Xu Hướng 2/2024 # Phân Biệt Vùng Miền, Dân Tộc – Biểu Hiện Của Chủ Nghĩa Cá Nhân, Cục Bộ; Nguy Cơ Gây Mất Đoàn Kết Dân Tộc, Hiểm Họa Đối Với Nền An Ninh Quốc Gia. # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Phân Biệt Vùng Miền, Dân Tộc – Biểu Hiện Của Chủ Nghĩa Cá Nhân, Cục Bộ; Nguy Cơ Gây Mất Đoàn Kết Dân Tộc, Hiểm Họa Đối Với Nền An Ninh Quốc Gia. được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Phân biệt vùng miền, dân tộc từ lâu đã trở thành một vấn nạn lớn đe dọa phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; là nguyên nhân, điều kiện tạo ra những sự bất ổn, chủ nghĩa khủng bố, ly khai… xa hơn nữa là nguy cơ đe dọa nền an ninh quốc gia, đe dọa sự tồn vong của chế độ, của nhà nước. Nó xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vùng miền, tính cục bộ, địa phương của một bộ phận người trong xã hội đòi hỏi phải được giải quyết dứt điểm.

– Về những hậu quả có thể xảy đến, đó là vấn nạn trên sẽ tạo ra rất nhiều nguy cơ tiềm ẩn như: nguy cơ chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nguy cơ xuất hiện chủ nghĩa khủng bố, ly khai… đe dọa an ninh quốc gia. Ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng: mỗi một dân tộc, vùng miền họ đều có ý thức hệ dân tộc, vùng miền cao, do đó khi gặp những lời lẽ kích động trên thì phản ứng của họ đương nhiên là sẽ phải lên tiếng bảo vệ cho cộng đồng, quê hương mình, lâu dần sẽ khiến họ đẩy ý thức hệ ấy lên một cách cực đoan và khi gặp một sự tác động đủ lớn thì sẽ có thể khiến một cộng đồng, một dân tộc, một vùng miền nổi dậy, ly khai hay xuất hiện những hành động khủng bố, tấn công nhằm vào những người ở vùng miền, dân tộc khác mà họ “thù địch”, lấy VD: cuộc bạo loạn Tây nguyên (2001, 2004) bọn FULRO phản động lưu vong được sự hậu thuẫn của chính quyền một số nước thù địch đã đưa ra luận điệu “người Kinh cướp đất người Thượng” hay Bạo động Tân Cương – TQ (2009) từ 1 đoạn video giả với nội dung “chủ doanh nghiệp người Hán đánh đập người lao động Duy Ngô Nhĩ” … đã gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng, gây tổn hại lớn đối với quốc gia trên nhiều mặt…Về khía cạnh cá nhân, khi tiếp nhận những thông tin xấu mang nội dung thù địch trong một thời gian dài cũng sẽ làm nảy sinh thái độ, tình cảm tiêu cực, lâu dần sẽ chuyển hóa thành những hành động như: bêu riếu, kích động cá nhân, vùng miền dân tộc… hay đôi khi cũng chỉ vì “vui mồm” nói vu vơ không lường trước được hậu quả.Xét cho cùng thì vấn nạn trên nói cả về lý lẫn về tình đều không thể chấp nhận dù bất cứ lý do gì và nếu căn cứ theo BLHS 2024 sửa đổi, bổ sung năm 2024 thì những người có hành vi trên có thể bị truy cứu TNHS theo Điều 116 về tội “phá hoại chính sách đoàn kết” với khung hình phạt quy định chung từ 7 – 15 năm (*).Vì vậy, thông qua bài viết này, hi vọng tất cả mọi người hãy nâng cao hơn nữa thái độ, ý thức, trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước; luôn đề cao tinh thần tương thân, tương ái sống chan hòa, cởi mở. Bên cạnh đó, cần nâng cao trình độ nhận thức để có thái độ tích cực, đánh giá khách quan đối với những vấn đề lớn, quan trọng, nhạy cảm của đất nước, nhằm tẩy bỏ chủ nghĩa cá nhân, cục bộ… qua đó củng cố vững chắc khối “đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế”; giữ gìn bản sắc, truyền thống văn hóa dân tộc, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân, trong quá trình viết bài còn có nhiều hạn chế, thiếu sót, mong nhận được ý kiến đóng góp./.

——–A.K——–

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

2. Cơ sở văn hóa Việt Nam, GS. Trần Ngọc Thêm.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa.4. Văn kiện Đảng toàn tập.5. 6. 7. 

1. Bộ luật hình sự nước CHXHCN Việt Nam.2. Cơ sở văn hóa Việt Nam, GS. Trần Ngọc Thêm.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa.4. Văn kiện Đảng toàn tập.5. https://vi.m.wikipedia.org/…/Bi%E1%BB%83u_t%C3%ACnh_%E1%BB%… 6. https://vi.wikipedia.org/…/B%E1%BA%A1o_%C4%91%E1%BB%99ng_t%… 7. https://www.youtube.com/watch?v=i_MOFoqqe50

Chú thích:

(*).Tội phá hoại chính sách đoàn kết được quy định tại Bộ luật hình sự 2024(có hiệu lực ngày 01/01/2024) như sau:

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với các tổ chức chính trị – xã hội;b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam;c) Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức chính trị – xã hội;d) Phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế.2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Phân Biệt Vùng Miền, Dân Tộc

PHÂN BIỆT VÙNG MIỀN, DÂN TỘC – BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN, CỤC BỘ; NGUY CƠ GÂY MẤT ĐOÀN KẾT DÂN TỘC, HIỂM HỌA ĐỐI VỚI NỀN AN NINH QUỐC GIA.

Phân biệt vùng miền, dân tộc từ lâu đã trở thành một vấn nạn lớn đe dọa phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; là nguyên nhân, điều kiện tạo ra những sự bất ổn, chủ nghĩa khủng bố, ly khai… xa hơn nữa là nguy cơ đe dọa nền an ninh quốc gia, đe dọa sự tồn vong của chế độ, của nhà nước. Nó xuất phát từ chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vùng miền, tính cục bộ, địa phương của một bộ phận người trong xã hội đòi hỏi phải được giải quyết dứt điểm.

– Về những hậu quả có thể xảy đến, đó là vấn nạn trên sẽ tạo ra rất nhiều nguy cơ tiềm ẩn như: nguy cơ chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nguy cơ xuất hiện chủ nghĩa khủng bố, ly khai… đe dọa an ninh quốc gia. Ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng: mỗi một dân tộc, vùng miền họ đều có ý thức hệ dân tộc, vùng miền cao, do đó khi gặp những lời lẽ kích động trên thì phản ứng của họ đương nhiên là sẽ phải lên tiếng bảo vệ cho cộng đồng, quê hương mình, lâu dần sẽ khiến họ đẩy ý thức hệ ấy lên một cách cực đoan và khi gặp một sự tác động đủ lớn thì sẽ có thể khiến một cộng đồng, một dân tộc, một vùng miền nổi dậy, ly khai hay xuất hiện những hành động khủng bố, tấn công nhằm vào những người ở vùng miền, dân tộc khác mà họ “thù địch”, lấy VD: cuộc bạo loạn Tây nguyên (2001, 2004) bọn FULRO phản động lưu vong được sự hậu thuẫn của chính quyền một số nước thù địch đã đưa ra luận điệu “người Kinh cướp đất người Thượng” hay Bạo động Tân Cương – TQ (2009) từ 1 đoạn video giả với nội dung “chủ doanh nghiệp người Hán đánh đập người lao động Duy Ngô Nhĩ” … đã gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng, gây tổn hại lớn đối với quốc gia trên nhiều mặt…Về khía cạnh cá nhân, khi tiếp nhận những thông tin xấu mang nội dung thù địch trong một thời gian dài cũng sẽ làm nảy sinh thái độ, tình cảm tiêu cực, lâu dần sẽ chuyển hóa thành những hành động như: bêu riếu, kích động cá nhân, vùng miền dân tộc… hay đôi khi cũng chỉ vì “vui mồm” nói vu vơ không lường trước được hậu quả.Xét cho cùng thì vấn nạn trên nói cả về lý lẫn về tình đều không thể chấp nhận dù bất cứ lý do gì và nếu căn cứ theo BLHS 2024 sửa đổi, bổ sung năm 2024 thì những người có hành vi trên có thể bị truy cứu TNHS theo Điều 116 về tội “phá hoại chính sách đoàn kết” với khung hình phạt quy định chung từ 7 – 15 năm (*).Vì vậy, thông qua bài viết này, hi vọng tất cả mọi người hãy nâng cao hơn nữa thái độ, ý thức, trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước; luôn đề cao tinh thần tương thân, tương ái sống chan hòa, cởi mở. Bên cạnh đó, cần nâng cao trình độ nhận thức để có thái độ tích cực, đánh giá khách quan đối với những vấn đề lớn, quan trọng, nhạy cảm của đất nước, nhằm tẩy bỏ chủ nghĩa cá nhân, cục bộ… qua đó củng cố vững chắc khối “đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế”; giữ gìn bản sắc, truyền thống văn hóa dân tộc, góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân, trong quá trình viết bài còn có nhiều hạn chế, thiếu sót, mong nhận được ý kiến đóng góp./.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

