNA.

Các nhà khoa học phát hiện rằng DNA sử dụng liên kết Hoogsteen khi có sự liên kết giữa protein và DNA hoặc nếu có tổn thương hóa học tới bất kỳ một base nào. Một khi thiệt hại được sửa chữa hoặc khi các protein thoát liên kết, DNA quay trở lại với dạng liên kết Watson -Crick.

Phát hiện này mang tầm ảnh hưởng to lớn, nhưng đội nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng RNA không có khả năng này, trả lời cho câu hỏi mà các nhà khoa học tìm cách lý giải hàng năm trời: DNA là cấu trúc căn bản của sự sống, không phải RNA.

Trong khi DNA sẽ hấp thụ tổn thương hóa học và thích ứng với môi trường xung quanh, RNA sẽ trở nên rắn hơn và cấu trúc dần sụp đổ. Vì vây DNA là cấu trúc tốt hơn để truyền tải thông tin di truyền xuống các thế hệ DNA sau.

“Ở DNA, tổn thương có thể dễ dàng được sửa chữa bằng cách lật các base và tạo thành một cặp base Hoogsteen. Ngược lại, việc sửa đổi sẽ phá vỡ nghiêm trọng cấu trúc xoắn kép của RNA,” theo Huiqing Chu, một trong những nhà nghiên cứu của công trình cho biết.

Theo một thông cáo báo chí của Đại Học Duke, “Phát hiện này có khả năng cao sẽ thay đổi thông tin trong sách giáo khoa về sự khác biệt giữa hai cấu trúc cung cấp thông tin di truyền, DNA và RNA,”

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong bất kì thời điểm nào, khoảng 1% các base từ chuỗi DNA chuyển thành các cặp base Hoogsteen. Nhưng điều này không xuất hiện ở các đoạn RNA.

Các nhà khoa học tiếp tục tiến hành những thí nghiệm với những chuỗi xoắn kép RNA ở những điều kiện khác nhau, nhưng dường như không có sự thay đổi để trở thành các cặp base Hoogsteen. Khi những đoạn RNA bị “ép buộc” để hình thành những cặp base Hoogsteen, chỉ để khẳng định điều đó có thể xảy ra hay không, nhưng ngay khi nó được hình thành, đoạn RNA trở nên tan rã.

Nhóm các nhà khoa học giải thích rằng nguyên nhân của hiện tượng đó do cấu trúc được sắp xếp chặt hơn (more packed) của chuỗi xoắn kép RNA so sánh với cấu trúc tương tự trên DNA, và cũng bởi vì một RNA base không thể thay đổi định hướng của nó mà không va chạm phải các base khác cũng như thay đổi toàn bộ cấu trúc phân tử RNA.

“Đó là một cấu trúc tuyệt vời, một sự phức tạp được xây dựng từ những cấu tạo giản đơn, toàn bộ những điều mà trước nay chúng ta không thể nhìn thấy được, chỉ bởi vì không có những công cụ để quan sát chúng, cho tới trước thời điểm này.” – Al-Hashimi nói.

Sẽ cần những nghiên cứu tiếp theo để kiểm chứng lại giả thiết rằng sự linh động của DNA, chứ không phải ở RNA, là nguyên nhân để DNA trở thành nền tảng của sự sống, và nếu được chứng thực, điều đó sẽ giúp chúng ta giải thích cách sự sống phát triển trên trái đất này.

Và một điều khá thú vị rằng sau tất cả bao nhiêu năm, chúng ta vẫn đang tìm tòi những điều mới mẻ về những phân tử làm nên chính chúng ta.

Thanh Lan, Anh Phương, và Hồng Ái (chuyển ngữ)

Fiona MacDonald. Scientists have just uncovered a major difference between DNA and RNA. Science Alert. 3 August 2024

Zhou, H., Kimsey, I. J., Nikolova, E. N., Sathyamoorthy, B., Grazioli, G., McSally, J., … & Al-Hashimi, H. M. (2024). m1A and m1G disrupt A-RNA structure through the intrinsic instability of Hoogsteen base pairs. Nature Structural & Molecular Biology.

