Xu Hướng 2/2023 # Giảng Dạy Theo Phương Pháp Lớp Học Ghép Hình # Top 7 View | Channuoithuy.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Giảng Dạy Theo Phương Pháp Lớp Học Ghép Hình # Top 7 View

Bạn đang xem bài viết Giảng Dạy Theo Phương Pháp Lớp Học Ghép Hình được cập nhật mới nhất trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

CENTEA xin giới thiệu bài viết của TS. Đinh Thị Vân Chi về giảng dạy theo Phương pháp lớp học ghép hình ( jigsaw classroom). Bài dịch theo bản gốc tại website The Jigsaw Calssrom.

Giảng dạy theo phương pháp lớp học ghép hình

1. Giới thiệu chung

Lớp học ghép hình là một phương pháp học tập tập thể mà trong 3 thập kỷ qua đã ghi nhận những thành công trong việc giảm thiểu xung đột chủng tộc và nâng cao hiệu quả giáo dục. Giống như trò chơi ghép hình, mỗi miếng- mỗi bộ phận sinh viên- là một mảnh thành phần của chỉnh thể và của sự hiểu biết đầy đủ về sản phẩm cuối cùng. Nếu mỗi bộ phận sinh viên là cần thiết, thì mỗi sinh viên sẽ là cần thiết; và điều đó chính là cái làm cho phương pháp này hiệu quả đến vậy.

Đây là mô tả hoạt động của nó: Sinh viên của một lớp lịch sử chẳng hạn, được chia thành các nhóm nhỏ gồm 5 hoặc 6 người mỗi nhóm. Giả sử họ đang học về Thế chiến thứ 2. Trong một lớp học ghép hình, Sara có nhiệm vụ nghiên cứu quá trình giành quyền lực của Hitler ở nước Đức trước chiến tranh. Sinh viên khác của nhóm, Steven, có nhiệm vụ tái dựng các trại tập trung; Pedro tìm hiểu vai trò của nước Anh trong chiến tranh; Melody nghiên cứu đóng góp của Liên Xô; Tyrone xem xét sự tham dự của Nhật vào chiến tranh; Clara tìm đọc về sự phát triển của bom nguyên tử.

Cuối cùng, mỗi sinh viên sẽ quay về nhóm của mình và cố gắng trình bày bản báo cáo đã được chuẩn bị kỹ lưỡng cho cả nhóm. Tình huống được chủ tâm xây dựng sao cho mỗi người chỉ có một cách duy nhất để biết nhiệm vụ của 5 người còn lại là chăm chú nghe bản báo cáo của người trình bày. Bởi vậy, nếu Tyrone không thích Pedro, hoặc cậu ta cho Sara là quỷ biển và đùa cợt hoặc cười nhạo cô bé thì cậu sẽ không thể làm được bài tập tiếp theo.

Khi mỗi người trình bày đã thành thạo hơn, các nhóm ghép hình sẽ tụ họp lại theo cấu trúc không đồng nhất ban đầu. Chuyên gia về bom nguyên tử ở mỗi nhóm dạy cho các thành viên khác của nhóm về sự phát triển của bom nguyên tử. Mỗi sinh viên ở mỗi nhóm sẽ giảng cho cả nhóm về chuyên môn của mình. Sau đó sinh viên sẽ kiểm tra lại những gì họ học được về Thế chiến 2 từ những người bạn cùng nhóm.

Lợi ích của lớp ghép hình là gì? Thứ nhất và lớn nhất, đó là cách thức hết sức hiệu quả để học các dữ liệu. Nhưng quan trọng hơn, lớp ghép hình khuyến khích sự lắng nghe, sự ràng buộc và sự cảm thông bằng cách dành cho mỗi thành viên của nhóm thực hiện một phần thiết yếu của hoạt động khoa học.

Nhóm thành viên phải làm việc cùng nhau như một đội để hoàn thành mục tiêu chung; mỗi người phụ thuộc vào tất cả những người khác. Không một sinh viên nào có thể thành công toàn diện, trừ khi mỗi người làm việc tốt cùng nhau như một đội. Sự “hợp tác theo thiết kế” này tạo điều kiện cho sự tương tác giữa tất cả sinh viên trong lớp, dẫn họ tới sự đánh giá về nhau như những người đóng góp vào công việc chung của họ.

2. Lớp học ghép hình qua 10 bước đơn giản

Lớp học ghép hình áp dụng rất đơn giản. Nếu bạn là giáo viên, chỉ cần theo các bước sau:

1. Chia SV thành các nhóm 5-6 người. Những nhóm này đa dạng về giới tính, dân tộc, sắc tộc và khả năng.

2. Ở mỗi nhóm, chỉ định một SV là nhóm trưởng. Ban đầu, nhóm trưởng nên là em chín chắn nhất nhóm.

3. Chia bài giảng thành 5-6 phần việc. Ví dụ, nếu bạn muốn SV lớp lịch sử học về Eleanor Roosevelt, thì có thể chia tiểu sử của bà thành các phần tách biệt: (1) Tuổi thơ của bà, (2) Cuộc sống gia đình của bà với Franklin và con cái, (3) Cuộc sống của bà sau khi Franklin bị bại liệt, (4) Công việc của bà ở Nhà Trắng với tư cách Đệ nhất phu nhân, và (5) Cuộc sống và công việc của bà sau cái chết của Franklin.

4. Phân công mỗi SV học một phần, đảm bảo rằng SV có cơ hội làm việc trực tiếp chỉ với mảng công việc của mình.

5. Dành thời gian cho SV đọc phần bài của mình ít nhất 2 lần và làm quen với nó. Không cần thiết phải ghi nhớ những điều đó.

7. Đưa SV trở về các nhóm ghép hình.

8. Yêu cầu mỗi SV trình bày phần bài của mình. Động viên các SV khác trong nhóm nêu câu hỏi để làm rõ vấn đề.

9. Đi lướt từ nhóm này sang nhóm khác để quan sát quá trình làm việc. Nếu nhóm nào gặp trở ngại (VD có thành viên lấn át hoặc bị đứt quãng), thì cần can thiệp hợp lý. Dần dần nên để các trưởng nhóm đảm trách việc này. Có thể nhắc thầm các trưởng nhóm để hướng dẫn cách can thiệp, cho tới khi họ tự tìm được cách riêng của mình.

Trích dịch từ nguyên bản tiếng Anh http://www.jigsaw.org/overview.htm

Mô Hình Lớp Học Theo Phương Pháp Flipped Learning

Phương pháp học tập đúng sẽ giúp học sinh có tư duy logic và đem lại cho các em sự hào hứng, niềm say mê trong học tập để có thể tiếp thu kiến thức và vận dụng kiến thức vào thực tiễn một cách hiệu quả nhất.

