Xu Hướng 2/2023 # Kinh Tế Vi Mô Là Gì? Phân Biệt Kinh Tế Vĩ Mô Với Kinh Tế Vi Mô # Top 9 View | Channuoithuy.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Kinh Tế Vi Mô Là Gì? Phân Biệt Kinh Tế Vĩ Mô Với Kinh Tế Vi Mô # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Kinh Tế Vi Mô Là Gì? Phân Biệt Kinh Tế Vĩ Mô Với Kinh Tế Vi Mô được cập nhật mới nhất trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Kinh tế vi mô là gì? Tổng quan các thông tin hữu ích

Kinh tế vi mô là gì?

Kinh tế vi mô có tên gọi trong tiếng Anh là microeconomics. Đây là một ngành của kinh tế học, nghiên cứu về hành vi của người dùng và doanh nghiệp cũng như quá trình xác định giá và lượng của các đầu vào và sản xuất trong thị trường cụ thể.

Trong quá trình phân tích nền kinh tế vĩ mô, người ta nghiên cứu chủ yếu về cách thức phân bổ nguồn nhân lực kinh tế khan hiếm cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau, tìm kiếm các phát hiện từ những yếu tố chiến lực; từ đó quyết định tới việc sử dụng nguồn nhân lực.

Hiểu một cách đơn giản nhất, kinh tế vi mô là nghiên cứu hành vi của cá nhân, doanh nghiệp như người tiêu dùng, người sản xuất,….và sự tương tác giữa họ dựa trên các thị trường cụ thể.

Ví dụ cụ thể như:

Nghiên cứu sự lựa chọn của người tiêu dùng như người tiêu dùng lựa chọn hàng hóa, dịch vụ như thế nào khi ngân sách hạn chế.

Kinh tế vi mô nghiên cứu mối quan hệ giữa cung cấp hàng hóa với sự tương tác của chúng trong việc hình thành giá cả thị trường.

Nghiên cứu các mô hình thị trường như thị trường độc quyền, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo,….

Kinh tế học vi mô?

Kinh tế học vi mô nghiên cứu các hành vi của chủ thể kinh tế như doanh nghiệp, hộ gia đình,…tại một môi trường cụ thể. Mục tiêu chính từ hoạt động nghiên cứu đó chính là phân tích cơ chế thị trường thiết lập ra giá cả giữa các mặt hàng và dịch vụ một cách tương đối, cùng với đó là sự phân phối các nguồn tài nguyên giới hạn giữa nhiều cách sử dụng khác nhau.

Đối tượng nghiên cứu của nền kinh tế vi mô

Như bạn đã biết, kinh tế vi mô là một môn khoa học kinh tế, cung cấp các kiến thức về lí luận và phương pháp kinh tế đối với các môn quản lý doanh nghiệp trong các ngành của nền kinh tế. Nói cách khác thì nó chính là khoa học về sự lựa chọn hoạt động kinh tế vi mô trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

Đối tượng nghiên cứu chính của kinh tế học vĩ mô đó là nghiên cứu các vấn đề kinh tế cơ bản của từng lĩnh vực, đơn vị kinh tế; nghiên cứu tính quy luật, xu hướng vận động tất yếu của các hoạt động kinh tế vi mô của nền kinh tế thị trường và vai trò của Chính phủ.

Nội dung nghiên cứu của kinh tế vi mô

Kinh tế vi mô tập trung vào việc nghiên cứu một số nội dung quan trọng như các vấn đề về kinh thế cơ bản (thị trường, sản xuất, lợi nhuận,…) và quyết định cung cấp thị trường các yếu tố đầu vào, hạn chế của kinh tế thị trường đó chính là sự can thiệp của chính phủ.

Kinh tế vi mô nghiên cứu về các nội dung chủ yếu sau đây:

Lý thuyết về hành vi người tiêu dùng

Lý thuyết về doanh nghiệp

Cạnh tranh và độc quyền

Thị trường và các yếu tố sản xuất

Các hạn chế của thị trường và sự can thiệp của chính phủ.

……

Phương pháp nghiên cứu kinh tế vi mô

Sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chung của khoa học kinh tế, nắm chắc các vấn đề về lý luận, phương pháp luận, phương pháp lựa chọn kinh tế tối ưu trong các hoạt động của nền kinh tế vi mô.

Gắn chặt với việc nghiên cứu lý luận, phương pháp luận với thực hành trong quá trình học tập để củng cố, nâng cao nhận thức về lý luận,…

Đơn giản hóa việc nghiên cứu với các mối quan hệ phức tạp

Áp dụng phương pháp cân bằng nội bộ, xem xét từng đơn vị vi mô, không xem xét sự tác động đến các vấn đề khác

Sử dụng các mô hình hóa như công cụ toán học, phương trình vi phân để lượng hóa các quan hệ kinh tế.

Kinh tế vĩ mô là gì? Tổng quan các nội dung chi tiết

Kinh tế vĩ mô là gì?

Kinh tế học vĩ mô còn được biết đến với tên gọi là kinh tế tầm lớn. Là một phân ngành của kinh tế học, nghiên cứu về các đặc điểm, cấu trúc và hành vi của nền kinh tế nói chung.

Kinh tế học vĩ mô là một lĩnh vực tổng quát có 2 khu vực nghiên cứu điển hình đó là:

Nghiên cứu những yếu tố quyết định tới khả năng tăng trưởng của nền kinh tế bền vững.

Nghiên cứu về nguyên nhân, hậu quả của biến động ngắn đối với thu nhập quốc gia.

Kinh tế học vĩ mô bắt nguồn từ các học thuyết kinh tế chính trị, kế thừa hệ thống tri thức của môn kinh tế chính trị. Kinh tế học vĩ mô hình thành từ những nỗ lực tách các quan điểm chính trị ra khỏi nền kinh tế. Các nhà nghiên cứu kinh tế học vĩ mô phát đã triển các mô hình để giải thích mối quan hệ giữa các yếu tố như thu nhập quốc gia, sản lượng hay tiêu dùng,….