Bài viết đã được cập nhật ngày 4.9.2024

Sự Khác Biệt Giữa Dna Và Rna

Mỗi tế bào sống trong cơ thể chúng ta đều chứa hai hợp chất vật chất di truyền gọi là axit deoxyribonucleic (DNA) và axit ribonucleic (RNA), chịu trách nhiệm đọc và lưu trữ thông tin di truyền, sản xuất tế bào của chúng ta và hình thành các protein chịu trách nhiệm Sự sống Mặc dù cả hai axit đều chứa vật liệu di truyền và là các polyme tuyến tính bao gồm đường, phốt phát và bazơ, chúng có một số khác biệt và khác biệt quan trọng. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ xem xét những khác biệt này để hiểu rõ hơn về hoạt động của hai axit này và để hoàn thành vai trò thiết yếu của chúng.

Chức năng của DNA và RNA là gì?

Nếu chúng ta nhìn vào DNA hoặc axit deoxyribonucleic, chúng ta thấy rằng nó có hai chức năng. Trong ngắn hạn, nó mã hóa tất cả thông tin di truyền và hoạt động như một kế hoạch chi tiết để tạo ra cuộc sống di truyền. Về lâu dài, DNA hoạt động như một thiết bị lưu trữ, tương tự như ổ đĩa flash sinh học cho phép chuyển giao bản thiết kế từ thế hệ này sang thế hệ tiếp theo. Chức năng của RNA là đọc và giải mã DNA trong một quy trình gồm nhiều bước thực hiện các bước sau:

RNA RNA (mRNA) sao chép các đoạn mã di truyền bằng cách sử dụng quá trình phiên mã và vận chuyển các bản sao này đến các ribosome, là nhà máy sản xuất tế bào sản xuất protein từ mã sao chép này.

RNA chuyển (tRNA) mang axit amin, là khối xây dựng protein cơ bản của các tế bào của chúng tôi, đến các nhà máy sản xuất tế bào theo yêu cầu trong hướng dẫn được mã hóa của RNA thông tin. Quá trình này được gọi là dịch mã và chịu trách nhiệm hình thành protein.

RNA ribosome (rRNA) là thành phần chính của nhà máy ribosome, và nếu không có nó, chúng ta sẽ không thể sản xuất được protein.

Bây giờ chúng ta đã nghiên cứu các chức năng khác nhau của DNA và RNA, hãy xem xét sự khác biệt chính giữa cấu trúc, chiều dài, cấu trúc di truyền, vị trí và khả năng phản ứng.

Sự khác biệt giữa cấu trúc, chiều dài, vị trí và khả năng phản ứng là gì?

Về cấu trúc di truyền của DNA và RNA, cả hai đều chứa đường, nhưng trong DNA, đường là deoxyribose, chứa một nhóm hydroxyl ít hơn RNA và RNA chứa các phân tử đường ribose không có biến đổi hydroxyl của deoxyribose. Các bazơ đều chứa adenine, guanine và cytosine, nhưng RNA chứa uracil chứ không phải thymine.

Nhìn vào sự ổn định của DNA cho thấy nó ổn định hơn RNA vì nó chứa một nhóm hydroxyl chứa ít oxy hơn. RNA, do rãnh xoắn ốc của nó, có xu hướng phản ứng mạnh hơn DNA, vì nó dễ bị tấn công hơn bởi các enzyme và do đó dễ bị các điều kiện không ổn định. Mặt khác, RNA có khả năng chống tia UV cao hơn, trong khi DNA rất nhạy cảm. Cuối cùng, DNA có thể được tìm thấy chủ yếu trong nhân, với một lượng nhỏ xảy ra trong ty thể, trong khi RNA hình thành trong nhân và đi vào các khu vực chuyên biệt trong tế bào chất.

Sự Khác Biệt Giữa Dna Và Rna Là Gì?

Sự khác biệt giữa DNA và RNA là gì?

Bước sang một bên con. Tôi ít nhiều đã trả lời điều này trong

Nhưng tại sao tôi không nên trả lời lại? Tôi là một con điếm tín dụng.

Mọi người muốn nói rằng sự khác biệt chung là Thymine và Uracil. Thực tế là sự khác biệt thực sự giữa RNA và DNA là sự hiện diện của nhóm hydroxyl 2 ‘sởi tạo ra nó

Ribo

axit nucleic chứ không phải là

Deoxyribo

axit nucleic.

Khử oxy

Ribose

Thật đáng ngạc nhiên, sự khác biệt 16 dalton nhỏ đó là tất cả những gì nó cần.

