Xu Hướng 3/2024 # Một Số Đánh Giá Về 40 Năm Cải Cách Mở Cửa Ở Trung Quốc # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Một Số Đánh Giá Về 40 Năm Cải Cách Mở Cửa Ở Trung Quốc được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Trang chủ

»

Nghiên cứu Khoa học Xã hội Và Nhân Văn

Một số đánh giá về 40 năm cải cách mở cửa ở Trung Quốc

NGUYỄN BÌNH GIANG*

 

Tóm tắt: Bài viết điểm lại một số đặc điểm nổi bật trong phát triển kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa từ cuối năm 1978 tới nay, tập trung vào mô hình tăng trưởng và đặc trưng của Trung Quốc trong đường lối phát triển các hình thức sở hữu kinh tế. Mô hình và đặc trưng này, một mặt đem lại những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế, giúp Trung Quốc từ chỗ là một “bệnh phu” vươn lên thành một thế lực kinh tế thách thức cả Mỹ. Chúng, mặt khác, cũng dẫn tới các vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường nhức nhối đối với Trung Quốc.

Từ khóa: Thị trường, kinh tế nhà nước, cải cách kinh tế, phát triển bền vững.

 

1. Một số thành tựu trong phát triển kinh tế ở Trung Quốc

1.1. Tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo

Từ khi cải cách mở cửa sau hội nghị trung ương ba khóa XI của Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 12/1978) đến nay, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội của Trung Quốc rất nhanh. Nhờ tốc độ tăng trưởng cao, quy mô tổng sản phẩm nội địa của Trung Quốc theo giá hiện hành tăng lên nhanh chóng, từ chỗ xấp xỉ 305,4 tỷ USD năm 1980 tăng 44 lần lên 13.457,2 tỷ USD năm 2024. Nếu vào thập niên 1980, quy mô GDP của Trung Quốc đứng thứ tám thế giới, thì đến năm 2010 đã đứng thứ hai thế giới. Đó là xét theo GDP giá thực tế, còn nếu xét theo GDP ngang giá sức mua, kinh tế Trung Quốc đã vượt qua kinh tế Mỹ từ năm 2014. Tỷ trọng của kinh tế Trung Quốc trong kinh tế toàn cầu cùng thời gian tăng xấp xỉ 5,8 lần, từ chỉ khoảng 2,7% lên gần 15,9% (IMF, 2024).

GDP bình quân đầu người của Trung Quốc tăng hai lần mỗi tám năm, hơn hai lần mỗi mười năm. Hiện nay, Trung Quốc được Ngân hàng Thế giới xếp vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Khi thu nhập được cải thiện nhanh chóng, tỷ lệ nghèo ở Trung Quốc cũng đã giảm rất nhanh. Tỷ lệ nghèo ở nông thôn từ mức khoảng 96% năm 1980 đã giảm 16 lần, xuống chỉ còn 6% vào năm 2024 (OECD, 2024).

Mô hình tăng trưởng của Trung Quốc từ 1978 tới nay là mô hình tăng trưởng dựa vào đóng góp của vốn con người, đầu tư nhờ tiết kiệm cao, năng suất tổng nhân tố tăng nhanh, xuất khẩu thông qua cạnh tranh, và thúc đẩy cạnh tranh trong nước thông qua độc quyền nhóm.

Đóng góp của vốn con người trong tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc đặc biệt cao. Đó là nhờ ngay từ khi mới cải cách mở cửa, người Trung Quốc đã có một nền tảng giáo dục rất tốt. Giáo dục ngày càng được chú trọng trong thời gian từ cải cách đến nay. Vốn con người có thể đã đóng góp tới 40% vào tăng trưởng GDP bình quân đầu người ở Trung Quốc từ năm 1978 đến năm 2014 (Li et al., 2024; Whalley & Zhao, 2010).

Trung Quốc vốn có truyền thống tiết kiệm cao. Nếu trước cải cách, tiết kiệm chủ yếu là từ các xí nghiệp quốc doanh, thì từ khi cải cách tiết kiệm chủ yếu là từ các hộ gia đình. Đầu tư của Trung Quốc chủ yếu là của khu vực doanh nghiệp nhà nước. Đã có rất nhiều nghiên cứu cho thấy khu vực tư nhân ở Trung Quốc gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vốn.

Năng suất tổng nhân tố tăng nhanh là do các cải cách theo hướng thị trường hóa đã giúp phân bổ nguồn lực ngày càng tốt hơn, cả trong nông nghiệp lẫn công nghiệp. Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực tư nhân cũng góp phần làm năng suất tổng nhân tố của nền kinh tế tăng nhanh thông qua cạnh tranh và nâng cấp quy trình sản xuất. Nhờ độ lớn của thị trường, cạnh tranh nội địa ở Trung Quốc còn được thúc đẩy bởi sự cạnh tranh giữa các địa phương. Các chính quyền địa phương ở Trung Quốc đã cạnh tranh lẫn nhau khốc liệt thông qua tập trung đầu tư và tạo môi trường kinh doanh hấp dẫn đối với doanh nghiệp (Boltho1 & Weber, 2009).

Quy mô khổng lồ của thị trường tiềm năng ở Trung Quốc cho phép Trung Quốc phát triển đồng thời nhiều ngành. Sức mạnh cạnh tranh xuất khẩu của Trung Quốc dựa nhiều vào doanh nghiệp FDI và một phần nào vào khu vực xí nghiệp hương trấn thời kỳ những năm 1980 và đầu những năm 1990. Các doanh nghiệp FDI đã tận dụng sự năng động và kỹ năng trong thương mại của Hoa kiều, môi trường đầu tư hấp dẫn và lao động rẻ ở các tỉnh ven biển để sản xuất hàng xuất khẩu. Các doanh nghiệp một trăm phần trăm vốn FDI được yêu cầu xuất khẩu toàn bộ sản phẩm. Chỉ có các doanh nghiệp liên doanh với doanh nghiệp địa phương mới được tiếp cận thị trường nội địa. Nhà nước Trung Quốc đã khôn ngoan ép các doanh nghiệp FDI phải chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp địa phương để đổi lấy việc tiếp cận thị trường nội địa này. Ngoài ra, cạnh tranh trong xuất khẩu của Trung Quốc có được một phần quan trọng là nhờ phá giá tiền tệ.

Trung Quốc là một trong những nước sử dụng chính sách công nghiệp tích cực nhất. Khác với các nước phương Tây và gần giống với Nhật Bản và Hàn Quốc, chính sách công nghiệp của Trung Quốc là chính sách từ trên xuống. Mục tiêu chính trị của chính sách công nghiệp rất rõ ràng, đó là nâng cao tự chủ về kinh tế trong cách nhìn Trung Quốc là nước yếu thế về kinh tế so với phương Tây. Vì thế, mục tiêu của chính sách công nghiệp là tạo ra các doanh nghiệp quán quân có thể cạnh tranh với các doanh nghiệp phương Tây. Các doanh nghiệp quán quân này được cấp đặc quyền tiếp cận toàn bộ thị trường nội địa, thu mua của chính phủ, bảo hộ trước sự cạnh tranh quốc tế. Tận dụng thị trường rộng lớn trong nước để phát huy lợi thế kinh tế nhờ quy mô và được bảo hộ, nuôi dưỡng, các doanh nghiệp quán quân này trở nên lớn mạnh đáng kể. Trên cơ sở đó, năm 1999 Trung Quốc lại tiếp tục hỗ trợ để họ tiến ra nước ngoài nhằm mục tiêu lập ra các mạng sản xuất quốc tế do các doanh nghiệp Trung Quốc kiểm soát, xây dựng các thương hiệu Trung Quốc ở thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản, đảm bảo nguồn cung ứng nguyên liệu thô cho sản xuất, mua lại các tài sản chiến lược, tiếp cận thị trường.

Các công cụ để thực hiện chính sách công nghiệp ở Trung Quốc bao gồm (Poon, 2014): Ưu đãi tài chính, trợ cấp, hỗ trợ tài chính, hướng dẫn FDI, thu mua của chính phủ, thúc đẩy tiêu chuẩn hóa, sáng chế nội địa, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các sáng chế của Trung Quốc, tiêu chuẩn hóa, thu hút Hoa kiều, phát triển giáo dục và đào tạo, phát triển kết cấu hạ tầng, chống độc quyền kiểu Trung Quốc(1). Các công cụ đầy hiệu quả khác bao gồm: thúc đẩy các cụm liên kết ngành và mạng sản xuất. Hiện nay, việc Trung Quốc dẫn đầu thế giới trong các ngành luyện thép, luyện nhôm, sản xuất tấm pin mặt trời, sản xuất thiết bị bay không người lái, sản xuất các thiết bị mạng viện thông đều là nhờ chính sách công nghiệp rất tích cực của Nhà nước nhất là thông qua biện pháp tín dụng ưu đãi.

Cạnh tranh khốc liệt tại thị trường Trung Quốc trong lĩnh vực chế biến chế tạo đã buộc các doanh nghiệp bất kể hình thức sở hữu nào cũng luôn phải nâng cấp cả quá trình sản xuất lẫn sản phẩm và nâng cấp chức năng. Cho đến trước thập niên 2000, các ngành chế biến chế tạo của Trung Quốc đều thâm dụng lao động, hướng tới mục tiêu tạo ra các sản phẩm với số lượng lớn, chất lượng thấp nhưng rẻ. Từ đầu thập niên 2000, tiền công ở Trung Quốc bắt đầu tăng, thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cấp quá trình sản xuất bằng cách gia tăng mạnh đầu tư trang bị máy móc mới, nâng cao tay nghề lao động, cải tiến quy trình sản xuất, áp dụng hoặc cải tiến chương trình quản lý chất lượng toàn bộ, quản lý chung, tổ chức, … Nhờ đó, từ đầu thập niên 2000, các ngành chế biến chế tạo đã chuyển từ thâm dụng lao động sang thâm dụng vốn. Đóng góp và tốc độ tăng đóng góp của vốn trong tăng trưởng của khu vực công nghiệp nói chung và lĩnh vực chế biến chế tạo nói riêng tăng mạnh kể từ đó. Và, kinh tế Trung Quốc hiện nay được xem là nền kinh tế tăng trưởng dựa vào đầu tư. Đồng thời, nhận thức được những hạn chế của tăng trưởng dựa vào đầu tư, từ Đại hội XVII (năm 2007), Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Hồ Cẩm Đào – Ôn Gia Bảo đã bắt đầu triển khai chiến lược phát triển dựa vào đổi mới-sáng tạo. Song song với đó, khu vực dịch vụ bắt đầu đươc chú trọng phát triển để nâng giá trị gia tăng nội địa trong sản phẩm và hỗ trợ xây dựng các chuỗi giá trị do doanh nghiệp Trung Quốc dẫn đầu. Nâng cấp sản phẩm (nâng cao chất lượng sản phẩm, sử dụng nguyên vật liệu mới để mở rộng phạm vi sản phẩm) và nâng cấp chức năng (thiết kế, marketing, thương hiệu, phân phối, logistics – tức là các hoạt động gắn với dịch vụ nhiều hơn) bắt đầu được các doanh nghiệp Trung Quốc coi trọng. Từ cuối năm 2007, sản phẩm chế biến chế tạo của Trung Quốc đã chuyển mạnh từ giá rẻ chất lượng thấp sang chất lượng tốt giá cạnh tranh (so với các nước tiên tiến) có thiết kế riêng thương hiệu riêng.

Mô hình đàn nhạn bay của Akamatsu cho rằng cùng với sự thay đổi lợi thế so sánh, sự phát triển công nghiệp sẽ tuần tự chuyển từ nhập khẩu sang sản xuất thay thế nhập khẩu rồi sang xuất khẩu, từ hàng tiêu dùng sang máy móc với mức độ phức tạp tăng dần, qua đó các nước đi sau bám theo sau các nước đi trước (Akamatsu, 1962). Mô hình này đã được chứng minh ở Nhật Bản và bốn con hổ châu Á, song lại chưa được khẳng định chắc chắn ở Trung Quốc. Nhờ thu hút FDI, Trung Quốc đi thẳng vào xuất khẩu ngay từ khi mới cải cách mở cửa. Trung Quốc đồng thời phát triển nhiều ngành có mức độ sử dụng công nghệ, vốn và lao động khác nhau và dù vẫn còn đang là nước có thu nhập trung bình, song Trung Quốc đang trực tiếp cạnh tranh với các nước tiên tiến ở một số sản phẩm công nghệ cao. Nếu vào đầu thập niên 1990, sản phẩm xuất khẩu của Trung Quốc chủ yếu là các mặt hàng công nghiệp nhẹ (40% kim ngạch xuất khẩu) như quần áo, giày dép, đồ chơi, thì chỉ tới đầu thập niên 2000 các sản phẩm điện tử, máy móc đã chiếm tỷ lệ trên 40% và hàng công nghiệp nhẹ giảm xuống chỉ còn chưa đến 30% (Prasad ed., 2014). Hiện nay, các mặt hàng xuất khẩu của Trung Quốc đã bao gồm các mặt hàng điện tử tinh vi như smart phone, máy tính, vi mạch, thiết bị mạng cho đến các sản phẩm máy móc phức tạp như ô tô và phụ tùng, linh kiện.

1.2. Xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa

Thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc được ghi rất rõ trong nghị quyết hội nghị trung ương ba khóa XIV của Đảng Cộng sản Trung Quốc (cuối năm 1993): “Thành lập thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa nghĩa là để cho thị trường đóng vai trò cơ bản trong phân bổ nguồn lực dưới sự quản lý vĩ mô của Nhà nước … Hệ thống doanh nghiệp hiện đại lấy chế độ công hữu làm chủ thể là nền tảng của thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” (Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIV, 1993). Cách hiểu như thế đã được Trung Quốc kiên trì áp dụng ngay từ những ngày đầu cải cách mặc dù tên gọi thể chế này thời gian đầu là “kinh tế hàng hóa xã hội chủ nghĩa” hoặc “kinh tế hàng hóa có kế hoạch”. Việc thành lập kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc diễn ra bằng một quá trình thử nghiệm thận trọng ở nông thôn trước thành thị sau (giai đoạn trước 1984), ở đặc khu trước rồi đến các thành phố ven biển (giữa thập niên 1980) rồi đến các thành phố tỉnh lỵ (từ đầu thập niên 1990) rồi mới áp dụng rộng ra cả nước. Cùng với quá trình nói trên, doanh nghiệp nhà nước từ chỗ sản xuất theo kế hoạch hoàn toàn bắt đầu được trao quyền tự chủ (từ cuối 1978 đến cuối 1984), tiếp theo là được phân tách quyền sở hữu và quyền kinh doanh, tổ chức Đảng rút lui khỏi quản lý kinh doanh và thí điểm cổ phần hóa (cuối 1984 đến cuối 1993) và sau đó là tư nhân hóa trong trường hợp là các doanh nghiệp nhỏ và vừa và doanh nghiệp lớn không trong các lĩnh vực quan trọng theo phương châm “nắm lớn, buông nhỏ” (Hoàng Thế Anh chủ biên, 2024).