1. Phương pháp học tập truyền thống

Phương pháp học tập truyền thống hiện nay đang áp dụng mô hình: ĐẾN LỚP NGHE GIẢNG – VỀ NHÀ THỰC HÀNH. Theo phương pháp này, các em sẽ được học bài mới ở trên lớp dưới sự giảng dạy của giáo viên, việc luyện tập sẽ được thực hiện ở nhà. Phương pháp học tập truyền thống bao gồm hai quá trình:

– Quá trình 1: ĐẾN LỚP NGHE GIẢNG

– Quá trình 2: VỀ NHÀ THỰC HÀNH

Về quá trình thứ nhất – quá trình nghe giảng, chúng ta thấy rằng trong một lớp học truyền thống, mỗi học sinh có “tầm đón nhận” (kiến thức nền trước khi tiếp nhận kiến thức mới) không giống nhau, thậm chí là có sự chênh lệch rất lớn. Điều đó sẽ dẫn đến việc hiệu quả tiếp thu bài học của các em là không đồng đều nhau, người có sự chuẩn bị bài thì hiểu nhiều, người có sự chuẩn bị ít thì hiểu ít, thậm chí có những em nghe giảng xong mà không hiểu gì.

Về quá trình thứ hai – quá trình luyện tập ở nhà, đây là quá trình mà các em không phải chịu sự kiểm soát cũng không có sự định hướng, dẫn dắt của giáo viên. Chính vì thế, chỉ những em chăm luyện tập và luyện tập đúng hướng mới đạt hiệu quả cao, mới có thể biến kiến thức của thầy thành kiến thức của mình.

Có thể thấy, đây là phương pháp học tập theo kiểu “từng chương”, nặng về lý thuyết. Học sinh chủ yếu dựa vào ghi chép theo bài giảng của giáo viên rồi sau đó học thuộc lòng để trả lời các câu hỏi, làm bài kiểm tra và vượt qua các kỳ thi, trong lớp ít khi có sự tương tác giữa giáo viên và học sinh, và đặc biệt là giữa các học sinh với nhau. Do đó, đây chưa phải là phương pháp học tập tối ưu nhất, đem lại hiệu quả học tập cao nhất cho số đông học sinh.

2. Phương pháp học tập mới – Flipped learning

Đi ngược lại phương pháp học tập truyền thống ấy, chúng tôi giới thiệu đến các em một phương pháp học tập hoàn toàn mới: NGHE GIẢNG Ở NHÀ – ĐẾN MOON LUYỆN TẬP.

Đây là một phương pháp học tập mới được phát triển trên thế giới với tên gọi Flipped learning – lớp học đảo ngược (đảo ngược so với mô hình của lớp học truyền thống). Với phương pháp học tập mới này, thay vì đến lớp nghe giảng, các em sẽ chủ động nghe giảng ở nhà qua các video của chúng tôi đã được giáo viên định hướng trước. Trong buổi học trên lớp, các em sẽ cùng nhau luyện tập, vận dụng các kiến thức đã tiếp thu qua việc nghe bài giảng ở nhà để làm bài tập và được giáo viên hỗ trợ. Với phương pháp học tập mới này, tích cực, chủ động của các em sẽ được phát huy đến mức tối đa, thời gian luyện tập cũng nhiều hơn và có định hướng cụ thể nên sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Đó cũng chính là phương pháp học tập mang tính đột phá mà chúng tôi muốn dành tặng các em.

Với phương pháp dạy học truyền thống, hầu hết việc giảng và nghe giảng ước chừng đã ngốn 90% thời gian, 10% còn lại là luyện tập trên lớp của cả giáo viên và học sinh. Khi nghe giảng, học sinh được đánh giá rơi vào tình trạng “low level thinking” còn khi ứng dụng lý thuyết làm bài tập hoặc các hoạt động học, học sinh sẽ ở “high level thinking”. Có thể tạm hiểu là khi học sinh đang bị động tiếp thu kiến thưc thì phần lớn sẽ khó suy nghĩ, tưởng tượng, đào sâu vào kiến thức ngay trong lúc nghe giảng.

Xuất phát từ nhược điểm đó của phương pháp học tập truyền thống, kết hợp với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, năm 1990 Eric Mazur đã nhen nhóm một ý tưởng về phương pháp học tập mới giúp các bạn chủ động hơn trong việc học tập. Đây chính là tiền đề của phương pháp “Flipped learning” – đảo ngược phương pháp học tập truyền thống. Sau đó, Lage, Platt và Treglia đã công bố tài liệu “Đảo ngược các lớp học: Một cách để tạo một môi trường học tập hòa nhập” vào năm 2000.

Đến năm 2007, Jeremy Strayer công bố luận án của mình thực hiện tại Đại học bang Ohio mang tên “Những tác động của môi trường học tập trong Flipped classroom : So sánh các hoạt động học tập trong một lớp học truyền thống và một lớp học đảo ngược được sử dụng một hệ thống dạy kèm thông minh”. Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phối hợp hoạt động ngoài lớp học và trong lớp ảnh hưởng như thế nào đến sinh viên tham gia khóa học.

Như vậy, phương pháp học tập mới Flipped learning đã có tiền đề khoa học được lan rộng trên thế giới và hứa hẹn đem lại hiệu quả học tập rất khả quan, tuy nhiên phạm vi ứng dụng mới chỉ dừng lại ở đối tượng là sinh viên Đại học chứ chưa có sự mở rộng sang đối tượng học sinh THPT ôn thi Đại học. Đây chính là cơ sở để BQT. chúng tôi quyết định xây dựng mô hình học tập mới theo phương pháp Flipped learning.

Flipped classroom là xu hướng giáo dục mới trên toàn thế giới, hứa hẹn sẽ đem lại những hiệu quả tích cực và thu hút rất nhiều nhà giáo thử nghiệm và sử dụng như là phương pháp dạy học chính thức trong nhà trường. Nhờ có sự phát triển vượt trội của công nghệ, phương pháp này ngày càng trở nên dễ dàng và khả quan hơn. Các giáo viên chỉ cần ghi lại bài giảng và phân phối qua mạng để giảm bớt áp lực do sự mâu thuẫn lớn giữa nội dung giảng dạy và thời gian giảng dạy gây nên. Quả thật, đây sẽ là sự “đảo ngược” những cách dạy truyền thống bấy lâu nay.

Lớp học theo mô hình Flipped classroom được tổ chức theo ba khâu như sau:

1. Học sinh học bài mới ở nhà

Theo mô hình Flipped classroom, các em sẽ nghe video bài học ở nhà, trong quá trình học, phần nào khó hiểu các em có thể xem đi xem lại nhiều lần. Việc nghe giảng nhiều hay ít phụ thuộc vào vốn kiến thức đã có của các em nhưng phải đảm bảo rằng trước khi đến lớp, các em phải có một vốn kiến thức nền nhất định, đủ để tham gia buổi luyện tập trên lớp. Sau khi nắm được các kiến thức cơ bản cần thiết, các em sẽ làm một số bài tập áp dụng thầy đã đưa ra trong video bài giảng đó. Cuối mỗi bài sẽ có một bài kiểm tra kiến thức để đánh giá xem các em nắm được bao nhiêu phần trăm kiến thức và có đủ điều kiện tới lớp hay không?

Vậy điều kiện để tới lớp học thực hành là gì?

– Các em có học bài giảng ở nhà.