Bất chấp câu trả lời của mọi người và theo những gì được dạy trong sách giáo khoa ở trường trung học, sự hình thành chuỗi xoắn của RNA sợi đôi có động lực lớn hơn so với sự hình thành chuỗi xoắn của DNA sợi kép. Thật là mỉa mai vì mọi người chỉ nói rằng DNA luôn bị mắc kẹt và RNA là chuỗi đơn.

Vâng, đó chỉ là hogwash.

Bức ảnh này nằm (vâng, NHGRI đang nói dối bạn). Nó không thực sự cho thấy sự khác biệt quan trọng giữa DNA và RNA. Có vẻ như sự khác biệt của Uracil và Thymine thực sự lớn và DNA là chuỗi kép và RNA thì không.

Làm thế nào để 2’OH bổ sung tạo ra sự khác biệt này?

Như những người yêu thích lịch sử có thể nhớ, có hai dạng DNA: dạng A và dạng B. Rosalind Franklin có dữ liệu nhiễu xạ tốt hơn từ dạng A và đang tập trung công việc của mình vào cấu trúc đó. Tuy nhiên, khoảnh khắc Eureka xuất hiện khi Francis Crick xem xét dữ liệu nhiễu xạ dạng B và nhận thấy tính bất lực của DNA.

Tôi lạc đề. DNA sẽ áp dụng cả hai dạng nhưng thích dạng B hơn khi ngậm nước, vị trí các nhóm phosphate nằm cách xa nhau và có sự xoay vòng dần dần. Nó cũng sẽ sử dụng một dạng xoắn A khi sấy khô hoặc tiếp xúc với protein. Nhóm chính nội dung thông tin cao trở nên sâu hơn nhưng bây giờ phơi bày nội dung thông tin thấp của rãnh nhỏ. (một trong nhiều lý do tại sao DNA tốt hơn RNA là chất mang thông tin).

Mẫu A, mẫu B, mẫu Z

Mẫu

Mẫu B

Quá trình chuyển đổi này xảy ra do sự thay đổi của pucker đường của ribose. Vì những lý do không chính đáng, chiếc nhẫn sẽ “pucker” và 3 ‘và 2’ carbons sẽ dịch chuyển từ mặt phẳng của chiếc nhẫn. Như có thể thấy, dạng A của C3 ‘endo sẽ giữ các nhóm phốt phát gần hơn với 3’ OH trong khi dạng B-endo của C2 giữ nó hơn nữa.

Như đã đề cập, Ribose có 2’OH. Kết quả là, trong cấu hình C2′-endo, 2’OH sẽ “đụng độ” với 3’OH.

Kết quả là RNA sẽ chỉ áp dụng cấu hình dạng A

.

VẬY THÌ SAO?

Điều này có hậu quả rất lớn đối với các tính chất sinh lý của RNA. Không có khả năng “pucker” làm cho RNA trở thành một polymer cứng hơn, có nghĩa là trong dung dịch tự do, entropy hình dạng của RNA thấp hơn so với entropy cấu trúc của DNA. Kết quả là, hình phạt entropic cho việc áp dụng các cấu trúc thứ cấp hoặc xoắn ốc trở nên thấp hơn như chúng ta đã thấy trước đó với thí nghiệm lai tạo của chúng tôi. Không giống như DNA đòi hỏi mức độ bổ sung cao để lai, RNA có thể làm như vậy với ít hơn nhiều.

Kết quả cuối cùng là

thông qua một sự khác biệt phân tử nhỏ trong cấu trúc hóa học của RNA, RNA có thể áp dụng cấu trúc bậc hai, bậc ba và bậc bốn rất phức tạp.

Khả năng này cho phép nó đồng thời hoạt động như một chất mang thông tin cũng như một phân tử chức năng.

(cập nhật)

đã nhắc nhở tôi về tất cả các vấn đề ổn định quan trọng xảy ra với 2’OH mà tôi đã lúng túng bỏ qua.

Trong điều kiện cơ bản, 2’OH sẽ bị khử liên kết và tạo thành một nucleophile sẽ tạo ra phản ứng Sn2 với 3 ‘PO4. Như đã đề cập, trong

, yêu cầu năng lượng để trao đổi một nucleoside khá thấp nên 5’OH là một nhóm tốt. CyclicNMP kết quả thường để lại “vết sẹo” 2 ‘hoặc 3’ PO4.

Kết quả là độ mẫn cảm cao hơn với quá trình thủy phân xúc tác bazơ.

Điều đó đang được nói, có nhiều nuclease sẽ sử dụng cơ chế khác nhau để tách RNA.