Chính sách nắm lớn kiểu này là một đặc trưng của kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc và được Đảng Cộng sản Trung Quốc phát huy đến tận hiện nay và theo báo cáo chính trị do Tổng Bí thư Tập Cận Bình trình bày tại Đại hội XIX thì có thể sẽ còn tiếp tục đến tận giữa thế kỷ XXI.

Tuy tuyên bố rằng vẫn giữ doanh nghiệp lớn, nhưng sở hữu nhà nước ở các doanh nghiệp lớn cũng chia làm nhiều loại. Sở hữu nhà nước bao gồm loại sở hữu của Chính phủ, nghĩa là các bộ ngành hoặc các chính quyền địa phương trực tiếp nắm sở hữu, hoặc loại doanh nghiệp có tư cách pháp nhân sở hữu nhà nước trong đó doanh nghiệp nhà nước hoặc thể chế sở hữu nhà nước khác sở hữu. Đối với các doanh nghiệp đã chuyển đổi sở hữu, tùy mức độ quan trọng của doanh nghiệp, Nhà nước có thể nắm quyền sở hữu hoàn toàn, hoặc giữ một cổ phần lớn. Các ngành quan trọng mà Nhà nước thường muốn giữ sở hữu toàn bộ hoặc sở hữu chính các doanh nghiệp lớn là những ngành có liên kết xuôi quan trọng đối với phần còn lại của nền kinh tế, như năng lượng, nguyên liệu thô, luyện kim, điện, hóa chất, cơ khí, xăng dầu và khí đốt, vận tải hàng không, vận tải biển, chế tạo ô tô, ngân hàng.

Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường khẳng định vai trò quyết định của thị trường trong phân bổ nguồn lực. Tuy nhiên, doanh nghiệp nhà nước tiếp tục được coi trọng và hỗ trợ để lớn hơn và mạnh hơn và trở thành những doanh nghiệp khổng lồ quán quân quốc tế. Trung Quốc đã tập trung củng cố khoảng gần 100 doanh nghiệp chủ yếu là trong lĩnh vực công nghiệp để trở thành những quán quân thế giới. Thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa từ thời điểm này thể hiện rõ ở chế độ sở hữu hỗn hợp cho phép các quỹ tài chính của nhà nước và doanh nghiệp nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp tư nhân và như vậy mở rộng sự kiểm soát của Nhà nước trong nền kinh tế.

Với phương châm nắm lớn buông nhỏ để đảm bảo vai trò của kinh tế nhà nước như là cốt tủy của chế độ kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, khu vực doanh nghiệp nhà nước bao gồm doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ hoặc sở hữu phần lớn của Trung Quốc vẫn hiện diện rõ rệt trong một nền kinh tế thị trường có mức độ cạnh tranh cao hàng đầu thế giới, thể hiện qua số lượng doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc trong danh sách Fortune Global 500. Năm 2024, trong danh sách 500 doanh nghiệp có doanh thu lớn nhất thế giới do Fortune chọn, có 109 doanh nghiệp Trung Quốc và đều là doanh nghiệp do Nhà nước kiểm soát trong số đó có nhiều doanh nghiệp thuộc diện quản lý của Ủy ban Quản lý và Giám sát Tài sản Quốc hữu (cơ quan có chức năng và nhiệm vụ như Ủy ban Quản lý Vốn Nhà nước tại Doanh nghiệp của Việt Nam). Hiện nay, doanh nghiệp nhà nước tuy chỉ còn đóng góp khoảng một phần năm sản lượng (so với bốn phần năm sản lượng lúc mới cải cách), nhưng vẫn nắm giữ tới khoảng 40% giá trị tài sản công nghiệp ở Trung Quốc. Doanh nghiệp nhà nước đã góp phần vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhanh, ổn định chính trị và kinh tế, đảm bảo các nguồn tài nguyên thiết yếu và phát triển ảnh hưởng của Trung Quốc ở nước ngoài (Hirson, 2024).

Tuy xét riêng lẻ từng doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc hoạt động kém hiệu quả hơn hẳn doanh nghiệp tư nhân, song việc duy trì khu vực doanh nghiệp nhà nước xét ở bình diện toàn thể nền kinh tế vẫn giúp nền kinh tế có hiệu quả bởi lẽ doanh nghiệp nhà nước hoạt động chủ yếu ở khu vực thượng nguồn. Quy mô khu vực doanh nghiệp nhà nước dẫn tới lượng cầu tiềm năng lớn ở khu vực thượng nguồn đối với doanh nghiệp tư nhân, giúp doanh nghiệp tư nhân phát triển. Đồng thời, khu vực doanh nghiệp nhà nước kiểm soát thượng nguồn đã, dưới sự chỉ đạo của chính phủ, cung cấp nhiều loại năng lượng, nguyên liệu và đầu vào khác một cách ổn định cho doanh nghiệp tư nhân ở hạ nguồn. Mặt khác, việc điều chỉnh mức đầu tư ở các doanh nghiệp nhà nước theo chỉ thị của chính phủ là một cách điều tiết kinh tế vĩ mô có hiệu quả khá nhanh, giúp cho Trung Quốc tăng trưởng cao và ổn định suốt từ giữa thập niên 1990 tới nay. Chỉ số ICOR ở Trung Quốc tăng ngay sau các thời điểm khủng hoảng tài chính châu Á 1997, khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 có thể là do gia tăng đầu tư của khu vực doanh nghiệp nhà nước trong khi hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp này không cao.

Khu vực kinh tế tư nhân ở Trung Quốc, từ chỗ bị cấm trước năm 1979, đến chỗ được cho phép thành lập nhưng bị kiềm chế và phát triển chậm chạp trong thập niên 1980 ở khu vực đô thị ở một số địa phương được chọn để thử nghiệm kinh tế thị trường; rồi có cơ sở pháp lý để hoạt động và không còn bị hạn chế về quy mô lao động từ năm 1988; rồi hoạt động dựa trên Luật Doanh nghiệp từ giữa thập niên 1990; được công nhận là “một thành phần quan trọng của nền kinh tế hỗn hợp” từ năm 1999. Năm 2005 và tiếp đó năm 2010, chính phủ Trung Quốc đã gỡ bỏ các hạn chế đối với doanh nghiệp tư nhân trong việc tham gia vào các ngành chẳng hạn như vận tải hàng không. Các doanh nghiệp tư nhân dần dần cũng đỡ gặp khó khăn hơn trong huy động vốn do Nhà nước gỡ bỏ dần các hạn chế đối với tiếp cận các khoản vay ngân hàng và huy động vốn trên thị trường chứng khoán. Suốt bốn mươi năm qua, khu vực doanh nghiệp tư nhân đã đóng góp to lớn vào tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc và tỏ ra hiệu quả hơn hẳn khu vực doanh nghiệp nhà nước (Lardy, 2024). Trong chặng đường ấy, có một sự kiện đặc biệt, đó là vào năm 2001, nhân kỷ niệm 80 năm thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tổng Bí thư Giang Trạch Dân đã công bố thuyết “ba đại diện”, cho phép chủ doanh nghiệp tư nhân trở thành đảng viên. Từ đây, thành phần của Đảng Cộng sản Trung Quốc bao gồm các đại diện của ba lực lượng là công nhân, nông dân và chủ doanh nghiệp tư nhân.

2. Một số hạn chế, tồn tại trong thực tiễn cải cách kinh tế ở Trung Quốc

Thủ tướng Ôn Gia Bảo tại kỳ họp thứ năm của Quốc hội Trung Quốc khóa X vào tháng 3/2007 đã cảnh báo: “vấn đề lớn nhất của kinh tế Trung Quốc là tăng trưởng không ổn định, không cân bằng, không phối hợp và không bền vững” (IMF, 2007). Ngoài ra, một số hạn chế khác mà dù Trung Quốc nhận thấy tính nghiêm trọng của nó song vì những ràng buộc chính trị nên các hạn chế này ít được đề cập hơn, đó là: mặt trái của doanh nghiệp nhà nước, chủ nghĩa GDP, v.v…

2.1. Không ổn định

Kinh tế Trung Quốc suốt một thời gian dài tăng trưởng quá nóng, dựa quá nhiều vào đầu tư, dựa quá ít vào tiêu dùng nội địa, mức vay nợ cao, lượng tiền mặt trong lưu thông lớn, mất cân bằng cán cân thương mại (De, 2007; Hoàng Thế Anh chủ biên, 2024). Nền kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao của Trung Quốc rất khó kiểm soát được bằng các sắc lệnh hành chính mà Nhà nước Trung Quốc vẫn dùng. Thêm vào đó, kỹ năng điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước không thể có được thông qua các giáo trình hay nhờ kinh nghiệm tích lũy trong một thời gian ngắn ngủi mà phải là kinh nghiệm đau đớn và thấm thía qua cả trăm năm kinh tế thị trường.

Đầu tư ở Trung Quốc luôn cao, giao động trong khoảng 30% đến 40% GDP trong thập niên 1990 và đầu thập niên 2000, thậm chí đã vượt tỷ trọng của tiêu dùng từ năm 2006 và giao động trong khoảng 40% đến 45% GDP trong thời gian từ 2008 tới nay (Lo, 2024). Đầu tư quá cao trong khi tiêu dùng nội địa không tương xứng dẫn tới sản xuất dư thừa trong khi Trung Quốc thường xuyên gặp phải tình trạng thiếu cung nguyên liệu và kết cấu hạ tầng không theo kịp. Không dựa vào tiêu dùng nội địa mà lại dựa vào nhu cầu nước ngoài dẫn đến việc kinh tế Trung Quốc phụ thuộc nhiều vào tình hình tăng trưởng toàn cầu. Mặt khác do có thặng dư thương mại lớn và nhất là trong quan hệ thương mại song phương với một số nước, nên những căng thẳng thương mại hay nảy sinh mà ví dụ điển hình là căng thẳng thương mại với Mỹ hiện nay.

Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc giảm, vấn đề nợ trở nên được chú ý. Vào năm 2003, nợ của Trung Quốc mới chỉ khoảng 175% GDP và tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc rất cao, nên vấn đề nợ không đáng lo ngại. Song do dựa vào đầu tư để đối phó với tác động của khủng hoảng, nợ đã ngày một tăng và đến năm 2024 đã lên tới 253% GDP trong khi tăng trưởng kinh tế ngày càng chậm lại. Phần lớn nhất trong nợ của Trung Quốc là nợ của doanh nghiệp ngoài ngành tài chính, vào khoảng 123% GDP năm 2014. Thứ đến là nợ công, khoảng 58% GDP cùng năm. Nợ của hộ gia đình khoảng 36% GDP (Edwards, 2024). IMF cho rằng nợ của khu vực doanh nghiệp ở Trung Quốc gia tăng ở mức nhanh đáng lo ngại. Nguyên nhân của nợ doanh nghiệp tăng nhanh là các doanh nghiệp ở Trung Quốc dựa nhiều vào vốn vay ngân hàng do thị trường chứng khoán còn kém phát triển. Nếu các doanh nghiệp Trung Quốc vỡ nợ thì khu vực ngân hàng của Trung Quốc sẽ lâm vào tình trạng nguy hiểm. Trong nợ công, nợ của chính quyền địa phương đã tăng rất nhanh và đã vượt cả nợ của chính quyền trung ương. Chủ nghĩa GDP là nhân tố quan trọng góp phần gây ra nợ công của chính quyền địa phương.

2.2. Không cân bằng

Không cân bằng nghĩa là phát triển không đồng đều giữa nông thôn và thành thị, giữa sâu trong nội địa (miền trung, miền tây) và duyên hải (miền đông); không đồng đều giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội. Tình trạng khó được đi học, khó được khám chữa bệnh, khó tìm được việc làm thành những vấn đề nhức nhối (De, 2007; Hoàng Thế Anh chủ biên, 2024).

Thực tiễn ở Trung Quốc cho thấy cùng với thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh và giảm nghèo cũng rất nhanh, bất bình đẳng thu nhập lại gia tăng rất nhanh. Bất bình đẳng về thu nhập ở Trung Quốc đạt mức cao nhất vào năm 2008, tức là ba mươi năm kể từ khi cải cách, và bắt đầu giảm dần nhưng chậm từ 2008 đến nay. Tuy nhiên, sự thay đổi này chủ yếu là do tỷ trọng của nhóm 20 phần trăm dân số thu nhập cao nhất giảm và tỷ trọng của nhóm 20 phần trăm dân số thu nhập ở giữa tăng; trong khi đó, tỷ trọng của nhóm 20 phần trăm dân số thu nhập thấp nhất lại không hề tăng (Jain-Chandra et al., 2024). Nhiều nước phương Tây, Mỹ Latinh cũng có hiện tượng tương tự Trung Quốc. Tuy nhiên, một số nước Đông Á lại không đi theo mô hình Kuznets như thế. Bất bình đẳng thu nhập ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan giảm trong quá trình công nghiệp hóa mà không trải qua pha tăng nào (Acemoglu & Robinson, 2012).

Trong quá trình phát triển, chênh lệch phát triển vùng miền là không tránh khỏi ở bất cứ nước nào. Tuy nhiên, ở Trung Quốc, chênh lệch phát triển vùng miền lại lớn hơn hẳn các nước tư bản cũng như các nước đang phát triển khác. Sự chênh lệch này thể hiện cả ở GDP, thu nhập, mức tiêu dùng, cung ứng dịch vụ công, v.v… Ngay cả đóng góp của vốn nhân lực vào tăng trưởng cũng có sự chênh lệch lớn giữa khu vực nông thôn với khu vực thành thị do lao động nông thôn không được giáo dục tốt bằng lao động thành thị (Li et al., 2024). Nguyên nhân của chênh lệch là do điều kiện phát triển kinh tế không đồng đều dẫn tới tốc độ tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế, tốc độ đô thị hóa không như nhau. Các chính sách phát triển vùng nông thôn và các vùng sâu trong nội địa được triển khai từ năm 1999 nhất là dưới thời Hồ Cầm Đào và Ôn Gia Bảo nhưng mãi đến giữa thập niên 2000 mới có vẻ phát huy hiệu quả.