– Vượt qua bài kiểm tra kiến thức (mức độ cơ bản) sau mỗi bài học ở nhà.

Việc làm bài kiểm tra trước khi đến lớp không chỉ giúp các em tự kiểm tra kiến thức của mình sau khi nghe bài giảng mà còn giúp các em rèn luyện ý thức học tập chủ động, nghiêm túc. Hơn thế nữa, nhờ việc chuẩn bị đầy đủ kiến thức, khi thực hành trên lớp, các em sẽ hiểu bài và vận dụng kiến thức đó để làm bài tập hiệu quả hơn rất nhiều. Với công cụ và tư liệu có sẵn trên chúng tôi việc học ở nhà của các em sẽ nhẹ nhàng hơn, tiết kiệm thời gian mà vẫn đạt hiệu quả cao.

2. Đến lớp luyện tập, thực hành cùng các bạn và GV chúng tôi

Tri thức của giáo viên là điểm quan trọng trong công tác lên lớp. Đội ngũ giáo viên của chúng tôi không chỉ hội tụ đủ các điều kiện về kiến thức, khả năng giảng dạy hữu hiệu mà còn giàu lòng nhiệt thành, tâm huyết với nghề và rất gần gũi với học trò. Bên cạnh kỹ năng tổ chức hướng dẫn học sinh trong lớp học, giáo viên của chúng tôi còn có kỹ năng sử dụng đồ dùng dạy học, có năng lực tự thu thập, xử lý kịp thời nguồn thông tin phong phú để phục vụ yêu cầu dạy học.

Trong quá trình dạy học offline theo mô hình Flipped classroom, các giáo viên của chúng tôi sẽ đóng vai trò giống như một huấn luyện viên, hướng dẫn các em làm bài, tìm hiểu các kiến thức chưa vững, tìm ra những phương pháp làm bài hay nhất, tối ưu nhất.

Tiến trình làm việc của học sinh và giáo viên trong buổi thực hành trên lớp cụ thể như sau:

Có thể nói, nhiệm vụ chính của giáo viên trong lớp học offline theo mô hình Flipped classroom là khéo léo giúp học sinh phát huy hết khả năng của bản thân, giúp các em hiểu rằng mình ở ngưỡng giỏi hơn mình đang nghĩ. Vậy nên, đội ngũ giáo viên chúng tôi với tuổi trẻ, tinh thần sáng tạo cao, phương pháp dạy học không chỉ dựa vào lý thuyết còn dựa vào chính kinh nghiệm làm bài tập của mình sẽ cung cấp cho các em những dạng bài hay, những cách giải thú vị, kích thích trí tuệ và tìm tòi của học sinh. Các em sẽ thấy lên lớp với GV chúng tôi là cả một trải nghiệm hứng thú.

Sau giờ học thực hành tại chúng tôi các em sẽ kết hợp lượng kiến thức từ bước chuẩn bị ở nhà với lượng kiến thức đã thu được trong giờ học offline cùng với tư duy của bản thân để hoàn thành bài kiểm tra trên chúng tôi ở mức nâng cao. Kết quả của bài kiểm tra này sẽ là sự đánh giá chính xác nhất phần kiến thức mà các em thu được và khả năng áp dụng thuần thục kiến thức đó vào việc làm bài tập. Đây cũng chính là bước thể hiện sự phát triển về khả năng tư duy của từng học sinh qua mỗi buổi học.

Với việc luyện tập ở nhà này các em sẽ mở rộng được kiến thức, tự rèn luyện cho mình kinh nghiệm giải quyết vấn đề, nâng cao tính tự giác và cải thiện kỹ năng tự học đồng thời phát huy tối đa sức sáng tạo của bản thân.

2. Phát huy tính chủ động, tích cực cũng ý thức kỷ thuật trong học tập

Do những yêu cầu bắt buộc của việc học tập ở nhà, chuẩn bị kiến thức cho buổi học tiếp theo trên lớp, các em phải chủ động hoàn thành một khối lượng kiến thức và bài tập nhất định, lâu dần thói quen đó sẽ giúp các em có ý thức tự giác, chủ động trong học tập. Đặc biệt, chúng tôi còn có chức năng kiểm tra quá trình học tập của các em (từ việc chuẩn bị kiến thức trước khi đến lớp đến việc làm bài thi đánh giá kết quả học tập sau mỗi buổi học), giúp các em học tập một cách có kỷ luật và có thể tự đánh giá được khả năng, sự tiến bộ trong học tập của chính bản thân mình.

3. Được giải đáp thắc mắc trong quá trình học tập

Ưu điểm rất quan trọng của mô hình Flipping classroom là các em được hỗ trợ giải đáp mọi thắc mắc trong quá trình học tập, bao gồm cả quá trình chuẩn bị bài ở nhà và quá trình luyện tập, thực hành trên lớp. Gặp những vấn đề chưa hiểu, những bài tập khó, các em có thể ghi chú lại và trao đổi với các Mod cũng như các anh chị sinh viên tình nguyện để được giải đáp ngay trong mỗi buổi học trên lớp. Sự hỗ trợ kịp thời này sẽ giúp các em hiểu bài một cách bản chất nhất, tránh được hiện tượng chán nản mỗi khi gặp bài khó và học tập hiệu quả hơn.

Việc tổ chức lớp học như thế nào, nội dung học tập ra sao và cách đăng ký tham gia lớp học như thế nào sẽ được chúng tôi cập nhật vào bài viết tiếp theo. Mong rằng các em sẽ hào hứng với phương pháp và mô hình học tập mới này tại Moon.vn.

Phương Pháp Giảng Dạy Ở Bậc Đại Học Theo Hướng Hiện Đại

Các phương pháp giảng dạy hiện đại ở bậc đại học hiện nay, có thể nói, đang được thực hiện theo các xu hướng: phát huy tính tích cực của quá trình nhận thức; cụ thể hóa và công nghệ hóa các phương pháp giảng dạy. Các phương pháp này không chỉ đòi hỏi giảng viên truyền đạt tri thức cho sinh viên mà còn giảng dạy cho sinh viên biết cách sáng tạo, tự tìm ra tri thức mới. Giảng viên không phải là người cung cấp thông tin đơn thuần mà là người vận dụng các công nghệ, phương pháp hiện đại để hướng dẫn tích cực cho các sinh viên tự chủ động học tập, nghiên cứu qua sách vỡ, tài liệu, và các vấn đề trong cuộc sống. Giảng viên chỉ giữ vai trò như một nhà “cố vấn” khoa học.

Ngoài ra, theo tài liệu của UNESCO, một trường đại học có nền giáo dục đại học hiện đại cần phải đáp ứng 10 tiêu chí sau: là trung tâm đào tạo có chất lượng cao; trung tâm tập hợp các sinh viên có năng lực trí tuệ phát triển cao; cộng đồng toàn tâm, toàn ý, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học; trung tâm học tập tích cực, ý chí học tập thường xuyên, suốt đời; trung tâm bồi dưỡng, cập nhật văn hóa, hoàn thiện tri thức; trung tâm liên thông hợp tác đào tạo, nghiên cứu, và dịch vụ khoa học có chất lượng, hiệu quả cao; trung tâm giải quyết các vấn đề khoa học của của địa phướng, dân tộc, khu vực và thế giới; trung tâm tư vấn về khoa học – công nghệ hiện đại; cộng đồng tích cực tham gia xây dựng nền văn hóa hòa bình; và thích ứng được nhịp sống của thời đại.

