Xu Hướng 1/2023 # Mô Tả Các Tổn Thương Da # Top 5 View | Channuoithuy.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Mô Tả Các Tổn Thương Da # Top 5 View

Bạn đang xem bài viết Mô Tả Các Tổn Thương Da được cập nhật mới nhất trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Dát là những thương tổn da phẳng, không sờ thấy được. Đường kính < 10 mm. Dát biểu hiện là thay đổi sắc tố, không nồi cao hoặc lõm xuống hơn so với bề mặt da. Đám là một dát lớn. Ví dụ như tàn nhang, nốt ruồi phẳng, hình xăm, và bớt rượu vang, và các ban nhiễm trùng rickettsial, rubella, bệnh sởi (cũng có thể có sẩn và mảng ), và một số dị ứng phát ban do dị ứng thuốc.

Sẩn thường là thương tổn thường nổi cao hơn so với mặt da. Đường kính < 10 mm có thể cảm nhận được hoặc sờ thấy. Ví dụ như bớt, hạt cơm, lichen phẳng, côn trùng cắn, dày sừng da dầu, dầy sừng ánh sáng, một số tổn thương trứng cá, và ung thư da. Thuật ngữ dát sẩn thường được sử dụng một cách không phù hợp, thường để mô tả nhiều thương tổn dát đỏ, vì thuật ngữ này không đặc hiệu và dễ bị nhầm lẫn, nên tránh sử dụng

Cục là các sẩn chắc hoặc tổn thương lan rộng vào trung bì hoặc hạ bì. Ví dụ bao gồm u nang, u mỡ, và u xơ.

Mụn nước là thương tổn nhỏ, chứa đầy dịch trong. Đường kính <10 mm. Thương tổn mụn nước đặc trưng của các bệnh như nhiễm virus herpes, viêm da tiếp xúc cấp tính, và một số bệnh da bọng nước tự miễn (ví dụ:, viêm da dạng herpes).

Mụn mủ là các thương tổn mụn nước nhưng chứa mủ. Thương tổn mụn mủ gặp phổ biến trong các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn và viêm nang lông và có thể xuất hiện trong một số bệnh da viêm bao gồm bệnh vẩy nến thể mủ.

Mày đay (wheals hoặc hives) được đặc trưng bởi các tổn thương nổi cao do phù nề khu trú. Sẩn phù có biểu hiện ngứa và đỏ. Sẩn phù là một biểu hiện phổ biến gặp trong phản ứng quá mẫn cảm với thuốc, ong đốt hoặc côn trùng đốt, tự miễn dịch , và, ít gặp hơn với các tác động vật lý bao gồm nhiệt độ, áp lực, và ánh sáng mặt trời. Sẩn phù điển hình kéo dài < 24 giờ.

Vảy là sự tích tụ của các tế bào sừng gặp trong các bệnh như bệnh vẩy nến, viêm da dầu, và nhiễm nấm. Bệnh vảy phấn hồng và viêm da mãn tính ở bất kỳ dạng nào cũng có thể hình thành vảy.

Vảy tiết (vảy) bao gồm huyết thanh, máu, hoặc mủ khô. Vảy tiết có ở các bệnh da viêm hoặc da nhiễm trùng (ví dụ, chốc).

Trợt là các vùng da bị tổn thương do mất một phần hoặc toàn bộ lớp thượng bì. Trợt có thể do chấn thương hoặc có thể xảy ra trong các bệnh viêm hoặc nhiễm trùng da khác nhau. Vết xước là một vết trợt thành dải do gãi, chà xát hoặc xé.

Loét hậu quả của mất lớp thượng bì và ít nhất là một phần của lớp trung bì. Các nguyên nhân bao gồm viêm da ứ trệ tĩnh mạch, chấn thương thực tổn có hoặc không có sự tổn thương mạch máu (ví dụ, do loét tỳ đè hoặc bệnh động mạch ngoại vi), nhiễm trùng và viêm mạch.