Một số nghiên cứu gần đây cho thấy hiện tượng chữ U ngược trong tương quan giữa chênh lệch về thu nhập và mức thu nhập bình quân đầu người được khẳng định ở Trung Quốc. Chênh lệch thu nhập nói chung và chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị lên đến mức cao nhất vào năm 2004 và giảm dần sau đó, nhưng mức độ chênh lệch thu nhập giữa các tỉnh duyên hải với các tỉnh sâu trong nội địa vẫn tiếp tục gia tăng đến tận năm 2009 rồi mới bắt đầu giảm (Kanbur et al., 2024).

2.3. Không phối hợp

Thiếu sự phối hợp giữa ba lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, đồng thời, thiếu phối hợp giữa đầu tư và tiêu dùng (De, 2007; Hoàng Thế Anh chủ biên, 2024). Ngoài ra, còn thiếu sự phối hợp trong phát triển vùng.

Khu vực dịch vụ ở Trung Quốc được xem là quá nhỏ và không giúp nhiều cho việc hấp thụ lao động dư thừa ở nông thôn, giảm thâm dụng tài nguyên, tăng hiệu quả đầu ra và giúp nâng cao chất lượng sống. Vào thời điểm năm 2013, khu vực dịch vụ chỉ chiếm gần 47% GDP và chỉ 37% tổng số việc làm ở Trung Quốc. Những chỉ số này là thấp so với các nước có thu nhập trung bình nói chung (55 phần trăm GDP) (Rutkowski, 2024; Fang, 2024). Ngay so với trình độ phát triển kinh tế nói chung của Trung Quốc thì quy mô khu vực GDP cũng là nhỏ (Park & Shin, 2012). Năm 2013 cũng là thời điểm tỷ trọng của dịch vụ trong GDP bắt đầu vượt tỷ trọng của các ngành chế biến, chế tạo (ngoại trừ các năm 2008-2009 khi khu vực chế biến chế tạo bị ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu).

Có hai nguyên nhân có thể dẫn tới khu vực dịch vụ nhỏ ở Trung Quốc. Một là, có quá nhiều ưu đãi đối với các ngành công nghiệp dẫn tới đầu tư đổ vào công nghiệp hơn là vào dịch vụ. Các ưu đãi đó bao gồm trợ giá đầu vào, các kiểm soát giá và chế độ thuế có lợi cho công nghiệp, các rào cản đầu tư tư nhân vào các ngành tài chính và ngân hàng, hàng không, viễn thông. Hai là, khu vực dịch vụ bị chi phối bởi các doanh nghiệp nhà nước (lớn hơn nhiều so với trong lĩnh vực công nghiệp) khiến tư nhân không thấy cơ hội kinh doanh thuận lợi nào nếu đầu tư vào dịch vụ.

Chính sách phát triển vùng theo triết lý khai thác lợi thế so sánh đã dẫn tới việc tạo các điều kiện thuận lợi cho các địa phương ven biển phát triển trước, sau đó đến các thành phố tỉnh lỵ và thành phố ven sông Dương Tử. Chính vì thế, các vùng Đông Bắc, Trung, Tây và Tây Nam vốn có ít lợi thế cạnh tranh hơn lại càng bị tụt hậu. Đô thị hóa và công nghiệp, dịch vụ ở các địa phương được ưu tiên phát triển hơn hẳn các địa phương còn lại. Hệ quả là, lao động dư thừa ở các vùng không được ưu tiên phải di chuyển lên thành phố ở các địa phương ưu tiên để tìm việc làm. Nhưng chế độ hộ khẩu không được thay đổi đã khiến cho khoảng 250 triệu người Trung Quốc di cư lên thành phố làm việc nhưng không có hộ tịch (tương tự KT3 ở Việt Nam).

Sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, các rào cản đối với khu vực dịch vụ được gỡ bỏ dần nhưng chậm. Nhận ra hệ quả tiêu cực của việc thiếu phối hợp trong cơ cấu ngành kinh tế, năm 2012 Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào cũng từng khẳng định phải phát triển dịch vụ, thúc đẩy cầu nội địa nhất là tiêu dùng nội địa, thúc đẩy bảo tồn tài nguyên và kinh tế tuần hoàn, phát triển có phối hợp giữa nông thôn và thành thị, xem đó là những mục tiêu của nhiệm vụ tăng tốc hoàn thiện kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, các đánh giá của quốc tế về việc thực hiện các mục tiêu này ở Trung Quốc là rất chậm chạp.

2.4. Không bền vững

Không bền vững vì kinh tế Trung Quốc tiêu dùng quá nhiều năng lượng và không thân thiện với môi trường sinh thái (De, 2007; Hoàng Thế Anh chủ biên, 2024). Điều tra ô nhiễm của Bộ Môi trường sinh thái cho thấy, số lượng các nguồn gây ô nhiễm ở Trung Quốc đã tăng từ 5,9 triệu năm 2010 lên khoảng 9 triệu năm 2024. Trong số 9 triệu nguồn gây ô nhiễm đó, có tới 7,4 triệu nguồn là từ các cơ sở công nghiệp (Kuo, 2024).

Thực tế, không phải Trung Quốc không ý thức được vấn đề môi trường trong quá trình công nghiệp hóa. Ngay từ đầu thập niên 1980, khẩu hiệu “văn minh sinh thái” đã được nêu ra. Tuy nhiên, chỉ đến khi ô nhiễm môi trường trở nên nhức nhối vào giữa thập niên 2000 thì đến năm 2007, khẩu hiệu này mới được nhắc đến liên tục (Zhang, 2024). Năm 2007, Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào kêu gọi thực hiện Quan điểm Phát triển Khoa học với mục đích chuyển phương thức phát triển của Trung Quốc sang phát triển bền vững trên đồng thời các mặt kinh tế, xã hội, môi trường. Tuy nhiên, khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và những tác động tiêu cực của nó tới kinh tế Trung Quốc đã khiến cho các cải cách này không diễn ra như kế hoạch. Đầu tư vẫn là một nhân tố tăng trưởng quan trọng và tiếp tục được thúc đẩy. Ngay cả năm 2014, khi Trung Quốc “tuyên chiến” với ô nhiễm môi trường, những lo ngại rằng chống ô nhiễm môi trường có thể làm nền kinh tế tăng trưởng chậm lại vẫn còn rất rõ (Branigan, 2014).

Dù vậy. phiên bản môi trường của mô hình Kuznets cũng được chứng minh ở Trung Quốc. Mức phát thải CO2 và SO2 của Trung Quốc tăng liên tục từ năm 1978 đến năm 2011 khi GDP bình quân đầu người ở Trung Quốc đạt 99261 yuan rồi chững lại từ đó đến nay (Li et al., 2024). Chất lượng không khí đã được cải thiện rõ rệt ở một số thành phố lớn của Trung Quốc, nhất là Bắc Kinh.

2.5. Mặt trái của doanh nghiệp nhà nước

Một số vấn đề thường thấy ở các doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc là: (i) tồn tại các nhóm lợi ích chi phối doanh nghiệp; (ii) chính quyền can thiệp nhiều vào hoạt động của doanh nghiệp, thậm chí dưới thời Tập Cận Bình, Đảng can dự nhiều hơn nữa; (iii) thể chế và chế độ quản lý tài sản nhà nước chồng chéo, nhiều bất cập, quá nhiều cấp quản lý, tập quyền và gia đình trị; (iv) công tác quản lý giám sát vốn, tài sản nhà nước còn nhiều lỗ hổng mặc dù Trung Quốc đã thành lập Ủy ban Quản lý và Giám sát Tài sản Quốc hữu vào năm 2003; (v) cơ chế kinh doanh mang đậm màu sắc hành chính, chưa theo kịp nhu cầu của kinh tế thị trường; (vi) cơ cấu ngành nghề  của doanh nghiệp nhà nước được xây dựng căn cứ theo bản chất kinh tế kế hoạch, không phù hợp với yêu cầu của môi trường kinh tế; v.v… (Hoàng Thế Anh chủ biên, 2024)

Các vấn đề như chế ước ngân sách mềm, ủy thác – nhận thác thường thấy ở doanh nghiệp nhà nước nói chung đã được chứng minh ở Trung Quốc. Việc kết hợp mục tiêu chính trị với mục tiêu kinh doanh ở các doanh nghiệp nhà nước càng làm các vấn đề này nặng nề. Các doanh nghiệp này có xu hướng đầu tư quá mức, hiệu quả kinh doanh tuy không tồi và ngày càng được cải thiện song vẫn thua xa doanh nghiệp tư nhân, tệ tham ô của lãnh đạo doanh nghiệp khá nghiêm trọng (Hoàng Thế Anh chủ biên, 2024).

Sự can dự quá mức của Nhà nước trong nền kinh tế thông qua khu vực doanh nghiệp nhà nước và chính sách công nghiệp kiểu từ trên xuống dẫn tới một số điểm hạn chế mang tính cấu trúc này của mô hình tăng trưởng của Trung Quốc. Tỷ trọng lớn của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế là một trong những nguyên nhân làm cho nền kinh tế bị bóp méo. Tình trạng thiếu phối hợp giữa đầu tư và tiêu dùng, sản xuất dư thừa, thâm dụng tài nguyên đã đề cập ở trên có một phần lớn nguyên nhân là do khu vực doanh nghiệp nhà nước. Các ngành dư thừa lớn gồm: luyện nhôm, luyện thép, sản xuất điện mặt trời, sản xuất điện gió, khai thác than, v.v… Các nguyên nhân có thể là: (i) doanh nghiệp nhà nước được vay ưu đãi từ các ngân hàng thương mại cũng thuộc sở hữu nhà nước nên có xu hướng vay nhiều và đầu tư nhiều, trong khi đó hệ thống phân bổ vốn của Trung Quốc dựa chủ yếu vào kênh gián tiếp là vay ngân hàng thay vì kênh trực tiếp là thị trường chứng khoán; (ii) doanh nghiệp nhà nước được trợ giá đầu vào nên đầu tư quá nhiều; (iii) doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách ít và đem lợi nhuận tái đầu tư nhiều; v.v…

Sự hỗ trợ của Nhà nước cho các doanh nghiệp nhà nước dẫn tới những thua thiệt cho các doanh nghiệp tư nhân. Trong khi doanh nghiệp tư nhân gặp khó khăn trong tiếp cận tài chính, phải đóng thuế suất cao hơn so với doanh nghiệp nhà nước trong cùng một lĩnh vực, thì doanh nghiệp nhà nước được ưu đãi về thuế, ưu đãi về lãi suất cho vay, được cấp vốn, được trợ cấp, được cung cấp năng lượng giá rẻ hơn, v.v… Ví dụ, năm 2024, 83% các khoản cho vay ngân hàng mới là dành cho doanh nghiệp nhà nước, chỉ có 11% dành cho doanh nghiệp tư nhân (Hirson, 2024). Điều này dẫn tới một hiện tượng mà ở Trung Quốc gọi là “nhà nước tiến thì tư nhân thoái”. Đây cũng là một điểm mà các nước tiên tiến phê phán gay gắt và là một điểm khó thương lượng được trong đàm phán giải quyết xung đột thương mại Mỹ – Trung hiện nay.

2.6. “Chủ nghĩa GDP”

Chủ nghĩa thành tích (hay “chủ nghĩa GDP” như cách gọi ở Trung Quốc) dẫn tới một số vấn đề sau: cạnh tranh khốc liệt giữa các chính quyền địa phương, sản xuất dư thừa, nợ của chính quyền địa phương.

Hệ thống phân cấp hành chính của Trung Quốc có đặc trưng là tập quyền ở trung ương và tản quyền cho địa phương – một hệ thống mà những người quan sát phương Tây gọi là “chủ nghĩa liên bang mang đặc sắc Trung Quốc”. Các chính quyền địa phương được trao nhiều quyền tự chủ. Về mặt kinh tế, chính quyền trung ương quản lý địa phương theo một cơ chế tương tự khoán mặc dù không chính thức. Trung ương đặt ra chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế quốc gia và các địa phương được kỳ vọng sẽ phải tăng trưởng tốt hơn thế. Năng lực và cống hiến của các lãnh đạo địa phương được trung ương đánh giá qua thành tích tăng trưởng kinh tế địa phương. Điều này dẫn tới các chính quyền địa phương đua nhau đặt ra các chỉ tiêu tăng trưởng cao hơn với hy vọng nhận được sự chú ý của trung ương.

Việc chính quyền địa phương chú trọng tới mặt lượng của tăng trưởng hơn là mặt chất còn là vì họ cần nguồn thu từ thuế. Chế độ phân cấp tài chính ở Trung Quốc có đặc trưng là tới 80 phần trăm các nhiệm vụ chi là do chính quyền địa phương chịu trách nhiệm, song chỉ có khoảng 50% số thu từ các nguồn thuế là thuộc về địa phương. Thúc đẩy tăng trưởng sẽ giúp phát triển nguồn thu và tăng thu cho chính quyền địa phương. Vì vậy, các chính quyền địa phương ở Trung Quốc đều tự đặt ra các chỉ tiêu tăng trưởng rất cao.

Để đạt được chỉ tiêu tự đề ra, các chính quyền địa phương khai thác nhiều nhân tố tăng trưởng khác nhau song nhân tố được khai thác nhiều nhất là đầu tư. Chỉ một số thành phố ven biển là có nhiều thanh khoản cho mục đích đầu tư, còn các địa phương sâu trong nội địa thì thường thiếu vốn. Để có ngân sách đầu tư, chính quyền địa phương lại đi vay mà hệ quả là nợ công ngày một lớn.

Đồng thời, để giữ nguồn thu của mình không bị giảm, các chính quyền địa phương có xu hướng không đóng cửa các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ vì họ vẫn thu được thuế giá trị gia tăng từ sản phẩm của các doanh nghiệp này. Việc cải cách doanh nghiệp nhà nước chậm chạm đến mức làm Thủ tướng Lý Khắc Cường nổi giận có thể có phần từ nguyên nhân này (Epoch, 2024).