Statrt DNA với RNA D bắt đầu bằng R!

CHỈ CÒN !!!

Cả DNA và RNA bao gồm các tiểu đơn vị được gọi là nucleotide. Mỗi nucleotide chứa một phân tử đường liên kết hóa học với một phân tử phốt phát, bao gồm các nguyên tử phốt pho và oxy liên kết với nhau; phức tạp này tạo nên các cạnh của thang hoặc xoắn. Trong DNA, phân tử đường được gọi là deoxyribose vì nó thiếu một nguyên tử oxy trong khi ở RNA, đường là ribose, giàu oxy hơn. Liên kết với đường là các phân tử được gọi là bazơ nitơ kết nối hai bên của thang với nhau; những căn cứ này tạo thành các nấc thang. Các bazơ tạo nên các nucleotide trong RNA bao gồm guanine, cytosine, adenine và uracil; DNA có các cơ sở guanine, cytosine, adenine và thymine. Chỉ một số cơ sở nhất định liên kết với nhau; adenine luôn liên kết với thymine trong DNA hoặc uracil trong RNA, trong khi cytosine chỉ liên kết với guanine.

DNA tồn tại tự nhiên như một cấu trúc xoắn kép, trông giống như một cái thang đã bị xoắn. RNA, mặt khác, bao gồm một chuỗi duy nhất gấp thành nhiều hình dạng khác nhau. Các nhà khoa học từng nghĩ rằng RNA, không phải DNA, là nền tảng của sự sống vì nó cũng có thể lưu trữ thông tin cần thiết để tạo ra protein. Sau khi nghiên cứu sâu hơn, DNA sau đó được coi là bản thiết kế của sự sống vì nó ổn định về mặt hóa học hơn RNA; Ngoài ra, vì DNA có hai chuỗi, ngay cả khi một chuỗi bị hỏng, chuỗi kia vẫn có thể cung cấp một khuôn mẫu đáng tin cậy để tạo protein.

Chức năng duy nhất của DNA là chứa mã để tạo protein. Hầu như mọi thứ xảy ra bên trong một tế bào đều cần protein. Từ cấu trúc của các tế bào đến hoạt động của các enzyme tạo ra các phản ứng hóa học thiết yếu nhất định có thể, protein là cơ bản cho tất cả sự sống. Các sinh vật cần một cách để đảm bảo rằng các protein có thể được tạo ra một cách trung thực và DNA cung cấp kế hoạch chi tiết cho các protein này được tổng hợp. Do DNA không thể rời khỏi nhân tế bào, nên một chuỗi RNA thông tin (mRNA) được tạo ra từ mẫu DNA và mRNA này có thể di chuyển bên ngoài nhân. MRNA đến các ribosome, nhà máy sản xuất protein của tế bào và liên kết với chúng. RNA chuyển (tRNA) mang axit amin đến ribosome để liên kết với chuỗi mRNA. RNA ribosome (rRNA) thực sự hoạt động như một phần của ribosome để giữ chuỗi mRNA tại chỗ.

RNA và DNA khác nhau ở các khía cạnh khác nhau-

RNA là phân tử sợi đơn trong khi DNA ca có thể là chuỗi kép hoặc chuỗi đơn (mặc dù rất ít virus đã được nhìn thấy có DSRNA và DSRNA cũng được nhìn thấy trong các kỹ thuật can thiệp RNA).

DNA có nghĩa là để lưu trữ thông tin di truyền trong khi RNA có nghĩa là biểu hiện thông tin di truyền được lưu trữ.

DNA phụ thuộc vào RNA để biểu hiện gen thông qua máy móc tổng hợp protein phụ thuộc RNA.

DNA có 4 cơ sở nitơ viz. Adenine, cytosine, guanine và thymine trong khi RNA cũng có 4 bazơ, sự khác biệt duy nhất là thay vì thymine, uracil có mặt.

Đây là một vài điểm. Hỏi thêm nếu bạn cần. Hy vọng nó sẽ giúp!

Tôi ước rằng chúng tôi sẽ thả DNA DNA là sợi đôi; nó không phải là một sự khác biệt giữa các phân tử; đó là một sự khác biệt trong cách chúng được sử dụng trong nhiều ô (tôi lưu ý rằng một số đã đưa vào vòng loại thích hợp trên ô này). RNA thường có một số chuỗi kép (tRNA được hiển thị bên dưới; nhiều, nhiều RNA khác có chức năng trái ngược với vai trò thông tin [mRNA]). Nó cũng có thể được nhân đôi hoàn toàn theo cách tương tự như DNA polymerase (và đây là cách nó có trong một số virus RNA).