(*).Tội phá hoại chính sách đoàn kết được quy định tại Bộ luật hình sự 2024(có hiệu lực ngày 01/01/2024) như sau:

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:a) Gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền nhân dân, với lực lượng vũ trang nhân dân, với các tổ chức chính trị – xã hội;b) Gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ, ly khai dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam;c) Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức chính trị – xã hội;d) Phá hoại việc thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế.2. Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Sự Khác Nhau Của Nền Dân Chủ Tư Sản Với Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa

Mõ Làng: Dành cho ngày nhân quyền 10/12

Âm mưu tung hô vấn đề dân chủ mà các nhóm “đối lập” tự xưng là “xã hội dân sự” tung ra gần đây là nhằm phá hoại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong nhận thức của họ, chỉ có các đảng dân chủ -xã hội mới thật sự “dân chủ”, còn đảng cộng sản không thể có dân chủ. Nhưng luận điệu đó đôi khi cũng làm vài người ngộ nhận bởi nó có thủ đoạn. Cốt lõi của thủ đoạn ấy là lờ đi sự khác nhau giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Vậy sự khác nhau ấy ở chỗ nào.

Ngày nay, các hoạt động của các trào lưu xã hội dân chủ gắn với những quyền lợi của chủ nghĩa tư bản. Số phận của họ cũng rất khó tách rời số phận của nhà nước tư bản. Chủ nghĩa tư bản lại tiếp tục điều chỉnh đường lối cho phù hợp với tình hình thời cuộc. Nhiều học giả tư sản đã thừa nhận điều này.

Chủ nghĩa xã hội dân chủ từ khi xuất hiện, cạnh những hạn chế về tư tưởng là những bước tiến khi họ biết tập trung giải quyết những vấn đề phúc lợi xã hội và dân sinh. Nó vừa là lý luận, vừa là một loại phong trào và chế độ. Bản thân nó là một quần thể tư tưởng phức tạp. Tư tưởng đa nguyên chính trị lại thay đổi luôn. Nội bộ của các đảng này không phải lúc nào cũng đoàn kết. Hạn chế lớn nhất của họ là không có một quan điểm thống nhất. Các đảng dân chủ – xã hội chủ trương thông qua tranh cử trong nghị viện để cầm quyền. Trong khi cầm quyền, họ thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội và thông qua đó, họ xây dựng nhà nước phúc lợi dân chủ. Một số đảng dân chủ – xã hội có xu hướng xây dựng “đường lối trung gian” (còn gọi là “đường lối thứ ba”), vừa không là chủ nghĩa tư bản, vừa không là chủ nghĩa xã hội.

Trong những năm gần đây, lý luận và đường lối của chủ nghĩa xã hội dân chủ có sự điều chỉnh liên tục. Sự điều chỉnh này đã lôi kéo được một bộ phận dân chúng.

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã kiên trì con đường chủ nghĩa xã hội khoa học, thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là ngọn cờ đã, đang và sẽ được phất lên trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Dân chủ của Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải dân chủ tư sản. Bản chất của dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa là khác nhau. Dân chủ tư sản là một trong những hình thức chính trị của nhà nước tư sản. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là một trong những hình thức chính trị của nhà nước xã hội chủ nghĩa, bắt nguồn từ chính bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Cơ sở kinh tế của dân chủ tư sản là những điều kiện tiên quyết của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong quá trình phát triển do bản chất giai cấp, dần dần tính chất tiến bộ của nền dân chủ tư sản đã bị biến dạng. Từ chỗ quan hệ bình đẳng của công dân trước pháp luật đã thay bằng quan hệ áp bức và bất công, các phúc lợi tự do cá nhân, phần lớn rơi vào lớp người khá giả, giới thượng lưu. Còn những người làm thuê, nhân dân lao động lại ít được hưởng quyền tự do dân chủ thật sự. Ngay cả vấn đề thông tin đại chúng, nhà nước tư bản vẫn rêu rao là tự do, kỳ thực, nó được sử dụng chủ yếu vì lợi ích của những tổ chức độc quyền tư bản lớn. Nhiều nhà tư bản lớn ở phương Tây đã mua các báo, tạp chí, đài phát thanh, đài truyền hình, hãng phim và những phương tiện tuyên truyền khác để thao túng, uốn nắn dư luận xã hội theo ý đồ riêng của mình. Đó là thực chất của chế độ dân chủ tư sản hiện đại.

Còn trào lưu xã hội dân chủ vẫn rêu rao là đại diện cho phong trào công nhân quốc tế ngày nay, thực chất là thứ chủ nghĩa xã hội dân chủ cải lương (theo con đường tiến hoá). Nét thể hiện của kiểu dân chủ này là xu hướng thay thế đấu tranh giai cấp bằng hợp tác giai cấp, quan niệm về tính chất “siêu giai cấp” của nhà nước và của dân chủ, quan niệm về chủ nghĩa xã hội như là một phạm trù đạo đức. Lý thuyết này, những người xã hội dân chủ đã áp dụng vào việc quản lý xã hội tại nhiều nước ở phương Tây. Có được khả năng điều khiển bộ máy nhà nước, các vị thủ lĩnh của các đảng xã hội – dân chủ tự cho mình là thầy thuốc bên giường bệnh của chủ nghĩa tư bản. Nhiều đảng xã hội – dân chủ chuyển sang hệ tư tưởng chiết trung, “đa nguyên” và tuyên bố chủ nghĩa xã hội dân chủ là cương lĩnh tư tưởng của họ.

Trong thực tế, một số đảng xã hội-dân chủ đã thành đạt trong một số cải cách xã hội. Song, những cải cách ấy, xét cho cùng, vẫn có lợi cho nhà nước tư bản nhiều hơn là lợi cho đại đa số nhân dân nước họ. Rút cục, chính sách thích nghi vẫn lệ thuộc vào chế độ tư bản chủ nghĩa. Những quyền lợi cơ bản về chính trị và kinh tế vẫn nằm trong tay nhà nước tư bản.