Tổng hợp các ký hiệu, công thức tính trong kinh tế vĩ mô

Ký hiệu

Tên

Công thức tính

AD

Tổng cầu

AD=C+I+G+Xn

C

Tiêu dùng

C=Co+Cm*Yd

Xn

Xuất khẩu ròng

Xn=X-M

M

Nhập khẩu

M=Mo+Mm*Y

Yd

Thu nhập khả dụng 

Yd=Y-T+Tr=Y-Tn=C+S

Tn

Thuế ròng

Tn=T-Tr

S

Tiết kiệm

S=Yd-C

G

Chi tiêu chính phủ

G=Go

X

Xuất khẩu tự định

X=Xo

Y

Sản lượng

Y=mt*Tno+m*Ado

K

Số nhân

K=(D+(Cu/D+1))/(D+(Cu/D+R/D))=(1+Cu/D)/(R/D+Cu/D)

I

Đầu tư

I=Io+Imy*Y+Imi*i

T

Thuế

T=To+Tm*Y

Tr

Trợ cấp

To

Thuế biên

Mo

Nhập khẩu dự định

Mm

Nhập khẩu biên

lo

Đầu tư tự định

lmy

Đầu tư biên theo thu nhập Y

lmi

Đầu tư biên theo lãi suất i

Go

Chi tiêu tự định

Phân biệt kinh tế vi mô và vĩ mô

Kinh tế vi mô và vĩ mô được sử dụng phổ biến trong nền kinh tế hiện nay. Thế nhưng có rất nhiều người nhầm lẫn chúng với nhau. Vậy nên chúng tôi sẽ giúp bạn phân biệt 2 thuật ngữ này. Cụ thể:

Tiêu chí

Kinh tế vĩ mô

Kinh tế vi mô

Giống nhau

Là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau giúp cho nền kinh tế phát triển bền vững.

Khác nhau

Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu tổng thể nền kinh tế bao gồm cả nền kinh tế quốc gia và quốc tế

Nghiên cứu về hành vi của người tiêu dùng, doanh nghiệp, hộ gia đình tham gia vào nền kinh tế.

Đối tượng nghiên cứu

Các yếu tố của nền kinh tế tổng thể như: Đầu tư vốn, tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát,….thu nhập quốc dân.

Các yếu tố của nền kinh tế cá thể như cung cầu hàng hóa, cạnh tranh doanh nghiệp, chi phí,….

Mục tiêu

Duy trì sự ổn định ở mức chung nhất, giải quyết các vấn đề chính của nền kinh tế như lạng pháp, giảm pháp, tỷ lệ thất nghiệp,…

Giữ vai trò quan trọng đối với việc xác định giá của sản phẩm với giá của các yếu tố sản xuất như đất đai, nguồn lao động, nguồn vốn,…

Các yếu tố tác động

– Thu nhập quốc gia

– Mức giá chung

– Phân phối việc làm, tỷ lệ thất nghiệp

– Tiền tệ

– Vai trò ổn định kinh tế vĩ mô của chính phủ

– Cung – Cầu

– Giá cả của hàng hóa và dịch vụ

– Giá cả của các yếu tố sản xuất

– Mức tiêu thụ

– Phúc lợi kinh tế

– Vai trò của chúng phủ đối với nền kinh tế thị trường.

Mối quan hệ giữa nền kinh tế vĩ mô và vi mô

Mặc dù kinh tế vĩ mô và vi mô là 2 đối tượng nghiên cứu khác nhau nhưng chúng có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau. Cụ thể:

Kết quả của nền kinh tế vĩ mô phụ thuộc vào hành vi của nền kinh tế vi mô. Nghĩa là kinh tế quốc dân phụ thuộc vào sự phát triển của doanh nghiệp, của các tế bào kinh tế dưới sự tác động của kinh thế vĩ mô.

Kinh tế vĩ mô sẽ tạo ra hành lang, môi trường và tạo điều kiện cho nền kinh tế vi mô phát triển.

Kinh tế vi mô độc quyền là gì?

Kinh tế vi mô độc quyền là kinh tế vi mô xét ở 2 yếu tố đó là độc quyền bán và độc quyền mua.

Độc quyền bán: Là trạng thái thị trường chỉ có một người bán và sản xuất ra sản phẩm đó và không có sản phẩm nào thay thế được. Có thể nói, đây là một trong những dạng của thất bại thị trường, là trường hợp cực đoan của thị trường thiếu tính cạnh tranh.

Độc quyền mua: Là một trong những điều kiện thị trường mà ở đó chỉ có một người mua. Trong nền kinh tế vi mô độc quyền, một người mua duy nhất sẽ thống trị thị trường, trong khi đó người bán duy nhất sẽ kiểm soát thị trường độc quyền.

Kinh tế vi mô sản xuất là gì?

Là quá trình làm ra các sản phẩm để sử dụng hoặc trao đổi trong thương mại. Quyết định sản xuất sẽ dựa trên các vấn đề như sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác nguồn nhân lực tạo ra sản phẩm?,…

Theo lý thuyết kinh tế vĩ mô, tùy thuộc vào từng sản phẩm, yếu tố sản xuất sẽ được khai thác và nghiên cứu dựa trên 3 khu vực sau:

Khu vực I: Nông – Lâm- Ngư nghiệp

Khu vực II: Công nghiệp nặng – công nghiệp nhẹ và xây dựng

Khu vực III: Dịch vụ

Mong rằng, nội dung trong bài viết “Kinh tế vi mô là gì? Phân biệt kinh tế vĩ mô với kinh tế vi mô” sẽ giúp ích cho bạn. Để có thêm nhiều thông tin hữu ích khác về kinh tế, quý bạn đọc hãy truy cập website chúng tôi để tìm hiểu.

5

/

5

(

1

bình chọn

)

Kinh Tế Vi Mô Là Gì? Mối Quan Hệ Giữa Kinh Tế Vi Mô Và Kinh Tế Vĩ Mô

Kinh tế vi mô là gì?

Kinh tế vi mô hay kinh tế tầm nhỏ (tiếng Anh là Microeconomics), là một phân ngành chủ yếu của kinh tế học, chuyên nghiên cứu về hành vi kinh tế của các chủ thể tham gia vào nền kinh tế như người tiêu dùng, nhà sản xuất và cách các chủ thể này tương tác với nhau.

Hiểu một cách đơn giản nhất, bản chất của kinh tế vi mô là nghiên cứu hành vi của từng cá nhân, doanh nghiệp như người tiêu dùng, người sản xuất, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp… và sự tương tác giữa họ trên các thị trường cụ thể.