Vì vậy, chúng ta cần phải có các giải pháp cải tiến phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại trên để nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo ở bậc đại học hiện nay.

1/ Phát huy tối đa tính tích cực, sáng tạo, độc lập của sinh viên

Giải pháp này giúp chúng ta thực hiện hiệu quả việc chuyển hóa từ quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo theo tiêu chí hiện đại trong giáo dục và đào tạo.

Giảng viên cần phải phối hợp các phương pháp giảng dạy khác một cách hợp lý, linh hoạt theo từng bối cảnh cụ thể.

Hướng dẫn, giải thích cho sinh viên hiểu biết rõ quy trình tái tạo tri thức cũng như phương pháp giảng dạy của giảng viên. Từ đó, dịnh hướng sinh viên tự vận dụng trong quá trình học tập, nghiên cứu để đáp ứng yêu cầu của giảng viên.

2/ Chú trọng công tác dạy nghề cho sinh viên

Xã hội hiện nay không chỉ yêu cầu sinh viên nắm vững các tri thức căn bản, hiện đại mà còn phải có được các kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, có tư duy, say mê tìm tòi sáng tạo trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình. Chúng ta cần có các giải pháp sau:

Giảng viên phải trang bị cho sinh viên hệ thống các tri thức về khoa học cơ bản, chuyên nghành; phải hướng các tri thức đó theo mục tiêu xác định của nhà trường.

Nhà trường cần phải đánh giá sinh viên dựa trên cơ sở nắm vững kiến thức cơ sở, chuyên môn và kỹ năng thực hành thành thạo trong nghề nghiệp của sinh viên.

3/ Phương pháp giảng dạy và phương pháp học tập của sinh viên phải thống nhất với phương pháp nghiên cứu khoa học

Đây là giải pháp thiết thực giúp nhà trường và sinh viên phát huy năng lực nghiên cứu khoa học gắn liền với thực tiễn các vấn đề của cuộc sống, tham gia xây dựng và phát triển xã hội.

Nhà trường liên kết chặt chẽ với các Viện, trung tâm nghiên cứu, các cơ sở sản xuất – kinh doanh, các tổ chức, đoàn thể chính trị – xã hội. Nhà trường cùng giảng viên kết hợp, chuyển giao các kết quả công trình nghiên cứu khoa học cho các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế – xã hội.

Nhà trường, giảng viên cần phải tổ chức cho sinh viên học tập và làm bài tập, tham gia nghiên cứu khoa học để vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại.

Nhà trường tăng cường, hỗ trợ cơ sở vật chất cho các hoạt động nghiên cứu khoa học thông qua tổ chức các giảng viên và sinh viên tham gia các chương trình nghiên cứu quốc tế, các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước, cấp bộ, cấp trường…

4/ Hoàn thiện công tác kiểm tra, đánh giá năng lực học tập của sinh viên

Việc kiểm tra và đánh giá năng lực của sinh viên đại học rất có ý nghĩa và quan trọng, cần phải khách quan, đảm bảo hiệu quả về giáo dục, giảng dạy, và học tập, phát triển tương lai của sinh viên.

Nhà trường và giảng viên cần công khai,giải thích, góp ý về kết quả kiểm tra, thi, bảo vệ khóa luận tốt nghiệp… để sinh viên kịp thời tự nhận thức, tự đánh giá đúng khả năng của mình và có hướng điều chỉnh, phán đấu.

Tiêu chí đánh giá cần đảm bảo tính toàn diện, khách quan, có tác dụng khích lệ, phát triển năng lực tư duy, độc lập, sáng tạo của sinh viên; cần đánh giá trên cơ sở kết hợp chất và lượng, nội dung và hình thức, thực chất trình độ và sự tiến bộ theo điều kiện viễn cảnh của sinh viên.

Ngoài việc kết hợp điểm quá trình và điểm thi trong đánh giá, nhà trường và giảng viên cần kết hợp cả điểm cố định và điểm cơ động trong những hoàn cảnh và điều kiện nhất định nào đó của sinh viên trên cơ sở nhận xét, đánh giá lại sự nỗ lực phấn đấu, hoàn chỉnh, bổ sung, chỉnh sửa bài tập, thái độ học tập như thế nào của sinh viên.

5/ Sử dụng tối ưu cơ sở vật chất, phương tiện giảng dạy, học tập

Cơ sở vật chất, phương tiện giảng dạy hiện đại giữ vai trò rất quan trọng trong việc cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường đại học.

Nhà trường cần có kế hoạch đầu tư và sử dụng hiệu quả các cơ sở vật chất, phương tiện, tài liệu không chỉ dành cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học và học tập mà cho cả các hoạt động thể chất của giảng viên và sinh viên.

Tăng cường và mở rộng sự hợp tác giữa nhà trường với các cơ sở sản xuất, các viện, trường đại học, các tổ chức chính trị – xã hội, cá nhân…trong và ngoài nước để tạo điều kiện thuận lợi, vận động cho việc xây dựng, ứng dụng và sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ mới, hiện đại, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

Tổ chức và đào tạo, bồi dưỡng giảng viên về kỹ năng sử dụng các phần mềm, phương tiện giảng dạy hiện đại. Khuyến khích các giảng viên và sinh viên tự chế tạo, sáng tạo các phương tiện, kỹ thuật hiện đại phục vụ giảng dạy, nghiên cứu và học tập.

Việc đánh giá, phân loại các phương pháp giảng dạy ở bậc đại học hiện nay đang có nhiều quan điểm tranh luận, nghiên cứu khác nhau. Mỗi kiểu phương pháp đều có những ưu, khuyết điểm khác nhau. Vì vậy chúng ta cần chọn lọc có trọng điểm các phương pháp giảng dạy theo hướng hiện đại để cải tiến, vận dụng và cụ thể hóa phù hợp với định hướng, mục tiêu của nhà trường, môn học và điều kiện thực tiễn của giảng viên, và sinh viên.

Trên cơ sở kết hợp các tiêu chí của một trường đại học hiện đại và thực trạng các yếu tố vật chấtvà con người của trường ta hiện nay, chúng ta cần chú trọng một số giải pháp sau:

Liên kết chặt chẽ với các Viện, trung tâm nghiên cứu, các cơ sở sản xuất – kinh doanh, các tổ chức, đoàn thể chính trị – xã hội để kết hợp nghiên cứu và chuyển giao các kết quả công trình nghiên cứu khoa học cho các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế – xã hội.

Kết hợp cả điểm cố định và điểm cơ động trên cơ sở nhận xét, đánh giá lại sự nỗ lực phấn đấu, hoàn chỉnh, bổ sung, chỉnh sửa bài tập, thái độ học tập như thế nào của sinh viên.

