Xu Hướng 3/2023 # Phải Chăng Việt Nam Đang Đi Theo Con Đường Tư Bản Chủ Nghĩa Và Trá Hình Chủ Nghĩa Xã Hội ? # Top 10 View | Channuoithuy.edu.vn

Xu Hướng 3/2023 # Phải Chăng Việt Nam Đang Đi Theo Con Đường Tư Bản Chủ Nghĩa Và Trá Hình Chủ Nghĩa Xã Hội ? # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Phải Chăng Việt Nam Đang Đi Theo Con Đường Tư Bản Chủ Nghĩa Và Trá Hình Chủ Nghĩa Xã Hội ? được cập nhật mới nhất trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Phải chăng Việt Nam đang đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và trá hình chủ nghĩa xã hội ?

1. Một số luận điểm sai trái, thù địch về chủ nghĩa xã hội

Ngay từ khi mới ra đời cho đến ngày nay, chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung, chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng đã bị các thế lực thù địch chống phá quyết liệt. Đặc biệt sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào thoái trào, không ít người cho rằng chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung; chủ nghĩa xã hội chỉ là ảo tưởng không bao giờ thực hiện được.

Có rất nhiều quan điểm phê phán con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; nhất là vào những thời điểm có tính quyết định về đường hướng phát triển đất nước. Chẳng hạn, sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội; thời điểm chuẩn bị và thông qua Cương lĩnh năm 1991; thời điểm chuẩn bị và thông qua Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011); thời điểm tiến hành các đại hội; thời điểm thông qua Hiến pháp, v.v..

Những năm gần đây, một số ý kiến cho rằng “Việt Nam kiên định con  đường đi lên chủ nghĩa xã hội là đi theo vết xe đổ của Liên Xô”, “Việt Nam đang phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa; ở Việt Nam chủ nghĩa tư bản đang diễn ra một cách cuồng nhiệt”, v.v..

Trước Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch tiếp tục đưa ra các quan điểm tấn công, xuyên tạc mô hình và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Khái quát lại có hai loại quan điểm chính: Một là, Việt Nam bỏ qua chế độ tư bản là trái quy luật, là duy ý chí nên chỉ thất bại; Hai là, Việt Nam đang đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và trá hình chủ nghĩa xã hội.

2. Luận cứ phê phán quan điểm cho rằng Việt Nam bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là trái quy luật, là duy ý chí nên chỉ thất bại

Quan điểm trên hoàn toàn sai trái. Xin nêu những luận cứ chủ yếu.

Một là, Việt Nam bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tiến lên chủ nghĩa xã hội là hợp quy luật phát triển của lịch sử

Xã hội loài người phát triển trải qua nhiều hình thái kinh tế – xã hội nối tiếp nhau. Trên cơ sở tổng kết sự phát triển của xã hội loài người, phát hiện ra các quy luật vận động, phát triển khách quan của xã hội loài người, C. Mác đã rút ra kết luận: “Sự phát triển của những hình thái kinh tế – xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”[1]. Các hình thái kinh tế – xã hội vận động, phát triển theo các quy luật khách quan, chứ không phải theo ý chí chủ quan của con người. V.I. Lênin viết: “Mác coi sự vận động xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên, chịu sự chi phối của những quy luật không những không phụ thuộc vào ý chí, ý thức và ý định của con người mà trái lại, còn quyết định ý chí, ý thức và ý định của con người”[2].

Sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế – xã hội vừa bị chi phối bởi các quy luật phổ biến, vừa bị chi phối bởi các quy luật đặc thù. Các quy luật phổ biến là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, v.v.. Sự tác động của các quy luật khách quan làm cho các hình thái kinh tế – xã hội phát triển thay thế nhau từ thấp đến cao, đó là con đường phát triển chung của lịch sử xã hội loài người.

Tuy nhiên, con đường phát triển của mỗi dân tộc không chỉ bị chi phối bởi các điều kiện phát triển cụ thể của mỗi dân tộc, như về điều kiện tự nhiên, về chính trị, về truyền thống văn hóa, về tác động quốc tế,… Vì vậy, lịch sử phát triển của xã hội loài người còn tuân theo những quy luật đặc thù, rất phong phú, đa dạng. V.I. Lênin chỉ rõ: “Tính quy luật chung của sự phát triển trong lịch sử toàn thế giới đã không loại trừ mà trái lại, còn bao hàm một số giai đoạn phát triển mang những đặc điểm hoặc về hình thức, hoặc về trình tự của sự phát triển đó”[3].

Tính đặc thù trong lịch sử phát triển xã hội loài người thể hiện ở hai điểm: (1) Cùng một hình thái kinh tế – xã hội nhưng ở các nước khác nhau có những hình thức cụ thể; (2) Có những dân tộc lần lượt trải qua tất cả các hình thái kinh tế – xã hội tuần tự từ thấp đến cao, nhưng cũng có những dân tộc bỏ qua một hay một số hình thái kinh tế – xã hội nào đó. Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã diễn ra như thế. Việc bỏ qua đó cũng diễn ra theo một quá trình lịch sử – tự nhiên, chứ không phải theo ý muốn chủ quan.V.I. Lênin đã phát triển sáng tạo lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Ông chỉ ra hai con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội: (1) Quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội. Đây là con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội đối với các nước tư bản chủ nghĩa; (2) Quá độ lên chủ nghĩa xã hội thông qua nhiều khâu trung gian, nhiều bước quá độ. Đây là con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội đối với các nước lạc hậu, kinh tế kém phát triển.

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, ngay từ Chánh cương vắn tắt, được thông qua tại Hội nghị hợp nhất ba tổ chức Cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng đã xác định làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. ĐếnCương lĩnh năm 1991, Đảng xác định: “Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội và đó là quy luật tiến hóa của lịch sử”[4]. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) một lần nữa khẳng định: “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”[5]; “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”[6].