Trước thực tế nói trên, giới lãnh đạo Trung Quốc đang tìm cách khắc phục. Tổng Bí thư Tập Cận Bình trong báo cáo chính trị trước Đại hội XIX (năm 2024) đã không còn đề cập đến các chỉ tiêu tăng trưởng cụ thể (Lau, 2024). Chính quyền thành phố Thượng Hải là chính quyền địa phương đầu tiên bỏ tiêu chí tăng trưởng GDP trong các kế hoạch của mình và họ làm điều này từ năm 2024 (Cai, 2024).

Lời kết

Qua bốn mươi năm cải cách, mở cửa kinh tế, Trung Quốc đã đạt những thành tựu ngoạn mục trong phát triển. Mặc dù vẫn còn là nền kinh tế đang phát triển, nhưng Trung Quốc đang cùng với Mỹ và khu vực đồng tiền chung châu Âu tạo thành tam mã lôi kéo tăng trưởng toàn cầu. Thành tựu to lớn này là nhờ Trung Quốc đã nhận thức rõ các điều kiện của mình và nắm bắt tốt thời cơ để điều chỉnh phương thức phát triển kịp thời qua các giai đoạn khác nhau. Bốn mươi năm cải cách kinh tế theo hướng thị trường hóa, vai trò của kinh tế Nhà nước nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng ở Trung Quốc không những không suy giảm mà ngày càng được quan tâm hơn. Tuy nhiên, phương thức phát triển và thể chế kinh tế của Trung Quốc bốn mươi năm qua cũng đã bộc lộ những hạn chế và tồn tại. Trong khi các vấn đề không cân bằng, không phối hợp, không bền vững và “chủ nghĩa GDP” đã bước đầu được khắc phục và cải thiện, thì tính chất không ổn định và mặt trái của doanh nghiệp nhà nước vẫn đang là hai thách thức lớn. Hai thách thức đó sẽ vẫn còn tồn tại chừng nào Trung Quốc vẫn chấp nhận rủi ro và đánh đổi giữa ổn định với tăng trưởng nhanh, giữa những tồn tại của doanh nghiệp nhà nước với việc dùng doanh nghiệp nhà nước để đạt được các mục tiêu chính trị trong nước và quốc tế.

 

CHÚ THÍCH:

* TS., Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

  Bài viết này là kết quả của nhiệm vụ cấp bộ “Bốn mươi năm cải cách mở cửa kinh tế của Trung Quốc và một số gợi mở đối với Việt Nam” do TS. Hoàng Thế Anh làm chủ nhiệm.

(1) Trung Quốc ra luật chống độc quyền từ năm 2008, theo đó các doanh nghiệp có vị trí chi phối thị trường bắt buộc phải cấp phép sử dụng quyền sở hữu trí tuệ cho các doanh nghiệp khác. Điều này giúp Trung Quốc ép nhiều công ty đa quốc gia phải cấp giấy phép công nghệ cho doanh nghiệp Trung Quốc.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.         Akamatsu, Kaname (1962), “A historical pattern of economic growth in developing countries”, Journal of Developing Economies, no. 1(1), March–August, pp.3–25.

2.         Boltho1, Andrea and Weber, Maria (2009), “Did China follow the East Asian development model?” The European Journal of Comparative Economics, vol. 6, no. 2, pp. 267-286.

3.         Acemoglu, Daron and Robinson, James A. (2002), “The Political economy of Kuznets Curve”, Review of Development Economics, no. 6(2), pp. 183-203.

4.         Branigan, Tania (2014), “Chinese premier declares war on pollution in economic overhaul”, The Guardian, 5 March.

5.         Cai, Peter (2024), “Is China bidding farewell to ‘GDPism’?” The Australian Business Review, 28/01/205.

6.         De, Hua (2007), “Bù wěndìng bù pínghéng bù xiétiáo bùkě chíxù”, Qianxian, 9/5/2007.

8.         Epoch (2024), “Guóqǐ gǎigé nán tuīdòng Lǐ Kèqiáng pī zhǐ zhènnù”, Dàjìyuán, 22/5.  http://www.epochtimes.com/gb/16/5/ 22/n7918326.htm, ngày truy cập 01/3/2024.

9.         Fang, Cai (2024), “How has the Chinese economy capitalised on the demographic dividend during the reform period?” p. 248. In Ross Garnaut, Ligang Song and Cai Fang (2024, eds.), China’s 40 years of reform and development 1978–2024, Australian National University Press.

10.     Hoàng Thế Anh (chủ biên, 2024), Cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc sau Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.

11.     Hoàng Thế Anh (chủ biên, 2024), Chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế của Trung Quốc sau Đại hội XVIII Đảng Cộng sản Trung Quốc, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.

12.     Hirson, Michael (2024), “State Capitalism and the Evolution of “China, Inc.”” Testimony before the U.S.-China Economic and Security Review Commission on “China’s Internal and External Challenges”, February 7.

13.     IMF (2024), World Economic Outlook Database, October.

14.     IMF (2007), “IMF Survey: China’s Difficult Rebalancing Act”. https:// chúng tôi org/en/News/Articles/2024/09/28/04/53/socar0912a, truy cập ngày 01/3/2024.

15.     Jain-Chandra, Sonali & Khor, Niny & Mano, Rui & Schauer, Johanna & Wingender, Philippe & Zhuang, Juzhong (2024), “Inequality in China – Trends, Drivers and Policy Remedies “, IMF Working Papers, WP/18/127.

16.     Kanbur, Ravi and Wang, Yue and Zhang, Xiaobo (2024), “The great Chinese inequality turnaround”, BOFIT Discussion Papers, no. 2.5.2024, Bank of Finland.

17.     Kuo, Lily (2024), “China ‘environment census’ reveals 50% rise in pollution sources”, The Guardian, 31 March.

18.     Lardy, Nicholas (2024), “Private sector development”. In Ross Garnaut, Ligang Song and Cai Fang (2024, eds.), China’s 40 years of reform and development 1978–2024, Australian National University Press.

19.     Lau, Stuart (2024), “Xi Jinping deliberately skipped GDP target during epic congress speech, aide admits”, South China Morning Post, 20/7.

20.     Li, Hongbin & Loyalka, Prashant & Rozelle, Scott & Wu, Binzhen (2024), “Human Capital and China’s Future Growth”, Journal of Economic Perspectives, vol. 31, no.1, pp. 25–48.

21.     Li, Tingting & Wang, Yong & Zhao, Dingtao (2024), “Environmental Kuznets Curve in China: New evidence from dynamic panel analysis”, Energy Policy, no. 91, pp. 138-147.

22.     Lo, Chi (2024), What Does BREXIT Mean for China? The SWIFT Institute. https://swiftinstitute.org/2024/07/what-does-brexit-mean-for-china/, ngày truy cập 01/3/2024.

23.     OECD (2024), “China 2024 OECD Economic Survey More resilient and inclusive growth”. https://www.slideshare.net/oecdeconomy/china-2024-oecd-economic-survey-more-resilient-and-inclusive-growth, truy cập ngày 01/3/2024.

24.     Park, Donghyun and Shin, Kwanho (2012), “The Service Sector in Asia: Is It an Engine of Growth?” Asian Development Bank Working Paper, no 322, p. 7.

25.     Poon, Daniel (2014), “China’s Development Trajectory: A Strategic Opening for Industrial Policy in the South”, UNCTAD Discussion Papers, no. 218.

26.     Prasad, Eswar (ed., 2004), “China’s Growth and Integration into the World Economy: Prospects and Challenges”, Occational papers, no. 232, p. 7.

27.     Rutkowski, Ryan (2024), “Service Sector Reform in China”, Policy Brief, no. PB15-2, Peterson Institute for International Economics, p. 2.

28.     Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIV (1993), Nghị quyết Hội nghị Trung ương ba khóa XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc về một số vấn đề xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, ngày 14/11/1993.

29.     Whalley, John & Zhao, Xiliang. (2010), “The Contribution of Human Capital to China’s Economic Growth”, NBER Working Papers, no. 16592.

  • Zhang, Chun (2024), “China’s New Blueprint for an ‘Ecological Civilization’“, The Diplomat, 30 September.

     

    Nguồn: Tạp chí NGHIÊN CÚU TRUNG QUỐC số 2 (210) – 2024

    Các tin đã đưa ngày:

    Vì Sao Trung Quốc Đánh Chiếm Gạc Ma Năm 1988

    Đầu năm 1988, Trung Quốc cho quân chiếm đóng trái phép các bãi đá Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Subi, Huy Gơ thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Nước này đơn phương tăng cường từ 9 lên 12 tàu chiến gồm khu trục tên lửa, hộ vệ tên lửa, hộ vệ pháo và tàu đổ bộ… hoạt động trên quần đảo Trường Sa.

    Tại các đảo Tiên Nữ, Đá Lát, Đá Lớn, Đá Đông, Tốc Tan, hải quân Việt Nam xây dựng thế trận phòng thủ nhằm bước đầu ngăn chặn việc mở rộng phạm vi chiếm đóng của Trung Quốc ra các đảo lân cận. Xác định Trung Quốc còn tiếp tục tranh chấp chủ quyền hải đảo, chiếm bãi san hô nổi hoặc chìm xen kẽ với đảo của Việt Nam, kể cả có xung đột, Việt Nam chủ trương cấp tốc đưa lực lượng đi đóng giữ các đảo trong ba năm (1988-1990). Bộ Tư lệnh Hải quân lệnh cho các tàu gấp rút đưa bộ đội, công binh ra xây dựng đảo, tiến hành chiến dịch Bảo vệ chủ quyền 1988 (CQ-88).

    Thường vụ Đảng ủy Quân chủng Hải quân họp nhận định, Trung Quốc sẽ chiếm thêm một số bãi cạn xung quanh cụm đảo Sinh Tồn, Nam Yết và Đông kinh tuyến 1150. Đặc biệt là chiếm giữ các bãi Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao nhằm gây thanh thế ở khu vực Trường Sa và trên biển Đông.

    Đá Gạc Ma cách đá Cô Lin 3,6 hải lý, cách đá Len Đao 6 hải lý giữ vị trí quan trọng, đánh dấu đầu mút phía Tây Nam cụm đảo Sinh Tồn. Nếu để Trung Quốc chiếm được “sẽ khống chế đường qua lại của ta trong việc tiếp tế, bảo vệ chủ quyền quần đảo Trường Sa”. Hải quân Việt Nam hạ quyết tâm đóng giữ các bãi Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Đây được xác định là nhiệm vụ khẩn trương, nặng nề bởi phương tiện, trang bị cũ, lực lượng hạn chế.

    Đầu tháng 3/1988, các tàu vận tải HQ 604, HQ 605, HQ 505 được lệnh đưa công binh và chiến sĩ ra Trường Sa xây dựng cụm đảo chìm Gạc Ma. Sáng 14/3/1988, khi bộ đội Việt Nam đang chuyển vật liệu lên bãi đá Gạc Ma thì quân Trung Quốc đưa tàu chiến đến ngăn cản, lính Trung Quốc xông lên bãi đá cướp cờ, xả súng giết hại các chiến sĩ. 64 người lính hải quân Việt Nam hy sinh, 9 người khác bị bắt làm tù binh.

    Tàu HQ 604 neo cạnh bãi Gạc Ma, HQ 605 bảo vệ bãi Len Đao bị bắn chìm. HQ 505 bị bắn cháy phần đuôi đã lao hết tốc lực lên bãi, trở thành cột mốc sống bảo vệ chủ quyền Cô Lin. Việt Nam giữ được Cô Lin, Len Đao, còn Gạc Ma bị Trung Quốc chiếm trái phép từ đó.

    Mưu đồ có hệ thống, chọn thời điểm thích hợp để ‘ra tay’

    PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà, Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng gọi ngày 14/3/1988 là “một sự kiện bi thảm nữa trong mối quan hệ hai nước Việt – Trung”, sau sự kiện bi thảm đầu tiên khi Trung Quốc phát động cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Việt Nam vào ngày 17/2/1979.

    Ông Hà phân tích, sự kiện này có hai cuộc đối đầu. Cuộc đối đầu thứ nhất giữa một bên cố tình dùng vũ lực đánh chiếm với những người muốn bảo vệ hòa bình, lãnh thổ của mình. Cuộc đối đầu khác giữa một bên súng ống với một bên là lời nói thuyết phục. Kết quả 64 chiến sĩ hy sinh dưới họng súng của phía xâm lược.

    “Khi đó, trang bị của chúng ta thiếu thốn, cũ kỹ. Người lính chỉ có suy nghĩ rằng đảo thuộc chủ quyền của mình thì tìm cách bảo vệ và gìn giữ. Tuy nhiên, mưu đồ sâu xa của Trung Quốc lớn hơn nhiều và phải nói thẳng rằng khi ấy chúng ta chưa nhận thức được hết mưu đồ có hệ thống của họ”, Viện trưởng Hà nói và cho rằng dù sau đó Gạc Ma bị quân Trung Quốc chiếm, nhưng đây là sự kiện quan trọng trong lịch sử bảo vệ chủ quyền đất nước.

    Ông Hà cho biết, sau này tổng kết lại thấy rõ ràng mỗi lần “ra tay” ở biển Đông, Trung Quốc đều lựa chọn thời điểm, căn cứ vào bối cảnh quốc tế và quan điểm của các nước lớn về vấn đề biển Đông ra sao. Â m mưu độc chiếm biển Đông của họ có từ rất lâu và hành động có hệ thống, từng bước thực hiện chủ trương này.

    Từ năm 1909, Trung Quốc bắt đầu cử phái bộ từ Quảng Đông thăm dò một số đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Đó là thời điểm đánh dấu Trung Quốc có những hành động thực tế nhòm ngó Hoàng Sa và sau này là Trường Sa, mở đầu cho kế hoạch nuốt trọn các đảo.

    Vào năm 1956, Pháp buộc rút hết khỏi Việt Nam sau khi ký Hiệp định Genève tháng 7/1954. Trong bối cảnh Việt – Pháp đang có sự bàn giao, khoảng trống bố phòng ở biển Đông trở thành cơ hội tốt để Trung Quốc chiếm một số đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

    “Nếu không có cái bắt tay giữa Mao Trạch Đông và Nixon thì Trung Quốc không dám có hành động đánh chiếm Hoàng Sa khi đó do chính quyền Việt Nam cộng hòa kiểm soát. Mỹ đứng đằng sau quân đội Việt Nam cộng hòa, tại sao không sử dụng lực lượng để ứng cứu? Bởi mối quan hệ lợi ích Mỹ – Trung thời điểm đó lớn hơn nhiều so với con bài Việt Nam cộng hòa đã được định đoạt số phận rõ ràng sau Hiệp định Paris”, ông Hà phân tích.