RNA là chuỗi đơn vì không có gì

phiền muộn

để tạo ra một chuỗi phù hợp cho nó, trong khi trong nhiều trường hợp, DNA đang được sử dụng làm vật liệu lưu trữ và thuận lợi là có cả hai chuỗi, vì vậy thứ hai được tạo ra.

Tương tự, “tính ổn định” của DNA chỉ là biểu hiện của thực tế là có sự khác biệt hóa học trong đường; RNA có -OH ở vị trí 2 và điều này giúp RNA dễ dàng tự ‘phá vỡ’; điều này được tăng cường bởi một môi trường cơ bản.

Và trong khi tôi đang ở trên hộp xà phòng của mình :-). Trong khi việc sử dụng thymine thay cho uracil là rất, rất quan trọng,

Sự khác biệt

DNA và RNA

khác với họ

cấu trúc, chức năng

sự ổn định

. DNA có bốn bazơ nitơ adenine, thymine, cytosine và guanine và cho RNA thay vì thymine nó có uracil. Ngoài ra DNA là chuỗi kép và RNA là chuỗi đơn, đó là lý do tại sao RNA có thể rời khỏi nhân và DNA không thể. Một điều nữa là DNA đang thiếu oxy.

Sự khác biệt giữa DNA và RNA

:

Tên cấu trúc:

Axit Deoxyribonucleic DNA

Axit ribonucleic RNA

Chức năng:

DNA

Phương tiện lưu trữ dài hạn và truyền thông tin di truyền.

RNA

Chuyển mã di truyền cần thiết cho việc tạo protein từ nhân sang ribosome. Quá trình này ngăn DNA khỏi phải rời khỏi nhân, vì vậy nó vẫn an toàn. Không có RNA, protein không bao giờ có thể được tạo ra.

Kết cấu:

DNA

Điển hình là một phân tử sợi đôi với chuỗi nucleotide dài.

RNA

Một phân tử sợi đơn trong hầu hết các vai trò sinh học của nó và có chuỗi nucleotide ngắn hơn.

Căn cứ / Đường:

DNA

Polyme dài với một xương sống deoxyribose và phốt phát và bốn cơ sở khác nhau: adenine, guanine, cytosine và thymine.

RNA

Polyme ngắn hơn với một xương sống ribose và phốt phát và bốn cơ sở khác nhau: adenine, guanine, cytosine và uracil.

Ghép nối cơ sở:

DNA

AT (Adenine-Thymine), GC (Guanine-Cytosine)

RNA

AU (Adenine-Uracil), GC (Guanine-Cytosine)

Ổn định:

DNA

Đường deoxyribose trong DNA ít phản ứng hơn do liên kết CH. Ổn định trong điều kiện kiềm. DNA có các rãnh nhỏ hơn, nơi enzyme gây tổn hại có thể gắn vào, khiến enzyme khó tấn công DNA hơn.

RNA

Đường Ribose phản ứng mạnh hơn vì liên kết C – OH (hydroxyl). Không ổn định trong điều kiện kiềm. Mặt khác, RNA có các rãnh lớn hơn giúp dễ dàng bị tấn công bởi các enzyme.

Đặc điểm độc đáo:

DNA

Hình dạng xoắn của DNA là B-Form. DNA được bảo vệ hoàn toàn bởi cơ thể tức là cơ thể phá hủy các enzyme tách DNA. DNA có thể bị hỏng do tiếp xúc với tia cực tím.

RNA

Hình dạng xoắn của RNA là A-Form. Các chuỗi RNA liên tục được thực hiện, phá vỡ và tái sử dụng. RNA có khả năng chống lại thiệt hại nhiều hơn bởi các tia cực tím.

Nguồn:

https://en.m.wikibooks.org/wiki/Sturationural_Biochemology/Nucleic_Acid/Difference_b between_DNA_and_RNA

Cơ sở đường: RNA có ribose thay vì deoxyribose như cơ sở của nó, khác với một nhóm -OH đi ra khỏi vòng.

Nucleotide: Cả DNA và RNA đều sử dụng adenine, guanine và cytosine làm nucleotide trong chuỗi của chúng (các bit đại diện cho mã di truyền), nhưng trong đó DNA có thymine, RNA có uracil.