Kinh tế vi mô nghiên cứu mối quan hệ giữa cung cầu hàng hoá và sự tương tác của chúng trong việc hình thành nên giá cả thị trường.

Nghiên cứu sự lựa chọn của người tiêu dùng như người tiêu dùng lựa chọn hàng hóa và dịch vụ như thế nào khi ngân sách bị hạn chế.

Nghiên cứu số lượng hàng hóa mà hộ gia đình đã mua và số giờ lao động mà họ đã cung cấp.

Nghiên cứu hành vi của doanh nghiệp như các quyết định về lựa chọn yếu tố đầu vào, số lượng lao động mà doanh nghiệp thuê và hàng hóa mà doanh nghiệp bán….

Nghiên cứu các mô hình thị trường như thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường độc quyền hay thị trường cạnh tranh không hoàn hảo…

Đối tượng và nội dung nghiên cứu của kinh tế vi mô

Là một phân ngành kinh tế tầm nhỏ, kinh tế vi mô có đối tượng và nội dung nghiên cứu cụ thể.

Đối tượng của kinh tế vi mô

Kinh tế vi mô sẽ cung cấp các kiến thức cho nhà quản lý doanh nghiệp để họ giải quyết 3 vấn đề cơ bản sau:

Sản xuất cái gì?

Sản xuất bằng cách nào?

Sản xuất cho ai?

Như vậy, đối tượng nghiên cứu của kinh tế vi mô là:

Nghiên cứu các vấn đề kinh tế cơ bản của từng đơn vị kinh tế

Nghiên cứu tính quy luật và xu hướng vận động tất yếu của các hoạt động kinh tế vi mô, những “khuyết tật” của nền kinh tế thị trường và vai trò của Chính phủ.

Nội dung nghiên cứu của kinh tế vi mô

Trong kinh tế vi mô, nội dung nghiên cứu được tập trung chủ yếu vào vấn đề quan trọng là: Những vấn đề kinh tế cơ bản về thị trường, sản xuất và chi phí, lợi nhuận và quyết định cung cấp thị trường các yếu tố đầu vào, hạn chế của kinh tế thị trường và sự can thiệp của chính phủ.

Kinh tế vi mô và những vấn đề cơ bản của doanh nghiệp: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu kinh tế vi mô, lựa chọn kinh tế tối ưu, ảnh hưởng của quy luật khan hiếm, lợi suất giảm dần, quy luật chi phí cơ hội tăng dần và hiệu quả kinh tế.

Cung cầu hàng hóa trên thị trường: Nghiên cứu cung và cầu, các nhân tố ảnh hưởng đến cung và cầu, cơ chế hình thành giá và sự thay đổi của giá do cung cầu thay đổi và các hình thức điều tiết giá.

Nghiên cứu tác động của các nhân tố tới lượng cầu và lượng cung về mặt lượng thông qua xem xét các loại hệ số co dãn và ý nghĩa của các loại co dãn đó.

Nghiên cứu các vấn đề về tiêu dùng như quy luật lợi ích cận biên giảm dần trong tiêu dùng, sự lựa chọn tối ưu của người tiêu dùng.

Sản xuất – Chi phí – Lợi nhuận: Nghiên cứu các quy luật trong sản xuất, chi phí và lợi nhuận.

Nghiên cứu các mô hình về thị trường: thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường độc quyền, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo bao gồm cạnh tranh độc quyền và độc quyền tập đoàn. Kinh tế vi mô sẽ nghiên cứu, xem xét thông qua việc xác định mức sản lượng, giá bán nhằm tối đa hoá lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Nghiên cứu các vấn đề về cung cầu lao động đối với doanh nghiệp trong điều kiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo.

Nghiên cứu những thất bại của kinh tế thị trường thông qua việc nghiên cứu khuyết tật của kinh tế thị trường và vai trò của Chính phủ

Phân biệt kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô

Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô là hai khái niệm rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường. Rất nhiều người có sự nhầm lẫn về chúng. Vậy phân biệt kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô như thế nào? Hai khái niệm này giống và khác nhau ở điểm nào? Cùng theo dõi bảng sau để nắm rõ.

Giống nhau

Cả hai đều là những bộ phận quan trọng trong nền kinh tế của một quốc gia. Chúng có mối quan hệ tác động lẫn nhau giúp nền kinh tế phát triển bền vững.

Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng, doanh nghiệp, hộ gia đình tham gia vào nền kinh tế.

Nghiên cứu tổng thể nền kinh tế bao gồm cả quốc gia và quốc tế.

Đối tượng nghiên cứu

Các yếu tố thuộc về kinh tế cá thể như: Cung cầu hàng hóa, cạnh tranh doanh nghiệp, sản xuất, chi phí, lợi nhuận…

Các yếu tố kinh tế tổng thể như: đầu tư vốn, tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát, tổng sản phẩm xã hội, thu nhập quốc dân…

Mục tiêu

Có vai trò trong việc xác định giá của một sản phẩm cùng với giá của các yếu tố sản xuất khác như đất đai, nguồn lao động, nguồn vốn, doanh nghiệp… trong nền kinh tế.

Duy trì ổn định ở mức giá chung và giải quyết các vấn đề chính của nền kinh tế như: lạm phát, giảm phát, tỷ lệ thất nghiệp và đói nghèo…

Các yếu tố tác động

– Cung – Cầu

– Giá cả của hàng hóa và dịch vụ

– Giá của các yếu tố sản xuất

– Mức tiêu thụ

– Phúc lợi kinh tế

– Vai trò của chính phủ trong nền kinh tế thị trường

– Thu nhập quốc gia

– Mức giá chung

– Phân phối việc làm, tỷ lệ thất nghiệp

– Tiền tệ

– Vai trò ổn định kinh tế vĩ mô của chính phủ

Mối quan hệ giữa kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô

Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô tuy đối tượng nghiên cứu khác nhau nhưng giữa chúng có mối quan hệ gắn bó, tác động qua lại lẫn nhau. Theo đó:

Kết quả kinh tế vĩ mô phụ thuộc vào hành vi của kinh tế vi mô, đồng nghĩa với việc kinh tế quốc dân phụ thuộc vào sự phát triển của doanh nghiệp, của tế bào kinh tế trong sự tác động ảnh hưởng của kinh tế vĩ mô, của nền kinh tế.