Các chấm xuất huyết là những điểm xuất huyết ấn kính không mất màu Các nguyên nhân bao gồm các bất thường tiểu cầu (ví dụ như giảm tiểu cầu, rối loạn chức năng tiểu cầu), viêm mạch, và nhiễm trùng (ví dụ, bệnh màng não mô cầu, sốt màng não miền núi, các nhiễm trùng do rickettsia).

Ban xuất huyết là một vùng xuất huyết lớn có thể sờ thấy. Ban xuất huyết có thể sờ thấy được coi là dấu hiệu vàng của viêm mạch máu có mảnh vỡ bạch cầu. Xuất huyết có thể là chỉ điểm một bệnh lý rối loạn đông máu Xuất huyết lớn có thể được gọi là vết bầm máu hoặc vết thâm tím.

Teo da là sự mỏng đi của da, có thể xuất hiện khô và nếp nhăn gần giống như giấy cuốn thuốc lá. Teo da có thể do tiếp xúc với ánh nắng mạn tính, lão hóa, và một số bệnh lý viêm và ung thư da, như ung thư tế bào T tại da và Lupus ban đỏ. Teo da cũng có thể là kết quả của việc bôi corticosteroid lâu dài.

Sẹo là những vùng xơ hóa thay thế da bình thường sau chấn thương. Một số sẹo trở nên phì đại hoặc dày lên. Sẹo lồi là những vết sẹo phì đại phát triển vượt ra ngoài ranh giới vết thương ban đầu.

Giãn mao mạch là giãn các mao mạch nhỏ vĩnh viễn, do ánh nắng mặt trời, trứng cá đỏ, các bệnh hệ thống (đặc biệt là xơ cứng hệ thống), hoặc bệnh di truyền (ví dụ, chứng thất điều giãn mạch, giãn mao mạch xuất huyết di truyền) hoặc sau khi điều trị lâu dài bằng corticosteroid tại chỗ

Loãng Xương Và Các Tổn Thương Xương Dạng Pseudopermeative

Loãng xương là bệnh đặc trưng bởi khối lượng xương giảm, vi cấu trúc xương hư hại dẫn đến tình trạng xương bị yếu và hệ quả tăng nguy cơ gãy xương [1]. Khi so sánh khái niệm loãng xương (osteoporosis) và nhuyễn xương (osteomalacia) người ta quan tâm đến việc giảm khối lượng (quantity) xương trong loãng xương là yếu tố chính, còn nhuyễn xương thì khối lượng xương bình thường nhưng chất lượng (quality) xương bất thường do quá trình khoáng hóa bất thường. Trên phim X quang thường quy không thể phân biệt được loãng xương và nhuyễn xương.

Có rất nhiều nguyên nhân gây loãng xương, nguyên nhân phổ biến nhất là loãng xương nguyên phát (còn gọi là loãng xương lão hóa). Nguyên nhân này xảy ra ở phần lớn phụ nữ sau mãn kinh và là vấn đề sức khỏe quan trọng do tăng nguy cơ gãy xương thân đốt sống và xương hông (xương đùi).

Loãng xương thứ phát ám chỉ hiện tượng loãng xương do bệnh tật khác chi phối, như nhiễm độc giáp hoặc bệnh thận. Chỉ khoảng 5% các trường hợp loãng xương là thứ phát. Danh sách chẩn đoán phân biệt loãng xương thứ phát khá dài nên không nên nhớ. Mặt khác, trên phim X quang người ta còn không thể phân biệt loãng xương và nhuyễn xương.

Dấu hiệu X quang chính trong loãng xương là mỏng vỏ xương. Mặc dù có thể xảy ra trên bất cứ xương nào, người ta thường chứng minh một cách tin cậy ở giữa thân xương của đốt bàn tay thứ hai (Hình 1). Trong loãng xương, độ dày vỏ xương mỏng đi (Hình 2). Vỏ xương đốt bàn tay (và tất cả vỏ xương) giảm chiều dày theo tuổi và ở phụ nữ thì mỏng hơn nam giới cùng lứa tuổi.