    Chọn Gạc Ma làm ‘pháo đài’ giữa biển Đông, tiến tới ‘gặm nhấm’ các đảo

    Theo GS Nguyễn Đăng Hưng (Đại học Liège, Bỉ), lựa chọn Gạc Ma vì Trung Quốc muốn có một pháo đài ở trung tâm biển Đông. Bãi đá Gạc Ma gần như nằm ở giữa Việt Nam và Philippines, ở vị trí đó Việt Nam muốn lấy lại cũng rất khó khăn vì xa bờ. Trung Quốc muốn ở một vị trí an toàn và với việc chiếm được Hoàng Sa, họ có được thế gọng kìm tam giác, từ Hải Nam xuống Hoàng Sa và Gạc Ma để khống chế biển Đông. Thời điểm đó Việt Nam cũng không có tàu chiến hiện đại và đủ sức lấy lại được.

    Từng dành nhiều thời gian nghiên cứu chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ông Đặng Công Ngữ, nguyên Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng) nhận định, việc Trung Quốc đánh chiếm bãi đá Gạc Ma là một bước đi cụ thể cho dã tâm đường lưỡi bò trên biển Đông. Gạc Ma nằm ở vị trí phía Tây của quần đảo Trường Sa và là một trong những bãi đá xung yếu. Chiếm được Gạc Ma sẽ quản lý được vùng biển phía Tây. “Nếu chiếm được bãi đá này thì với tiềm lực mạnh, Trung Quốc sẽ dễ dàng khống chế được cả vùng biển xung quanh”, ông Ngữ phân tích.

    Theo ông Ngữ, chiến lược quân sự mà Trung Quốc đang đưa ra không chỉ ở quần đảo Hoàng Sa mà ngay ở Gạc Ma, là kiểu “gặm nhấm”. Thể hiện rõ nhất là sau khi chiếm đóng trái phép của Việt Nam, nước này không vội đánh chiếm các đảo khác, phần vì gặp phải sự phản đối của Việt Nam và cộng đồng quốc tế. Trung Quốc đã lén lút cho bồi đắp, xây dựng những công trình nhân tạo và “khi Việt Nam phát hiện ra thì mọi việc đã rồi”.

    Cả GS Nguyễn Đăng Hưng và nguyên Chủ tịch Đặng Công Ngữ đều cho rằng sự kiện lịch sử như Gạc Ma cho đến nay rất nhiều người không biết đến là điều đau xót. Đáng lẽ 28 năm qua, các thế hệ người Việt Nam phải được biết tường tận Trung Quốc đã làm gì để đánh chiếm đảo Gạc Ma và giết hại 64 cán bộ, chiến sĩ hải quân nhân dân Việt Nam như thế nào. “Lịch sử phải công khai, công bằng. Hy sinh, thương vong của các chiến sĩ không thể bị lãng quên”, ông Ngữ nói.

    Năm 2024, Trung Quốc ráo riết cải tạo 7 bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà nước này đánh chiếm trái phép, gồm Gạc Ma, Chữ Thập, Vành Khăn, Tư Nghĩa, Châu Viên, Subi, Ga ven. Trung Quốc không ngừng mở rộng và xây dựng trên những thực thể này nhiều công trình như bến cảng, đường băng.

    Tại bãi đá Gạc Ma có diện tích khoảng 7,2 km2, đầu năm 2014, Trung Quốc cho xây dựng một nền bê tông nhỏ với một cơ sở liên lạc, cầu cảng và một đơn vị đồn trú. Nhưng đến nay, phần nền bê tông đã trải rộng trên diện tích 10.000 m2. Trên bãi đá hiện có các công trình như kênh tiếp cận, nhà máy xi măng, tháp phòng thủ, bơm khử mặn, bơm nhiên liệu, cơ sở quân sự nhiều tầng, rađar, trạm liên lạc, bãi đáp trực thăng, cầu cảng và đê chắn sóng gia cố.

    Hoàng Phương – Nguyễn Đông

    Đánh Giá Về Một Số Sản Phẩm Giám Sát An Ninh Mạng

    Công cụ SPlunk

    Sản phẩm trả phí: Có tất cả các chức năng của Splunk, không hạn chế kích thước dữ liệu.

    Sản phẩm miễn phí: Hạn chế một số chức năng, hạn chế khối lượng dữ liệu mỗi ngày là 500MB. Bao gồm các chức năng: Đánh chỉ mục dữ liệu, tìm kiếm trong thời gian thực, thống kế và kết xuất báo cáo.

    TÍNH NĂNG:

    Định dạng Log: Hỗ trợ hầu như tất cả các loại log của hệ thống, thiết bị hạ tầng mạng, phần mềm, Firewall, IDS/IPS, Log Event, Register của các máy trạm ….

    Các hình thức thu thập dữ liệu: Splunk có thể thực hiện việc thu thập log từ rất nhiều nguồn khác nhau. Từ một file hoặc thư mục (kể cả file nén) trên server, qua các kết nối UDP, TCP từ các Splunk Server khác trong mô hình Splunk phân tán, từ các Event Logs, Registry của Windows …Splunk kết hợp rất tốt với các công cụ thu thập log khác.

    Cập nhật dữ liệu: Splunk cập nhật dữ liệu liên tục khi có thay đổi trong thời gian thực. Giúp cho việc phát hiện và cảnh báo trong thời gian thực.

    Đánh chỉ mục dữ liệu: Splunk có thể đánh chỉ mục dữ liệu với một khối lượng dữ liệu rất lớn trong một khoảng thời gian ngắn. Giúp việc tìm kiếm diễn ra nhanh chóng và thuận tiện.

    Tìm kiếm thông tin: Splunk làm việc rất tốt với dữ liệu lớn và cập nhật liên tục. Nó cung cấp cơ chế tìm kiếm với một “Splunk Language” cực kỳ thông minh bao gồm các từ khóa, các hàm và cấu trúc tìm kiếm giúp người sử dụng có thể truy xuất mọi thứ, theo rất nhiều tiêu chí từ tập dữ liệu rất lớn. Những nhà quản trị mạng cao cấp và chuyên nghiệp thường gọi Splunk với cái tên “Splunk toàn năng” hay “Splunk as Google for Log files” để nói lên sức mạnh của Splunk.

    Khắc phục sự cố: Splunk còn cung câp một cơ chế tự động khắc phục với các vấn đề xảy ra bằng việc tự động chạy các file Script mà người dùng tự tạo (Ví dụ như: Chặn IP, đòng Port …) khi có các cảnh báo xảy ra.

    Hiển thị thông tin: Splunk cung cấp một cơ chế hiển thị rất trực quan giúp người sử dụng có thể dễ dàng hình dung về tình trạng của hệ thống, đưa ra các đánh giá về hệ thống. Splunk còn từ động kết xuất ra các báo cáo với nhiều loại định dạng một cách rất chuyên nghiệp.

    Phát triển: Cũng cung cấp các API hỗ trợ việc tạo các ứng dụng trên Splunk của người dùng. Một số bộ API điển hình như Splunk SDK (Cung cấp các SDK trên nền tảng Python, Java, JS, PHP), Shep (Splunk Hadoop Intergration – Đây là sự kết hợp giữa Splunk và Hadoop), Shuttl (Là một sản phẩm hỗ trợ việc sao lưu dữ liệu trong Splunk), Splunkgit (Giúp bạn hình dung dữ liệu tốt hơn), Splunk power shell resource Kit (Bộ công cụ hỗ trợ việc mở rộng và quản lý hệ thống).

    LƯU Ý:

    Splunk mạnh về khả năng phân tích và cảnh báo tuy nhiên nó lại không mạnh và không đảm bảo về việc thu thập và truyền tải log. Cụ thể là nó chưa có cơ chế bảo mật trên đường truyền, không phù hợp với những hệ thống đòi hỏi bảo mật cao.

    Để phát huy hết được sức mạnh của Splunk cần có thời gian tìm hiểu và sử dụng. Nó chưa có cơ chế giúp tự động phát hiện ra các tấn công hay các vấn đề từ bên ngoài. Nhưng điều này phụ thuộc vào kinh nghiệm sử dụng và vốn hiểu biết của người quản trị.

    Đề triển khai được một hệ thống sử dụng Splunk hiệu quả chúng ta cũng cần có một hệ thống riêng, đây cũng là một trở ngại không nhỏ với các hệ thống có quy mô trung bình và nhỏ.

    TRIỂN KHAI:

    Với một hệ thống lớn để triển khai được Splunk chúng ta cần phải có một Server riêng để tập trung Log. Tuy nhiên Splunk làm không tốt việc tập trung Log từ các Server hay thiết bị khác. Vì thế chúng ta cần sử dụng một số công cụ khác để thực hiện việc tập trung Log và về Splunk Server. Cụ thể là ta có thể kết hợp với syslog, Snare (for Windows), sử dụng qua Heroku ….

    Triển khai hệ thống phân tán: Splunk hỗ trợ người dùng thiết lập một hệ thống phân tán khi lượng dữ liệu là quá lớn vượt qua khả năng lưu trữ và xử lý của một máy.

    Là một dịch vụ quản lý Log trực tuyến dựa trên mô hình điện toán đám mây. Nó được phát triển bời chính các nhân viên đã từng làm việc với Splunk. Là một dịch vụ giúp người dùng dễ dàng để triển khai một hệ thống giám sát an ninh mạng. Cụ thể là mọi dữ liệu về Log sẽ được chuyển đến Loggly Server quan các client như snare hoặc một công cụ do Loggly cung cấp. Dữ liệu được chuyển về server của Loggly sẽ được xử lý, phân tích và đưa ra các cảnh báo tới các nhà qsssuản trị. CHÍNH SÁCH BẢN QUYỀN

    Loggly là một dịch vụ trả phí. Người sử dụng cần phải trả phí để sử dụng (Có miễn phí dùng thử 30 ngày).

    TÍNH NĂNG: Loggy cung cấp các chức năng gần giống với Splunk với việc tìm kiếm thông tin trên Log, hiển thị dưới dạng biểu đồ một cách trực quan, cảnh báo tới người sử dụng khi hệ thống có vấn đề. NHƯỢC ĐIỂM:

    Do hoạt động trên mô hình Service nên hiệu suất của Loggly không thực sự thích hợp với những hệ thống ở mức độ doanh nghiệp lớn.

    Việc truyền tải một lượng dữ liệu lớn cũng làm giảm hiệu suất trong việc phân tích và cảnh báo. Đặc biệt là với những mạng có tốc độ truy cập thấp.

    Loggly không hỗ trợ các tính năng tự động khắc phục lỗi. (tự động chạy script đã cấu hình sẵn để khắc phục lỗi).

    TRIỂN KHAI

    Triển khai hệ thống với Loggly rất đơn giản bằng việc chúng ta chỉ cần đăng ký một tài khoản, thực hiện cấu hình để gửi Syslog tới Loggly Server là chúng ta đã có thể sử dụng đầy đủ các tính năng của Loggly.

    Rất thích hợp với những hệ thống ở quy mô nhỏ và vừa.

    Syslog-Ng

    Syslog-ng là một công cụ thu thập Log rất hiệu quả và linh hoạt là sự lựa chọn của rất nhiều nhà quản trị mạng trong việc xây dựng một hệ thống log tập trung. Syslog-ng được xây dựng dựa trên chuẩn syslog trên nền tảng Unix và các hệ điều hành tương tự. Gồm xây dựng với 2 thành phần Syslog-ng client và Syslog-ng Server. Các Client thực hiện việc thu thập log quan trọng gửi tới máy chủ tập trung và lưu trữ. CHÍNH SÁCH BẢN QUYỀN: Syslog-ng là một phần mềm mã nguồn mở được phát triển trên nền tảng của Syslogd. Hiện nay nó có hai phiên bản và được phát triên bởi Balabit IT Security Ltd

    Phiên bản miễn phí: Syslog-ng Open Source Edition (OSE).

    Phiên bản trả phí độc quyền: Premium Edition (PE).

    TÍNH NĂNGNHƯỢC ĐIỂM:

    Syslog-ng không phải là 1 phần mềm phân tích cho nên syslog-ng chỉ có thể lọc những log message phù hợp với 1 số tiêu chí định trước. Syslog-ng không thể làm tốt nhiệm vụ phân tích và cảnh báo các nguy cơ đến người quản trị.

    TRIỂN KHAI

    Để triển khai một hệ thống syslog-ng ta cần có 2 thành phần là một server được cài đặt syslog-ng server và các client được cài đặt trên các client để thu thập log. Một điểm đáng chú ý là Syslog không hỗ trợ windows.

    Logzilla (Php Syslog-Ng)

    LogZilla nhìn chung chỉ thực hiện việc tìm kiếm và quản lý các thông tin đã có trên Log một cách nhanh chóng. Ta cần thiết phải kết hợp với các công cụ khác để tập trung và xử lý Log hiệu quả hơn (Syslog-ng).

    Để triển khai LogZilla ta cần kết hợp với một hệ thống thu thập Log khác thực hiện công việc thu thập thông tin từ các máy chủ và thiết bị khác trên mạng.

    TRIỂN KHAI

    Triển khai một hệ thống LogZilla hoạt động tương đối dễ dàng ta chỉ cần thực hiện cấu hình trên Syslog-ng Server để đọc các dữ liệu mà Syslog-ng đã lưu trữ.

    HP ArcSight Logger

    HP ArcSight Logger là một sản phẩm trong bộ sản phẩm ArcSight của Hp. Nó cung cấp một giải pháp hiệu quả về trong việc quản lý log. Nó có khả năng thu thập, phân tích và lưu trữ với một khối lượng Log lớn với nhiều loại định dạng khác nhau. Nó hỗ trợ việc triển khai hệ thống dưới nhiều hình thức như thiết bị, phần mềm, máy ảo hoặc các dịch vụ đám mây. CHÍNH SÁCH BẢN QUYỀN: HP ArcSight Logger cung cấp 2 phiên bản dùng thử và trả phí.

    Với phiên bản trả phí, có đầy đủ các tính năng của HP ArcSight Logger và không giới hạn về khối lượng dữ liệu.

    Phiên bản dùng thử được hỗ trợ xử lý với dữ liệu 750 MB/ngày. Hạn chế một số chức năng: Hỗ trợ triển khai hệ thống phân tán và Support từ các chuyên gia của hệ thống của HP.