Hai là, thực tiễn phát triển của cách mạng nước ta từ khi có Đảng Cộng sản lãnh đạo đã xác nhận: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn

Từ năm 1930 đến năm 1945, nhờ gắn vấn đề độc lập dân tộc với mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát huy được sức mạnh to lớn của dân tộc, tiến hành Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành được chính quyền trong cả nước.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 9 năm, từ 1945 đến năm 1954, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ. Đó là kết quả của đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, năm 1954 miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, Đảng xác định nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của cách mạng cả nước. Với đại thắng mùa Xuân năm 1975, miền Nam được giải phóng, thống nhất đất nước, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là thắng lợi của độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Đại hội VI của Đảng (năm 1986) – Đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới. Đến nay, công cuộc đổi mới đã qua 35 năm và 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay.

Những thành tựu của 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ  nghĩa xã hội đã khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử.

Ba là, không thể có sự lựa chọn nào khác

Nhân dân Việt Nam đã từng sống cơ cực dưới ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, đã thấy rõ mặt trái của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản có vai trò to lớn trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Hiện nay, chủ nghĩa tư bản vẫn còn khả năng tự điều chỉnh để tồn tại và phát triển, đạt được những thành tựu to lớn trong lĩnh vực kinh tế, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, nhưng bản chất của chủ nghĩa tư bản vẫn không thay đổi. Chủ nghĩa tư bản không phải là tấm gương phổ biến cho nhân loại. Chính các học giả tư bản đã thừa nhận các ung nhọt không thể chữa khỏi. Xin nêu ý kiến của một nhà triết học và một nhà chính trị học.

Giắc-cơ Đê-ri-đa – nhà triết học Pháp nổi tiếng, trong cuốn sách “Những bóng ma của Mác”, xuất bản năm 1993, đã nêu lên 10 ung nhọt của trật tự thế giới mới: (1) Nạn thất nghiệp; (2) Việc loại trừ hàng loạt công dân không nhà ở khỏi mọi sự tham gia và đời sống dân chủ của các quốc gia, trục xuất, lưu đày những người lưu vong, không quốc tịch; (3) Cuộc chiến tranh không thương tiếc giữa các nước tư bản hàng đầu; (4) Sự bất lực trong việc chế ngự những mâu thuẫn về chuẩn mực và thực tế của thị trường tự do; (5) Sự gia tăng nợ nước ngoài; (6) Công nghiệp và buôn bán vũ khí; (7) Sự phát triển vũ khí nguyên tử vượt khỏi sự kiểm soát quốc tế; (8) Chiến tranh sắc tộc ngày càng nhiều; (9) Những nhà nước – ma siêu lực xâm nhập vào các tổ chức kinh tế – xã hội, vào sự lưu thông tư bản, vào cả các thiết chế quốc gia và liên quốc gia; (10) Sự bất bình đẳng giữa các quốc gia trước pháp luật. Sự bá quyền của một số quốc gia trong lĩnh vực luật pháp và thiết chế quốc tế.

Những ung nhọt đó, các nước tư bản tìm mọi cách để che dấu đi. Giắc-cơ Đê-ri-đa kêu gọi phải chiến đấu chống lại theo tinh thần của C. Mác.

Trong cuốn Ngoài vòng kiểm soát, Brêdinxky đã chỉ ra 20 khuyết tật của xã hội Mỹ và dự báo Mỹ sẽ mất vai trò siêu cường vào thế kỷ XXI: (1) Nợ nần; (2) Thâm hụt thương mại; (3) Khối lượng tiền tiết kiệm vào đầu tư thấp; (4) Không có khả năng cạnh tranh công nghiệp; (5) Tỷ lệ tăng năng suất lao động thấp; (6) Chăm sóc y tế không đầy đủ; (7) Giáo dục trung học chất lượng kém; (8) Cơ sở hạ tầng của xã hội xấu đi và tình trạng sa sút lan tràn ở đô thị; (9) Một giai cấp giàu có tham lam; (10) Tình trạng kiện tụng tràn lan không đem lại lợi ích gì; (11) Vấn đề chủng tộc và nghèo đói ngày càng sâu sắc; (12) Tội ác và bạo lực tràn lan; (13) Sự lan tràn của nền văn minh ma túy ồ ạt; (14) Tìnhtrạng lan tràn tâm lý tuyệt vọng xã hội; (15) Quá nhiều giấy phép mại dâm; (16) Sự truyền bá ồ ạt về đồi trụy tinh thần bằng phương tiện nghe nhìn; (17) Suy giảm về ý thức công nhân; (18) Sự nổi lên của nền văn hóa đa phương có nhiều nguy cơ chia rẽ; (19) Một yếu tố trở ngại đang xuất hiện trong hệ thống chính trị. Nó làm cho cử tri càng thấy chính quyền của mình rất xa xôi, thiếu trách nhiệm, và tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi về giai cấp tinh hoa chính trị được hưởng những cơ hội không công bằng, được ngồi vững vàng trong chức vụ của mình; (20) Cảm giác tuyệt vọng về tinh thần ngày càng phổ biến.

Những nhận xét, đánh giá về chủ nghĩa tư bản của Giắc-cơ Đê-ri-đa và Brêdinxky đến nay vẫn đúng. Bản chất của chủ nghĩa tư bản vẫn không thay đổi. Mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất và chế độ chiếm hữu tư bản tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng sâu sắc. Chính từ mâu thuẫn này đã dẫn tới mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân với giai cấp tư sản, giữa các tập đoàn tư bản độc quyền, các công ty xuyên quốc gia, các trung tâm tư bản tiếp tục phát triển. Mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển vẫn tiếp tục gay gắt. Mâu thuẫn giữa các thế lực cường quyền, hiếu chiến muốn thống trị thế giới với nhân dân thế giới đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, công bằng, dân chủ và tiến bộ, xã hội…Chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân túy trong quan hệ quốc tế gia tăng. Hoặc chủ nghĩa tư bản không vì con người thể hiện trong phòng, chống đại dịch Covid-19 ở các nước tư bản chủ nghĩa như Mỹ, Ấn Độ, Brasil,… là một minh chứng. Ở các nước này số ca nhiễm và số ca tử vong rất cao.

Cũng có một số ý kiến đề xuất nước ta nên đi theo con đường xã hội dân chủ. Thật ra mô hình xã hội – dân chủ chỉ là một hình thái của chế độ tư bản chủ nghĩa.

Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn, cả thực tế trong nước và trên thế giới chỉ ra rằng, muốn thay đổi căn bản địa vị, cuộc sống của nhân dân lao động, không có con đường nào khác ngoài con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Mọi con đường khác đều không được nhân dân lao động nước ta chấp nhận.

3. Luận cứ phê phán quan điểm cho rằng Việt Nam đang đi theo con đường tư bản chủ nghĩa và trá hình chủ nghĩa xã hội

Quan điểm trên hoàn toàn sai trái. Xin nêu những luận cứ chủ yếu.

Một là, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức ngày càng rõ hơn nội dung bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa

Đại hội VI của Đảng (năm 1986) xác định: “Thời kỳ quá độ ở nước ta, do tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, đương nhiên phải lâu dài và khó khăn. Đó là thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện, triệt để nhằm xây dựng từ đầu một chế độ xã hội chủ nghĩa mới cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Đó là một thời kỳ đấu tranh giai cấp rất phức tạp, đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm giải quyết vấn đề “ai thắng ai”[7].

Đến Cương lĩnh năm 1991, Đảng xác định: “Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, từ một xã hội vẫn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp”[8]. Như vậy, Cương lĩnh năm 1991 có bước nhận thức mới – nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa chứ không phải bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, nhưng chưa định rõ nội dung bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Đến Đại hội IX (năm 2001), Đảng xác định: “Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại.

Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ với nhiều chặng đường, nhiều hình thái tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ”[9]. Đây là bước tiến về nhận thức của Đảng khi xác định rõ nội dung bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức về chủ nghĩa xã hội ngày càng rõ hơn

Trong những cương lĩnh đầu tiên “Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt” (tháng 2 năm 1930) và “Luận cương chính trị” (tháng 10 năm 1930), Đảng đã chỉ rõ quá trình cách mạng không ngừng. Trước mắt, làm cách mạng tư sản dân quyềntiến lên con đường cách mạng vô sản. Đây là nhận thức đầu tiên rất quan trọng của Đảng về quan hệ biện chứng giữa cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng vô sản.

Đại hội II của Đảng (năm 1951), dự báo, con đường đi đến chủ nghĩa xã hội là con đường khó khăn, lâu dài, đại thể trải qua ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất,  nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc; giai đoạn thứ hai, nhiệm vụ chủ yếu là xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện triệt để người cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân; giai đoạn thứ ba, nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội. Ba giai đoạn này không tách rời nhau, mà liên hệ mật thiết và xen kẽ lẫn nhau.

Đại hội III của Đảng (năm 1960), đã đưa ra những nhận thức cơ bản về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta. Đại hội bước đầu phác họa những đường nét cơ bản về xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta sẽ xây dựng ở miền Bắc: Xã hội ấm no, hạnh phúc; có nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cân đối với công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, quan hệ sản xuất mới với các hình thức khác nhau của chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa; có nền đạo đức mới, văn hóa, khoa học, kỹ thuật tiên tiến; nhân dân lao động có đời sống vật chất, tinh thần không ngừng được nâng cao; xã hội mới mà cơ sở là liên minh giữa giai cấp công nhân với các tầng lớp nhân dân lao động khác, chủ yếu là giữa công nhân và nông dân tập thể; có quan hệ hữu nghị quốc tế, trước hết là sự đoàn kết, hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu. Về định hướng con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đại hội xác định, phải sử dụng nhà nước dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ chuyên chính vô sản; tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, trọng tâm là công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, đưa miền Bắc từ nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, từ nền sản xuất nhỏ tiến lên nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, từ tình trạng kinh tế rời rạc và lạc hậu tiến lên một nền kinh tế cân đối và hiện đại; tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa về tư tưởng, văn hóa, kỹ thuật; tăng cường đoàn kết toàn dân trên nền tảng liên minh công nông; tăng cường đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu.

Đại hội IV của Đảng (năm 1976), đã xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước. Đại hội chỉ rõ: “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học – kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học – kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hóa mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”; “Phấn đấu hoàn thành về cơ bản quá trình đưa nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghãi trong khoảng thời gian hai mươi năm”[10].

Đại hội IV của Đảng đã xác định rõ hơn tính chất, đặc điểm của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: “Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một quá trình biến đổi cách mạng toàn diện, liên tục, vô cùng sâu sắc và triệt để. Đó là quá trình kết hợp giữa cải tạo có xây dựng, cải tạo để xây dựng, xây dựng để cải tạo, trong cải tạo có xây dựng, trong xây dựng có cải tạo, mà xây dựng là chủ yếu. Đó là quá trình vừa xóa bỏ cái cũ, vừa xây dựng cái mới từ gốc đến ngọn. Phải tạo tất cả lực lượng sản xuất mới lẫn quan hệ sản xuất mới; tạo ra cả cơ sở kinh tế mới lẫn kiến trúc thượng tầng mới; tạo ra cả đời sống vật chất mới lẫn đời sống tinh thần mới. Đó là quá trình đấu tranh giai cấp gay go, phức tạp giữa giai cấp tư sản và vô sản, giữa hai con đường tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa”[11].

Đại hội V của Đảng (năm 1982), tiếp tục khẳng định những nhận thức và định hướng chung của Đại hội IV, đồng thời bước đầu có một số điều chỉnh về định hướng công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, về vận dụng quan hệ hàng hóa – tiền tệ, quan hệ thị trường…”[12].

Những nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta thời kỳ trước đổi mới tuy còn những hạn chế do hoàn cảnh lịch sử, song đó là những tiền đề lý luận rất quan trọng để Đảng kế thừa có chọn lọc, tiếp tục phát triển, từng bước hoàn thiện trong quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới.

Đại hội VI (năm 1986) đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới. Đại hội nhận thức sâu sắc hơn tính tất yếu, lâu dài, khó khăn của thời kỳ quá độ; khẳng định nước ta đang ở chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ; xác định mục tiêu tổng quát, nhiệm vụ bao trùm trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế – xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo[13]. Đại hội chủ trương, sau Đại hội sẽ xúc tiến xây dựng một cương lĩnh hoàn chỉnh cho toàn bộ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ, xác định đây “là sự kiện chính trị có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự chỉ đạo cách mạng trong một thời kỳ tương đối dài, đặt nền tảng chính trị, tư tưởng cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội”[14].

Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh năm 1991 đã xác định xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội:

“- Do nhân dân lao động làm chủ.

– Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.

– Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

– Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân.

– Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ.

– Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới”[15].

Cương lĩnh năm 1991 xác định bảy phương hướng cơ bản cần nắm vững trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta: (1) Xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân; (2) Phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại là nhiệm vụ trung tâm; (3) Thiết lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu; phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo dịnh hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; (4) Tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa; (5) Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước; (6) Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam; (7) Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

Đại hội X của Đảng (năm 2006), tiến hành tổng kết 20 năm đổi mới, làm sáng tỏ hơn nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội khái quát tám đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa và xác định tám phương hướng cơ bản trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Đại hội XI của Đảng (năm 2011) đã thông qua Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011). Cương lĩnh năm 2011 bổ sung, phát triển những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Về đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, Cương lĩnh năm (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao đựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”[16].

Về những phương hướng cơ bản đi lên chủ nghĩa xã hội, Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định:

“Một là, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường.

Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ba là, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập; tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất.

Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa  của nhân dân, do nhân, vì nhân dân.

Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”[17].

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nhất là tổng kết 30 năm đổi mới, đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, các hội nghị Trung ương khóa XI, Đại hội XII và các hội nghị Trung ương khóa XII tiếp tục cụ thể hóa, bổ sung, làm sáng rõ hơn những nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã được trình bày trong Cương lĩnh năm 2011.

Về đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, Đảng nhận thức sâu sắc hơn mối quan hệ khăng khít, biện chứng giữa các đặc trưng cơ bản về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Nội hàm của từng đặc trưng được bổ sung những nhận thức mới, phù hợp với tình hình mới, yêu cầu mới, nổi bật là nhận thức về vai trò là chủ, làm chủ của nhân dân; về phát triển kinh tế nhanh, bền vững, hiện đại hóa lực lượng sản xuất trên nền tảng khoa học – công nghệ gắn với quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; về vai trò là sức mạnh nội sinh, động lực phát triển của văn hóa, vai trò chủ thể và trung tâm của con người; về đoàn kết dân tộc, sự gắn bó dân tộc và nhân loại, quốc gia và quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa; về dân chủ và pháp quyền; về lợi ích tối cao của quốc gia dân tộc trong quan hệ quốc tế…

Về những phương hướng cơ bản, Đảng đã có những nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên cơ sở đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện ba đột phá chiến lược, phát triển nhanh, bền vững, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế; về hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hiện đại, hội nhập quốc tế. Đảng đã bổsung nhận thức về mối quan hệ giữa phát triển văn hóa và xây dựng con người; về đúc kết, phát huy hệ giá trị văn hóa, sức mạnh và giá trị của con người Việt Nam; về nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân, thực hiện hiệu quả tiến bộ, công bằng xã hội trong từng chính sách, từng bước phát triển. Nhận thức về bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được hoàn thiện trên cơ sở phát triển chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Phương hướng thực hiện đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế tiếp tục được bổ sung, phát triển gắn với yêu cầu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia – dân tộc; xử lý hiệu quả hợp tác và đấu tranh, đối tác và đối tượng. Phương hướng xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, tăng cường, mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất được bổ sung những nhận thức mới về tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, đề cao trách nhiệm, nghĩa vụ công dân; thực hiện vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận, các tổ chức chính trị – xã hội. Về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Đảng nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát quyền lực nhà nước; xây dựng tổ chức bộ máy tinh gọn, tăng cường phân cấp, phân quyền, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Phương hướng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh được bổ sung nhận thức mới về xây dựng Đảng toàn diện: chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; về xây dựng Đảng gắn với chỉnh đốn Đảng, đấu tranh chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ.

Từ đó có thể khẳng định lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa ở Việt Nam ngày càng được xác định. So với chủ nghĩa tư bản đây là sự khác về chất. Nếu có gì gần giống thì có hai vấn đề: (1) đó là phát triển nền kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường là thành tựu văn minh của nhân loại, được phát triển mạnh trong chủ nghĩa tư bản. Chúng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; (2) đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền. Nhà nước pháp quyền cũng là thành tựu của nhân loại. Chúng ta xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Từ đó có thể khẳng định Việt Nam không đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Chúng ta kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng từng bước được hiện thực hóa. Quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh. Đến 2020, GDP ước đạt gần 300 tỷ USD và GDP bình quân đầu người ngày càng tăng: 1945: 35 USD, 1975: 8 USD, 1985: 159 USD, 1990: 182 USD, đến 2020: gần3.000 USD. Trong năm 2020, đại dịch Covid-19 tác động lớn đến Việt Nam, gây ra nhiều khó khăn, thách thức, nhờ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Việt Nam đã kiểm soát thành công đại dịch Covid-19; từng bước phục hồi sản xuất kinh doanh; ổn định đời sống nhân dân. Nhân dân tin Đảng, tin Nhà nước, tin chế độ xã hội chủ nghĩa.

PGS.TS Nguyễn Viết Thông

Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận TW

[1]C. Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tập 23, tr. 21.

[2] V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1974, tập 1, tr. 200.

[3] V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tập 45, tr. 431.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tập II, tr. 133.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.70 – 71.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.70 – 71.

[7]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tập 47, tr. 374.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tập 41, tr. 133.

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tập 60, tr. 179.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tập 37, tr. 504 – 505.

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tr. 490 – 491.

[12] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tập 41, tr. 89.

[13] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tr. 724.

[14] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tr. 723.

[15] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr. 134.

[16] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 70.

[17] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 72.

Sự Khác Nhau Giữa Kinh Tế Thị Trường Tư Bản Chủ Nghĩa Và Kinh Tế Thị Trường Xã Hội Chủ Nghĩa?