Một loại loãng xương có thể gặp ở bất cứ lứa tuổi nào là loãng xương do không cử động. Nguyên nhân do bất động, thường gặp sau điều trị gãy xương. Hình ảnh X quang của loãng xương bất động chi khác với hình ảnh loãng xương nguyên phát ở chỗ nó xảy ra nhanh hơn và tạo hình ảnh mảng lốm đốm (Hình 3). Hiện tượng này do hủy cốt bào tiêu vỏ xương, chúng gây các lỗ nhỏ trong vỏ xương. Nếu tiếp tục bất động, xương vùng này sẽ giống mọi xương trong cơ thể chịu loãng xương nặng với vỏ rất mỏng.

Hình 1. Ngấm khoáng bình thường. Chiều dày vỏ xương (các mũi tên) ở giữa đốt bàn tay thứ hai của một bệnh nhân bình thường. Chiều dày này lớn hơn 1/3 chiều rộng của xương bàn tay ở cùng mức.

Hình 2. Loãng xương. Mỏng nhiều vỏ xương (mũi tên) ở giữa xương bàn tay thứ hai của một bệnh nhân bị loãng xương nặng. Lưu ý các đường, vệt sáng trong vỏ xương, chúng thường xuất hiện ở các trường hợp loãng xương nặng.

Hình 3. Loãng xương do bất động. Hình mảng, lốm đóm ở đầu trên xương đùi của bệnh nhân bị loãng xương mạnh mẽ không sử dụng chi sau cắt cụt. Lưu ý vỏ xương không đều đặn, lốm đốm ở thân xương đùi, đó là các lỗ trong vỏ xương có thể thấy trong những trường hợp loãng xương dữ dội.

Đôi khi, loãng xương dữ dội do bất động có thể giả một tổn thương dạng thấm (permeative)*, như Ewing sarcoma hoặc đa u tủy xương, bởi vì nhiều lỗ ở vỏ xương chồng lên khoang tủy xương, do đó hình ảnh trên phim X quang giống quá trình tiêu xương dạng thấm ở tủy xương (Hình 4). Cách để phân biệt quá trình tiêu xương dạng thấm trong tủy xương với tiến triển tiêu xương ở trong vỏ như trường hợp của loãng xương là phải quan sát vỏ xương, xem vỏ xương đặc hoặc có hình các ổ tiêu xương nhỏ lỗ chỗ (Hình 5) không. Nếu vỏ xương đặc, người ta có thể cho rằng quá trình tiêu xương dạng thấm bắt nguồn từ khoang tủy xương (Hình 6); nếu vỏ xương có nhiều lỗ nhỏ, người ta có thể cho rằng tiêu xương dạng thấm này từ vỏ xương. Tiêu xương dạng thấm tạo lỗ ở vỏ xương được gọi là “giả thấm”(pseudopermeative) phân biệt với tiêu xương dạng thấm thực sự xảy ra từ tủy xương [2]. Những nguyên nhân khác gây tiêu xương “giả thấm” gồm có u mạch máu (hiện nay gọi là dị dạng mạch máu, nhất là dị dạng tĩnh mạch) và xạ trị. U mạch máu (hemangioma) có thể tạo nên các lỗ nhỏ ở vỏ xương theo hai cách: do sung huyết cục bộ gây loãng xương khu trú, hoặc các mạch máu tạo thành đường hầm xuyên qua vỏ xương (Hình 7). Xạ trị có thể gây nên các lỗ trong vỏ xương giả tổn thương dạng thấm do các tế bào tạo xương ở vỏ bị chết, các lỗ to trong vỏ xương (Hình 8). Các lỗ trong vỏ xương do xạ trị thường to nên khó nhầm với các tiến triển thấm thực sự, nhưng chúng cũng có thể nhỏ và rất giống tiến triển tiêu xương dữ dội dạng thấm.

Hình 4. Loãng xương dữ dội. Nhiều lỗ nhỏ ở vỏ xương và chồng lên khoang tủy có thể được nhận ra ở đầu trên xương cánh tay bệnh nhân bị đột quỵ não. Nó là biểu hiện của loãng xương dữ dội do bất động chi và giả tiến triển tiêu xương mạnh mẽ dạng thấm (permeative). Tuy nhiên những lỗ đó hầu như chỉ nằm bên trong vỏ xương.