Có kế hoạch đầu tư và sử dụng hiệu quả các cơ sở vật chất, phương tiện, tài liệu cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học, học tập và các hoạt động thể chất của giảng viên và sinh viên.

Tăng cường và mở rộng sự hợp tác giữa nhà trường với các cơ sở sản xuất, các viện, trường đại học, các tổ chức chính trị – xã hội, cá nhân…trong và ngoài nước để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại

(Th.S Chu Bảo Hiệp)

Tham khảm chi tiết hơn tại : https://www.masterskills.org/Trainer-skills-training.htm

Về Phương Pháp Giảng Dạy Văn Học Pháp

PGS.TS NGUYỄN THỊ BÌNH ( Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp, ĐH Ngoại ngữ, ĐH QG Hà Nội)

1. Mở đầu

Yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy văn học nước ngoài để phục vụ việc dạy tiếng trong các trường đại học ngoại ngữ là hết sức cần thiết, khi sinh viên không còn say mê học môn văn học, thậm chí họ chán nản và “sợ” môn học này. Đứng trước thực trạng đó, chúng tôi luôn trăn trở và mong muốn tìm hướng đi mới, các biện pháp tối ưu nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy môn văn. Xuất phát từ các phương pháp giảng văn học Pháp đã và đang được thực thi, bài viết của chúng tôi mong muốn chọn lọc những giải pháp thiết thực, khả thi rút ra từ những thành tựu lí luận và thực tiễn của nước ngoài nhằm đổi mới phương pháp giảng dạy văn học Pháp nói riêng và văn học nước ngoài nói chung trong các trường đại học, đồng thời góp phần giới thiệu những quan niệm mới và biện pháp hiệu quả trong quá trình nâng cao chất lượng giảng dạy môn văn học tại Việt Nam.

2. Các phương pháp giảng dạy văn học Pháp

Trong quá trình giảng dạy tiếng Pháp cho người nước ngoài, văn bản văn học được sử dụng như những tài liệu giảng dạy bắt buộc. Tuy nhiên vai trò của nó thay đổi theo những quan niệm khác nhau của các nhà sư phạm “siêu độc giả”, người khai thác tác phẩm văn học trong giảng dạy.

Theo phương pháp truyền thống, văn bản văn học là tài liệu ưu tiên để giảng dạy ngữ pháp và dịch. Những đoạn trích các tác phẩm văn học là tài liệu để xây dựng các bài tập về từ vựng, ngữ pháp, dịch ngược và dịch xuôi. Khi cho rằng, dịch là hình thức cho phép người học hiểu đúng tác phẩm, thì quá trình cảm thụ bị lệ thuộc vào ngôn ngữ mẹ đẻ và nguy cơ hiểu sai tác phẩm tăng lên rõ rệt. Bởi lẽ chúng ta đã biết, nếu trình độ dịch văn bản văn học non yếu dễ dẫn đến “phản bội” nghĩa đích thực của tác phẩm, đồng thời buộc người học trở nên thụ động.

Nhóm 1: thực hiện các thao tác phân tích những tính chất đặc trưng của bài thơ, vì vậy họ đã hiểu đúng ý nghĩa của văn bản và có những cảm nhận cá nhân tương đối độc lập và sáng tạo. Theo họ, không tham khảo phần dịch, họ hiểu bài thơ dễ dàng hơn khi áp dụng các thao tác thi pháp thơ: nghiên cứu các vần, nhịp điệu, cấu trúc các khổ thơ, kĩ thuật láy âm, các kĩ thuật tu từ để phát hiện nghĩa ngầm ẩn sâu sắc của tác phầm: Lên án sự phi lí của chiến tranh huỷ diệt con người và thiên nhiên tươi đẹp.

Nhóm 2: tham khảo phần dịch sang tiếng Việt, họ khó khăn nhận diện cấu trúc của bài thơ gồm 3 phần: Phong cảnh đầy sắc màu và âm thanh rộn rã của bức tranh thôn quê; miêu tả chân dung nhân vật – hình tượng trung tâm của bài thơ; phát hiện một xác chết – người lính.

Dịch thực chất là sáng tạo bài thơ lại một lần nữa sang một ngôn ngữ khác, nhưng dịch thơ lại vô cùng phức tạp vì muốn trung thành với văn bản, duy trì tính nhạc, vần điệu một số từ có thể bị lược bỏ. Như vậy giá trị biểu cảm bị giảm đi đáng kể. Thí dụ: les glaieuls trong tiếng Pháp là loại hoa có hình dáng của lưỡi kiếm sắc, khiến người đọc liên tưởng đến vũ khí chiến đấu và được đặt cạnh người đàn ông đang nằm giữa bãi cỏ gợi lên hình ảnh người lính bị giết ở chiến trường. Nhưng khi dịch sang tiếng Việt chỉ có nghĩa là một loài hoa, không gợi ra được ý nghĩa hàm ẩn của loại hoa đặc biệt này.

Hơn nữa, khi bài thơ được dịch sang một ngôn ngữ khác thì thường là cấu trúc âm thanh của nó bị huỷ bỏ. Trong khi đó, nhiều nhà thi pháp học cho rằng “âm mang nghĩa”, âm thanh tạo chất nhạc tràn đầy – một giá trị thẩm mĩ quan trọng của thi ca. Cảm thụ những âm vang được tạo nên từ các cách gieo vần, cấu trúc trùng điệp (sự láy lại cùng một phụ âm, hoặc cùng một nguyên âm…), sự tương ứng hoặc không tương ứng giữa câu thơ và câu ngữ pháp qua các kĩ thuật (enjambement, rejet, contre rejet) cũng là một sơ sở để khám phá vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm thơ. Đối với trường hợp bài thơ Le dormeur du val, các kĩ thuật gieo vần: vần đan chéo (rimes croisées- abab, cdcd) trong khổ thứ nhất và khổ thứ hai, sự đan xen hai hình thức gieo vần (vần phẳng= rimes plate: eef và vần ôm = rimes embrassées: fggf) trong hai khổ thơ cuối khó có thể chuyển dịch sang tiếng Việt.

LE DORMEUR DU VAL

C’est un trou de verdure où chante une rivière

Accrochant follement aux herbes des haillons

D’argent, oùle soleil, de la montagne fière,

Luit; c’est un petit val qui mousse de rayons,

Un soldat jeune, bouche ouverte, tête nue,

Et la nuque baignant dans le frais cresson bleu,

Dort: il est étendu dans l’herbe, sous la nue,

Pâle dans son lit vert où la lumière pleut,

Les pieds dans les glaieuls, il dort.

Souriant comme

Souriait un enfant malade, ilfait un somme,

Nature berce-le chaudement: il a froid!

Les parfums ne font pas frissonner sa narine,

Il dort dans le soleil, la main sur la poitrine,

Tranquille. Il a deux trous rouges au côté droit.