Kinh tế vĩ mô sẽ tạo hành lang, môi trường và tạo điều kiện cho kinh tế vi mô phát triển

Có thể thấy, kinh tế vĩ mô phụ thuộc vào các hành vi của kinh tế vi mô. Theo đó, nền kinh tế muốn phát triển phải phụ thuộc vào sự phát triển của các doanh nghiệp, các tế bào kinh tế. Ngược lại, hành vi của các doanh nghiệp, các tế bào kinh tế sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của kinh tế vĩ mô.

Các khái niệm trong kinh tế vi mô cần nắm

ATC kinh tế vi mô là gì?

ATC là ký tự viết tắt của khái niệm chi phí bình quân (tiếng Anh là average total cost). Chi phí bình quân là chi phí tính trên mỗi đơn vị sản lượng, trong đó bao gồm tất cả các chi phí đầu vào của sản xuất. Tổng chi phí bình quân (ATC) được tính bằng công thức:

ATC = TC/Q

Trong đó:

Q là sản lượng

TC là tổng chi phí của tất cả các loại đầu vào được sử dụng để sản xuất ra sản lượng.

Ngoài ra, tổng chi phí bình quân (ATC) có thể được tính bằng cách lấy chi phí cố định bình quân (AFC) cộng với chi phí biến đổi bình quân (AVC): ATC = AFC + AVC

Trong kinh tế vi mô, tổng chi phí bình quân khi được kết hợp với giá sẽ xác định lợi nhuận hoặc lỗ trên mỗi đơn vị mà một công ty tối đa hóa lợi nhuận nhận được từ sản xuất ngắn hạn. Theo đó:

Nếu giá cao hơn chi phí bình quân thì công ty sẽ nhận được lợi nhuận trên mỗi đơn vị.

Nếu giá thấp hơn chi phí bình quân, công ty phải chịu lỗ trên mỗi đơn vị.

Nếu giá bằng tổng chi phí bình quân, thì công ty chỉ hòa vốn, không nhận được lợi nhuận cũng không phát sinh một khoản lỗ trên mỗi đơn vị.

Kinh tế vi mô TVC là gì?

TVC trong kinh tế vi mô là ký tự viết tắt của khái niệm tổng chi phí biến đổi (TVC), đây là toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp chi ra để mua các yếu tố sản xuất biến đổi trong mỗi đơn vị thời gian, gồm chi phí mua nguyên vật liệu, tiền trả lương cho công nhân…

Kinh tế vi mô độc quyền là gì?

Kinh tế vi mô độc quyền là kinh tế vi mô xét ở hai yếu tố độc quyền bán và độc quyền mua. Theo đó:

– Độc quyền bán (tiếng anh là Monopoly hay Monopolist), là trạng thái thị trường chỉ có duy nhất một người bán và sản xuất ra sản phẩm, không có sản phẩm thay thế gần gũi. Đây là một trong những dạng của thất bại thị trường, là trường hợp cực đoan của thị trường thiếu tính cạnh tranh.

Ví dụ: Hãng Microsoft độc quyền trên toàn thế giới với hệ điều hành Windows.

Hãng độc quyền có vị trí đặc biệt trên thị trường. Nếu nhà độc quyền quyết định nâng giá bán sản phẩm, hãng sẽ không phải lo về việc các đối thủ cạnh tranh sẽ đặt giá thấp hơn để chiếm thị phần lớn hơn, làm thiệt hại tới mình. Hãng độc quyền quyết định và kiểm soát mức giá, sản lượng cung ứng.

Chỉ có một hãng duy nhất cung ứng toàn bộ sản phẩm trên thị trường.

Sản phẩm hàng hóa trên thị trường độc quyền không có hàng hóa thay thế gần gũi. Nhà độc quyền sẽ không lo ngại về việc người tiêu dùng sẽ chuyển sang sử dụng các sản phẩm thay thế khi nhà độc quyền định giá cao hơn.

Thị trường độc quyền bán thuần túy có rào cản lớn về việc gia nhập hoặc rút lui khỏi thị trường. Theo đó, rào cản gia nhập khiến cho hãng độc quyền bán là nhà sản xuất và cung ứng duy nhất trên thị trường. Nếu không có rào cản rút lui khỏi thị trường thì sẽ không có bất kỳ sản phẩm nào mà nhà độc quyền đó đã cung cấp cho thị trường.

Đường cầu của hãng độc quyền là đường dốc xuống về phía phải, tuân theo luật cầu.

Nguyên nhân cơ bản dẫn đến độc quyền bán là hàng rào gia nhập. Theo đó, doanh nghiệp độc quyền tiếp tục là người bán duy nhất trên thị trường vì các doanh nghiệp khác không thể gia nhập thị trường và cạnh tranh với nó.

– Độc quyền mua (tiếng Anh là Monopsony) là một điều kiện thị trường mà trong đó chỉ có một người mua. Trong kinh tế vi mô độc quyền, một người mua duy nhất thống trị thị trường độc quyền mua trong khi một người bán duy nhất kiểm soát thị trường độc quyền.

Trong một thị trường độc quyền mua, bên nắm quyền lực kiểm soát là một người mua. Người mua này có thể sử dụng lợi thế quy mô của mình để có được giá thấp, vì có nhiều người bán tranh giành được kinh doanh với họ.

Tình trạng độc quyền mua có thể xảy ra phổ biến trong thị trường lao động khi một chủ lao động duy nhất có lợi thế hơn lực lượng lao động. Khi điều này xảy ra, các nhà bán buôn (trong trường hợp này là các nhân viên tiềm năng) đồng ý với mức lương thấp hơn do các yếu tố từ sự kiểm soát công ty mua hàng.

Kinh tế vi mô sản xuất là gì?

Kinh tế vi mô sản xuất hay sản xuất trong kinh tế vi mô là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng hay để trao đổi trong thương mại. Quyết định sản xuất dựa vào những vấn đề: sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?, sản xuất cho ai?, giá thành sản xuất? làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm?

Trong kinh tế vi mô, tùy theo sản phẩm, yếu tố sản xuất sẽ được khai thác và nghiên cứu theo 3 khu vực chủ yếu:

Khu vực một của nền kinh tế: Nông – Lâm – Ngư nghiệp

Khu vực 2 của nền kinh tế: Công nghiệp nặng – công nghiệp nhẹ, Xây dựng

Khu vực 3 của nền kinh tế: dịch vụ

AC trong kinh tế vi mô là gì?