    TÍNH NĂNGTRIỂN KHAI

    Ta có thể dễ dàng triển khai HP ArcSight Logger như một thiết bị, một phần mềm hay một dịch vụ đám mây.

    HP ArcSight Logger hỗ trợ việc triển khai hệ thống phân tán một cách dễ dàng.

    Nagios

    Nagios là một hệ thống dùng để giám sát một hệ thống mạng. Nagios thực hiện việc theo dõi và đưa ra các cảnh báo về trạng thái các host và các dịch vụ. Nó được xây dựng trên nền Linux và đã hỗ trợ hầu hết các hệ điều hành tương tự Linux. Một điểm khác so với các công cụ khác là Nagios giám sát dựa tình trạng hoạt động của các máy trạm và dịch vụ. Nó sử dụng các Plug-in được cài đặt trên các máy trạm, thực hiện việc kiểm tra các máy trạm và dịch vụ theo định kỳ và gửi thông tin trạng thái về Nagios Server sau đó thông tin sẽ được đưa lên với một giao diện Web (Sử dụng Nagvis) và có thể gửi thông tin về trạng thái tới nhà quản trị qua email, SMS… khi có sự cố xảy ra. Việc theo dõi có thể được cấu hình một cách chủ động hoặc bị động dựa trên mục đích sử dụng của người quản trị. CHÍNH SÁCH BẢN QUYỀN: Cung cấp 2 phiên bản miễn phí và trả phí hỗ trợ các hệ thống nhỏ và cả các hệ thống doanh nghiệp. TÍNH NĂNG

    Giám sát các dịch vụ mạng (SNMP, POP3, HTTP, NNTP, PING…) và các tài nguyên của các máy trạm (processor load, disk usage…).

    Dễ dàng phát triển các plug-in riêng. Chophép người sử dụng dễ dàng phát triển các dịch vụ giám sát nhu cầu sử dụng bằng việc sử dụng các ngôn ngữ shell script, C ++, Perl, Ruby, Python, PHP, C# ….).

    Việc giám sát các dịch vụ là song song.

    Có khả năng phát hiện và phân biệt được host nào là down và host nào là unreachable.

    Thông tin cảnh báo (khi host và các dịch vụ xảy ra xự cố) bằngemail, SMS sử dụng 3G, …

    Sử dụng giao diện Web để theo dõi trạng thái của mạng, xem lịch sử các cảnh báo và các sự cố xảy ra.

    TRIỂN KHAI

    Graylog2: là một hệ thống quản lý Log mã nguồn mở, nó được xây dựng bằng Rubu trên Rails và MongoDB. Dựa trên một định dạng Log riêng dựa trên JSON-based được gọi là GELF (Graylog Extended Log Format).

    CSMARS (Cisco Security Monitoring, Analysis, and Response System): Là một thiết bị mạng nằm trong hệ thống các thiết bị quản lý bảo mật của Cisco được triển khai trên các hệ thống mạng nhằm nhận biết và giảm thiểu các mỗi đe dọa đến hệ thống. Thiết bị được tích hợp mạng lưới tình báo hiện đại, thực hiện khi có dị thường trong mạng hoặc sự kiện vi phạm an ninh hệ thống. Nó giúp người quản trị hình dung hệ thống, giám sát hệ thống … Dễ dàng triển khai với chi phí thấp.

    KẾT LUẬN

    Hiện nay, có rất nhiều công cụ hỗ trợ việc giám sát an ninh mạng. Tuy nhiên, mỗi công cụ, sản phẩm có những điểm mạnh, điểm yếu riêng đòi hỏi người quản trị cần có kinh nghiệm trong việc sử dụng sản phẩm. Lựa chọn công cụ, sản phẩm dựa trên các yêu cầu về quy mô của hệ thống, mức độ an toàn và nhiệm vụ của hệ thống cũng như kinh phí trong việc phát triển hệ thống. Trong một số trường hợp chỉ sử dụng một sản phẩm là chưa tối ưu, chúng ta cần sự kết hợp của các công cụ, sản phẩm với nhau để thu được kết quả tốt nhất.

    Một Số Công Cụ Đánh Giá Năng Lực

    Published on

    3. – Hồ sơ học tập thúc đẩy học sinh chú tâm vào việc học của bản thân, yêu thích và có trách nhiệm với nhiệm vụ học tập qua việc nhìn thấy khả năng học tập “tiềm ẩn” của bản thân. – Hồ sơ học tập là cầu nối giữa học sinh – giáo viên, học sinh – học sinh, học sinh – giáo viên – cha mẹ học sinh. 5.2.3. Các loại hồ sơ học tập – Hồ sơ tiến bộ: hồ sơ bao gồm những bài tập, các sản phẩm học sinh thực hiện trong quá trình học và thông qua đó giáo viên và học sinh đánh giá quá trình tiến bộ mà học sinh đạt được. Với hồ sơ này giáo viên phải giải thích rõ các biểu hiện khác nhau của khái niệm tiến bộ như học sinh mắc ít lỗi hơn, học sinh làm bài nhanh hơn,… những kết quả đạt được thể hiện sự tiến bộ trong quá trình học tập. Để chứng minh cho sự tiến bộ của mình học sinh cần có những minh chứng cho sự tiến bộ, đó là chọn một số phần trong các bài tập, các sản phẩm của mình để minh chứng cho các nhận xét của bản thân về sự tiến bộ, đồng thời là căn cứ để giáo viên xem xét sự tiến bộ của học sinh. – Hồ sơ quá trình Là hồ sơ tự theo dõi quá trình học tập của mỗi học sinh, học sinh ghi lại những gì mình đã học được hoặc chưa học được về kiến thức, kĩ năng, thái độ của các môn học và xác định cách điều chỉnh như điều chỉnh cách học, cần đầu tư thêm thời gian, cần sự hỗ trợ của giáo viên hay các bạn trong nhóm,…Nhìn lại quá trình là việc làm hết sức quan trọng để tự đánh giá bản thân và điều chỉnh cách học. – Hồ sơ mục tiêu Học sinh tự xây dựng mục tiêu học tập cho mình trên cơ sở tự đánh giá được năng lực của bản thân, chẳng hạn học sinh tự đánh giá trong các môn học thì môn học nào khả năng học tập tốt hơn, môn học nào còn hạn chế từ đó xây dựng mục tiêu phấn đấu, kế hoạch thực hiện để tự nâng cao năng lực học tập. – Hồ sơ thành tích Học sinh tự đánh giá về các thành tích học tập nổi trội của mình trong quá trình học. Thông qua các thành tích học tập học sinh tự khám phá về bản thân về những năng lực tiềm ẩn của mình như: tự phát hiện mình có khả năng, năng khiếu

    4. về Ngôn ngữ, Toán học, Vật lí, Hóa học,…học sinh tự tin và tự hào về chính bản thân mình đồng thời xác định được hướng duy trì phát triển năng lực tiềm ẩn trong các giai đoạn tiếp theo. 5.2.4. Đánh giá qua hồ sơ học tập Đánh giá qua hồ sơ là sự theo dõi trao đổi ghi chép được của chính học sinh những gì chúng nói, hỏi, làm, cũng như thái độ, ý thức của học sinh với quá trình học tập của mình cũng như đối với mọi người,…nhằm làm cho học sinh thấy được những tiến bộ rõ rệt của chính mình cũng như giáo viên thấy được khả năng của từng học sinh để từ đó giáo viên có thể đưa ra hoặc điều chỉnh nội dung. 5.3. Đánh giá thông qua nhìn lại quá trình(tự đánh giá) 5.3.1. Đặc điểm: Đánh giá thông qua nhìn lại quá trình giúp học sinh tự đánh giá điểm mạnh, điểm yếu trong quá trình học cũng như những khó khăn gặp phải và các giải pháp khắc phục nhằm cải thiện việc học để đạt được kết quả học tập cao hơn. 5.3.2. Đánh giá qua việc nhìn lại quá trình dựa trên một số cơ sở sau – Trẻ cần có sức mạnh nội tâm, cần biết tin vào chính mình, chấp nhận thất bại, không phấn đấu nếu thấy mình không có khả năng. – Trong quá trình học trẻ cần được khen đúng lúc, đúng chỗ và cần những thông tin phản hồi tích cực về hành vi, hành động của chúng. – Học sinh xây dựng lòng tự trọng trên cơ sở tự đánh giá. Tự đánh giá của trẻ sẽ mang yếu tố tích cực khi dựa trên cảm xúc được mọi người yêu thương và tôn trọng. Nhận thức của trẻ càng chín chắn thì những khái niệm về bản thân sẽ vượt ra ngoài sự tự đánh giá vì nó được xây dựng trên cơ sở nhận thức đa chiều, từ nhiều góc nhìn khác nhau. Tự tin là bước cần thiết đầu tiên để tự điều chỉnh hành vi có hiệu quả. Bước tiếp theo để đạt đến sự trưởng thành là tự đánh giá chính xác và tự phê bình. Trẻ cần được giúp đỡ để phát triển sự tự nhận thức đúng đắn về bản thân, biết tự đánh giá trung thực, chính xác về điểm mạnh, yếu của bản thân, biết nhận ra những giới hạn của mình. Từ đó khuyến khích trẻ vượt lên những lĩnh vực còn yếu, biết tôn trọng năng lực của những người xuất sắc trong những lĩnh vực mà chúng không thể đạt được.

    5. 5.3.3. Tự đánh giá Tự đánh giá trong học tập là một hình thức đánh giá mà học sinh tự liên hệ phần nhiệm vụ đã thực hiện với các mục tiêu của quá trình học. Học sinh sẽ học cách đánh giá các nỗ lực và tiến bộ cá nhân, nhìn lại quá trình và phát hiện những điểm cần thay đổi để hoàn thiện bản thân. Những thay đổi có thể là một cách nhìn tổng quan mới về nội dung, yêu cầu giải thích thêm, thực hành các kĩ năng mới để đạt đến mức độ thuần thục. Tự đánh giá không chỉ đơn thuần là tự mình cho điểm số mà là sự đánh giá những nỗ lực, quá trình và kết quả. Học sinh cần tham gia vào quá trình quyết định những tiêu chí có lợi cho việc học. Tự đánh giá có mức độ cao hơn nhìn lại quá trình. 5.3.4. Lợi ích Học sinh có thể nhìn lại bằng chứng của quá trình học tập, giúp học sinh hình tượng hóa quá trình học của bản thân và của người khác. Học sinh có thể nhìn lại quá trình qua các tiêu chí đánh giá, nhìn lại phần việc đã thực hiện, quyết định xem mức độ hoàn thành của mình đã đáp ứng yêu cầu chưa. Học sinh trở nên ý thức hơn về quá trình học của bản thân. Kết quả là kiến thức sẽ được tổ chức có hệ thống hơn và dễ tiếp cận hơn. Học sinh có ý thức rõ hơn về điểm mạnh, điểm yếu và học cách để tiến bộ trong giai đoạn sau. Tự đánh giá đòi hỏi mức độ trách nhiệm và sang kiến cao hơn đối với học sinh, làm tăng mức độ tham gia của các em. Giáo viên học cách nhìn từ quan điểm của học sinh, giúp xóa bỏ định kiến cá nhân. Học sinh sẽ thấy được các tiêu chí có thể khác biệt tùy theo mục tiêu và bối cảnh. Tuy nhiên đôi khi học sinh không thể tiến hành hoạt động tự đánh giá, vì vậy năng lực này cần được học hỏi và luyện tập để học sinh thực hành đánh giá bản thân với độ tin cậy cao hơn. 5.5. Đánh giá đồng đẳng

    6. Đánh giá đồng đẳng giúp học sinh làm việc hợp tác, tự đánh giá công việc của nhau, học cách áp dụng các tiêu chí một cách khách quan. Đánh giá đồng đẳng đòi hỏi kĩ năng giao tiếp tốt. Các em cần đưa ra phản hồi cho các bạn bên cạnh các nhận định mang tính tích cực. 5.5.1. Định nghĩa: Đánh giá đồng đẳng là một quá trình trong đó các nhóm học sinh cùng độ tuổi hoặc cùng lớp sẽ đánh giá công việc lẫn nhau. Một học sinh sẽ theo dõi bạn học của mình trong suốt quá trình học và do đó sẽ biết thêm các kiến thức cụ thể về công việc của mình khi đối chiếu với giáo viên. Phương pháp đánh giá này có thể được dùng như một biện pháp đánh giá kết quả, nhưng chủ yếu được dùng để hỗ trợ học sinh trong quá trình học. Học sinh đánh giá lẫn nhau dựa theo các tiêu chí được định sẵn. Các tiêu chí này cần được diễn giải bằng những thuật ngữ cụ thể và quen thuộc. Đánh giá đồng đẳng không nên được coi là một giải pháp tiện lợi để giúp giáo viên tiết kiệm thời gian. Chúng ta không nên để học sinh quyết định tất cả việc đánh giá. Vai trò của giáo viên là hướng dẫn học sinh thực hiện đánh giá đồng đẳng và coi đó như một phần của quá trình học tập. 5.5.2. Những lợi ích: Đánh giá đồng đẳng cho phép học sinh tham gia nhiều hơn vào quá trình học tập và đánh giá. Đánh giá đồng đẳng không chỉ cung cấp thông tin về kết quả học sinh sau khi được đánh giá, mà còn phản ánh được năng lực của người đánh giá về sự trung thực và sáng tạo, linh hoạt, trí tưởng tượng, sự đồng cảm,… Đánh giá đồng đẳng tạo thêm động lực cho các em: các em sẽ học cách để học kiến thức mới chứ không chỉ tập trung vào vấn đề điểm số cao. Đánh giá đồng đẳng giúp việc học tập diễn ra ở mức sâu hơn. Cả người đánh giá và người được đánh giá đều được hưởng lợi từ việc phát triển các kĩ năng quan hệ liên nhân, trách nhiệm, tính tự chủ và khả năng giải quyết vấn đề. Các kĩ năng xã hội cũng đồng thời được xác định và phát triển dễ dàng hơn. Bởi vì thông qua hình thức làm việc nhóm, học sinh sẽ học được cách đóng góp hiệu quả cho thành công của nhóm. Thông qua việc đánh giá tích cực và thường xuyên lẫn nhau, những lợi ích của làm việc nhóm sẽ được khai thác ở mức tối ưu.