Kinh tế thị trường TBCN là nền kinh tế tự do theo chế độ cung cầu không phải chịu sự chi phối của chính phủ. Điển hình của nền kinh tế này là Anh, Pháp… (không phải Mỹ vì Mỹ là một nền kinh tế khác).Kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, do thế lực kinh tế tập trung vào một nhóm nhỏ với tài chánh và quyền lực dẫn đến hình thành độc tài kinh doanh. Kinh tế phát triễn không đồng bộ, chậm chạp và nặng nề. Ví dụ: Việt Nam của mình đó. Mong giúp được cho bạn,

Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là nền kinh tế mà trong đó người mua và người bán tác động với nhau theo quy luật cung cầu, giá trị để xác định giá cả và số lượng hàng hoá, dịch vụ trên thị trường.Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, nếu lượng cầu hàng hóa cao hơn lượng cung, thì giá cả hàng hóa sẽ tăng lên, mức lợi nhuận cũng tăng khuyến khích người sản xuất tăng lượng cung. Người sản xuất nào có cơ chế sản xuất hiệu quả hơn, thì cũng có tỷ suất lợi nhuận cao hơn cho phép tăng quy mô sản xuất, và do đó các nguồn lực sản xuất sẽ chảy về phía những người sản xuất hiệu quả. Những người sản xuất có cơ chế sản xuất kém hiệu quả sẽ có tỷ suất lợi nhuận thấp, khả năng mua nguồn lực sản xuất thấp, sức cạnh tranh kém sẽ bị đào thải.

Cơ chế phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế thị trường TBCN có thể dẫn tới bất bình đẳng. Đấy là chưa kể vấn đề thông tin không hoàn hảo có thể dẫn tới việc phân bổ nguồn lực không hiệu quả. Do một số nguyên nhân, giá cả có thể không linh hoạt trong các khoảng thời gian ngắn hạn khiến cho việc điều chỉnh cung cầu không suôn sẻ, dẫn tới khoảng cách giữa tổng cung và tổng cầu. Đây là nguyên nhân của các hiện tượng thất nghiệp, lạm phát.

Trong thực tế hiện nay, không có một nền kinh tế thị trường hoàn hảo, cũng như không có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung hoàn toàn (trừ nền kinh tế Bắc Triều Tiên). Thay vào đó là nền kinh tế hỗn hợp. Tùy ở mỗi nước mà các yếu tố thị trường nhiều hay ít.Trong thương mại quốc tế, mức độ thị trường hóa nền kinh tế có thể được sử dụng làm tiêu chí trong xác định điều kiện thương mại của mỗi nước.

Hệ thống kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có các đặc trưng sau:

Là một nền kinh tế hỗn hợp, nghĩa là vừa vận hành theo cơ chế thị trường, vừa có sự điều tiết của nhà nước. Các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường được tôn trọng. Các thông lệ quốc tế trong quản lý và điều hành kinh tế được vận dụng một cách hợp lý. Nền kinh tế chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa. Là một nền kinh tế đa dạng các hình thức sở hữu, nhưng khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Là nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững và chủ động hội nhập kinh tế thành công. Việc phân phối được thực hiện chủ yếu theo kết quả lao động và theo hiệu quả kinh tế, đồng thời theo cả mức đóng góp vốn. Chú trọng phân phối lại qua phúc lợi xã hội. Việc phân bổ các nguồn lực vừa được tiến hành theo hướng nâng cao hiệu quả, vừa theo hướng giúp thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các địa phương. Phát triển kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội; công bằng xã hội được chú ý trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường. Các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, nghề nghiệp và nhân dân được khuyến khích tham gia vào quá trình phát triển kinh tế.

Sự Khác Nhau Của Nền Dân Chủ Tư Sản Với Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa

Mõ Làng: Dành cho ngày nhân quyền 10/12

Âm mưu tung hô vấn đề dân chủ mà các nhóm “đối lập” tự xưng là “xã hội dân sự” tung ra gần đây là nhằm phá hoại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong nhận thức của họ, chỉ có các đảng dân chủ -xã hội mới thật sự “dân chủ”, còn đảng cộng sản không thể có dân chủ. Nhưng luận điệu đó đôi khi cũng làm vài người ngộ nhận bởi nó có thủ đoạn. Cốt lõi của thủ đoạn ấy là lờ đi sự khác nhau giữa dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Vậy sự khác nhau ấy ở chỗ nào.

Ngày nay, các hoạt động của các trào lưu xã hội dân chủ gắn với những quyền lợi của chủ nghĩa tư bản. Số phận của họ cũng rất khó tách rời số phận của nhà nước tư bản. Chủ nghĩa tư bản lại tiếp tục điều chỉnh đường lối cho phù hợp với tình hình thời cuộc. Nhiều học giả tư sản đã thừa nhận điều này.

Chủ nghĩa xã hội dân chủ từ khi xuất hiện, cạnh những hạn chế về tư tưởng là những bước tiến khi họ biết tập trung giải quyết những vấn đề phúc lợi xã hội và dân sinh. Nó vừa là lý luận, vừa là một loại phong trào và chế độ. Bản thân nó là một quần thể tư tưởng phức tạp. Tư tưởng đa nguyên chính trị lại thay đổi luôn. Nội bộ của các đảng này không phải lúc nào cũng đoàn kết. Hạn chế lớn nhất của họ là không có một quan điểm thống nhất. Các đảng dân chủ – xã hội chủ trương thông qua tranh cử trong nghị viện để cầm quyền. Trong khi cầm quyền, họ thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội và thông qua đó, họ xây dựng nhà nước phúc lợi dân chủ. Một số đảng dân chủ – xã hội có xu hướng xây dựng “đường lối trung gian” (còn gọi là “đường lối thứ ba”), vừa không là chủ nghĩa tư bản, vừa không là chủ nghĩa xã hội.

Trong những năm gần đây, lý luận và đường lối của chủ nghĩa xã hội dân chủ có sự điều chỉnh liên tục. Sự điều chỉnh này đã lôi kéo được một bộ phận dân chúng.