Với đối tượng là sinh viên học tiếng Pháp như một ngoại ngữ, phương pháp truyền thống khi phân tích các văn bản dựa quá nhiều vào ngôn ngữ mẹ đẻ, kĩ năng giao tiếp bị xem nhẹ, kĩ năng viết được đặt lên hàng đầu. Không chú trọng đến yếu tố ngôn ngữ, các đặc trưng kĩ thuật của thể loại, thể hình của tác phẩm văn học mà chỉ chú trọng đến khả năng cung cấp các kiến thức về văn hóa và xã hội. Phương pháp này không cho phép người đọc khả năng hiểu theo nhiều cách khác nhau đối với cùng một văn bản văn học, bởi lẽ chỉ có một bản dịch hay nhất, một nghĩa duy nhất khi chuyển sang ngôn ngữ của người học.

Mặt khác, ở thời kì hoàng kim của phương pháp truyền thống, giảng dạy văn học chịu sự tác động sâu sắc của trường phái Lanson khi đề cao vai trò quyết định của nhà văn và các yếu tố bên ngoài văn bản (nền văn minh, môi trường xã hội, lịch sử nơi mà văn bản được viết ra) để giải thích nghĩa của văn bản văn học. Nói một cách khác là người dạy dựa nhiều vào tiểu sử của nhà văn để soi sáng các giá trị xã hội, văn hóa và áp đặt một định hướng duy nhất trong phân tích văn bản cho người học [9].

Đối lập với phương pháp truyền thống, phương pháp nghe nhìn quan tâm chủ yếu đến ngôn ngữ nói. Theo quan điểm của những “đồ đệ” trung thành với phương pháp này, văn bản văn học đương nhiên thuộc bộ phận ngôn ngữ viết và ưu tiên dành cho người học ở trình độ cao về tiếng Pháp, vì vậy rất khó khăn khi sử dụng nó để phát triển kĩ năng nghe và nói.

Đối với phương pháp này, việc sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ bị nghiêm cấm, vậy thì biện pháp nào được đề cao để tháo gỡ các khó khăn trên các bình diện ngôn ngữ, xã hội văn hóa, lịch sử, triết học…? Để phục vụ cho mục tiêu rèn luyện những kĩ năng thực hành ngôn ngữ, họ đã gọt giũa, sửa đổi các văn bản văn học cho phù hợp với người học. Nhiều tác phẩm nổi tiếng được viết lại theo hướng đơn giản hóa trong cuốn Tiếng Pháp cơ sở. Và như vậy những tác phẩm đã bị “gọt giũa” có còn được coi là tác phẩm văn học nữa hay không?

Rất chú trọng đến mục tiêu giao tiếp nói, họ dành ưu tiên cho các văn bản sử dụng ngôn ngữ thông dụng, ít hoặc không còn có tính văn học. Tài liệu học tập chủ yếu là các bài hội thoại với các nhân vật như trong các đoạn kịch.

Thực tế hiện nay, hình thức nghe – nhìn cũng có thể được sử dụng trong dạy và học văn bản văn học với tư cách là công cụ hỗ trợ, kích thích lòng đam mê văn học của người học, tạo không khí sinh động cho bài giảng. Thí dụ, ở giai đoạn củng cố kiến thức, người dạy tổ chức hoạt động ngoại khóa, cho sinh viên xem vở diễn của tác phẩm kịch hoặc các bộ phim được chuyển thể từ tác phẩm văn học.

2.3. Phương pháp giao tiếp và dạy – học theo loại hình và thể loại

2.3.1. Phương pháp giao tiếp

Thế kỉ XX với những thành tựu của lí luận tiếp nhận đã mở rộng quan niệm về tác phẩm văn học. Văn bản chỉ trở thành tác phẩm văn học thông qua quá trình cụ thể hóa văn bản của người đọc. Từ đây mở rộng khái niệm của hành động đọc, nó không chỉ là công việc nhằm tiếp cận, tái hiện văn bản văn học mà còn là 1 hoạt động đồng sáng tạo cùng nhà văn.

Khi đưa một văn bản văn học vào trong giảng dạy ngoại ngữ, trước hết chúng ta phải nhìn nhận người học là một người đọc không chỉ tiếp nhận thông tin một cách thụ động mà phải khuyến khích vai trò sáng tạo ở người đọc. Sự giao tiếp với văn học của người đọc ở đây trước tiên là giao tiếp với văn bản, họ phải tìm hiểu những tín hiệu ngôn ngữ phát ra từ văn bản văn học. Sự giao tiếp đó mang lại cho người đọc sự cảm thụ thẩm mĩ mang tính cá thể hóa, không giống nhau giữa những người đọc. Từ đây, các văn bản văn học đòi hỏi hướng khai thác theo phương pháp giao tiếp lấy người học làm trung tâm.

Với quan điểm đề cao vai trò tiếp thu của người đọc như một chủ thể độc lập, hoàn chỉnh, trong quá trình giảng dạy, giáo viên không tự mình giải thích và áp đặt các ý nghĩa của văn bản văn học mà gợi mở và khuyến khích những ý kiến, cảm thụ riêng của người học trong quá trình tiếp xúc với văn bản. Điều này hoàn toàn đối lập với phương pháp truyền thống là đề cao vai trò của người dạy, áp đặt những suy nghĩ, cách hiểu duy nhất về văn bản văn học.

Mặc dù ngôn ngữ mẹ đẻ không bị triệt tiêu hoàn toàn như trong phương pháp nghe – nhìn, nhưng chỉ được dùng trong một số tình huống nhất định nhằm giúp người học hiểu đúng nghĩa của văn bản. Kích thích năng lực cảm thụ độc lập giá trị thẩm mỹ tác phẩm văn ở người học được thể hiện trên mọi bình diện: dạy-họckiểm tra và đánh giá.

Trong quá trình giảng dạy, cần phải chú trọng năng lực văn hóa của người học. Người đọc (sinh viên- người học) giữ vị trí trung tâm của hoạt động đọc-tiếp nhận – tường giải và dựa trên nền tảng của những đặc thù văn hóa riêng của mình trong việc cảm thụ giá trị thẩm mĩ của tác phẩm văn học. Thực chất, giảng dạy văn bản văn học hướng tới mục đích trao đổi, đối thoại giữa các nền văn hóa, cho nên người dạy cũng không thể bỏ qua nền văn hóa và văn học của người học. Những hiểu biết thấu đáo này giúp người dạy lựa chọn phương pháp phù hợp và tổ chức hiệu quả việc giảng dạy văn học nước ngoài.

Trong thực tế giảng dạy, với sự ứng dụng thao tác này, chúng tôi tạo được những giờ học sinh động, lôi cuốn người học vào quá trình “giải mã” tác phẩm văn học vốn bị coi là rất khó và sẽ xóa đi định kiến cho rằng người học nước ngoài không thể cảm thụ được vẻ đẹp của các tác phẩm văn chương bản địa. Đối lập với phương pháp nghe-nhìn chỉ chọn những tác phẩm văn học đã được gọt giũa, được “sản xuất lại” cho đơn giản nhất làm tài liệu để giảng dạy môn văn học, phương pháp giao tiếp chủ trương sử dụng những văn bản đích thực và cố gắng khai thác tính toàn vẹn của tác phẩm, nếu là đoạn trích dẫn cũng phải được đặt trong tổng thể tác phẩm.