    7. Áp dụng đánh giá đồng đẳng là một bước quan trọng để học sinh tiến dần đến kĩ năng tự đánh giá bản thân Đánh giá đồng đẳng có thể khiến học sinh không thoải mái lắm khi nhận xét bạn bè mình. Để tránh tình trạng này, đôi khi các em đưa ra những nhận xét không đáng tin cậy. Các em sẽ cảm thấy rất khó để cho điểm rất cao hoặc quá thấp. Điều này cần đặc biệt chú ý khi học sinh thực hiện đánh giá kết quả theo hình thức đồng đẳng. Khi so sánh đánh giá đồng đẳng và tự đánh giá, học sinh có xu hướng cho điểm bản thân cao hơn điểm do bạn cùng lớp đánh giá. Do đó nên kết hợp giữa đánh giá đồng đẳng và tự đánh giá và đánh giá hợp tác. 5.6. Đánh giá qua các bài kiểm tra Bài kiểm tra là một phép lượng giá cụ thể mức độ, khả năng, thể hiện hành vi trong lĩnh vực nào đó của một người. Đánh giá qua các bài kiểm tra được chia làm ba loại: – Quan sát: Giúp đánh giá các thao tác, hành vi, kĩ năng thực hành, nhận thức, phản ánh vô thức. – Kiểm tra vấn đáp: Có tác dụng đánh giá khả năng, đáp ứng câu hỏi được nêu trong một tình huống. – Bài viết: Kiểm tra một lúc được nhiều học sinh, giúp đánh giá học sinh ở trình độ cao: câu hỏi tự luận và câu hỏi trắc nghiệm. 5.7. Đánh giá qua phiếu hỏi Là phương pháp dùng một hệ thống câu hỏi được chuẩn bị sẵn trên giấy theo những nội dung xác định. Người được hỏi sẽ trả lời bằng cách viết trong một thời gian nhất định. Phương pháp này cho phép điều tra, thăm dò ý kiến đồng loạt nhiều người, thường được sử dụng trong các cuộc điều tra xã hội học, trong nghiên cứu khoa học. 5.8. Đánh giá qua phiếu học tập Là tờ giấy rời trên đó ghi các câu hỏi bài tập hoặc nhiệm vụ giao cho học sinh kèm theo các gợi ý và hướng dẫn, dựa vào đó học sinh thể hiện, từ đó giúp học sinh mở rộng và bổ sung kiến thức.

    Cách Phân Biệt Một Số Rau Củ Quả Của Trung Quốc Và Việt Nam

    Tỏi ta (bên trái) củ nhỏ hơn, các tép tỏi nhỏ và lớp vỏ khó bóc hơn

    Tỏi Trung Quốc có củ rất to, các tép tỏi cũng to, vỏ dễ bóc. Trong khi đó tỏi VN củ nhỏ hơn, các tép tỏi nhỏ và lớp vỏ khó bóc hơn. Tỏi VN dậy mùi hơn hẳn tỏi Trung Quốc ngay cả khi chưa được đưa vào chế biến.

    2. Khoai tây

    Bên trái là khoai tây Đà Lạt, vỏ mỏng nên khi đổ đống, các củ va chạm dễ bị tróc vỏ, ruột vàng, mắt khoai nhỏ. Khoai Trung Quốc (bên phải), củ to, mắt to, vỏ dày, bị sượng khi nấu chín.

    3. Gừng

    Gừng Trung Quốc có kích thước nhỉnh hơn đáng kể, vỏ nhẵn, ít sần sùi

    Gừng Trung Quốc thường có hai màu vỏ là màu vàng và màu vàng pha trắng nhợt. Các củ gừng Trung Quốc có lớp vỏ nhẵn nhụi, căng mọng, củ to, đều, ít nốt sần sùi, được vệ sinh rất sạch sẽ. So với gừng trong nước, củ gừng Trung Quốc thường to gấp rưỡi, có khi gấp đôi. Gừng trồng trong nước lớp vỏ xỉn màu hơn, rễ và nốt sần sùi nhiều hơn. Gừng Trung Quốc đẹp vượt trội gừng VN nhưng mùi thơm thì gừng VN lại “ăn đứt” hàng Trung Quốc.

    4. Cà rốt

    Cà rốt Việt Nam (bên trái) có cùi, cuống lá thường còn nguyên, đôi lúc còn rễ tỏa bao quanh củ.

    Cà rốt Việt Nam có cùi, cuống lá thường còn nguyên, đôi lúc còn rễ tỏa bao quanh củ. Củ nhỏ, có màu vàng nhạt, kích thước không đều nhau, không căng láng. Cà rốt nhập về từ bên kia biên giới không cùi, màu cam đậm, tươi sáng. Kích thước to, suôn và các củ khá đều. Lá thường được tỉa gọn hay cắt sạch.

    5. Hành

    Hành Trung Quốc (trái) củ to, chỉ có một tép, không thơm, vỏ mỏng. Hành ta thường có vài tép trên một củ, rất thơm, lớp vỏ dày.

    6. Hành tây

    Hành tây Đà Lạt có củ to, vỏ lụa ngoài màu trắng, dễ bị trầy sước trong khi hành tây Trung Quốc có vỏ ngoài màu vàng, tím, hoặc trắng bóng, có hình dạng tròn đều hoặc hình bầu dục.

    7. Cà chua

    Cà chua Trung Quốc (bên trái) thường có bóng, to, không cuống. Cà chua ta (bên phải) thường có cuống, màu sắc tươi mới hơn.

    8. Bắp cải

    Bắp cải Trung Quốc thường có kích thước nhỏ hơn, bọc trong túi lưới, rất tròn và mượt, không bị nhàu, xước, đầu búp uốn vào không bị xoăn, màu xanh nhạt. Bắp cải ta thường có kích thước khá lớn, có màu trắng.

    9. Cải thảo

    Cải thảo Đà Lạt (hình trên), bắp tròn trịa. Còn cải thảo Trung Quốc (hình dưới) lá xanh đậm, thon dài.

    10. Bí đỏ

    Ở Việt Nam bí đỏ nói riêng và các loại bí nói chung có rất nhiều, được người dân nhân giống ra thành nhiều chủng loại như quả tròn, hồ lô hay bầu dục song ở các chợ đầu mối vẫn có rất nhiều bí đỏ Trung Quốc và giá cả tương đương nhau và rất nhiều chị em nhầm lẫn. Và để tránh nhầm lẫn hãy chọn những quả bí đỏ nhỏ, sần sùi tuy vẻ bên ngoài không đẹp nhưng lại an toàn và ngon hơn giống bí đỏ Trung Quốc có kích thước gấp đôi, thậm chí gấp ba, quả dài, bóng và đẹp hơn nhưng ăn rất dở.

    11. Phân biệt dâu tây Đà Lạt và dâu tây Trung Quốc

    Ở Việt Nam, khí hậu mát mẻ của miền núi Đà Lạt là môi trường thích hợp với việc canh tác dâu nên loại trái cây này được xem là đặc sản của vùng cao nguyên này.

    Dâu tây Đà Lạt quả to, quả nhỏ không đồng đều, nhiều hình khối khác nhau. Dâu Đà Lạt thường mềm và vỏ không nhẵn mịn, màu quả sáng hồng, vị giòn và chua thanh.

    Dâu Trung Quốc có kích thước quả trội hơn hẳn, màu đỏ thậm như nhuộm và có độ cứng nhất định, ăn vào thấy bở, ít thơm.

    12. Chanh

    Chanh vườn (bên phải) có quả nhỏ, màu thẫm hơn chanh Tàu, vỏ đàn hồi tốt, nhiều tinh dầu, mùi thơm thoang thoảng

    Chanh vườn có quả nhỏ, màu thẫm hơn chanh Tàu, vỏ đàn hồi tốt, nhiều tinh dầu, mùi thơm thoang thoảng. Chanh Tàu có ngâm tẩm hóa chất nên ít có mùi thơm, vỏ trơn láng, bóng bẩy.

    13. Hồng

    Quả hồng trồng trong nước có hình dạng tròn, dẹt trơn (giống trứng gà), phần cuống có nhiều đốm đen, không có rãnh. Vỏ có màu nhạt và có vết thâm. Kích thước quả nhỏ và không đều màu.

    Hồng từ Trung Quốc có quả tròn đều, to dẹt hơi vuông, có bốn khía. Kích thước to và đều nhau. Vỏ bóng đẹp, màu đỏ cam tươi, đậm, thường không có vết xước.

    14. Nho

    Không chỉ “đội lốt” hàng nội địa, nho Trung Quốc còn có thể giả danh nho nhập khẩu từ các nước khác như Mỹ, Úc…Để phân biệt, bạn có thể chú ý:

    – Việt Nam: nho Phan Rang thường quả nhỏ, có màu đỏ hoặc tím nhạt, quả mọng, sờ vào quả thấy chắc và cứng. Cuốn rất tươi, chùm ngắn. Vị chua đậm.

    – Mỹ: vỏ sậm hơn, thuôn dài, vị ngọt, giòn, rất ít hoặc không có hạt.

    – TQ: quả tròn, to, thường đựng trong thùng lạnh. Quả có màu tím nhạt, có lớp phấn trắng đục. Ruột có nhiều hạt, mềm. Vị hơi chua.

    15. Cam

    Cam Vinh (bên trái) quả tròn, nhỏ, có màu xanh vàng, vỏ thường bị nám.

    – Việt Nam: cam Vinh trái tròn, nhỏ, có màu xanh vàng, vỏ thường bị nám.

    – Mỹ, Úc hoặc Nam Phi: màu vỏ cam nhạt hơn cam TQ nhưng bề mặt vỏ lại dày, căng, xù xì hơn. Giá cam Mỹ tại chợ đầu mối Hóc Môn hiện là 56.000đ/kg.

    – TQ: chỉ có theo mùa, từ khoảng tháng Mười âm lịch đến Tết. Trái to, quả có màu đậm, vỏ mỏng, bề mặt vỏ mịn màng, phần cuống hơi nhọn và phần đít quả hơi bầu; đôi khi có kèm theo cả cành lá. Không hạt.

    16. Lựu

    Lựu Việt Nam (ảnh trên) trái nhỏ, hột nhiều, dày, màu da xanh. Lựu TQ (ảnh dưới) to, tròn, vỏ mỏng, màu trắng hồng.

    Đánh Giá Realme 6 Pro: Một Chiếc Điện Thoại Tầm Trung Tốt!

    Chúng ta đã biết đến Realme 6 với một chipset mạnh mẽ phù hợp chơi game, lại có màn hình 90hz tuyệt vời và camera chụp ảnh tốt. Vậy Realme 6 Pro sẽ làm được gì đây? Liệu nó có gì hơn so với bản thường?

    Thông số kỹ thuật

    Bộ xử lý (CPU)

    Qualcomm SM7125 Snapdragon 720G (8nm) CPU Octa-core (2×2.3 GHz Kryo 465 Gold & 6×1.8 GHz Kryo 465 Silver)

    Bộ xử lý đồ họa (GPU)

    Adreno 618

    Màn hình

    Công nghệ: cảm ứng điện dung IPS LCD, màu 16M Kích thước: 6.6 inches Tỷ lệ: 20:9 Độ phân giải: 1080 x 2400 pixel Mật độ ~ 399 ppi tốc độ làm mới 90Hz

    Cảm biến

    Cảm biến vân tay trên nút nguồn Cảm biến chuyển động Con quay hồi chuyển Cảm biến tiệm cận, la bàn

    Mạng

    Wi-Fi 802.11 a/b/g/n/ac/ax, dual-band, Wi-Fi Direct, hotspot GSM / CDMA / HSPA / EVDO / LTE

    Pin

    Pin Li-Po 4300 mAh không thể tháo rời Sạc nhanh 30W, 100% trong 57 phút VOOC 4.0

    Máy ảnh

    Camera sau gồm 4 ống kính – 64 MP, f/1.8, 26mm (wide), 1/1.72″, 0.8µm, PDAF – 12 MP, f/2.5, 54mm (telephoto), 1/3.4″, 1.0µm, PDAF, 2x optical zoom – 8 MP, f/2.3, 13mm (ultrawide), 1/4.0″, 1.12µm – 2 MP, f/2.4, (macro) Camera trước: – 16 MP, f/2.1, 26mm (wide), 1/3.06″, 1.0µm – 8 MP, f/2.2, 105˚ (ultrawide), 1/4.0″, 1.12µm

    Chống nước

    Không chống nước

    Kích thước

    163,8 x 75,8 x 8,9 mm (6,45 x 2,98 x 0,35 in)

    Đánh giá chi tiết điện thoại Realme 6 Pro Thiết kế

    Hoàn thiện táo bạo chính là cách mà Realme đã làm với các dòng điện thoại mới của mình. Và Realme 6 Pro thể hiện chính xác điều đó với hoàn thiện tia chớp. Đúng vậy màu sơn của nó táo bạo thể hiện tia chơp tùy theo góc nhìn của bạn tới mặt lưng máy. Chính vì thế mà chúng ta sẽ có những cái tên Lightning đi kèm với màu của máy. Ở đây chúng ta có 3 màu đó là Lightning Blue, Lightning Orange, Lightning Red.

    Mặt trước

    Phía trước là một màn hình 6.6 inch được mô tả với bezels “trung bình”. Điều đó có nghĩa là viền của nó không dày cũng chẳng mỏng và viền cạnh cũng cùng kích thước với viền trên. Tuy nhiên phần cằm của nó vẫn hơi dày hơn một chút.

    Mặt sau

    Mặt sau điện thoại được làm bằng kính kết hợp với khung nhựa. Nhưng nhờ được hoàn hiện bóng loáng nên trông nó rất tuyệt vời. Ở đây chúng ta sẽ thấy nổi bật nhất là bộ tứ camera nổi lên ở góc trên bên trái. Bố trí camera theo chiều dọc như này đã quá quen thuộc với những chiếc điện thoại Realme rồi.

    Các cạnh còn lại

    Khung máy được làm bằng nhựa nhưng hoàn thiện rất tốt và bền bỉ. Các cổng kết nối và nút bấm vật lý đều xuất hiện ở đây. Cạnh bên phải chỉ có duy nhất nút nguồn, nó hơi lõm xuống và được vát bằng. Nó tích hợp thêm cảm biến vân tay ở đây giúp bạn mở khóa nhanh hơn, tiện lợi hơn. Thiết kế như thế này rất phù hợp với ngón cái tay phải nếu bạn thuận tay này hoặc ngón trỏ tay trái nếu ngược lại.