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã kiên trì con đường chủ nghĩa xã hội khoa học, thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là ngọn cờ đã, đang và sẽ được phất lên trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Dân chủ của Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải dân chủ tư sản. Bản chất của dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa là khác nhau. Dân chủ tư sản là một trong những hình thức chính trị của nhà nước tư sản. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là một trong những hình thức chính trị của nhà nước xã hội chủ nghĩa, bắt nguồn từ chính bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Cơ sở kinh tế của dân chủ tư sản là những điều kiện tiên quyết của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong quá trình phát triển do bản chất giai cấp, dần dần tính chất tiến bộ của nền dân chủ tư sản đã bị biến dạng. Từ chỗ quan hệ bình đẳng của công dân trước pháp luật đã thay bằng quan hệ áp bức và bất công, các phúc lợi tự do cá nhân, phần lớn rơi vào lớp người khá giả, giới thượng lưu. Còn những người làm thuê, nhân dân lao động lại ít được hưởng quyền tự do dân chủ thật sự. Ngay cả vấn đề thông tin đại chúng, nhà nước tư bản vẫn rêu rao là tự do, kỳ thực, nó được sử dụng chủ yếu vì lợi ích của những tổ chức độc quyền tư bản lớn. Nhiều nhà tư bản lớn ở phương Tây đã mua các báo, tạp chí, đài phát thanh, đài truyền hình, hãng phim và những phương tiện tuyên truyền khác để thao túng, uốn nắn dư luận xã hội theo ý đồ riêng của mình. Đó là thực chất của chế độ dân chủ tư sản hiện đại.

Còn trào lưu xã hội dân chủ vẫn rêu rao là đại diện cho phong trào công nhân quốc tế ngày nay, thực chất là thứ chủ nghĩa xã hội dân chủ cải lương (theo con đường tiến hoá). Nét thể hiện của kiểu dân chủ này là xu hướng thay thế đấu tranh giai cấp bằng hợp tác giai cấp, quan niệm về tính chất “siêu giai cấp” của nhà nước và của dân chủ, quan niệm về chủ nghĩa xã hội như là một phạm trù đạo đức. Lý thuyết này, những người xã hội dân chủ đã áp dụng vào việc quản lý xã hội tại nhiều nước ở phương Tây. Có được khả năng điều khiển bộ máy nhà nước, các vị thủ lĩnh của các đảng xã hội – dân chủ tự cho mình là thầy thuốc bên giường bệnh của chủ nghĩa tư bản. Nhiều đảng xã hội – dân chủ chuyển sang hệ tư tưởng chiết trung, “đa nguyên” và tuyên bố chủ nghĩa xã hội dân chủ là cương lĩnh tư tưởng của họ.

Trong thực tế, một số đảng xã hội-dân chủ đã thành đạt trong một số cải cách xã hội. Song, những cải cách ấy, xét cho cùng, vẫn có lợi cho nhà nước tư bản nhiều hơn là lợi cho đại đa số nhân dân nước họ. Rút cục, chính sách thích nghi vẫn lệ thuộc vào chế độ tư bản chủ nghĩa. Những quyền lợi cơ bản về chính trị và kinh tế vẫn nằm trong tay nhà nước tư bản.

Một số đảng xã hội – dân chủ tiến bộ ở châu Âu đã phản đối việc Mỹ gây chiến tranh xâm lược các nước nhỏ bé, vi phạm quyền độc lập dân tộc của họ. Một số người trong phái xã hội- dân chủ thừa nhận tính ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và có những quan hệ về đảng với đảng cộng sản. Một số chính khách trong cánh tả đã mạnh dạn sửa đổi cương lĩnh của mình.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa, một mặt, lên án những tư tưởng cải lương, cơ hội của phái xã hội dân chủ, mặt khác, để mở rộng đường dân chủ, cũng chủ trương hợp tác với họ trên cơ sở đáp ứng lợi ích của dân tộc mình. Sự khác biệt về quan điểm nhận thức dân chủ giữa những người cộng sản và những người xã hội-dân chủ được giới hạn bởi những nguyên tắc của nó. Trượt theo bánh xe dân chủ của chủ nghĩa xã hội dân chủ sẽ dẫn đến sự phản bội những tư tưởng dân chủ xã hội chủ nghĩa mà các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đã dày công xây dựng và vun đắp. So với dân chủ tư sản và dân chủ của chủ nghĩa xã hội dân chủ, thì dân chủ xã hội chủ nghĩa là một bước tiến mới trong tư tưởng dân chủ của xã hội loài người.

Sự hình thành và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một quá trình khách quan do nhiều yếu tố xác định. Sự bình đẳng, công bằng xã hội, tự do cá nhân và quyền lực nhân dân là mục đích có tính chất lịch sử của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cái cốt lõi của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được xác định, đó là quyền lực của nhân dân. Tất cả các công dân đều có quyền tham gia vào công việc của nhà nước. Dân chủ xã hội chủ nghĩa đồng nghĩa với tính chủ động sáng tạo của quần chúng nhân dân hết sức rộng rãi. Hệ thống dân chủ của chủ nghĩa xã hội xây dựng trên những điều kiện mới của sự phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Hình thức cơ quan lãnh đạo dân cử, quyền công dân, những thể chế và những yếu tố dân chủ được những lực lượng tiến bộ của xã hội xây dựng và bảo vệ. Các cơ quan chính quyền được bầu ra thông qua cuộc đầu phiếu phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, những hình thức dân chủ trực tiếp khác nhau cũng được phát triển rộng rãi, biểu hiện trong những hoạt động của các tổ chức xã hội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa tạo cho công dân những khả năng rộng rãi để tự do bày tỏ nguyện vọng và trình bày những ý kiến của mình về những vấn đề thuộc về đời sống xã hội. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa tuyên bố bảo đảm những quyền xã hội của công dân, quyền đi lại, lao động, nghỉ ngơi, học hành, quyền tham gia vào những vấn đề chính trị, xã hội.

Lực lượng chủ đạo của toàn bộ quá trình phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là Đảng Cộng sản. Nghị quyết, đường lối, chính sách của Đảng phản ánh những lợi ích của nhân dân.

Là một kiểu tổ chức dân chủ cao nhất của xã hội loài người, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa hình thành và đi qua những chặng đường đáng ghi nhớ. Những hình thức tổ chức đời sống chính trị mới được hình thành, những thể chế dân chủ được tạo nên, những truyền thống mới được xác lập.