AC trong kinh tế vi mô là ký tự viết tắt của khái niệm chi phí trung bình (tiếng Anh là average cost) là tổng chi phí tính trung bình cho mỗi đơn vị sản phẩm tương ứng ở mỗi mức sản lượng. AC được xác định bằng 2 cách:

Hoặc lấy tổng chi phí chia cho sản lượng tương ứng: ACi=TCi/Qi

Hoặc lấy chi phí cố định trung bình cộng với chi phí biến đổi trung bình tương ứng ở mức sản lượng đó: AC. = AFC. + AVC

Giá trần là gì?

Giá trần (tiếng Anh là Price ceiling) trong kinh tế vi mô là mức giá tối đa mà nhà nước buộc những người bán phải chấp hành. Hiểu đơn giản là là mức giá cao nhất có thể bán trên thị trường nhưng nhỏ hơn giá cân bằng thị trường.

Thông thường, chính sách giá trần được áp dụng cho một số thị trường như: thị trường nhà ở, thị trường vốn, thị trường xăng dầu…

Ví dụ: Liên bộ Công thương – Tài chính công bố mức giá xăng E5 RON 92 có mức trần mới là 11.956 đồng/lít; xăng RON95-III là 12.560 đồng/lít; Dầu diesel 0.05S có mức trần là 11.259 đồng/lít; dầu hỏa là 9.141 đồng/lít và dầu mazut 180CST 3.5S có mức trần là 9.453 đồng/kg. Doanh nghiệp không được bán vượt quá mức giá trần, nếu bán vượt quá sẽ bị xử phạt.

Mục tiêu khi thiết lập mức giá trần của nhà nước là kiểm soát giá để bảo vệ lợi ích của những người tiêu dùng. Khi nhà nước thiết lập giá trần nghĩa là trên thị trường sẽ xảy ra tình trạng thiếu hụt hàng hóa. Theo đó, khi mức giá cân bằng trên thị trường được xem là quá cao, nhà nước đưa ra mức giá trần thấp hơn với hi vọng những người tiêu dùng có khả năng mua được hàng hoá với giá thấp. Điều này cũng giúp những người có thu nhập thấp vẫn có khả năng tiếp cận được các loại hàng hoá quan trọng.

Giá sàn (tiếng Anh là Price Floor) trong kinh tế vi mô là mức giá tối thiểu mà nhà nước quy định. Lúc này, người mua không thể trả giá với mức giá thấp hơn giá sàn. Hiểu đơn giản, giá sàn là mức giá thấp nhất mà người mua có thể mua trên thị trường nhưng cao hơn giá cân bằng thị trường.

Ví dụ: Nhà nước đưa ra mức giá sàn cho mặt hàng lúa gạo là 15.000 VNĐ/kg. Lúc này người mua không thể trả giá cho mặt hàng lúa gạo thấp hơn mức giá này.

Chính phủ quy định giá sàn cho một loại hàng hóa nhằm mục đích bảo vệ lợi ích của người sản xuất, cung ứng hàng hóa. Khi chính phủ quy định giá sàn thì trên thị trường sẽ xảy ra tình trạng dư thừa hàng hoá.

DWL trong kinh tế vi mô là gì?

DWL trong kinh tế vi mô là ký tự viết tắt của khái niệm tổn thất tải trọng (tiếng Anh là deadweight – loss). Đây là khái niệm thường được dùng để chỉ phần thặng dư mà người tiêu dùng mất đi, nhưng người sản xuất, chính phủ hoặc ai đó không được hưởng.

Hiện tượng tổn thất tải trọng xuất hiện khi thị trường cạnh tranh bị độc quyền hóa hoặc khi chính phủ áp dụng các chính sách can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh tế (ví dụ như chính sách thương mại).

Có thể thấy, tìm hiểu và nghiên cứu kinh tế vi mô sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quan nhất về các chủ thể kinh tế như người tiêu dùng, nhà sản xuất và cách các chủ thể này tương tác với nhau. Từ đó làm nền tảng cho việc nghiên cứu nền kinh tế ở mức độ tổng quát và chuyên sâu hơn nhằm đưa ra những chiến lược và định hướng phát triển.

Sự Khác Biệt Giữa Kinh Tế Vi Mô Và Vĩ Mô

Kinh tế vi mô là nghiên cứu về một hành vi kinh tế của một cá nhân, công ty hoặc hộ gia đình cụ thể, tức là nó nghiên cứu một đơn vị cụ thể. Mặt khác, kinh tế vĩ mô là nghiên cứu về toàn bộ nền kinh tế, không phải là một đơn vị đơn lẻ mà là sự kết hợp của tất cả, các công ty, hộ gia đình, quốc gia, v.v.

“Kinh tế” được định nghĩa là nghiên cứu về cách con người làm việc cùng nhau để chuyển đổi các nguồn lực hạn chế thành hàng hóa và dịch vụ để đáp ứng mong muốn của họ (không giới hạn) và cách họ phân phối giống nhau. Kinh tế học đã được chia thành hai phần rộng là Kinh tế vi mô và Kinh tế vĩ mô. Ở đây, trong bài viết đã cho, chúng tôi đã chia nhỏ khái niệm và tất cả những khác biệt quan trọng giữa kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô, ở dạng bảng, có một cái nhìn.

Nội dung: Kinh tế vi mô Vs Kinh tế vĩ mô

Biểu đồ so sánh

Định nghĩa kinh tế vi mô

Ví dụ : Nhu cầu cá nhân, Giá của sản phẩm, v.v.

Định nghĩa kinh tế vĩ mô

Kinh tế vĩ mô là nhánh của kinh tế học tập trung vào hành vi và hiệu suất của các biến tổng hợp và những vấn đề ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Nó bao gồm các nền kinh tế khu vực, quốc gia và quốc tế và bao gồm các lĩnh vực chính của nền kinh tế như thất nghiệp, nghèo đói, mức giá chung, GDP (Tổng sản phẩm quốc nội), xuất nhập khẩu, tăng trưởng kinh tế, toàn cầu hóa, chính sách tài chính / tiền tệ, v.v. trong việc giải quyết các vấn đề khác nhau của nền kinh tế, từ đó cho phép nó hoạt động hiệu quả.