Hình 6. U tủy (myeloma) tạo ra quá trình thấm (permeative process). Quá trình tiêu xương dạng thấm lan tỏa khắp xương đùi của bệnh nhân bị u tủy này. Lưu ý vỏ xương đặc, mặc dù mặt trong vỏ xương bị bào mòn nhiều chỗ. Đây là quá trình thấm thực sự.

Hình 7. Tiến triển giả thấm (pseudopermeative) do u mạch máu. Tổn thương dạng thấm ở đầu dưới xương chày của bệnh nhân biểu hiện đau và sưng cẳng chân này. Tổn thương được cho là Ewing sarcoma và sinh thiết được tiến hành, hậu quả là mất máu nặng. Kết quả sinh thiết là u mạch máu (hemangioma). Đánh giá kỹ lưỡng vỏ xương thấy rằng mặt trong xương chày có nhiều lỗ trong vỏ xương, so với mặt ngoài nguyên vẹn. Mặt trong bản xương ở phía ngoài cũng còn nguyên vẹn, khiến cho suy luận quá trình tiêu xương từ tủy xương không hợp lý. U mạch máu, xạ trị và loãng xương có thể tạo nên quá trình tiêu xương giả thấm. Mặc dù trong thí dụ này loãng xương là khu trú, nhưng về cơ bản loãng xương và xạ trị khác nhau về phạm vi tổn thương (khu trú so với lan tỏa).

Hình 8. Tiến triển giả thấm (pseudopermeative) do xạ trị. Bệnh nhân này có fibrosarcoma đã điều trị bằng cách cắt đầu xương đùi và sau đó xạ trị. Phim X quang theo dõi cho thấy tổn thương dạng thấm lan tỏa khắp đầu trên xương đùi. Do vỏ xương có lỗ chỗ các lỗ, nên tổn thương được cho là do xạ trị hơn là tái phát u. Đây là trường hợp tiến triển giả thấm sau xạ trị.

Nếu phát hiện một tổn thương dạng thấm thực sự, chẩn đoán phân biệt thường là một quá trình tiến triển dữ dội như Ewing sarcoma, nhiễm khuẩn hoặc hạt ái toan ở bệnh nhân trẻ (< 30 tuổi), hoặc đa u tủy xương, ung thư biểu mô di căn, u lymphoma nguyên phát của xương ở những bệnh nhân lớn tuổi hơn. Tuy nhiên, nếu một tổn thương thấm do các lỗ ở vỏ (còn gọi là dạng giả thấm) thì danh sách chẩn đoán phân biệt ít nguy hiểm hơn: loãng xương tiến triển dữ dội, u mạch máu, thay đổi xương sau xạ trị. Danh sách chẩn đoán phân biệt ít khi được áp dụng, nhưng nó rất hữu ích trong những trường hợp có bệnh cảnh phù hợp và phân tích tổn thương tỉ mỉ (xem Bảng).

Bảng: Chẩn đoán phân biệt của tổn thương tiêu xương “giả thấm” (pseudopermeative pattern)

Loãng xương tiến triển nhanh, dữ dội

U mạch máu ở sâu (ngày nay gọi là dị dạng mạch máu, nhất là dị dạng tĩnh mạch)

Xạ trị

Ghi chú:

– permeative pattern* (tạm dịch là tổn thương dạng thấm): là một trong 3 dạng phá hủy xương do Lodwich phân loại vào những năm 1960 [3]. Nó là dạng phá hủy xương có hoạt động sinh học dữ dội nhất, xảy ra đối với các khối u phát triển nhanh nhất và nhiễm khuẩn xương. Phim X quang thường cho thấy vô số chấm sáng nhỏ li ti, đường kính thường dưới 1 mm. Vào thời điểm tổn thương có thể thấy rõ, vỏ xương thường đã bị xuyên thủng và có thể thấy một khối ngoài xương. Các phim X quang bộc lộ kích thước tổn thương nhỏ hơn thực. Hình ảnh tương tự có thể thấy trong [bệnh] loãng xương tiến triển nhanh và dữ dội, hội chứng loạn dưỡng phản xạ thần kinh giao cảm (reflex sympathetic dystrophy, RDS) và không sử dụng hay bất động chi.