Trong quá trình phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa luôn phải đấu tranh quyết liệt với nền dân chủ tư sản. Bằng những phương tiện thông tin đại chúng hiện đại, nền dân chủ tư sản rêu rao nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là không dân chủ. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận dân chủ xã hội chủ nghĩa để thấy tính hơn hẳn của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa so với nền dân chủ tư sản. Về thực tiễn, phải tiếp tục mở rộng hơn nữa nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể hiện ở việc làm cho nhân dân ngày càng có điều kiện tham gia vào việc quản lý xã hội, tạo điều kiện cho bộ máy chính quyền nhà nước hoạt động ngày càng có hiệu quả, phục vụ nhân dân ngày một tốt hơn. Hệ thống chính trị được tăng cường và bảo đảm. Dân chủ đã trở thành một đòi hỏi của quá trình phát triển xã hội.

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được thể hiện và thực hiện theo Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông nhân và tầng lớp trí thức”. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, quyền bình đẳng nam nữ, quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng tác, học tập… Để bảo đảm quyền làm chủ thật sự của nhân dân, Hiến pháp ghi rõ Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang được phát huy và đã gặt hái được những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Vai trò xã hội của nhân dân không ngừng được nâng cao. Quy chế dân chủ đang được xác lập ở từng cấp và đang được thực hiện ở cơ sở. Không khí dân chủ trong xã hội đang được phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Việt Nam đang từng bước khắc phục những hiện tượng vi phạm dân chủ ở cơ sở; làm rõ cơ sở lý luận dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện một đảng cầm quyền và nhiều đoàn thể nhân dân. Đẩy lùi được những hiện tượng quan liêu, tham nhũng, cơ hội chính trị, mất dân chủ sẽ dần dần làm cho bộ mặt dân chủ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam sáng lên trong lòng bầu bạn trên thế giới.

Thực hiện dân chủ phải đi đôi với việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước. Luật pháp của Nhà nước bảo đảm cho việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân. Sống và làm việc theo pháp luật chính là cơ sở pháp lý bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân.

Năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài: Dân vận. Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ”. Nội dung của một nước dân chủ là:

“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Trong quá trình hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân ta đang thực hiện lời giáo huấn của Người.

Tìm Hiểu Về Ngày Pháp Luật Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: Ngày Pháp Luật Việt Nam

Theo quy định của luật phổ biến, giáo dục pháp luật, ngày pháp luật được tổ chức để tôn vinh hiến pháp, pháp luật, đồng thời tăng cường nhận thức cho mọi người về vai trò của luật pháp trong đời sống, tăng cường sự hiểu biết pháp luật và khả năng thực thi pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước, hoạt động kinh tế – xã hội và sinh hoạt hàng ngày của người dân.

I. SỰ HÌNH THÀNH NGÀY PHÁP LUẬT

Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò quan trọng đặc biệt, vừa là công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, vừa tạo hành lang pháp lý an toàn, tin cậy, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, yêu cầu tăng cường vai trò của pháp luật là một tất yếu khách quan. Cùng với việc không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống trở thành yêu cầu cấp thiết, cần được thực hiện thường xuyên, liên tục và hiệu quả với nhiều hình thức, biện pháp phù hợp. Ngày Pháp luật là một trong những hình thức, biện pháp, là một mô hình triển khai cụ thể nhằm đáp ứng yêu cầu đó.

Ngày Pháp luật thực chất là mô hình bắt nguồn từ sáng kiến của cơ sở. Xuất phát từ nhu cầu đa dạng hóa các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, các tỉnh Hà Tây (trước đây), Tiền Giang, Long An… đã tổ chức triển khai mô hình này với tính chất là một ngày sinh hoạt pháp luật tập trung để cán bộ, công chức, viên chức, nhân dân nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và sau đó được một số địa phương khác tham khảo, áp dụng. Qua theo dõi, nghiên cứu, tổng hợp việc thực hiện mô hình “Ngày pháp luật” tại các địa phương, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ (nay là Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương) đã đánh giá đây là một cách làm mới, tích cực, góp phần đa dạng hóa các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và chỉ đạo, hướng dẫn nhân rộng mô hình này trên phạm vi toàn quốc (Công văn số 3535/HĐPH ngày 04/10/2010 của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ). Theo đó, đã có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đa số các Bộ, ngành đã triển khai thực hiện mô hình này và bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực trong thực tế.

Xuất phát từ vai trò của pháp luật và từ những mô hình, sáng kiến về Ngày pháp luật của địa phương, kết hợp với việc nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới, trong quá trình xây dựng Luật phổ biến, giáo dục pháp luật, theo đề xuất của Chính phủ, Ngày Pháp luật đã chính thức được thể chế hóa trong Luật phổ biến giáo dục pháp luật năm 2013.

Điều 8 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật quy định:”Ngày 09/11 hằng năm là Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngày Pháp luật được tổ chức nhằm tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật cho mọi người trong xã hội”.

Cụ thể hóa Điều này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/2013/NĐ-CP ngày 4/4/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phổ biến, giáo dục pháp luật, trong đó quy định cụ thể nội dung, hình thức và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong tổ chức triển khai thực hiện Ngày Pháp luật.

II. MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA NGÀY PHÁP LUẬT

Theo quy định của Luật phổ biến, giáo dục pháp luật, Ngày Pháp luật được tổ chức để tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, đồng thời tăng cường nhận thức cho mọi người về vai trò của luật pháp trong đời sống, tăng cường sự hiểu biết pháp luật và khả năng thực thi pháp luật trong hoạt động quản lý Nhà nước, hoạt động kinh tế – xã hội và sinh hoạt hàng ngày của người dân.

Thông qua Ngày Pháp luật giúp cho mọi tổ chức, cá nhân công dân có ý thức tuân thủ pháp luật tốt hơn, là dịp để đánh giá lại những kết quả đã đạt được và những hạn chế trong hoạt động xây dựng, thực thi pháp luật; là cơ hội để tổ chức nhiều hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho cộng đồng thông qua những cách thức khác nhau. Qua đó, những người thi hành pháp luật cũng sẽ nhận được những thông tin phản hồi, những quan điểm đánh giá về tất cả các quy định pháp luật cũng như cách thức thực hiện, hiệu quả của hệ thống pháp luật đối với đời sống xã hội; từ đó hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật, cũng như cải thiện, nâng cao hoạt động của hệ thống tư pháp.