Ví dụ : Tổng cầu, Thu nhập quốc dân, v.v.

Sự khác biệt chính giữa Kinh tế vi mô và vĩ mô

Kinh tế học vi mô nghiên cứu phân khúc thị trường cụ thể của nền kinh tế, trong khi Kinh tế học vĩ mô nghiên cứu toàn bộ nền kinh tế, bao gồm một số phân khúc thị trường.

Kinh tế vi mô nhấn mạnh vào các đơn vị kinh tế cá nhân. Đối với điều này, trọng tâm của kinh tế vĩ mô là các biến kinh tế tổng hợp.

Trong khi kinh tế vi mô được áp dụng cho các vấn đề vận hành hoặc nội bộ, các vấn đề môi trường và bên ngoài là mối quan tâm của kinh tế vĩ mô.

Kinh tế học vi mô bao gồm các vấn đề như giá của một loại hàng hóa cụ thể sẽ ảnh hưởng đến lượng cầu và lượng cung của nó như thế nào và ngược lại trong khi Kinh tế vĩ mô bao gồm các vấn đề lớn của nền kinh tế như thất nghiệp, chính sách tiền tệ / tài chính, nghèo đói, thương mại quốc tế, v.v.

Kinh tế vi mô xác định giá của một loại hàng hóa cụ thể cùng với giá của hàng hóa bổ sung và hàng hóa thay thế, trong khi Kinh tế vĩ mô rất hữu ích trong việc duy trì mức giá chung.

Trong khi phân tích bất kỳ nền kinh tế nào, kinh tế vi mô có cách tiếp cận từ dưới lên, trong khi kinh tế vĩ mô có cách tiếp cận từ trên xuống được xem xét.

Video: Kinh tế vi mô Vs Kinh tế vĩ mô

Kinh tế vi mô

Ưu điểm:

Nó giúp xác định giá của một sản phẩm cụ thể và giá của các yếu tố sản xuất khác nhau, ví dụ như đất đai, lao động, vốn, tổ chức và doanh nhân.

Nó dựa trên nền kinh tế doanh nghiệp tự do, có nghĩa là doanh nghiệp độc lập để đưa ra quyết định.

Nhược điểm:

Giả định về việc làm đầy đủ là hoàn toàn không thực tế.

Nó chỉ phân tích một phần nhỏ của nền kinh tế trong khi một phần lớn hơn không bị ảnh hưởng.

Kinh tế vĩ mô

Ưu điểm:

Nó rất hữu ích trong việc xác định cán cân thanh toán cùng với các nguyên nhân thâm hụt và thặng dư của nó.

Nhược điểm:

Phân tích của nó nói rằng các tập hợp là đồng nhất, nhưng nó không phải như vậy bởi vì đôi khi chúng không đồng nhất.

Nó chỉ bao gồm các biến tổng hợp tránh được phúc lợi của cá nhân.

Điểm tương đồng

Vì kinh tế vi mô tập trung vào việc phân bổ các nguồn lực hạn chế giữa các cá nhân, nên kinh tế vĩ mô kiểm tra xem việc phân phối các nguồn lực hạn chế được thực hiện như thế nào giữa nhiều người, để nó sử dụng tốt nhất các nguồn lực khan hiếm. Khi nghiên cứu kinh tế vi mô về các đơn vị riêng lẻ, đồng thời, kinh tế học vĩ mô nghiên cứu về các biến tổng hợp. Theo cách này, chúng ta có thể nói rằng chúng phụ thuộc lẫn nhau.

Phần kết luận

Kinh tế vi mô và vĩ mô không mâu thuẫn trong tự nhiên, trên thực tế, chúng là bổ sung. Vì mỗi đồng tiền đều có hai khía cạnh – kinh tế vi mô và vĩ mô cũng là hai khía cạnh của cùng một đồng tiền, trong đó, một trong những đồng tiền khác là công đức và theo cách này chúng bao trùm toàn bộ nền kinh tế. Điều quan trọng duy nhất làm cho chúng khác biệt là khu vực ứng dụng.

Mô Hình Kinh Tế Keiretsu

Khi tìm hiểu về Nhật Bản, cụ thể hơn là về lịch sử kinh tế, đã bao giờ bạn từng nghe nói đến các tập đoàn tài phiệt zaibatsu? Thực chất, đây là một từ dùng để chỉ các tập đoàn tư bản khổng lồ đã kiểm soát mọi mặt nền kinh tế Nhật Bản trước Thế chiến II và đã bị giải thể triệt hạ. Tuy nhiên sau đó, từ các “mảnh vỡ của zaibatsu”, một mô hình mới keiretsu được hình thành như một sự thay thế các zaibatsu trước đó. Đặc biệt, trong những năm 70 của thế kỷ XX, khi nền kinh tế Nhật Bản nổi tiếng với tốc độ tăng trưởng thần kỳ, thuật ngữ “keiretsu” được dùng để chỉ các tập đoàn kinh tế lớn tại Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới lần thứ Hai càng trở nên phổ biến và được rất nhiều giới học giả quan tâm chú ý.

1. Zaibatsu – Tiền thân của Keiretsu

Thứ nhất, zaibatsu là các tập đoàn kinh tế mang tính chất nửa phong kiến, tức là quyền sở hữu, kiểm soát và chi phối chỉ tập trung trong tay một gia đình nào đó, quyền thừa kế không phải để cho những người tài năng trong Tập đoàn lớn, được tuyển lựa qua quá trình hội kiến của nhân viên trong công ty, mà truyền cho các thành viên trong gia đình, những người có cùng huyết thống.

Thứ hai, zaibatsu hoạt động đa dạng trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau từ khai thác khoáng sản, đóng tàu chế tạo động cơ đốt trong, thép, dệt may, hóa chất, lọc dầu, cho đến dệt may, sản xuất bia, chế biến thực phẩm, bảo hiểm, làm giấy,… trong đó, ngân hàng và công ty thương mại đóng vai trò đặc biệt quan trọng.

Thứ ba, các tập đoàn này luôn kiểm soát và độc quyền một hoặc nhiều lĩnh vực kinh doanh trên thị trường kinh tế. Chẳng hạn, Mitsubishi đã độc quyền trong lĩnh vực vận tải đường thủy trong một thời gian dài trước Thế chiến II.