Tham khảo và dịch

1. Consensus development conference: Diagnosis, prophylaxis and treatment of osteoporosis. Am J Med 1993, 94:646-50.

2. Helms C, Munk P. Pseudopermeative skeletal lesions. Br J Radiol 1990;63:461-467.

3. Sinchun Hwang, David M. Panicek. The Evolution of Musculoskeletal Tumor Imaging. Radiol Clin N Am 47 (2009) 435–453.

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Mô Tả Công Việc Digital Marketing

Tìm hiểu về nghề Digital Marketing

Nghề Digital Marketing chính là làm marketing với bao gồm tất cả các công việc: xây dựng kịch bản marketing, lên kế hoạch chiến dịch marketing, thực hiện và đo lường kết quả của chiến dịch marketing. Nhưng tất cả các công việc này được thực hiện chủ yếu trong môi trường số. Nói cách khác, nghề Digital Marketing chính là hình thức vận dụng công nghệ và các thiết bị kỹ thuật số hiện đại để làm marketing.

Những công cụ Digital Marketing phổ biến mà các Marketer chuyên nghiệp cần biết

SEO – Search Engine Optimization (Tối ưu hoá cho công cụ tìm kiếm)

Social Media (Mạng xã hội phổ biến như Facebook, Instagram, Snapchat…)

Online PR (PR trực tuyến)

Email Marketing (Tiếp thị qua email)

Mobile Marketing (Tiếp thị qua điện thoại di động)

Mô tả công việc Digital Marketing

Mô tả công việc Digital Marketing Manager

Hoạch định kế hoạch, phân tích và thực hiện hoạt động Digital Marketing; định hướng kế hoạch cho Digital Marketing.

Xây dựng chiến lược marketing trên các kênh truyền thông số; quản lý, vận hành và theo dõi tương tác trên homepage của Website, Facebook ,Linkedin, Zalo…

Lên kế hoạch và kiểm soát hình ảnh thương hiệu trên các kênh truyền thông số; giám sát hiệu quả SEO trên hệ thống Website doanh nghiệp.

Quản lý thứ hạng từ khóa, các hoạt động chạy SEO, Google Adwords và các loại hình Ads khác.

Liên tục cập nhật insight người dùng cũng như những thay đổi trên các phương tiện truyền thông số để điều chỉnh và tối ưu chiến lược marketing

Phân bổ ngân sách có hiệu quả, đánh giá các báo giá, kiểm soát chi phí dựa trên các dịch vụ cung ứng và kiểm soát các định hướng chiến lược.

Báo cáo lên giám đốc marketing về hiệu quả marketing trên các kênh truyền thông số.

Phối hợp với giám đốc sản phẩm, giám đốc thiết kế và giám đốc kinh doanh… để thực hiện các chiến dịch marketing.

Quản lý đội ngũ chuyên viên Digital Marketing; tuyển dụng, huấn luyện, quản lý và đào tạo kĩ năng cho phòng Digital Marketing.

Mô tả công việc nhân viên Digital Marketing

Lập kế hoạch SEO (Search Engine Optimization), SEM (Search Engine Marketing), Google Adwords tối ưu hóa thứ hạng của Website công ty trên các trang tìm kiếm. Thường xuyên thống kê và phân tích từ khóa định kỳ.

Định vị và phát triển thương hiệu và sản phẩm trên các Website, Forum, Facebook, WordPress…và các mạng xã hội khác.

Triển khai quảng bá qua Email Marketing và Mobile Marketing.

Thu thập, phân tích thông tin thị trường, thông tin về sản phẩm, thông tin về các chương trình Digital Marketing, Social Media của đối thủ cạnh tranh.

Đề xuất và thực hiện các chương trình khuyến mại, truyền thông, quảng bá và xây dựng thương hiệu cho công ty và các sản phẩm của công ty.

Thực hiện các công việc hỗ trợ khách hàng tiếp cận với sản phẩm trên Fanpage; Website công ty, giải đáp thông tin về sản phẩm cho khách hàng.