Cấu trúc: DNA có hai chuỗi bổ sung xoắn thành một chuỗi xoắn, nhưng RNA có một chuỗi, khiến các nucleotide của nó dễ dàng tiếp cận.

DNA và RNA Virus Virus là những tác nhân truyền nhiễm không thể sao chép mà không có sự hiện diện của tế bào chủ. Xâm nhập tế bào chủ, sinh sản và tránh xa hệ thống phòng thủ của cơ thể là điểm sinh tồn chính của virus. DNA hoặc axit deoxyribonucleic là kho lưu trữ chính cho các mã di truyền có chứa thông tin cho hoạt động và sự tiến bộ của tất cả các sinh vật sống. Nó được tìm thấy trong nhân. Đường có trong DNA là deoxyribose và thường nó đi kèm với một cặp phân tử được gọi là phân tử sợi đôi với chuỗi nucleotide dài. Phân tử sợi đôi này có kênh hẹp khiến các enzyme phá hủy khó xâm nhập. Trong virus DNA, sự tích hợp DNA virus giống như cách mà vật chủ ban đầu sẽ kết hợp DNA. Virus sẽ thấm nhuần mã di truyền đặc biệt vào màng của DNA chủ sau đó với sự trợ giúp của quá trình sao chép RNA polymerase. Sự sao chép thường xảy ra trong nhân. Với sự hình thành của các virus được thực hiện trong giai đoạn lytic, màng tế bào chủ tách ra và các virus mới được giải phóng. Mức độ đột biến trong DNA thấp hơn vì DNA polymerase đang có hoạt động tinh chế. Chúng là những ký sinh trùng nội bào hấp dẫn và chúng kết nối một cách nhẫn tâm với những thay đổi diễn ra trong vật chủ. Tính đặc hiệu của virus DNA thường được kết luận ở cấp độ phiên mã. Những loại vi-rút này là không đổi, đó là lý do tại sao vắc-xin hoạt động hiệu quả trong suốt những năm qua. RNA hoặc axit ribonucleic là một axit polymer nucleic có vai trò quan trọng trong việc dịch mã di truyền từ DNA sang các sản phẩm protein. Nó được tìm thấy trong nhân và tế bào chất. Nó thường là một phân tử sợi đơn với chuỗi nucleotide ngắn hơn. Đường hiện tại là ribose. Một số virus RNA thấm RNA vào tế bào chủ và bỏ qua máy chủ DNA để nhân đôi và giải mã. DNA ở đây hoạt động như một mô hình cho virus RNA sau đó phiên mã nó thành protein của virus. Một số virus RNA nhúng enzyme phiên mã chuyển virus RNA sang virus DNA và kết hợp với DNA chủ. Sau đó, nó tuân theo quá trình sao chép DNA. Sự sao chép thường xảy ra trong tế bào chất. Đột biến là nguyên nhân chính của những thay đổi trong mã di truyền của virus. Trong đột biến RNA cao hơn vì RNA. polymerase có khả năng phạm lỗi. Chúng không ổn định và thay thế lớp vỏ protein có thể làm mờ hệ thống miễn dịch. Tóm tắt: 1. Virus DNA chủ yếu là chuỗi kép trong khi virus RNA là chuỗi đơn. 2. Tỷ lệ đột biến RNA cao hơn tỷ lệ đột biến DNA. 3. Sự sao chép DNA diễn ra trong nhân trong khi sự sao chép RNA diễn ra trong tế bào chất. 4. Virus DNA ổn định trong khi virus RNA không ổn định. 5. Trong virus DNA, mã di truyền của virus được tiêm vào DNA chủ để nhân đôi và giải mã. Virus RNA bỏ qua DNA để nhân đôi và giải mã.

svcministry.org © 2024

Bạn Có Biết Sự Khác Biệt Giữa Dna Và Rna?

DNA là viết tắt của deoxyribonucleic acid . Mặc dù DNA và RNA đều mang thông tin di truyền, nhưng giữa chúng có khá nhiều điểm khác biệt. Đây là sự so sánh về sự khác biệt giữa DNA và RNA, bao gồm một bản tóm tắt nhanh và một bảng chi tiết về sự khác biệt.

DNA chứa đường deoxyribose, trong khi RNA chứa đường ribose. Sự khác biệt duy nhất giữa ribose và deoxyribose là ribose có nhiều -OH hơn deoxyribose, nhóm này có -H gắn vào cacbon thứ hai (2 ‘) trong vòng.