Trên thế giới, hiện có nhiều nước tổ chức Ngày Pháp luật hay “Ngày Hiến pháp” như một ngày hội để “thượng tôn pháp luật”, tôn vinh Hiến pháp – đạo luật gốc của mỗi quốc gia. Hiện có khoảng 40 quốc gia lấy ngày ký, ban hành hoặc thông qua Hiến pháp để hàng năm tổ chức kỷ niệm “Ngày Hiến pháp” của mình. Trong ngày này, các luật gia, luật sư và các hiệp hội nghề nghiệp về luật tổ chức nhiều hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật trong cộng đồng nhằm tăng cường hơn nhận thức của nhân dân, học sinh, sinh viên về vị trí, vai trò tối thượng, không thể thay thế của Hiến pháp, pháp luật trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, đặc biệt là về các giá trị tự do, dân chủ, công lý, công bằng.

Ở Việt Nam, Luật phổ biến, giáo dục pháp luật quy định ngày 09/11 hàng năm là Ngày Pháp luật với dấu mốc đây là ngày ban hành bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta năm 1946, khởi đầu cho tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Là bản Hiến pháp của nền dân chủ đầu tiên của Nhà nước ta, Hiến pháp năm 1946 đã thấm nhuần, thể hiện triệt để tinh thần, tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, là sự khẳng định mạnh mẽ các giá trị dân chủ, dân quyền, thượng tôn pháp luật và còn tồn tại bền vững cho đến ngày hôm nay. Các giá trị đó thể hiện tập trung nhất tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, được kế thừa trong các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992.

Ngày Pháp luật khơi dậy trong mọi cá nhân công dân ý thức về trách nhiệm, bổn phận và quyền lợi của mình mà tham gia một cách tích cực vào các sinh hoạt của đời sống chính trị và đời sống xã hội. Do vậy, Ngày Pháp luật có ý nghĩa giáo dục sâu sắc trong việc đề cao giá trị của pháp luật trong Nhà nước pháp quyền, hướng mọi tổ chức, cá nhân tính tích cực tham gia với hành vi, thái độ xử sự pháp luật đúng đắn, đề cao quyền cũng như trách nhiệm, nghĩa vụ của cá nhân công dân trong học tập, tìm hiểu pháp luật và tự giác chấp hành pháp luật. Qua đó, góp phần nâng cao ý thức và niềm tin pháp luật, từng bước xây dựng và củng cố các giá trị văn hóa pháp lý trong cuộc sống xã hội. Đồng thời, đây còn là mô hình để vận động, khuyến khích, kêu gọi toàn thể nhân dân chung sức, đồng lòng vì sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước, phát huy triệt để tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc cùng tích cực hành động vì một Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Do vậy, đây còn là sự kiện chính trị, pháp lý có ý nghĩa nhân văn, ý nghĩa xã hội sâu sắc.

Ngày Pháp luật với nội hàm ghi nhận ngày ban hành bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nhà nước Việt Nam thì không chỉ giới hạn chỉ là ngày 09/11, mà được coi là điểm mốc, là sợi chỉ đỏ kết nối, xuyên suốt, có sức lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng dân cư, nhắc nhở, giáo dục họ ý thức tôn trọng pháp luật, để không chỉ là một ngày, mà phấn đấu sẽ là 365 ngày trong một năm mọi tổ chức, cá nhân tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật theo hiện khẩu hiệu “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”.

Đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Ngày Pháp luật cũng là một trong những chế định quan trọng đặt tiền đề cho việc đổi mới tổ chức thực hiện công tác này. Ngày pháp luật được tổ chức nhằm tạo bước phát triển mới trong việc nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật – một bộ phận của công tác giáo dục chính trị tư tưởng và là nhiệm vụ thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, các cấp, các ngành với mục tiêu cuối cùng là hỗ trợ và tạo điều kiện để mọi cá nhân, tổ chức biết sử dụng pháp luật làm phương tiện, công cụ bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước và xã hội.

III. NỘI DUNG, HÌNH THỨC VÀ TRÁCH NHIỆM TỔ CHỨC THỰC HIỆN NGÀY PHÁP LUẬT

Nghị định số 28/2013/NĐ-CP ngày 04/04/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều về biện pháp thi hành Luật phổ biến, giáo dục pháp luật tại Chương 2 đã quy định cụ thể, Ngày Pháp luật được tổ chức với các nội dung: Khẳng định trí, vai trò của Hiến pháp, pháp luật trong quản lý Nhà nước và đời sống xã hội; giáo dục cán bộ, công chức, viên chức và người dân ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật, lợi ích của việc chấp hành pháp luật; tuyên truyền, phổ biến các quy định của Hiến pháp, pháp luật thiết thực với đời sống của nhân dân, gắn với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị; vận động nhân dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Ngày Pháp luật cũng là ngày biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong xây dựng pháp luật, thực thi pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, gương người tốt việc tốt trong thực hiện pháp luật.

Để triển khai các nội dung trên, Ngày Pháp luật được tổ chức dưới các hình thức như mít tinh, hội thảo, tọa đàm, thi tìm hiểu pháp luật, tuyên truyền, phổ biến pháp luật lưu động; triển lãm.

Nghị định cũng quy định cụ thể trách nhiệm của các Bộ, ngành, đoàn thể, địa phương trong tổ chức triển khai Ngày Pháp luật. Trong đó, quy định Bộ Tư pháp hướng dẫn nội dung, hình thức tổ chức Ngày Pháp luật trong phạm vi cả nước; Trên cơ sở hướng dẫn tổ chức Ngày Pháp luật của Bộ Tư pháp, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp hướng dẫn về nội dung, hình thức tổ chức Ngày Pháp luật; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn nội dung, hình thức tổ chức Ngày Pháp luật cho các tổ chức thành viên; quy định Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức Ngày Pháp luật; Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu cơ quan Trung ương của các tổ chức thành viên của Mặt trận trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình tổ chức Ngày Pháp luật cho các hội viên, đoàn viên của tổ chức mình.

Nguồn tin: Website Bộ GTVT.

Cập nhật thông tin chi tiết về Phải Chăng Việt Nam Đang Đi Theo Con Đường Tư Bản Chủ Nghĩa Và Trá Hình Chủ Nghĩa Xã Hội ? trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!