Một số đảng xã hội – dân chủ tiến bộ ở châu Âu đã phản đối việc Mỹ gây chiến tranh xâm lược các nước nhỏ bé, vi phạm quyền độc lập dân tộc của họ. Một số người trong phái xã hội- dân chủ thừa nhận tính ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và có những quan hệ về đảng với đảng cộng sản. Một số chính khách trong cánh tả đã mạnh dạn sửa đổi cương lĩnh của mình.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa, một mặt, lên án những tư tưởng cải lương, cơ hội của phái xã hội dân chủ, mặt khác, để mở rộng đường dân chủ, cũng chủ trương hợp tác với họ trên cơ sở đáp ứng lợi ích của dân tộc mình. Sự khác biệt về quan điểm nhận thức dân chủ giữa những người cộng sản và những người xã hội-dân chủ được giới hạn bởi những nguyên tắc của nó. Trượt theo bánh xe dân chủ của chủ nghĩa xã hội dân chủ sẽ dẫn đến sự phản bội những tư tưởng dân chủ xã hội chủ nghĩa mà các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã dày công xây dựng và vun đắp. So với dân chủ tư sản và dân chủ của chủ nghĩa xã hội dân chủ, thì dân chủ xã hội chủ nghĩa là một bước tiến mới trong tư tưởng dân chủ của xã hội loài người.

Sự hình thành và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một quá trình khách quan do nhiều yếu tố xác định. Sự bình đẳng, công bằng xã hội, tự do cá nhân và quyền lực nhân dân là mục đích có tính chất lịch sử của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cái cốt lõi của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được xác định, đó là quyền lực của nhân dân. Tất cả các công dân đều có quyền tham gia vào công việc của nhà nước. Dân chủ xã hội chủ nghĩa đồng nghĩa với tính chủ động sáng tạo của quần chúng nhân dân hết sức rộng rãi. Hệ thống dân chủ của chủ nghĩa xã hội xây dựng trên những điều kiện mới của sự phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Hình thức cơ quan lãnh đạo dân cử, quyền công dân, những thể chế và những yếu tố dân chủ được những lực lượng tiến bộ của xã hội xây dựng và bảo vệ. Các cơ quan chính quyền được bầu ra thông qua cuộc đầu phiếu phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, những hình thức dân chủ trực tiếp khác nhau cũng được phát triển rộng rãi, biểu hiện trong những hoạt động của các tổ chức xã hội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa tạo cho công dân những khả năng rộng rãi để tự do bày tỏ nguyện vọng và trình bày những ý kiến của mình về những vấn đề thuộc về đời sống xã hội. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa tuyên bố bảo đảm những quyền xã hội của công dân, quyền đi lại, lao động, nghỉ ngơi, học hành, quyền tham gia vào những vấn đề chính trị, xã hội.

Lực lượng chủ đạo của toàn bộ quá trình phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là Đảng Cộng sản. Nghị quyết, đường lối, chính sách của Đảng phản ánh những lợi ích của nhân dân.

Là một kiểu tổ chức dân chủ cao nhất của xã hội loài người, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa hình thành và đi qua những chặng đường đáng ghi nhớ. Những hình thức tổ chức đời sống chính trị mới được hình thành, những thể chế dân chủ được tạo nên, những truyền thống mới được xác lập.

Trong quá trình phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa luôn phải đấu tranh quyết liệt với nền dân chủ tư sản. Bằng những phương tiện thông tin đại chúng hiện đại, nền dân chủ tư sản rêu rao nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là không dân chủ. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận dân chủ xã hội chủ nghĩa để thấy tính hơn hẳn của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa so với nền dân chủ tư sản. Về thực tiễn, phải tiếp tục mở rộng hơn nữa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể hiện ở việc làm cho nhân dân ngày càng có điều kiện tham gia vào việc quản lý xã hội, tạo điều kiện cho bộ máy chính quyền nhà nước hoạt động ngày càng có hiệu quả, phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn. Hệ thống chính trị được tăng cường và bảo đảm. Dân chủ đã trở thành một đòi hỏi của quá trình phát triển xã hội.

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được thể hiện và thực hiện theo Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông nhân và tầng lớp trí thức”. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, quyền bình đẳng nam nữ, quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng tác, học tập… Để bảo đảm quyền làm chủ thật sự của nhân dân, Hiến pháp ghi rõ Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang được phát huy và đã gặt hái được những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Vai trò xã hội của nhân dân không ngừng được nâng cao. Quy chế dân chủ đang được xác lập ở từng cấp và đang được thực hiện ở cơ sở. Không khí dân chủ trong xã hội đang được phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Việt Nam đang từng bước khắc phục những hiện tượng vi phạm dân chủ ở cơ sở; làm rõ cơ sở lý luận dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện một đảng cầm quyền và nhiều đoàn thể nhân dân. Đẩy lùi được những hiện tượng quan liêu, tham nhũng, cơ hội chính trị, mất dân chủ sẽ dần dần làm cho bộ mặt dân chủ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam sáng lên trong lòng bầu bạn trên thế giới.

Thực hiện dân chủ phải đi đôi với việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước. Luật pháp của Nhà nước bảo đảm cho việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân. Sống và làm việc theo pháp luật chính là cơ sở pháp lý bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân.

Năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài: Dân vận. Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ”. Nội dung của một nước dân chủ là:

“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Trong quá trình hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân ta đang thực hiện lời giáo huấn của Người.

Dân Tộc Là Gì ? Các Khái Niệm Về Dân Tộc?

1. Khái niệm về dân tộc (cách hiểu về dân tộc):

Dân tộc (tộc người, ethnie) là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi 3 đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hoá và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử; ví dụ: dân tộc (hay tộc người) Việt, dân tộc (hay tộc người) Tày, dân tộc (hay tộc người) Khơ Me… Hình thức và trình độ phát triển của tộc người phụ thuộc vào các thể chế xã hội ứng với các phương thức sản xuất.

Dân tộc (nation) – hình thái phát triển cao nhất của tộc người, xuất hiện trong xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa (hình thái của tộc người trong xã hội nguyên thủy là bộ lạc, trong xã hội nô lệ và xã hội phong kiến là bộ tộc). Dân tộc đặc trưng bởi sự cộng đồng bền vững và chặt chẽ hơn về kinh tế, ngôn ngữ, lãnh thổ, các đặc điểm về văn hóa và ý thức tự giác tộc người.

So với bộ tộc thời phong kiến, dân tộc trong thời kì phát triển tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa có lãnh thổ ổn định, tình trạng cát cứ bị xoá bỏ, có nền kinh tế hàng hóa phát triển, thị trường quốc gia hình thành thống nhất, các ngữ âm, thổ ngữ bị xoá bỏ, tiếng thủ đô được coi là chuẩn và ngày càng lan rộng ảnh hưởng, sự cách biệt về văn hóa giữa các vùng, miền và giữa các bộ phận của tộc người bị xóa bỏ phần lớn, ý thức về quốc gia được củng cố vững chắc.

Cộng đồng dân tộc thường được hình thành hoặc từ một bộ tộc phát triển lên; hoặc là kết quả của sự thống nhất hai hay nhiều bộ tộc có những đặc điểm chung về lịch sử – văn hóa.

Ngoài những nét giống nhau trên, giữa dân tộc tư bản chủ nghĩa và dân tộc xã hội chủ nghĩa có những nét khác biệt nhau, do đặc điểm của phương thức sản xuất và thể chế xã hội. Ở dân tộc tư bản chủ nghĩa, xã hội phân chia đối kháng giai cấp giữa tư sản và vô sản, Nhà nước là của giai cấp tư sản, bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản. Còn ở dân tộc xã hội chủ nghĩa, xã hội không còn đối kháng giai cấp, quyền lực nhà nước thuộc về giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

3. Dân tộc (quốc gia dân tộc; ví dụ: dân tộc Việt Nam) là cộng đồng chính trị – xã hội, được hình thành do sự tập hợp của nhiều tộc người có trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau cùng chung sống trên một lãnh thổ nhất định và được quản lí thống nhất bởi một nhà nước. Kết cấu của cộng đồng quốc gia dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội của từng nước. Một quốc gia dân tộc có tộc người đa số và các tộc người thiểu số. Có tộc người đã đạt đến trình độ dân tộc, song nhiều tộc người ở trình độ bộ tộc. Với cơ cấu tộc người như vậy, quan hệ giữa các tộc người rất đa dạng và phức tạp. Nhà nước phải ban hành chính sách dân tộc để duy trì sự ổn định và phát triển của các tộc người, sự ổn định và phát triển của đất nước. Cũng có trường hợp, một quốc gia chỉ gồm một tộc người (Triều Tiên).