Những kết quả nghiên cứu của Jakobson và Rolland Barthes về mối tương quan giữa chủ nghĩa cấu trúc và văn học, cho phép coi văn bản văn học như một tài liệu giảng dạy ngoại ngữ và có thể đưa vào giảng dạy ở giai đoạn đầu. Khám phá một văn bản văn học không phải chỉ trên bình diện văn hóa, xã hội mà cả trên các bình diện khác: ngữ âm, cú pháp, ngữ nghĩa. Vì vậy J. Peytard đã đưa ra nhận xét trong cuốn Văn học và lớp học tiếng: “Đọc một văn bản văn học chính là tìm cách nhận biết những vận động của một ngôn ngữ ở mức độ cao nhất” [9].

Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với tác giả Nguyễn Thị Huyền về giá trị của tài liệu đích thực trong giảng dạy môn văn học cho mọi đối tượng. Đối với cùng một tài liệu đích thực có thể có hai thái độ tiếp nhận: người bản ngữ đọc tài liệu đó dựa vào năng lực ngôn ngữ, giao tiếp và văn hóa của mình, còn sinh viên nước ngoài đọc để đạt được những năng lực đó bằng việc vận dụng hai hệ thống, hệ thống tiếng nước ngoài và tiếng mẹ đẻ. Trong trường hợp đó, người đọc vẫn phải coi việc nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ của văn bản là quan trọng nhất [10].

Phương pháp giao tiếp được đề cao, nhưng nó sẽ trở nên có hiệu quả hơn khi kết hợp với phương pháp dạy theo loại hình và thể loại đối với phân tích văn bản văn học.

2.3.2. Phương pháp dạy theo loại hình và thể loại

Những khám phá của lí luận văn học hiện đại là mảnh đất sản sinh ra những khuynh hướng phê bình, nghiên cứu, giảng dạy văn bản văn học với tư duy đổi mới và hiện đại. Chúng tôi đi sâu vào kết quả của những thành tựu lí luận đó trong quá trình dạy- học tác phẩm văn học.

Khi đề cao vai trò trung tâm của người đọc trong quá trình giải mã và tạo nghĩa của văn bản, các nhà nghiên cứu cảnh báo nguy cơ lí giải sai, hoặc lí giải quá đáng văn bản văn học. Để tránh nguy cơ đó, cần phân biệt ý đồ văn bản như là cái gì đó nằm trong mối quan hệ tương hỗ với ý đồ tác giả và ý đồ người cắt nghĩa. Văn bản tồn tại với khả năng mời gọi đối với một cộng đồng người đọc, cái cộng đồng không chỉ bị các nguyên tắc ngữ pháp của một thứ ngôn ngữ nhất định chi phối, mà còn bị tác động bởi nền văn hóa cùng các qui ước xã hội khác mà họ có được nhờ sự chiếm lĩnh các tác phẩm trước đó.

Vì vậy, sự đọc chính là sự thỏa thuận đặc biệt giữa trang bị của thế giới văn bản và hành trang của người đọc. Trong quá trình cắt nghĩa tác phẩm văn học, Umberto nhấn mạnh tầm quan trọng hàng đầu của nghiên cứu văn bản.

Từ đây, các nhà giáo học pháp ý thức tầm quan trọng của việc trang bị những hành trang cơ bản về văn bản cho người đọc để họ có khả năng tiếp cận, cảm thụ và cùng với nhà văn tạo nghĩa tác phẩm văn học. Họ cho rằng việc xác định thể loại và tìm những dấu hiệu đặc trưng của thể loại trong một văn bản văn học cho phép người đọc hiểu được kết cấu và vận hành của văn bản đó. Tất nhiên với điều kiện là người học phải được trang bị những kiến thức của từng thể loại trước đó.

“Theo cách hiểu thông thường hiện nay trên thế giới, thi pháp là phương pháp tiếp cận, tức là nghiên cứu, phê bình tác phẩm văn học từ các hình thức biểu hiện bằng ngôn từ nghệ thuật, để tìm hiểu các ý nghĩa hiển hiện hoặc chìm ẩn của tác phẩm: ý nghĩa mĩ học, triết học, đạo đức học, lịch sử, xã hội học… Cấp độ nghiên cứu thi pháp học các hình thức nghệ thuật (kết cấu, âm điệu, nhịp câu, đối thoại, thời gian, không gian, cú pháp…) yêu cầu đọc tác phẩm như một chỉnh thể, ở đó các yếu tố ngôn từ liên kết chặt chẽ với nhau, hợp thành một hệ thống, để biểu đạt ý tưởng, tình cảm, tư duy, nhân sinh quan…” [8]

Phương pháp khai thác văn bản văn học theo loại hình và thể loại thực chất gắn liền với các nguyên tắc của thi Pháp học, khi nó yêu cầu trước hết là nghiên cứu các phương thức nghệ thuật, miêu tả các đặc trưng thể loại văn học, từ đó tìm tòi các tầng lớp ý nghĩa ẩn giấu của tác phẩm.

2.3.3. Đọc có phương pháp (lecture méthodique)

Đọc các tác phẩm văn học là yêu cầu bắt buộc đối với quá trình dạy và học văn học, cho dù áp dụng bất kỳ phương pháp truyền thống hoặc hiện đại nào. Lanson, nhà sáng lập phê bình lịch sử văn học, trong Lời nói đầu cuốn Lịch sử văn học Pháp đã khẳng định mục đích của công trình không phải chỉ cung cấp kiến thức văn chương mà thực chất là tạo động lực cho việc đọc các tác phẩm đặc sắc. Tại Pháp, việc đọc các tác phẩm văn học được thiết chế hóa trong chương trình dạy- học văn học. Việc đọc tác phẩm văn học là bài tập bắt buộc đối với người học ở tất cả các cấp học từ tiểu học cho đến đại học, được kiểm tra và đánh giá nghiêm túc. Nhưng phương thức đọc nào giúp người học có khả năng giải mã ý nghĩa, cảm thụ độc lập vẻ đẹp của tác phẩm văn học?

Thực chất trong các phần trên chúng tôi đã trình bày các giải pháp cụ thể với các thao tác chuyên biệt, bổ sung tương tác lẫn nhau hướng đến một kiểu Đọc có phương pháp. Điều kiện then chốt, cốt lõi của thành công về phương diện giáo học pháp trong cách tiếp cận hiệu quả các văn bản văn học là thực thi đồng thời các biện pháp, kĩ năng chuyên biệt của những thao tác khác nhau đối với các văn bản văn học. Chúng ta có thể tham khảo một sơ đồ tổng hợp gồm bốn thao tác của nhóm tác giả cuốn Hướng dẫn dạy Văn học Pháp ngữ [1]

Chúng tôi xin đưa ra một loại phiếu (fiche) ghi chép, tổng kết quá trình đọc tác phẩm văn học của người học. Sau khi đọc một truyện ngắn hoặc một tiểu thuyết, người đọc dành thời gian để suy ngẫm và trả lời một số câu hỏi sau đây :

BẢN TỔNG KẾT ĐỌC CÁ NHÂN

1. Tên tác giả, đầu đề, số trang, năm sáng tác và xuất bản

2. Hình thức tự sự

Ai kể? Xác định điểm nhìn? (người kể chuyện xuất hiện trong câu dưới dạng đại từ nhân xưng nào Je, Tu, Il, có đồng nhất với nhân vật không?).