    Cạnh bên trái chúng ta sẽ thấy ngay 2 nút tăng giảm âm lượng. Chúng cũng được làm bằng nhựa và có cảm giác bấm rất tốt. Bên cạnh đó là khay sim được đặt sát phía trên máy. Khay này thì có 3 vị trí cho 2 thẻ sim và thẻ nhớ độc lập.

    Cạnh phía trên trông có vẻ đơn độc khi chỉ có một lỗ nhỏ là vị trí của mic phụ.

    Cạnh phía dưới thì lại tập trung khá nhiều thứ ở đây. Ở trung tâm chính là khe cắm sạc USB type C. Bên cạnh là jack cắm tai nghe 3.5 mm – một điều mà bạn không thể thấy trên Realme 6. Giữa jack cắm tai nghe và khe cắm sạc chính là mic chính và đối diện là loa ngoài.

    Màn hình

    Realme 6 Pro được trang bị màn hình IPS LCD 6.6 inch với độ phân giải Full HD+ (2400×1080 pixel) với mật độ điểm ảnh 399ppi. Vâng đó là một màn hình LCD vì thế giá cả cả nó mới là tầm trung, tuy nhiên điều đó lại không phải gì tệ hại vì bù lại thì nó có tốc độ làm mới màn hình 90hz. Tốc độ này không cao tới 120 Hz như những dòng cao cấp nhưng vẫn tốt hơn rất nhiều so với 60Hz thông thường rồi.

    Phần mềm

    Series 6 chính là dòng sản phẩm đầu tiên của Realme chạy hệ điều hành Android 10 trên giao diện Realme UI. Đây là một sự đổi mới đáng kể của Realme khi bước ra khỏi sản phẩm ColorOS của Oppo. Và Realme 6 Pro tất nhiên là sản phẩm đầu tiên thực hiện điều này.

    Giao diện người dùng mới của Realme hỗ trợ các gói biểu tượng khác nhau. Chính vì thế bạn có thể thay đổi giao diện của mình tùy ý nếu bạn không thích gói mặc định.

    Có rất nhiều công cụ mạnh mẽ trong menu cài đặt nếu bạn muốn kiểm soát hoàn toàn bộ hệ điều hành Android của mình. Hoặc bạn có thể để mọi thứ như cũ và tận hưởng trải nghiệm Android không rắc rối được tối ưu hóa bằng thuật toán AI.

    UI Realme cung cấp Thanh bên thông minh ở cạnh màn hình – bạn có thể tùy chỉnh các hành động và phím tắt ứng dụng xuất hiện ở đó.

    Hiệu năng

    Điểm khác biệt rất lớn so với Realme 6 chính là ở chipset của bản Pro. Realme 6 Pro sử dụng chipset Snapdragon 720G. Chipset gồm 2 lõi Kryo 465 Gold 2.3GHz và 6 lõi Kryo 465 Silver 1.8GHz.

    Realme 6 Pro có 3 phiên bản cấu hình RAM và ROM bao gồm: 6GB / 64GB, đến 6GB / 128GB và lớn nhất là 8GB / 128GB.

    Snapdragon 720G được xây dụng trên nền 8nm trong khi đó Mediatek MT6785 Helio G90T của Realme 6 là 12nm. Như vậy chúng ta có thể khẳng định ngay về khả năng tiết kiệm năng lượng của nó rồi. Thế nhưng còn về hiệu năng thì như thế nào? Hãy đánh giá chính xác hơn với các bài chấm điểm chuẩn hiệu năng.

    Hiệu năng CPU

    Trong bài đánh giá GeekBench 5.1, chúng ta có thể thấy ngay trong bài test lõi đơn Realme 6 Pro chỉ nhỉnh hơn đôi chút so với Realme 6 mà thôi. Ngược lại khi so sánh đa lõi thì thậm chí nó còn kém hơn chút ít nữa.

    Nói về hiệu năng đồ họa thì Realme 6 Pro cũng vẫn thua kém so với Realme 6. Thực tế chênh lệch là không quá nhiều nhưng vẫn có.

    Khi tổng hợp các tiêu chí đánh giá hiệu năng trong bài tổng hợp AnTuTu 8 thì thực chất Realme 6 Pro lại không thể vượt qua được Realme 6. Điểm này thật khó hiểu với hậu tố “Pro” này, đúng là Pro mà không phải Pro là đây.

    Tất cả những con số đánh giá ở đây có thể vẫn chưa thể thuyết phục được bạn. Và chúng ta sẽ có cách tốt hơn để đánh giá về hiệu năng một chiếc điện thoại, đó chính là test thực tế. Khi chơi game thì nó sẽ như thế nào.

    Đối với game nặng hơn là PUBG mobile thì Realme 6 Pro có thể đạt mức Setting đồ họa tối đa tại hình ảnh HD cùng FPS Cao (tối đa 30 FPS). Nhưng để có trải nghiệm chơi game mượt nhất các bạn nên hạ đồ họa về mức hình ảnh mượt cùng FPS cực cao (tối đa 40 FPS).

    Với tựa game này thì khi bạn bung dù chính là lúc mà FPS dễ bị tụt nhất vì máy sẽ phải load một lúc rất nhiều thứ. Thế nhưng Realme 6 Pro không gặp rắc rối ở đây, mức FPS cũng có tụt nhưng từ 40 fps về 37 fps chỉ trong 0.5 giây rồi lên lại thì không ảnh hưởng lắm tới trải nghiệm chơi game của bạn.

    Nói tóm lại thì Snapdragon 720G không phải là chipset ngon nhất nhưng nó có sự tối ưu rõ ràng cho chơi game. Chính vì thế nó có thể “cân tất” những thể loại game thông dụng hiện nay trên thị trường Việt Nam. Đặc biệt nó còn hỗ trợ màn hình có tốc độ làm mới 90hz tuyệt vời mà khó có một chiếc smartphone nào trong tầm giá vươn tới được.

    Camera

    Realme 6 Pro rất mạnh về cấu hình phần cứng của máy ảnh. Nó có 4 camera ở mặt sau và thêm vào đó là 2 camera selfie ở mặt trước.

    Camera chính là một ống kính 64 MP với bộ lọc Quart Bayer

    Camera góc cực rộng 8MP đi kèm với ống kính 15,7mm bao quát trường nhìn 119 độ

    Ống kính Tele 12 MP ống kính tương đương 54mm với khẩu độ f / 2.5

    Ống kính macro 2MP

    Camera selfie chính 16MP với ống kính tương đương 26mm và khẩu độ f / 2.1

    Camera selfie phụ 8 MP với ống kính 17 mm góc cực rộng

    Ở chế độ Expert, bạn có thể điều chỉnh độ phơi sáng (ISO trong phạm vi 100-6400 và tốc độ màn trập trong phạm vi 1 / 8000s-2s, 32 giây cho tele), cân bằng trắng (theo nhiệt độ ánh sáng, nhưng không có cài đặt trước), lấy nét thủ công ( tùy ý 0 đến 1 đơn vị với 0 là tiêu cự gần và 1 là vô cực) và bù phơi sáng (-2EV đến + 2EV với gia số 1 / 6EV).

    Camera chính

    Camera chính 64 MP cho bạn những hình ảnh có dải động rộng, sinh động hơn và chi tiết hơn vào ban ngày.

    Bạn cũng có thể sử dụng chế độ tăng cường Chroma để tăng độ bão hòa màu. Thế nhưng hình ảnh cũng không có khác biệt quá nhiều.

    Bạn cũng có thể chụp chụp ở chế độ 64 MP với độ chi tiết tăng cao hơn. Tuy nhiên bạn phải đánh đổi với độ nhiễu tăng lên vì thế mình nghĩ bạn nên chọn chụp hình mặc định 16MP để có hình ảnh đẹp nhất.

    Realme 6 Pro làm tốt hơn trong điều kiện ánh sáng yếu, đó là điều mà Realme 6 không thể. Hình ảnh được giữ lại nhiều chi tiết hơn, màu sắc tốt hơn, phạm vi động vượt trội, còn nhiễu nhưng tự nhiên hơn.

    Camera Ultrawide

    Camera góc cực rộng chỉ có độ phân giải bằng 1 nửa so với Realme 6 thế nhưng nó làm việc vẫn rất tốt với dải động rộng. Tuy nhiên bạn sẽ tìm thấy viền tím ngay cả trong điều kiện đủ sáng và ISO cơ bản.

    Ultrawide trong điều kiện thiếu sáng thì Realme 6 Pro vẫn chụp ảnh rõ nét hơn nhiều so với Realme 6. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là rất tốt, vì thiếu sáng quá nhiều sẽ thiếu rất nhiều chi tiết và màu sắc.

    Tuy có chế độ ban đêm cho camera này thế nhưng nó chỉ nâng độ sáng lên một chút. Hầu như bức ảnh vẫn không thể sử dụng được cho dù có bật chế độ ban đêm.

    Camera tele

    Camera tele của Realme 6 Pro làm tốt công việc của nó. Ở mức zoom 2x chúng ta thấy một số vị trí nhiễu nhưng vẫn duy trì chi tiết tốt. So sánh với hình ảnh chụp từ chế độ 64 MP ở camera chính thì nó chi tiết hơn, hiệu suất tốt hơn từ thu phóng số.

    Bạn cũng có thể zoom 5x ở đây nhưng thực tế đó là zoom kỹ thuật số từ ống kính 2x. Tuy rằng hình ảnh vẫn ổn nhưng chất lượng và chi tiết thì giảm đi nhiều.

    Hiệu suất chụp ảnh tele trong đêm của Realme 6 Pro là khá đáng nể. Nó có ống kính chuyên nghiệp chứ không phải là cắt từ camera chính, vì thế hình ảnh tốt hơn nhiều so với camera siêu rộng. Nó có khuyết điểm trong tập trung hình ảnh nhưng bạn có thể nhấn để lấy nét một cách dễ dàng.

    Với chế độ ban đêm thì những hình ảnh tele sẽ sáng đẹp hơn nhiều. Tuy nhiên độ chi tiết hình ảnh sẽ giảm đi đáng kể.

    Chân dung

    Realme 6 Pro chỉ chụp chân dung với camera chính và sự hỗ trợ của cảm biến chiều sâu, nó không có chụp chân dung bằng camera tele 2x. Dù sao thì ảnh chân dung của Realme 6 Pro phân tách chủ thể rất tốt. Tất nhiên với một mái tóc rối thì nó vẫn không thể làm cho mọi thứ được tách biệt rõ ràng và chắc chắn bây giờ vẫn chưa có camera nào làm được điều đó.

    Theo mình thì ống kính macro 2MP chỉ thêm vào cho nó đủ bộ tứ camera mà thôi chứ chất lượng thì còn kém hơn việc bạn chụp từ camera chính rồi cắt ra. Hình ảnh nhận được có dải động hạn chế, màu sắc không bão hòa và nhiều vấn đề nữa…

    Camera selfie chính của Realme 6 Pro thực sự đẹp với những hình ảnh đủ sáng. Nhưng trong điều kiện thiếu sáng thì nó có thể bị giảm tốc độ màn trập xuống và ảnh có thể bị nhòe. Như thế bạn sẽ cần chụp nhiều ảnh hơn để lựa chọn hoặc cố gắng chờ lâu hơn một chút để thực hiện chụp ảnh tốt nhất.

    Camera selfie góc siêu rộng cho bạn những bất ngờ để chụp ảnh selfie, chắc chắn bạn sẽ lấy được nhiều người hơn, nhiều cảnh vật hơn vào khung hình. Chất lượng hình ảnh thì có độ tương phản cao, dải động hẹp hơn và màu sắc thì khác biệt.

    Quay video Tuổi thọ pin

    Realme 6 Pro được trang bị viên Pin 4.300 mAh tương tự với Realme 6. Tuy nhiên nó có chipset tiết kiệm điện hơn vì thế bạn có thể mong đợi thời lượng pin sẽ tốt hơn so với Realme 6. Thực tế thời lượng pin nó tạo ra tốt hơn nhiều so với Realme 6.

    Thời lượng pin thông qua các bài kiểm tra thực tế:

    Thời gian chờ 107 giờ

    Thời gian gọi thoại 31:12 giờ

    Lượt web với wifi 14:42 giờ

    Phát lại video 14:01 giờ

    Ngoài ra Realme 6 Pro hỗ trợ USB PowerDelivery lên đến 15 watt.

    So sánh với đối thủ

    Realme 6 Pro mặc dù tốt nhưng vẫn luôn có các đối thủ cạnh tranh với nó. Đầu tiên chúng ta phải nhắc tới Redmi Note 9 Pro Max của Xiaomi, nó có cùng chipset nhưng pin lớn hơn một chút và camera macro có độ phân giải cao hơn. Tuy nhiên nó lại không có màn hình 90Hz, không có camera tele và cũng chẳng có ống kính selfie siêu rộng.

    Tiếp theo trong danh sách so sánh chính là Poco X2 hay Redmi K30 có cùng mức giá. Poco X2 đánh bài Realme 6 Pro ở tốc độ làm mới màn hình là 120hz. Nhưng ngược lại Realme 6 Pro có lợi thế hơn với camera tele. Poco X2 cũng có thêm 1 ống kính selfie nhưng đó là cảm biến độ sâu, không hữu dụng như ống kính siêu rộng của Realme 6 Pro.

    Samsung Galaxy A51 là một lựa chọn khác cho bạn. Nó có một màn hình AMOLED tốt hơn màn hình Realme 6 Pro ở mọi mặt trừ tốc độ làm mới màn hình. Camera siêu rộng và macro của nó cũng có độ phân giải cao hơn một bậc. Tuy nhiên A51 không có ống kính tele, không có camera selfie siêu rộng và camera chính yếu hơn. Điểm cuối cùng chipset của Realme 6 Pro mạnh mẽ hơn nhiều.

    Giá và địa chỉ bán Kết luận

    Realme 6 Pro là một chiếc điện thoại tuyệt vời trong phân khúc tầm trung, nhưng nó cũng có một mức giá khá cao vào khoảng trên dưới 8 triệu. 6 Pro mang lại cho bạn khả năng xử lý mạnh mẽ, tối ưu chơi game tốt. Camera chất lượng cao, đặc biệt là camera selfie kép. Màn hình tốt với tốc độ làm mới 90hz. Tất nhiên nó không phải là chiếc điện thoại tốt nhất trong phân khúc và vẫn có những đối thủ cần quan tâm. Việc của bạn là cân nhắc nhu cầu và lựa chọn cho bản thân một thiết bị phù hợp!

    Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Đánh Giá Về 40 Năm Cải Cách Mở Cửa Ở Trung Quốc trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!