Thứ tư, có quan hệ chặt chẽ với chính phủ: các zaibatsu luôn nhận được sự bảo hộ và hậu thuẫn của chính phủ thông qua các chính sách thuế quan, trợ cấp; mặt khác, zabattsu cũng là công cụ hữu hiệu của chính phủ trong việc thực hiện các mục tiêu chính trị của mình, trong đó có các cuộc chiến tranh xâm lược.

Hầu hết các zaibatsu đều được khởi dựng từ thời kỳ Minh Trị, ở một vài trường hợp đã bắt rễ ngay từ thời Edo như tập đoàn Sumitomo, Mitsui. Cho đến thời điểm cuối thời kỳ Chiến tranh thế giới lần thứ II (tức năm 1945), sự áp đảo và sức mạnh kiểm soát nền kinh tế Nhật Bản của 4 zaibatsu lớn nhất (四大財閥, gồm Mitsui, Mitsubishi, Sumitomo, Yasuda) và 9 zaibatsu (gồm 4 zaibatsu lớn nhất và 5 zaibatsu: Aikawa – còn gọi là Nissan, Asano, Furukawa, Nakajima, Nomura) được thể hiện qua những con số sau: Trong lĩnh vực tài chính, chỉ riêng 4 zaibatsu lớn đã chiếm tới 50% tổng số vốn, 9 zaibatsu chiếm 53%; trong ngành công nghiệp nặng, 4 zaibatsu lớn chiếm 32%, 9 zaibatsu chiếm 49%; trong toàn bộ lĩnh vực công nghiệp, 4 zaibatsu lớn chiếm 25%, 9 zaibatsu chiếm 35%[1].

Tuy nhiên, trong lúc các zaibatsu đang phát triển với tốc độ hết sức nhanh chóng thì ngày 14/8/1945, Nhật hoàng đã tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện trước sức ép từ nhiều phía sau nhiều năm chạy đua chiến tranh. Bại trận trong cuộc chiến tranh này đã trở thành cú đánh mạnh mẽ vào nền kinh tế Nhật Bản, giáng đòn trực tiếp vào các tổ chức kinh tế mà nổi bật nhất là các tập đoàn tài phiệt zaibatsu đã tồn tại lâu đời từ trước đó. Nếu trước Thế chiến II, các zaibatsu đã độc chiếm nền kinh tế Nhật Bản thì nay đã bị phá vỡ và sụp đổ.

Các zaibatsu theo nghĩa trước chiến tranh dường như không còn nữa. Tuy vậy, những chính sách giải thể các zaibatsu lại có tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế của Nhật Bản sau chiến tranh. Việc giải thể các zaibatsu không chỉ làm giảm thiểu tình trạng độc quyền về kinh tế mà còn tạo nên môi trường cạnh tranh tự do cho các công ty nhỏ, độc lập, nhờ đó mà hoạt động kinh tế của các công ty Nhật Bản cũng trở nên dân chủ hơn.

Tuy nhiên, mặc dù đã bị phân tách ra thành nhiều công ty nhỏ khác nhau nhưng chỉ một thời gian sau, các zaibatsu đã “hồi sinh” nhanh chóng nhưng những đặc trưng phát triển của nó rất khác so với đặc trưng của zaibatsu trước năm 1945, đó là sự xuất hiện của một mô hình mới: mô hình keiretsu. Có thể nói, khoảng thời gian 7 năm Nhật Bản bị quân Đồng minh chiếm đóng chính là giai đoạn đầu mang tính chuyển giao giữa zaibatsu và keiretsu.

2. Bản chất

Có thể nói, keiretsu là một mô hình tổ chức rất độc đáo của riêng Nhật Bản. Về mặt ngôn ngữ học, keiretsu (系列) có âm Hán – Việt là “hệ liệt”, được dùng để chỉ một hệ thống liên kết có tổ chức và trật tự. Về bản chất, keiretsu chính là những tập đoàn hay tổ hợp các công ty hoạt động trên nhiều lĩnh vực liên kết lại với nhau về các mặt như tài chính, nhân lực, nguyên nhiên liệu, công nghệ, phân phối,… được ra đời tại ở Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai.

Cho đến thời điểm hiện tại, mặc dù có khá nhiều nhà kinh tế nghiên cứu về keiretsu nhưng để nói được chính xác Nhật Bản có bao nhiêu keiretsu thì thật sự rất khó. Có nhiều cách phân loại keiretsu, nhưng theo cách phân chia hiện hành thì keiretsu có hai loại: keiretsu hàng ngang (横系列) và keiretsu hàng dọc (縦系列). Keiretsu hàng ngang dùng để chỉ một tập hợp các công ty tập trung quanh một ngân hàng (main bank) và một công ty thương mại (sogo shosha), được liên kết với nhau thông qua việc nắm giữ cổ phần chéo và quan hệ thương mại. Đây là keiretsu được bàn đến nhiều nhất bởi chúng có sức mạnh chi phối rất lớn đến nền kinh tế Nhật Bản và được rất nhiều học giả quan tâm. Sáu keiretsu lớn nhất Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II đến nửa đầu những năm 90 của thế kỷ XX là: Mitsubishi, Mitsui, Sumitomo, Fuyo, Sanwa, Daiichi. Trong đó, 3 keiretsu đầu có nguồn gốc từ các cựu zaibatsu trước chiến tranh mà phát triển lên, gồm hàng chục công ty hạt nhân tập trung xung quanh một ngân hàng chính (Ngân hàng Mitsubishi, Mitsui, Sumitomo), một công ty thương mại tổng hợp (Công ty Mitsubishi Shoji, Mitsui Bussan, Sumitomo Shoji), và hầu hết các công ty thành viên của chúng đều sử dụng logo và thương hiệu của tập đoàn. Ba keiretsu còn lại có số thành viên ít hơn, các thành viên cũng không có quan hệ với các cựu zaiabatsu trước chiến tranh, kém liên kết hơn và quan hệ của chúng chủ yếu giới hạn trong quan hệ ngân hàng – khách hàng, song chúng cũng bao gồm một ngân hàng chính (Ngân hàng Fuji, Sanwa, Daiichi – năm 1971 hợp với Nihon Kangyo thành Daiichi Kangyo) và một công ty thương mại tổng hợp (Công ty Marubeni, Nissho Iwai, Ichochu). Chính vì vậy, mặc dù xét về bản chất ngữ nghĩa không được hoàn toàn chính xác, mà người ta hay gọi ba keiretsu đầu là “keiretsu tập trung vào các zaibatsu” (hoặc “keiretsu cũ”), còn ba keiretsu sau là “keiretsu tập trung vào các ngân hàng” (hoặc “keiretsu mới”).