3. Sơ đồ tự sự

Nhận xét diễn biến của câu chuyện có tuân theo 5 giai đoạn: tình huống ban đầu, tình huống cuối, yếu tố gây biến đổi, đỉnh cao của biến cố, giải pháp. Dựa trên sơ đồ đó viết một tóm tắt ngắn thể hiện quá trình diễn biến đó.

4. Cấu trúc tác phẩm

5. Không gian

Xác định những dấu hiệu chỉ dẫn không gian? Không gian nào được thể hiện: vùng, thành phố, phong cảnh? Phương thức miêu tả không gian: các lớp cảnh nhỏ, mang tính chân thực, giàu chất thơ, hoặc đậm tính chủ quan? Kĩ thuật điểm nhìn có tác động như thế nào đến kĩ thuật miêu tả không gian?

6. Thời gian

Thời nào của động từ chiếm chủ đạo trong truyện kể: hiện tại, quá khứ hay xen kẽ luân phiên? Người kể chuyện ở thời điểm nào kể lại câu chuyện? Những dấu hiệu xác định thời gian: ngày, tháng, năm, mùa, giai đoạn, sự kiện lịch sử xã hội? Độ dài của câu chuyện? Nhịp điệu của truyện kể?

7. Nhân vật

Xác định hệ thống nhân vật chính, phụ? Lập sơ đồ tác nhân hành động: Destinateur, Destinataire, Objet, Sujet, Adjuvant, Opposant! Các kĩ thuật khắc họa chân dung thể chất, tâm lí, xã hội, tinh thần và đặc biệt quá trình phát triển tính cách của nhân vật trong quá trình diễn biến câu chuyện.

8. Bút pháp của nhà văn

Nhà văn sử dụng những biện pháp tu từ nào, loại câu gì? lối nói thân mật hoặc trang trọng nhằm tạo nên một kiểu bút pháp của mình? Bạn có thể trích dẫn một vài câu trong tác phẩm và giải thích lí do tại sao bạn thích nó!

9. Niềm hứng thú, mối quan tâm của người đọc

Đọc có phương pháp là bài tập bắt buộc đối với người học, bởi lẽ nó là một trong biện pháp hữu hiệu trong việc áp dụng phương pháp giao tiếp và phương pháp dạy theo loại hình và thể loại trong phân tích văn bản văn học.

3. Kết luận

Những thành tựu lí luận văn học là cơ sở cho sự ra đời các khuynh hướng mới trong phê bình và ảnh hưởng trực tiếp tới các phương thức tiếp cận văn bản văn học. Trong quá trình giảng dạy tiếng Pháp cho người nước ngoài, văn bản văn học được sử dụng như những tài liệu giảng dạy bắt buộc. Tuy nhiên vai trò của nó thay đổi theo những quan niệm khác nhau của các nhà sư phạm “siêu độc giả”, người khai thác tác phẩm văn học trong giảng dạy. Phương pháp truyền thống đề cao vai trò của nhà văn, không quan tâm đến người đọc – người học – những siêu độc giả. Văn bản khép kín, chỉ có một nghĩa, vì vậy người dạy áp đặt một cách hiểu duy nhất, không khuyến khích khả năng độc lập, sáng tạo của người học trong việc cảm thụ tác phẩm văn học.

Phương pháp nghe nhìn làm biến dạng tác phẩm văn học khi cố gắng thu gọn và làm đơn giản hoá các văn bản. Biến các văn bản văn học thành tài liệu để rèn luyện kĩ năng nói là chủ yếu, vì vậy người dạy chú trọng các văn bản có yếu tố hội thoại.

Kết hợp phương pháp giao tiếp và phương pháp dạy theo loại hình và thể loại trong phân tích văn bản văn học là hướng đi đúng đắn, đang được phổ cập ở trong các cấp học từphổ thông trung học đến đại học trên thế giới. Kết hợp nhuần nhuyễn các thao tác tiếp cận văn bản văn học từ bên trong và bên ngoài văn bản, nhằm phát hiện nghĩa của tác phẩm, khuyến khích năng lực độc lập, sáng tạo của người học trong cảm thụ tác phẩm văn học đòi hỏi người dạy có kiến thức sâu rộng về khoa học văn bản, về văn hóa-xã hội không những của ngôn ngữ đang giảng dạy và cả nền văn hóa của người học.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Albert Marie – Claude, Souchon Marc, Hướng dẫn dạy Văn học Pháp ngữ, Nathan, 1992, tr.28.

2. Albert Marie- Claude, Souchon Marc, Les textes littératures en classe de langue, Hachette, 2000.

3. Barthes R, Kayser W, Booth W.C, Hamon PH, Poétique du récit, Ed. Du Seuil, 1977.

4. Barthes Roland, S/Z, Seuil, 1970.

5. Bakhtine Mikhail, Esthétique et théorie du roman, Gallimard, 1978.

6. Bergez Daniel, Introduction aux méthodes critiques pour l’analyse littéraire, Bordas, 1990.

7. Đỗ Đức Hiểu, Đổi mới đọc và bình văn, Nxb Hội Nhà văn, 1999.

8. Đỗ Đức Hiểu, Thi pháp hiện đại, Nxb Hội Nhà văn, 2000.

9. Elisabeth Ravoux Rallo, Méthode de critique littéraire, Arman Colin, 1995, Tr.65.

10. Nguyễn Thị Huyền, Nghiên cứu phương pháp dạy-học văn bản văn học theo đặc điểm thể loại và loại hình cho sinh viên chuyên Pháp (đề tài NCKH cấp ĐHQGHN), 2005, tr. 46.

11. Peytard J, Littérature et classe de langue, Didier, 1982, tr.35.

12. Ravoux Rallo Elisabeth, Méthode de critique littéraire, Arman Colin, 1995.

SUMMARY

The teaching of French literature changes with different viewpoints from different ‘super readers’ who exploit literary works in their teaching. The traditional methodology dignifies the roles of the authors and pays little attention to the readers – the learners. Because the literary texts are then closed with only one meaning, teachers generally impose the only way of understanding when teaching, discouraging learners’s critical and creative thinkings. Besides, the audio-visual method deforms the literary works trying to compact and simplify the texts, turning the texts into materials for speaking practice. The combination of the communicative approach and genre teaching in the analysis of texts requires the teachers to approach the texts basing on the words and reading between the lines. The final aim of this teaching method is to discover more meanings of the texts and more importantly to encourage learner’s critical and creative abilities during their perception of the literary works.

Nguồn: Tạp chí Ngôn ngữ, số 10 năm 2012

Cập nhật thông tin chi tiết về Giảng Dạy Theo Phương Pháp Lớp Học Ghép Hình trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!