(Nội dung trên được đưa ra bởi: Từ điển luật học xuất bản năm 2010)

Khái niệm dân tộc trong tiếng Việt có thể đề cập đến các nghĩa sau:

+ Dân tộc (cộng đồng): theo nghĩa rộng là cộng đồng người có chung nền văn hóa, nhóm sắc tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc, lịch sử; đôi khi bao gồm nhiều nhóm sắc tộc. Dân tộc trong trường hợp quốc gia dân tộc còn được gọi là quốc dân.

+ Sắc tộc: chỉ nhóm xã hội được phân loại dựa trên nhiều nét chung như di sản văn hóa, nguồn gốc, lịch sử, ngôn ngữ hoặc phương ngữ.

Một số định nghĩa khác về dân tộc:

Dân tộc có thể chỉ một cộng đồng người chia sẻ một ngôn ngữ, văn hóa, sắc tộc, nguồn gốc, hoặc lịch sử. Tuy nhiên, nó cũng có thể chỉ những người có chung lãnh thổ và chính quyền (ví dụ những người trong một quốc gia có chủ quyền) không kể nhóm sắc tộc.

Trong trường hợp gắn liền với một quốc gia dân tộc, dân tộc còn được gọi là quốc dân. “Dân tộc” mang nhiều nghĩa và phạm vi nghĩa của thuật ngữ thay đổi theo thời gian.

Hầu hết mọi dân tộc sống trong một lãnh thổ cụ thể gọi là quốc gia. Một số dân tộc khác lại sống chủ yếu ngoài tổ quốc của mình. Một quốc gia được công nhận là tổ quốc của một dân tộc cụ thể gọi là “nhà nước – dân tộc”. Hầu hết các quốc gia hiện thời thuộc loại này mặc dù vẫn có những tranh chấp một cách thô bạo về tính hợp pháp của chúng. Ở các nước có tranh chấp lãnh thổ giữa các dân tộc thì quyền lợi thuộc về dân tộc nào sống ở đó đầu tiên. Đặc biệt ở những vùng người châu Âu định cư có lịch sử lâu đời, thuật ngữ “dân tộc đầu tiên” dùng cho những nhóm người có chung văn hóa cổ truyền, cùng tìm kiếm sự công nhận chính thức hay quyền tự chủ.

Khái niệm dân tộc, sắc tộc thường có nhiều cách sử dụng không thống nhất trên toàn thế giới:

Thường thì những thuật ngữ như dân tộc, nước, đất nước hay nhà nước được dùng như những từ đồng nghĩa. Ví dụ như: vùng đất chỉ có một chính phủ nắm quyền, hay dân cư trong vùng đó hoặc ngay chính chính phủ. Chúng còn có nghĩa khác là nhà nước do luật định hay nhà nước thực quyền. Trong tiếng Anh các thuật ngữ trên không có nghĩa chính xác mà thường được dùng uyển chuyển trong cách nói viết hàng ngày và cũng có thể giải nghĩa chúng một cách rộng hơn.

Khi xét chặt chẽ hơn thì các thuật ngữ “dân tộc”, “sắc tộc” và “người dân” (chẳng hạn người dân Việt Nam) gọi là nhóm thuộc về con người. “Nước” là một vùng theo địa lý, còn “nhà nước” diễn đạt một thể chế cầm quyền và điều hành một cách hợp pháp. Điều rắc rối là hai tính từ “quốc gia” và “quốc tế” lại dùng cho thuật ngữ nhà nước, chẳng hạn từ “luật quốc tế” dùng trong quan hệ giữa các nhà nước hoặc giữa nhà nước và các cá nhân, các công dân.

Thuật ngữ “dân tộc” thường dùng một cách ẩn dụ để chỉ những nhóm người có chung đặc điểm hay mối quan tâm.

1

Công tác dân tộc

Công tác dân tộc là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Nghị định 05/2011/NĐ-CP

6

Dân tộc thiểu số tại chỗ

Là đồng bào dân tộc thiểu số có nguồn gốc, tổ tiên sinh sống lâu đời trên địa bàn

Tỉnh Đắk Lắk

7

bao gồm các đề tài nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đề tài khoa học xã hội và nhân văn. Đề tài có thể độc lập hoặc thuộc dự án, chương trình.

10

Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ của Ủy ban Dân tộc

là những vấn đề khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước về công tác dân tộc cần giải quyết, được xác định, thực hiện theo quy định của Nhà nước về quản lý khoa học và công nghệ và những quy định tại Thông tư này;

11

Trường phổ thông dân tộc bán trú

là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này bao gồm trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú.

12

Trường phổ thông dân tộc bán trú

Là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập nhằm đáp ứng yêu cầu học tập của con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho địa phương, bao gồm: trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, các tỷ lệ này ổn định

Tỉnh Đắk Lắk

13

Vùng dân tộc thiểu số

Vùng dân tộc thiểu sốlà địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nghị định số 05/2011/NĐ-CP

Nguồn: Thư viện pháp luật

3. Đặc điểm các dân tộc ở Việt Nam

Nước ta là quốc gia đa dân tộc và có nhiều đặc điểm quan trọng, nổi bật. Trong đó cần chú ý các đặc điểm sau:

– Các dân tộc sinh sống trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết.

– Các dân tộc ở Việt Nam cư trú xen kẽ nhau.

– Các dân tộc ở Việt Nam trình độ phát triển kinh tế – xã hội không đều nhau.

– Sự phân bố dân cư không đều; trên vùng núi, biên giới, chủ yếu là các dân tộc thiểu số đang sinh sống.

4. Thế nào là công tác dân tộc? Các nguyên tắc cơ bản của dân tộc?

” Công tác dân tộc ” là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển, đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Tại Điều 3 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc quy định các nguyên tắc cơ bản sau:

– Thực hiện chính sách dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.

– Đảm bảo và thực hiện chính sách phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.

– Đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc.

– Các dân tộc có trách nhiệm tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

5. Các hành vi bị nghiêm cấm trong công tác dân tộc ở Việt Nam là gì?

Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

– Mọi hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử, chia rẽ, phá hoại đoàn kết các dân tộc.

– Lợi dụng các vấn đề về dân tộc để tuyên truyền xuyên tạc, chống lại đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

– Lợi dụng việc thực hiện chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về công tác dân tộc để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

– Các hành vi khác trái với quy định của Chính phủ.

Trân trọng./.

Sưng Amidan Nhưng Không Đau Có Nguy Hiểm & Cầntrị? Thuốc Dân Tộc

Sưng amidan nhưng không đau là triệu chứng khiến nhiều người bệnh lo lắng vì biểu hiện khá… bất thường. Nguyên nhân là vì amidan khi sưng thường kèm theo triệu chứng đau rát rất khó chịu. Một số thông tin cho rằng điều này rất có thể là dấu hiệu của bệnh ung thư amidan. Quan trọng hơn hết là người bệnh cần được thăm khám và điều trị y tế để kịp thời ngăn chặn các diễn tiến xấu xảy ra.