DNA là một phân tử sợi kép, trong khi RNA là một phân tử sợi đơn.

DNA bền trong điều kiện kiềm, trong khi RNA không bền.

DNA và RNA thực hiện các chức năng khác nhau ở người. DNA chịu trách nhiệm lưu trữ và chuyển , trong khi RNA trực tiếp mã hóa và hoạt động như một chất truyền tin giữa DNA và ribosome để tạo ra protein.

kết cặp base của hơi khác nhau vì DNA sử dụng các base là adenine, thymine, cytosine và guanine; RNA sử dụng adenine, uracil, cytosine và guanine. Uracil khác với thymine ở chỗ nó thiếu trên vòng của nó.

Trong khi cả DNA và RNA đều được sử dụng để lưu trữ thông tin di truyền, có sự khác biệt rõ ràng giữa chúng. Bảng này tóm tắt các điểm chính:

Có một số bằng chứng cho thấy DNA có thể xuất hiện trước, nhưng hầu hết các nhà khoa học tin rằng RNA tiến hóa trước DNA.   RNA có cấu trúc đơn giản hơn và cần thiết để DNA hoạt động. Ngoài ra, RNA được tìm thấy ở , được cho là có trước sinh vật nhân chuẩn. Bản thân RNA có thể hoạt động như một chất xúc tác cho một số phản ứng hóa học.

Câu hỏi thực sự là tại sao DNA lại phát triển nếu RNA tồn tại. Câu trả lời khả dĩ nhất cho điều này là có một phân tử sợi kép giúp bảo vệ mã di truyền khỏi bị hư hại. Nếu một sợi bị đứt, sợi kia có thể dùng làm mẫu để sửa chữa. bao quanh DNA cũng cung cấp khả năng bảo vệ bổ sung chống lại sự tấn công của enzym.

Trong khi dạng DNA phổ biến nhất là chuỗi xoắn kép. Có bằng chứng cho các trường hợp hiếm gặp về DNA phân nhánh, DNA tứ phân và các phân tử được tạo ra từ các sợi ba.   Các nhà khoa học đã tìm thấy DNA trong đó asen thay thế cho phốt pho. 

RNA sợi đôi (dsRNA) đôi khi xảy ra. Nó tương tự như DNA, ngoại trừ thymine được thay thế bằng uracil. Loại RNA này được tìm thấy trong một số . Khi những virus này lây nhiễm sang tế bào nhân thực, dsRNA có thể can thiệp vào chức năng bình thường của RNA và kích thích phản ứng interferon. RNA sợi đơn tròn (circleRNA) đã được tìm thấy ở cả động vật và thực vật.   Hiện tại, chức năng của loại RNA này vẫn chưa được biết rõ.

Sự Khác Biệt Giữa Axit Deoxyribonucleic (Dna) Và Axit Ribonucleic (Rna)

Axit deoxyribonucleic hoặc DNA là vật liệu chứa thông tin di truyền trong tất cả các sinh vật sống, chúng được coi là một bộ hướng dẫn di truyền được sử dụng để phát triển thêm các sinh vật và các chức năng khác. Đồng thời, RNA hoặc axit Ribonucleic đóng vai trò tổng hợp protein và cũng là trong việc truyền thông tin di truyền. DNA là cấu trúc xoắn kép trong khi RNA là chuỗi đơn.

Như tên cho thấy DNA chứa deoxyribose và thiếu một nguyên tử oxy ; RNA chứa ribose và có thể có nhiều loại. DNA chứa các bazơ nitơ như Adenine (A), Cytosine (C), Guanine (G) và Thymine (T) trong khi Uracil (U) có mặt thay vì Thymine (T) trong RNA.

Biểu đồ so sánh Cơ sở để so sánh Axit deoxyribonucleic (DNA) Axit ribonucleic (RNA)

Khí thuần ni tơ

Adenine (A), Thymine (T), Cytosine (C), Guanine (G).

Adenine (A), Uracil (U), Cytosine (C), Guanine (G).

Định nghĩa DNA

DNA đóng một vai trò quan trọng trong việc lưu trữ thông tin di truyền trong tất cả các loại sinh vật cho dù đó là sinh vật nhân sơ hay sinh vật nhân chuẩn, cũng như lưu trữ thông tin về hoạt động của từng tế bào và cấu trúc của nó. Phần lớn được tìm thấy trong nhân nhưng cũng được tìm thấy trong ty thể, lục lạp, v.v … Tất cả những thống kê này được lưu trữ trong nhân của mỗi tế bào để tất cả các tế bào đều có DNA tương tự trong nhân khi chúng phân tách.