FAQs: Những câu hỏi thường gặp về vị trí công việc Digital Marketing

Nhà tuyển dụng đánh giá cao những kỹ năng nào của ứng viên cho vị trí Digital Marketing?

Kỹ năng viral: Marketing mà càng nhiều người biết đến càng tốt, vì thế kỹ năng lan tỏa là điều cần thiết phải biết. Bạn làm content hay đến mấy nhưng không có sự lan toả cần thiết thì content cũng không có tác dụng.

Kỹ năng tương tác người dùng: Biết cách khéo léo tương tác làm hài lòng khách hàng dù khách hàng ở cấp độ văn hoá nào sẽ thật sự rất tốt cho công việc marketing của bạn và đem lại được hiệu quả về doanh thu lợi nhuận trong việc bán sản phẩm, dịch vụ.

Biết tối ưu hoá công cụ tìm kiếm: Kỹ năng này thường được đánh giá cao đối với một Digital Marketing chuyên nghiệp. Bất cứ sản phẩm nào cũng đều có keyword của nó. Việc bạn có thể tối ưu được keyword để lên top tìm kiếm của người dùng rất cần thiết đối với chiến dịch Digital Marketing.

Những yêu cầu công việc thường được đặt ra khi tuyển dụng nhân viên Digital Marketing là gì?

Một số yêu cầu mà nhà tuyển dụng thường đặt ra khi tuyển dụng nhân viên Digital Marketing là:

Có kiến thức bài bản về Marketing và kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực Marketing.

Am hiểu về SEO, PPC, Google AdWords, hệ thống quản trị nội dung, InDesign.

Hiểu biết sâu và có kinh nghiệm sử dụng các công cụ số và các kênh truyền thông số.

Sử dụng thành thạo Photoshop, Microsoft Office.

Có tư duy chiến lược, tư duy phân tích

Sáng tạo, linh hoạt

Khả năng giao tiếp tốt

Có kỹ năng tổ chức và quản lý thời gian

Kỹ năng giao tiếp.

Kỹ năng làm việc nhóm, cẩn thận, tỉ mỉ và tập trung vào mục tiêu.

Mức lương Digital Marketing là bao nhiêu?

Có thể nói mặt bằng chung lương của nghề Digital Marketing cũng khá hấp dẫn nếu bạn có chuyên môn vững và kinh nghiệm làm việc lâu năm cũng như nắm giữ những vị trí quản lý.

Mức lương trung bình của một chuyên viên Digital Marketing có kinh nghiệm vào khoảng 10 -15 triệu đồng/tháng. Với những vị trí quản lý cấp cao, mức lương có thể đạt đến con số từ hàng chục triệu đến hàng trăm triệu tuỳ theo năng lực làm việc, hiệu quả công việc, kinh nghiệm quản lý và quy mô doanh nghiệp.

Với những bạn mới vào nghề Digital Marketing, quá trình làm việc để tích luỹ kinh nghiệm và có được những vị trí công việc tốt hơn trong nghề nghiệp là điều mà các bạn hướng đến. Những vị trí ban đầu của nghề Digital Marketing thường có mức lương dao động trong khoảng 6 – 8 triệu đồng tuỳ theo năng lực làm việc của các bạn.

Không tốt nghiệp chuyên ngành Marketing có ứng tuyển vị trí công việc Digital Marketing được không?

Để làm tốt công việc Digital Marketing, cần phải làm gì?

Điều đầu tiên là cần phải đọc và đọc. Việc đọc sẽ giúp cho bạn tiếp nhận được nhiều thông tin hữu ích và cần thiết cho công việc. Qua đó, bạn sẽ đánh dấu được những trang web về marketing, về công nghệ hữu ích cho bạn. Điều này sẽ giúp cho bạn luôn nắm được xu hướng mới của ngành, nắm được các thay đổi đang diễn ra và đồng thời mở rộng các hiểu biết của mình nhiều hơn.