Bị sưng amidan nhưng không đau là bệnh gì

Amidan là cơ quan nằm tại hệ hô hấp, khu vực cuống họng bên trái và phải đều có amidan tương ứng. Nhiệm vụ của amidan là giúp cơ thể chống lại các tác nhân có hại xâm nhập qua đường ăn, đường thở, trước khi chúng có cơ hội xâm nhập vào cơ thể. Tuy nhiên, do amidan nằm tại vị trí giao thoa này mà chúng cũng dễ bị tấn công và gây sưng viêm. Triệu chứng thường gặp nhất khi bị sưng amidan là cơn đau rát khó chịu ở 2 bên hầu họng.

Đối với những người bị sưng amidan nhưng không có biểu hiện đau đến từ nhiều nguyên nhân. Có thể là do vệ sinh răng miệng kém, hoặc do điều kiện thời tiết thay đổi đột ngột, sức đề kháng yếu, hoặc do hút thuốc lá nhiều cũng sẽ gây tổn thương viêm amidan và sưng lên trong thời gian ngắn. Không chỉ là biểu hiện của tổn thương do tiếp xúc với một số tác nhân gây kích ứng. Sưng amidan nhưng không đau còn có thể là dấu hiệu cảnh báo các bệnh lý như:

Triệu chứng phì đại amidan

Hiện tượng phì đại amidan là đặc trưng của triệu chứng nhiễm trùng. Biểu hiện là tình trạng amidan sưng to lên một cách bất thường. Ở dạng cấp tính, tình trạng sưng có thể tiến triển trong 1 – 2 ngày và tự biến mất nếu người bệnh có sức đề kháng tốt. Tuy nhiên nếu là phì đại mãn tính, amidan sưng do nhiễm trùng tái phát nhiều lần hoặc là do hội chứng trào ngược dạ dày mãn tính.

Nhìn chung tình trạng phì đại amidan không quá nguy hiểm. Bệnh không gây đau rát hay chảy máu, không gây sốt cho bệnh nhân như khi sưng amidan bình thường. Tuy nhiên tình trạng diễn biến kéo dài sẽ khiến người bệnh bị khàn giọng, ngưng thở khi ngủ và gặp khó ăn khi ăn uống.

Dấu hiệu ung thư amidan

Triệu chứng sưng amidan nhưng không đau có thể xảy ra do ung thư. Thông thường, ung thư amidan tương đối hiếm gặp, thường xảy ra khi có khối u ác tính xuất hiện tại amidan. Triệu chứng gây sưng to ở amidan và không gây đau. Có thể nhận diện đặc trưng qua sự không đồng nhất về kích thước giữa 2 amidan. Kèm theo đó là những triệu chứng như khó thở, người bệnh khó nuốt, nhạt miệng, khô miệng, nước bọt có lẫn máu,…

Mặc dù hiếm gặp nhưng bệnh ung thư amidan có thể xuất phát từ những nguyên nhân đơn giản. Đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cao là người thường xuyên hút thuốc lá trong thời gian dài, lạm dụng rượu bia, vệ sinh răng miệng kém. Hoặc những người bị nhiễm virus HPV chủng 16 và 18 cũng có nguy cơ bị bệnh ung thư amidan.

Amidan sưng nhưng không đau có tự khỏi được không?

Tình trạng sưng amidan nhưng không đau có tự khỏi không sẽ tùy thuộc từng trường hợp. Các bác sĩ đã phân chia hiệu quả điều trị theo từng đặc điểm sau:

Trường hợp 1:Bệnh nhân bị sưng amidan không đau, nguyên nhân do virus, mức độ viêm amidan tương đối nhẹ thì không cần dùng thuốc kháng sinh. Triệu chứng có thể tự khỏi sau 4 -5 ngày. Tuy nhiên, đối với những trường hợp người bệnh bị sưng viêm amidan kèm theo sốt vẫn phải sử dụng thuốc hạ sốt nếu áp dụng các cách hạ sốt cơ bản không có chiều hướng giảm.

Trường hợp 2: Bệnh nhân bị sưng amidan do thời tiết thay đổi, triệu chứng phụ của cảm cúm, cảm lạnh,… cần được điều trị bệnh kịp thời. Bởi vì amidan bị sưng chỉ mới là dấu hiệu khởi phát, cho thấy hệ miễn dịch của người bệnh đang bị tấn công. Nếu như bệnh phát triển nặng hơn, những triệu chứng khác sẽ lần lượt xuất hiện như tình trạng viêm rát họng, đau họng, sốt, nổi hột trong họng,…

Đặc biệt đối với bệnh nhân bị viêm amidan nhưng không sưng, triệu chứng do vi khuẩn gây ra cần được điều trị bằng thuốc kháng sinh để tránh biến chứng áp xe amidan tại chỗ, viêm xoang, thấp khớp,… Kết hợp với điều trị bằng thuốc, người bệnh cần chủ động xây dựng chế độ dinh dưỡng nghỉ ngơi hợp lý bệnh bệnh được chữa khỏi. Đặc biệt, người bệnh nhân cũng có thể dùng nước muối để ngậm giúp cải thiện tình trạng sưng, viêm amidan.

Sưng amidan nhưng không đau có nguy hiểm không?

Bên cạnh đó, đối trường trẻ em bị sưng amidan phải đối mặt với nhiều biến chứng nghiêm trọng hơn nếu như không sớm điều trị đúng cách. Những biến chứng do bệnh phì đại amidan gây ra gồm có ngưng thở thời gian ngăn làm hạn chế oxy lên não, người bệnh bị suy giảm khả năng miễn dịch, tăng huyết áp, mở rộng tim, rối loạn hành vi…. Nhìn chung hệ hô hấp chính là cơ quan chịu ảnh hưởng lớn nhất nếu bệnh nhân bị sưng amidan do phình mạch.

Tình trạng bệnh nhân trở nên nghiêm trọng hơn khi amidan bị sưng nhưng không đau do ung thư. Bệnh có thể gây ra những biến chứng rất nguy hiểm với tỷ lệ tử vong cao. Trong giai đoạn sớm, nếu phát hiện ung thư amidan sớm và can thiệp kịp thời thì sức khỏe bệnh nhân vẫn có thể kiểm soát được. Tuy nhiên nếu các tế bào ung thư di căn sẽ trở nên rất nguy hiểm. Chúng có thể tàn phá các cơ quan lân cận như hầu, lưỡi, vòm họng, phổi hay xương.

Cách xử lý khi bị sưng amidan nhưng không đau

Để xử lý đúng cách khi bị sưng amidan nhưng không đau, đầu tiên người bệnh cần can thiệp để ngăn chặn tổn thương và phòng ngừa hư hại. Những biện pháp đối phó ban đầu gồm có:

Thăm khám và chẩn đoán

Nhiễm trùng liên cầu khuẩn (Streptococcus) và ung thư amidan là các bệnh lý nguy hiểm cần phòng tránh đầu tiên nếu có biểu hiện sưng amidan không đau. Nếu không được điều trị sớm, bệnh có thể gây ra biến chứng nặng nề và đe dọa đến tính mạng. Bạn nên chủ động thăm khám và điều trị sưng amidan sớm, ngay cả khi tình trạng sưng không kèm đau nhức, sốt, hay ho. Việc chủ quan là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều căn bệnh mạn tính ở hệ hô hấp.

Trong quá trình chẩn đoán, để đưa ra kết quả chính xác, các bác sĩ có thể sinh thiết mô amidan, tiến hành xét nghiệm máu, heterophil, monospot, hoặc thực hiện xét nghiệm kháng thể EBV,… Quá trình chẩn đoán nhằm giúp bác sĩ đánh giá chính xác bệnh lý mà bạn mắc phải.

Sử dụng thuốc Tây

Tình trạng amidan sưng nhưng không đau do virus không có thuốc điều trị đặc hiệu. Tuy nhiên nếu sử dụng kháng sinh trị đúng bệnh, triệu chứng có thể thuyên giảm sau 5 – 10 ngày.