Nhìn vào sơ đồ trên có thể thấy, điểm khác nhau lớn nhất giữa zaibatsu và keiretsu là quan hệ sở hữu và sự chi phối kiểm soát. Nếu như trong zaibatsu, quan hệ sở hữu và quyền kiểm soát thuộc về một gia đình tài phiệt nào đó, thì trong keiretsu, quan hệ sở hữu chính là tỷ lệ nắm cổ phần chéo giữa các công ty trong nhóm. Do vậy, các công ty luôn chịu sự chi phối và kiểm soát lẫn nhau.

Loại keiretsu thứ hai là keiretsu hàng dọc là tập hợp các công ty, trong đó bao gồm một công ty rất lớn và hàng trăm, hàng nghìn công ty nhỏ phụ thuộc, đặc điểm nổi bật của keiretsu này là tính chuyên môn hóa cao. Một số keiretsu điển hình: Toyota, Matsushita, Nissan, Hitachi, NEC,…

3. Ưu và nhược

Một trong những ưu điểm lớn nhất của keiretsu chính là tính an toàn và ổn định. Do sở hữu cổ phần chéo và chịu ảnh hưởng của một ngân hàng và một công ty thương mại chung nên các công ty trong keiretsu thường có chiến lược kinh doanh giống nhau, phát huy khả năng tương trợ, hợp tác, nhất là khi gặp khó khăn về tài chính. Bên cạnh đó, các công ty thành viên còn chia sẻ với nhau những tiến bộ khoa học công nghệ, những bí quyết kinh doanh, kinh nghiệm quản lý, cách thức tiếp thị, thâm nhập thị trường,… Thêm nữa, các công ty trong khối keiretsu cũng không bị nguy cơ tranh quyền điều hành hoặc bị đối thủ bên ngoài thôn tính.

Tuy nhiên, nhược điểm của nó chính là tính khép kín, thiếu minh bạch, giảm tính cạnh tranh, tính năng động, đổi mới. Với đặc điểm như vậy, các keiretsu đã trở thành một thành trì, một trở ngại vô hình lớn nhất ngăn chặn sự xâm nhập của các công ty nước ngoài vào thị trường Nhật Bản suốt nhiều thập kỷ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, không những vậy, nó còn vô tình chia cắt thị trường Nhật Bản thành những mảnh cắt có tính độc lập. Lịch sử đã cho thấy, mô hình này chỉ thích hợp cho Nhật Bản trong thời kỳ cần sự ổn định, sự tập trung mọi nguồn lực để có thể đuổi kịp các nước tư bản phương Tây; còn trong bối cảnh toàn cầu hóa, năng động và hay biến đổi như ngày nay thì mô hình này đã tỏ ra vô cùng cứng nhắc và kém hiệu quả, đây chính là một trong những nguyên nhân chính đưa đến sự phá sản hàng loạt vào những năm 90 của thế kỷ XX. Để thích nghi với bối cảnh kinh tế hiện nay, các keiretsu hàng ngang thường bao gồm trong chúng luôn cả các keiretsu hàng dọc, tạo nên mô hình keiretsu chồng chéo, phức tạp. Chẳng hạn, NEC thuộc Sumitomo keiretsu, các keiretsu hàng dọc lớn như Toyota và Toshiba lại là thành viên của Mitsui keiretsu, hay Nissan keiretsu lại là thành viên của Fuyo keiretsu,…

4. Một số keiretsu tiêu biểu

※  Mitsubishi Group(三菱グループ)

Mitsui & Co.

Mitsui Chemicals

Mitsui Engineering & Shipbuilding

Mitsui Fudosan

Mitsui Mining & Smelting Co., Ltd.

Mitsui O.S.K. Lines

Sumitomo Mitsui Financial Group

Sumitomo Mitsui Trust Holdings

Toray Industries

Toshiba

Japan Steel Works

Toyota

※  Sumitomo Group (住友グループ)

Trong quá trình toàn cầu hóa ngày nay, để có thể thích ứng được trong môi trường cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, các nước trên thế giới đều đã hình thành những mô hình kinh tế đặc trưng phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội trong nước. Những cái tên như mô hình Chaebol của Hàn Quốc, mô hình Jituan Gongsi của Trung Quốc, mô hình Anglo – Sason của Anh, mô hình Continental của Pháp và Đức, hay mô hình Keiretsu của Nhật Bản,… có lẽ đã không còn xa lạ. Còn đối với Việt Nam, một nước đang phát triển và hiện nay vẫn đang tìm cho mình một hướng đi mới trong phát triển kinh tế, thì việc học hỏi kinh nghiệm và rút ra những bài học thực tế từ các nước đi trước là vô cùng quan trọng. Thông qua việc tìm hiểu về một mô hình kinh tế đặc trưng của Nhật Bản, người viết mong rằng Việt Nam sẽ có những phân tích đánh giá tốt hơn về bối cảnh kinh tế hiện nay để từ đó vạch ra một mô hình phát triển rõ ràng và đúng nghĩa, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Tất nhiên, nếu chỉ nhìn qua trường hợp Nhật Bản là không thể đủ mà phải xem xét tất cả các mô hình của các nước khác ở châu Á, châu Âu và Hoa Kỳ.

[1] 平井岳哉(2013)『戦後型企業集団の経営史~石油化学・石油からみた三菱の戦後』日本経済評論社、tr.14.

[2] S. Yonekura (1885), The Emergence of the Prototype of Enterprise Group Capitalism, Hitotsubashi Journal of Commerce and Management, tr.63.

[3] S. Yonekura (1885), The Emergence of the Prototype of Enterprise Group Capitalism, Hitotsubashi Journal of Commerce and Management, tr.64.

Cập nhật thông tin chi tiết về Kinh Tế Vi Mô Là Gì? Phân Biệt Kinh Tế Vĩ Mô Với Kinh Tế Vi Mô trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!