Xây dựng những mối quan hệ, kết nối với những người làm chung ngành nghề. Ngoài kiến thức được học từ trường lớp, kiến thức tự học được thì việc học hỏi và trao đổi kinh nghiệm từ những người làm cùng ngành nghề Digital Marketing sẽ giúp bạn nắm bắt tốt thị trường và biết được những xu thế đang diễn ra.

Luôn sẵn sàng học hỏi và tiếp nhận những kiến thức mới. Đừng vội cảm thấy nản khi có nhiều thứ bạn chưa biết và bạn cảm thấy rối khi không biết nên giải quyết vấn đề từ đâu. Việc cần làm là hãy kiên nhẫn, học hỏi kiến thức thêm từng ngày, tìm kiếm sự giải đáp và hỗ trợ từ những người có kinh nghiệm. Tất cả những khó khăn mà bạn gặp phải đều là những kinh nghiệm rất hữu ích để bạn có thể trưởng thành trong nghề Digital Marketing và thành công.

Xử Trí Tổn Thương Xương Bánh Chè

Xương bánh chè là một loại xương tham gia vào vận động, khi xương bánh chè bị tổn thương làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến vận động. Xương bánh chè thường bị tổn thương do tai nạn giao thông, lao động hoặc sinh hoạt hàng ngày. Khi bị tai nạn bệnh nhân thường thấy đau chói ở mặt trước khớp gối, không thể tự duỗi gối được. Có thể nhìn thấy khớp gối bị sưng nề to, mất các lõm tự nhiên, có thể có vết tím bầm ở dưới da. Khám và chụp X quang thấy rạng hoặc gãy…

1. Xử trí tổn thương

– Khi chấn thương khớp gối chưa thể nhận biết có tổn thương xương bánh chè hay không thì người bệnh cần được nghỉ ngơi, bất động để theo dõi. Để giảm đau, nên lấy khăn lạnh hoặc gói đá vào khăn và chườm trong 20 phút, bỏ ra 20 phút, cứ lặp lại như vậy (không đặt đá lạnh trực tiếp lên da). Sau đó, cần theo dõi nếu tình trạng sưng đau phù nề không giảm hoặc đau càng tăng thì có thể là tổn thương hoặc gãy xương bánh chè.

– Đối với trường hợp người bệnh bị gãy xương bánh chè cần sơ cứu bằng cách cố định tạm thời từ 1/3 giữa đùi đến bàn chân trên nẹp ê-ke gỗ, nẹp Crame trong tư thế duỗi gối hoàn toàn. Sau đó, chuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế có chuyên khoa xương khớp. Tuyệt đối không được điều trị theo mách bảo, đắp lá, đắp thuốc có thể dẫn tới biến chứng khớp giả xương bánh chè. Gãy xương bánh chè nếu được điều trị sớm, đúng phương pháp thì xương sẽ nhanh liền và phục hồi chức năng khớp gối tốt sau 3-4 tháng. Nếu không được điều trị, chăm sóc đúng có thể có các biến chứng: viêm mủ khớp gối, teo cơ tứ đầu đùi, xơ hoá, vôi hoá các dây chằng bao khớp gây hạn chế vận động gấp duỗi gối, khó phục hồi chức năng của chi; liền lệch xương bánh chè, biến chứng khớp giả xương bánh chè…

– Tùy từng loại gãy, lứa tuổi mà có phương pháp điều trị bảo tồn hay phẫu thuật. Điều trị bảo tồn khi vỡ xương bánh chè dạng nứt rạn, không di lệch (2 mảnh và mặt khớp bánh chè-lồi cầu đùi không bị khấp khểnh); người bệnh cao tuổi không đi đứng được hoặc có bệnh nội khoa nặng kèm theo. Tùy từng trường hợp có thể được bó bột. Điều trị phẫu thuật được chỉ định khi vỡ xương bánh chè, 2 phần vỡ rời xa nhau quá 4mm, gãy vụn khi diện khớp của các mảnh gãy khấp khểnh hoặc có mảnh rời di lệch vào khớp gối. Có thể mổ buộc vòng chỉ thép, mổ buộc xương chữ U, mổ bắt vít, mổ néo ép. Nếu vỡ vụn quá, cần mổ lấy bỏ xương bánh chè.