Nếu như amidan bị phì đại là do dị ứng thì bác sĩ điều trị có thể kê toa các loại thuốc corticosteroid dạng xịt cho mũi. Đồng thời sử dụng các thuốc kháng Histamine với mục đích chính là hỗ trợ khắc phục triệu chứng.

Phương pháp phẫu thuật

Mục đích của phẫu thuật cắt amidan giúp cải thiện tình trạng ngưng thở khi ngủ hay khó thở, gây thiếu oxy lên não. Bệnh nhân được phẫu thuật loại bỏ tuyến adenoid nằm ở phía sau mũi gần vòm miệng. Phẫu thuật đơn giản, không gây tổn thương hay biến chứng hậu phẫu, thời gian hồi phục khoảng 7 – 10 ngày.

Đối với bệnh nhân bị ung thư amidan, thực hiện phẫu thuật để loại bỏ tận gốc khối u ác tính. Phương pháp phẫu thuật phù hợp với từng đặc điểm về kích thước, cũng như độ nghiêm trọng của khối u. Bệnh nhân thường bị ảnh hưởng đến giọng nói và khả năng phát âm sau phẫu thuật cắt bỏ khối u.

Chữa sưng amidan bằng dân gian

Người bệnh hoàn toàn có thể áp dụng các phương pháp dân gian chữa sưng amidan nhưng không đau do dị ứng hoặc virus. Trong đó những những phương thuốc thường

Dùng rau húng tần

Trong Đông y ghi nhận, rau húng tần (húng chanh) có vị cay, ấm, hơi chua, tác dụng chính là lợi phế, trừ đờm, hỗ trợ thanh nhiệt và giải độc. Ngoài ra thì loại dược liệu này còn được sử dụng để điều trị viêm họng, viêm amidan và chữa chứng cảm lạnh.

Theo nhận định của các chuyên gia, rau húng tần có chứa thành phần hoạt chất colein. Hiệu quả chính của hoạt chất này là làm ức chế vi khuẩn nên rau húng tần có hiệu quả tương tự như kháng sinh. Nhờ đó mà dược liệu có thể giảm nhanh các triệu chứng sưng viêm ở amidan và hầu họng.

Cách thực hiện: Bệnh nhân chuẩn bị khoảng 1 nắm lá húng tần và đường phèn vừa đủ. Đem húng tần thái sợ rồi cho vào chén chưng cách thủy cùng đường phèn trong vòng 10 phút. Sau khi hấp, bệnh nhân lọc bỏ bã và lấy nước uống. Thực hiện bài thuốc mỗi ngày 2 lần.

Cách thực hiện: Sử dụng 2 thìa cà phê mật ong và 3 tép tỏi tươi, cắt thành lát mỏng và cho mật ong vào để trong 10 phút. Lọc hỗn hợp lấy nước uống 2 – 3 lần mỗi ngày có thể hỗ trợ điều trị chứng amidan sưng to.

Dùng gừng tươi

Một cách giảm sưng amidan có công dụng rất hiệu quả là dùng gừng. Trong ghi nhận dân gian, gừng là nguyên liệu có vị cay nồng, tính ấm, công dụng chính là chỉ thống (giảm đau), giải cảm, đồng thời gừng cũng hỗ trợ giảm ho và chống tiêu viêm. Thành phần gingerol trong gừng còn được chứng minh có hiệu quả chữa viêm amidan hiệu nghiệm.

Theo ghi nhận của Tây Y, một vài hợp chất thực vật có trong gừng có tác dụng kiểm soát nồng độ enzyme cyclooxygenase và cải thiện hiện tượng viêm và cải thiện cơn đau.

Cách thực hiện: Chuẩn bị 1 củ gừng tươi và 2 thìa mật ong nguyên chất. Đầu tiên cạo vỏ gừng, đập dập và ngâm trong hỗn hợp mật ong trong vòng 15 phút. lọc lấy nước pha cùng nước ấm uống trực tiếp, còn bã dùng ngậm dần trong 30 phút.

Phương pháp chăm sóc tại nhà

Song song với việc điều trị bằng thuốc dân gian, thuốc tây y kể trên, bệnh nhân nên lưu ý chăm sóc tại nhà đúng cách để mang lại hiệu quả điều trị tích cực. Cụ thể những biện pháp chăm sóc cho người bị sưng amidan nhưng không đau gồm:

Người bệnh nên chú ý nghỉ ngơi, hạn chế làm việc quá sức trong thời gian này.

Mỗi ngày người bệnh cần uống đủ 2 lít nước và bổ sung thêm nước ép để phòng khô họng.

Vệ sinh răng miệng thường xuyên, chải răng và súc miệng bằng nước muối 2 lần/ ngày để loại bỏ vi khuẩn, virus..

Bổ sung các loại thực phẩm giàu dinh dưỡng, chủ yếu là đạm, chất xơ và vitamin hỗ trợ đề kháng.

Hạn chế tiếp xúc với người khỏe mạnh để không lây nhiễm virus cho đối phương.

Kiêng cữ những hoạt động ngoài trời, nên giữ ấm cho cơ thể – đặc biệt là vùng cổ.

Hạn chế tiếp xúc với những tác nhân kích thích như bụi bẩn, hóa chất, khói thuốc lá, nấm mốc,…

Mất Ngủ Có Phải Sắp Sinh Không? Thuốc Dân Tộc

Mất ngủ là một hiện tượng phổ biến mà bất kỳ ai cũng sẽ gặp phải ít nhất một lần trong đời. Tuy nhiên đối với phụ nữ mang thai, nhiều thông tin cho rằng đây là dấu hiệu chuyển dạ mà người mẹ nên cảnh giác. Cụ thể mất ngủ có phải sắp sinh không, bài viết sẽ thông tin cụ thể về vấn đề này để bạn đọc hiểu rõ.

Mang thai là một hành trình dài mà người phụ nữ sẽ đối mặt với nhiều hiện tượng mới mẻ. Một số thai phụ có thể thích nghi tốt sẽ nhanh chóng làm quen với chúng, tuy nhiên với đa số chị em mang thai lần đầu sẽ gặp nhiều khó khăn và mệt mỏi khi trải qua thai kỳ đầu tiên . Tình trạng mất ngủ về đêm thường xảy ra trong thai kỳ, đặc biệt là trong giai đoạn 3 tháng cuối.

Tình trạng mất ngủ chóng mặt có phải sắp sinh hay không, đây là câu hỏi được đặt ra mà rất nhiều người mẹ quan tâm trong giai đoạn “nước rút”. Thực tế mất ngủ chỉ là một triệu chứng nằm trong số những khó chịu xảy ra trong thai kỳ, cùng với tình trang mất ngủ thì những triệu chứng khó chịu mà chị em còn dễ gặp phải nữa là tình trạng đau đầu, chuột rút, kèm theo triệu chứng đầy hơi, ợ nóng, rối loạn tiêu hóa…

Nhiều mẹ bầu cảm thấy khó ngủ hơn trong những tháng cuối, kèm theo đó là tình trạng ngủ không sâu giấc, tinh thần thấp thỏm khi ngủ,thức giấc liên tục giữa đêm… Theo các chuyên gia, điều này là do những ảnh hưởng từ tâm lý lo lắng của người mẹ trong những tháng cuối. Một phần do ảnh hưởng của tâm sinh lý, do nội tiết tố của người mẹ sẽ thay đổi trong 3 tháng cuối sinh ra những ảnh hưởng đến giấc ngủ.

Nghiên cứu đã chứng minh, giấc ngủ chịu ảnh hưởng lớn từ não bộ, cùng với hoạt động trao đổi chất. Nếu như cơ thể không được nghỉ ngơi tốt, các cơ quan không hoạt động đúng nhịp đồng hồ sinh học thì bạn khó có giấc ngủ ngon. Vì thế thông tin mất ngủ là dấu hiệu sắp sinh là không chính xác, không chỉ vậy nhiều người mẹ còn tỏ ra căng thẳng hơn khi mình bị mất ngủ, gây tác động tiêu cực đến sức khỏe. Không chỉ xảy ra trong những tháng cuối mà mất ngủ còn xảy ra trong bất kỳ giai đoạn nào của thai kỳ.