Sau này, khi tế bào này phân chia thành hai tế bào con, cùng với nhân của chúng tạo ra hai tế bào giống hệt nhau. Đây là lý do tại sao cha mẹ và con cái của họ dường như giống hệt nhau, vì vật liệu DNA được di truyền từ cha mẹ sang con cái và do đó chia sẻ những đặc điểm tương tự.

Đúng như tên gọi, DNA đó chứa đường deoxyribose và một chuỗi nucleotide dài . Các nucleotide này được đặt tên là Adenine (A), Cytosine (C), Guanine (G), Thymine (T). Adenine (A) và Guanine (G) được gọi là purine và Cytosine (C), Thymine (T) được gọi là pyrimidine .

Liên kết AT là hai liên kết hydro, trong khi liên kết CG là ba liên kết hydro. Mục đích chính của DNA là thông báo về loại protein sẽ được tạo ra để xác định rõ hơn chức năng của một tế bào.

Vì cấu trúc của DNA là xoắn ốc kép, nó trông giống như một cái thang xoắn trong hình xoắn ốc. Mỗi bước của một bậc thang bao gồm một cặp nucleotide, lưu trữ thông tin di truyền. DNA chứa liên kết CH, do đó nó ít phản ứng hơn và do đó ổn định trong điều kiện kiềm. Ngay cả các rãnh nhỏ có trong cấu trúc xoắn ốc đôi cũng cung cấp ít hoặc không có chỗ cho các enzyme gây hại được gắn vào.

Định nghĩa về RNA

RNA cũng quan trọng như DNA vì nó giúp chuyển mã di truyền cần thiết cho quá trình tổng hợp protein từ nhân sang ribosome. Nó cũng giúp mã hóa, giải mã, điều hòa và biểu hiện gen. Điều này giữ cho DNA và các vật liệu di truyền khác an toàn. Tương tự như vậy DNA, RNA cũng chứa bốn nucleotide Adenine (A), Cytosine (C), Guanine (G) và Uracil (U).

Mỗi RNA được tạo thành từ đường ribose, xương sống của chúng được gắn vào nhóm phốt phát và bazơ. Liên kết là giữa các cơ sở GC và AU. Những nucleotide này được tạo thành từ các chuỗi ngắn hơn và chúng là chuỗi đơn . Do sự hiện diện của C-OH (liên kết hydroxyl), ribose phản ứng mạnh hơn và không ổn định trong điều kiện kiềm. mRNA, rRNA và tRNA là ba loại RNA chính.

mRNA được gọi là RNA thông tin, quá trình phiên mã được hoàn thành bằng cách sử dụng enzyme RNA polymerase. Trong RNA polymerase này giải mã thông tin di truyền từ DNA. MRNA này mang thông tin để chỉ đạo việc trang điểm protein, theo yêu cầu của cơ thể.

tRNA được gọi là RNA chuyển, với sự trợ giúp của protein và RNA khác tạo thành một phức hợp có thể đọc mRNA và dịch thông tin mang vào protein và cũng giúp đưa axit amin vào ribosome nơi rRNA (RNA ribosome) tạo ra protein bằng cách liên kết với các axit amin.

Sự khác biệt chính giữa axit Deoxyribonucleic (DNA) và axit Ribonucleic (RNA)

Sự khác biệt chính giữa DNA và RNA là DNA có cấu trúc sợi đôi, trong khi RNA là cấu trúc sợi đơn .

Xương sống của DNA là đường deoxyribose được tạo thành từ một chuỗi nucleotide dài, trong khi RNA là đường ribose và chuỗi nucleotide ngắn.

Sự kết hợp cơ sở của guanine (G) là với cytosine (C) trong khi adenine (A) với thymine (T) trong DNA và adenine với uracil (U) trong RNA.

Chức năng của DNA là lưu trữ thông tin di truyền và chuyển nó đến các tế bào khác, trong khi RNA có chức năng mã hóa, giải mã và tổng hợp protein.

Phần kết luận

Cập nhật thông tin chi tiết về Phát Hiện Mới Về Sự Khác Biệt Giữa Dna Và Rna trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!