2. Phục hồi chức năng

– Đối với bệnh nhân bó bột:

+ Giai đoạn bất động khớp gối, bệnh nhân cần tập co cơ tĩnh trong nẹp, bột, đặc biệt là cơ tứ đầu đùi. Tập co cơ tĩnh 10 giây/lần, ít nhất 10 lần/ngày. Người bệnh cần tập chủ động các khớp tự do: háng, cổ chân để tăng cường tuần hoàn. Sau khi bột khô, cần đứng dậy, tập đi với nạng, chân bệnh chịu một phần sức nặng.

+ Giai đoạn sau khi tháo bột hoặc tháo nẹp cố định khớp gối: giảm đau, tránh co cứng khớp gối bằng nhiệt trị liệu, điện xung, điện phân thuốc qua khớp gối (với phẫu thuật buộc vòng chỉ thép chống chỉ định dùng sóng ngắn để điều trị).

+ Người bệnh cần xoa bóp chống kết dính xung quanh sẹo mổ, xung quanh xương bánh chè và xung quanh khớp. Di động xương bánh chè theo chiều dọc và chiều ngang. Gia tăng tầm vận động khớp bằng kỹ thuật giữ nghỉ và kỹ thuật trợ giúp. Tập duỗi khớp gối hoàn toàn, gấp gối tăng dần để có thể gấp gối 90 độ sau 6 tuần và vận động khớp gối hoàn toàn sau 12 tuần. Gia tăng sức mạnh cơ đùi bằng các bài tập sức cản với tạ, bao cát, ghế chuyên dụng. Tập các bài xuống tấn, đạp xe đạp, trên dụng cụ chuyên biệt, tập bơi, lên xuống cầu thang. Nếu thực hiện đúng chỉ định của bác sĩ và tập luyện thường xuyên, bệnh nhân sẽ phục hồi hoàn toàn và các hoạt động sinh hoạt bình thường sau 6 tháng.

– Đối với bệnh nhân phẫu thuật:

Đối với các trường hợp bệnh nhân phẫu thuật, néo ép bánh chè hoặc các phương pháp phẫu thuật khác không cần bột, nẹp tăng cường thì sau phẫu thuật từ ngày thứ nhất đến 14 ngày cần duỗi gối tối đa; gấp khớp gối tới 90 độ. Người bệnh cần chườm lạnh khớp gối 20 phút cách 2 giờ, sau đó băng chun ép cố định khớp gối. Người bệnh đi lại bằng nạng đến khi kiểm soát được cơ đùi, chân phẫu thuật chịu một phần trọng lượng. Bệnh nhân cần tập co cơ tĩnh cơ tứ đầu đùi và toàn bộ chân phẫu thuật; vận động thụ động khớp gối từ 0 – 30 độ trong những ngày đầu, tăng dần đến 2 tuần đạt gấp gối 90 độ; tập duỗi khớp gối, vận động khớp cổ chân, khớp háng của chân phẫu thuật. Sau phẫu thuật từ 2 – 6 tuần, bệnh nhân cần vận động của khớp gối; tăng sức mạnh nhóm cơ đùi; giảm đau và phù nề. Bệnh nhân tiếp tục các bài tập ở trên. Tập duỗi khớp gối tối đa; gấp dần khớp gối đến 6 tuần khớp gối có thể vận đông bình thường; chân phẫu thuật tiếp tục chịu trọng lượng và bỏ nạng sau 4 tuần. Tập gia tăng sức mạnh cơ đùi bằng chun, tạ, bao cát hoặc dụng cụ chuyên dụng. Tập xuống tấn, đạp xe đạp, bơi. Sau 6 tháng, bệnh nhân trở lại các hoạt động bình thường. Sau phẫu thuật 2 tuần, bệnh nhân cần tái khám và các lần tiếp theo cách 1 tháng. Khám đến 6 tháng sau phẫu thuật.

CN. Vũ Văn Trình (t/h)

Cập nhật thông tin chi tiết về Mô Tả Các Tổn Thương Da trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!