Sắp sinh có dấu hiệu gì?

Tình trạng mất ngủ là một trong những ảnh hưởng từ những thay đổi về tâm sinh lý trong cuối thai kỳ. Thực tế đây không phải là một dấu hiệu chính xác để đánh giá thời điểm chuyển dạ của người mẹ. Theo các chuyên gia bác sĩ, dấu hiệu sắp sinh có biểu hiện rõ nhất và chính xác nhất ở những cơn gò chuyển dạ và máu báo sắp sinh.

Dấu hiệu cận thời điểm sinh nở chính xác 90% là tình trạng vỡ ối, khi mẹ bầu nhận thấy cảm giác vỡ màng ối và có lượng nước lỏng, màu đục rỉ ra từ vùng kín. Khi có biểu hiện này, trong vòng 6 – 24h sau sản phụ có thể chuyển dạ sinh con. Kèm theo đó người mẹ cũng có thể cảm nhận những cơn co thắt ở tử cung rất rõ rệt. Các cơn co này tương tự như cơn đau bụng kinh nhưng thường đau hơn và xuất hiện với tần suất liên tục. …

Trước đó nhiều ngày, biểu hiện sắp sinh của sản phụ thường không cụ thể. Có nhiều trường hợp đột ngột tiêu chảy và tiểu nhiều hơn trước khi sinh. Nhiều người mẹ khác bị đau mỏi lưng và chuột rút. Vì thế nên triệu chứng nhận biết sắp sinh sớm rất mờ nhạt và không đảm bảo chắc chắn.

Nguyên nhân gây mất ngủ khi mang thai

Tình trạng lo lắng và căng thẳng quá mức được xem là một trong những nguyên nhân gây mất ngủ phổ biến ở phụ nữ mang thai. Do những mệt mỏi ngày càng tăng trong những tháng cuối, hoặc do hormone thai kỳ khiến người mẹ thay đổi tâm trạng mà thai phụ sẽ dễ nổi nóng hơn. Đồng thời bà bầu cũng thường gặp phải tình trạng mất kiên nhẫn với những chuyện nhỏ nhặt, đồng thời cảm giác thấp thỏm hiện diện thường xuyên cũng gây cản trở giấc ngủ của người mẹ.

Mang thai khiến cho tâm sinh lý của người mẹ gặp nhiều bất thường. Thai phụ có rất nhiều vấn đề phải nghĩ đến, như theo dõi thai nhi, lo lắng về những dấu hiệu chuyển dạ và kế hoạch sau khi sinh con,… Kết hợp với tình trạng mệt mỏi, đau nhức cơ thể dồn dập khi thai nhi phát triển lớn sẽ làm người mẹ chịu nhiều áp lực. Stress, căng thẳng hay nghiêm trọng hơn là vấn đề trầm cảm khi mang thai sẽ là các căn nguyên chủ yếu gây ra hiện tượng mất ngủ.

Mất ngủ ở phụ nữ mang thai cũng có thể xuất phát từ tình trạng rối loạn tiêu hóa. Khi thai nhi bắt đầu phát triển lớn hơn về kích thước, đặc biệt là những giai đoạn cuối thai kỳ sẽ tạo ra sự chèn ép lên hệ thống tiêu hóa và bàng quang. Tình trạng này sẽ gây tắc nghẽn hoạt động tiêu hóa, thời gian xử lý thức ăn cũng lâu hơn. Những biểu hiện của rối loạn tiêu hóa thường gặp nhất là tình trạng đầy bụng, khó tiêu, ợ nóng, táo bón hoặc tiêu chảy….

Nếu như triệu chứng này diễn ra về đêm sẽ khiến thai phụ khó chịu và mất ngủ. Bên cạnh đó, nhiều người mẹ ăn muộn vào ban đêm hoặc do ăn quá no mà cơ thể không xử lý kịp, từ đó không thể hấp thụ hết chất dinh dưỡng gây tồn đọng và sản sinh năng lượng trong khi cơ thể đang cần nghỉ ngơi. Vì thế vai trò của việc ăn uống đúng giời và hạn chế ăn quá no phần nào có thể giúp cải thiện các vấn đề ở hệ tiêu hóa, nhờ đó mà thai phụ sẽ ngủ ngon giấc hơn. Nếu như đói bụng, cách tốt nhất là bạn nên uống một cốc sữa nóng, điều này sẽ giúp làm dịu cơn cồn cào ở dạ dày và đồng thời giúp bạn dễ chịu hơn.

Áp lực từ vòng bụng lớn sẽ gây khó khăn cho hệ hô hấp của người mẹ. Cùng với sự thay đổi hormone khi mang thai cũng có thể khiến khả năng hô hấp của người mẹ bị hạn chế. Khi nằm ngủ, thai phụ chỉ có thể nằm nghiêng, từ đó mà hoạt động của tim có thể bị chèn ép, lưu thông máu đến các cơ quan bị tắc nghẽn, đặc biệt là đường khí quản đến hệ hô hấp dưới.

Trong những tháng cuối, hoạt động của cơ hoành có thể gây ra những khó chịu nhất định đến giấc ngủ. Hơi thở nặng nề cũng đồng nghĩa với việc thai phụ sẽ phải thở nhiều hơn để lấy đủ oxy cung cấp cho cơ thể. Một số nghiên cứu chứng minh , người mẹ có thể tăng đến 40% dung tích hơi thở trong quá trình mang thai, tuy nhiên lượng oxy cơ thể nhận được chỉ khoảng một nửa. Đồng thời khi thở ra, bầu không khí xung quanh người mẹ sẽ có nhiều carbon dioxide hơn so với bình thường. Nếu để oxy thấp hơn so với mức trung bình mà cơ thể đòi hỏi, bà bầu sẽ cảm thấy tình trạng hoa mắt, chóng mặt, các chi và cơ đau nhức mệt mỏi, ảnh hưởng tới chất lượng giấc ngủ.

Mất ngủ ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe thai kỳ?

Như đã đề cập, mất ngủ không phải là dấu hiệu cho thấy thai phụ sắp sinh. Ngược lại nếu như bà bầu trở nên quá lo lắng về vấn đề này thì tình trạng căng thẳng về tinh thần sẽ càng nghiêm trọng, điều này càng khiến chị em khó ngủ hơn. Nhiều chị em có chiều hướng xem nhẹ tình trạng mất ngủ, tuy nhiên những ảnh hưởng nghiêm trọng đến thai kỳ mà chị em cần phòng tránh gồm có:

Cơ thể mệt mỏi, kiệt sức: Khi mang thai, lưu lượng máu được sản sinh và lưu thông sẽ tăng lên rất nhanh, đồng thời các hoạt động của những cơ quan trong cơ thể cũng sẽ vận hành liên tục. Vì thế giấc ngủ là cơ hội hiếm hoi và duy nhất để những cơ quan này nghỉ ngơi và tái tạo năng lượng. Nếu như thiếu ngủ liên tục, thai phụ dễ gặp phải tình trạng uể oải, mệt mỏi, thiếu tập trung, nguy hiểm nhất là nguy cơ té ngã do choáng, suy nhược cơ thể…

Gia tăng nguy cơ khó sinh: Các nghiên cứu đã chứng minh ở những người mẹ có thời gian ngủ càng ít sẽ càng tăng nguy cơ sinh khó, điều này sẽ làm tăng khả năng sinh mổ cho thai phụ. Thiếu ngủ khiến cơ thể người mẹ không đảm bảo đủ điều kiện về sức khỏe, trong khi đó quá trình sinh nở tự nhiên cần người mẹ có nhiều sức lực để đưa em bé ra ngoài an toàn.

Tăng nguy cơ thiếu máu: Thai phụ thiếu ngủ có nguy cơ thiếu máu cao, điều này rất nguy hiểm trong những tháng cuối thai kỳ. Theo các chuyên gia sức khỏe, thời gian trao đổi chất và tạo máu đỉnh điểm từ 23 giờ – 3 giờ sáng. Nếu như bỏ lỡ thời gian nghỉ ngơi này thì khả năng thai phụ bị hụt lượng máu nhất định, từ đó gây ra tình trạng mệt mỏi, cả mẹ và thai nhi đều có khả năng bị thiếu máu.

Cân nặng thai nhi giảm sút: Như đã đề cập, thiếu máu là hệ lụy của tình trạng mất ngủ nhiều ngày liền ở người mẹ. Đồng thời điều này cũng ảnh hưởng đến cân nặng của thai nhi. Khi thiếu máu thì hormone tuyến yên tăng cao, điều này ức chế khả năng hấp thụ dinh dưỡng của thai nhi. Người mẹ tăng hormone ở tuyến yên cũng sẽ nảy sinh tâm lý chán ăn, không nạp đủ dưỡng chất cần thiết cho em bé.

Tâm lý của trẻ sau khi sinh: Ở những người mẹ mất ngủ thường xuyên trong thai kỳ, khi sinh con ra đứa bé cũng dễ bị ảnh hưởng bởi tính cách của người mẹ. Sự liên kết giữa mẹ và bé thông qua các dây thần kinh và nhiều mối liên kết vô hình khác, vì thế khi tình trạng thiếu ngủ khiến người mẹ mệt mỏi, cáu gắt, stress… thì em bé chào đời có khả năng quấy mẹ nhiều hơn.

Mất ngủ khi mang thai phải làm sao?

Bên cạnh mối bận tâm mất ngủ có phải dấu hiệu sắp sinh không, nhiều thai phụ cũng lo lắng về tình trạng ngủ không đủ giấc mà ảnh hưởng đến thai nhi. Để ngủ ngon giấc thì những việc mà bạn nên làm là:

Nhiều mẹ bầu không chú trọng đến giấc ngủ mà thường thức quá khuya. Các chuyên gia cho rằng thai phụ không nên trì hoãn thời gian lên giường. Tuyệt đối không nên ép bản thân phải ngủ sớm nhưng càng không nên thức khuya, đặc biệt là khi bà bầu thức khuya để xem điện thoại sẽ ảnh hưởng xấu đến thai nhi và sau đó bà bầu cũng sẽ khó ngủ hơn. Việc thức khuya dễ làm hệ thần kinh của mẹ bầu bị căng thẳng và khó chịu. Vì thế người mẹ sẽ cần nghỉ ngơi nhiều hơn vào đêm hôm sau, và từ đó gây ra tình trạng trái giấc.

Nhiều thai phụ dành thời gian ngủ ngày nhiều hơn do ban đêm mẹ ngủ không ngon giấc. Đồng thời vào ban ngày cũng là thời gian mà người mẹ rất dễ bị mất sức và mỏi mệt. Vì thế việc ngủ ngày quá nhiều dễ dẫn đến hiện tượng mất ngủ vào tối cùng cùng ngày. Tốt nhất nếu như bà bầu cảm thấy mệt, chỉ nên nhắm mắt trong khoảng 5-10 phút, đồng thời sau 6 giờ tối mẹ bầu cũng không nên ngủ giấc ngắn bởi điều này cũng sẽ gây khó khăn cho giấc ngủ ban đêm.

Để không xảy ra tình trạng thao thức khi ngủ, bạn nên hạn chế những hoạt động thể thao quá sức hoặc kích động trước giờ ngủ. Nếu như bạn muốn tiêu hóa thức ăn, có thể chỉ cần đi bộ quanh nhà sau khi ăn thay vì chạy bộ. Ngoài ra bạn cũng nên hạn chế tập các bài tập tại giường hay xem những bộ phim có cảm xúc mạnh, điều này sẽ gây ảnh hưởng đến tâm lý và kích thích hệ thần kinh gây khó ngủ. Thai phụ cũng có thể ngồi thiền, hoặc nằm thư giãn trước khi ngủ , điều này cũng sẽ giúp ngăn ngừa tình trạng chuột rút xảy ra, đây cũng là nguyên nhân khiến đa số phụ nữ mang thai 3 tháng cuối thức giấc về đêm.

Nhiệt độ cũng ảnh hưởng rất lớn đến giấc ngủ của thai phụ. Để có giấc ngủ ngon, bạn hãy điều chỉnh nhiệt độ phòng hoặc nhiệt độ máy lạnh sao cho mát mẻ nhất. Bằng cách này sẽ giúp cơ thể bạn thấy dễ chịu hơn, đồng thời đảm bảo cho sức khỏe và thân nhiệt của bạn được bảo vệ tốt. Đây cũng là nguyên nhân vì sao mà thai phụ thường dễ bị mất ngủ nếu thời tiết nóng bức, hoặc do ảnh hưởng của độ ẩm. Khi đi ngủ, để cơ thể lưu thông không khí, trao đổi chất tốt thì bạn nên mặc những bộ quần áo có chất liệu thoáng mát, khi cơ thể được thoải mái và không bí mồ hôi thì bạn cũng sẽ dễ chìm vào giấc ngủ hơn.

Nhiều mẹ bầu do chỉ nằm ngủ nghiêng sang một bên mà rất khó chịu, bực tức, từ đó khiến tinh thần không được thoải mái khi ngủ. Các chuyên gia nhận định tư thế ngủ tốt nhất là khi người mẹ nghiêng về bên trái, lúc này thai phụ sẽ không bị khó thở và đồng thời còn giúp hỗ trợ máu và oxy truyền đến thai nhi tốt hơn. Để dễ ngủ hơn thì bà bầu nên chuẩn bị loại gối dành cho bà bầu dùng riêng trong những thai kỳ cuối.

Thai phụ tuyệt đối không nằm ngửa hoặc nằm sấp vì những tư thế này sẽ tạo áp lực rất lớn cho thai nhi. Nếu như không chú ý, nằm đè lên bụng bầu trong những tháng cuối có thể khiến bọc ối vỡ sớm và người mẹ có thể sinh sớm hơn dự kiến.

Chế độ dinh dưỡng của bạn cũng có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ. Để có giấc ngủ ngon, các chuyên gia khuyến khích bà bầu không nên uống nhiều nước hay ăn những thực phẩm khó tiêu trước khi ngủ. Thay vào đó người mẹ chỉ nên uống một cốc sữa ấm và ăn các loại thức ăn nhẹ giàu carbohydrate, như bánh quy giòn, các loại hạt sấy khô,… Nếu như bụng đói, thai phụ cũng có thể dùng thêm một ít thịt gà nạc hoặc ngũ cốc giàu protein, nhằm đảm bảo lượng đường trong máu được duy trì ở mức cân bằng. Bằng cách này sẽ giúp hỗ trợ quá trình trao đổi chất diễn ra thuận lợi trong khi thai phụ ngủ.

Bài viết đã giải đáp thắc mắc mất ngủ có phải sắp sinh không. Khi sắp chuyển dạ, bất kỳ phụ nữ nào cũng sẽ nhận thấy những biểu hiện giống hoặc khác nhau. Vì thế thai phụ cần căn cứ vào nhiều biểu hiện cùng lúc để chắc chắn về khả năng sắp sinh của mình để có thể kịp thời xử lý phù hợp.

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Biệt Vùng Miền, Dân Tộc – Biểu Hiện Của Chủ Nghĩa Cá Nhân, Cục Bộ; Nguy Cơ Gây Mất Đoàn Kết Dân Tộc, Hiểm Họa Đối Với Nền An Ninh Quốc Gia. trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!