Xu Hướng 2/2024 # Đối Tượng Và Nhiệm Vụ Nghiên Cứu Của Ngôn Ngữ Học # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Đối Tượng Và Nhiệm Vụ Nghiên Cứu Của Ngôn Ngữ Học được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

2. Nhiệm vụ của ngôn ngữ học. Các ngành, các bộ môn của nó

Nhiệm vụ của ngôn ngữ học là:

Phải miêu tả và làm lịch sử cho tất cả các ngôn ngữ, các ngữ tộc mà nó với tới

Phải tìm ra những quy luật thường xuyên và phổ biến trong các ngôn ngữ, rút ra những quy luật khái quát có thể giải thích tất cả các hiện tượng đặc biệt.

Trước hết, người ta phân biệt hai ngành ngôn ngữ học: ngôn ngữ học lịch sử và ngôn ngữ học miêu tả. Ngôn ngữ học lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ trong sự phát triển lịch sử của nó, còn ngôn ngữ học miêu tả nghiên cứu một trạng thái nào đó của ngôn ngữ. Sự phân biệt ngôn ngữ học lịch sử với ngôn ngữ học miêu tả bắt nguồn từ sự đối lập giữa đồng đại và lịch đại.

Cần phân biệt đồng đại và lịch đại, nhưng không nên đối lập chúng một cách tuyệt đối. Cả trong trạng thái hiện tại lẫn trong trạng thái quá khứ, ngôn ngữ bao giờ cũng là một hệ thống. Cần phải nghiên cứu các hiện tượng ngôn ngữ cả trong mối liên hệ lẫn nhau lẫn trong trong sự phát triển một cách đồng thời. Trong mỗi trạng thái ngôn ngữ, cần vạch ra những hiện tượng đang lùi vào quá khứ và những hiện tượng đang xuất hiện trên cái nền của những hiện tượng ổn định, có tính chuẩn mực đối với trạng thái ngôn ngữ đó.

Ngôn ngữ gồm ba bộ phận là ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Trên cơ sở đó, hình thành ba bộ môn ngôn ngữ học khác nhau: ngữ âm học, từ vựng học và ngữ pháp học.

Ngữ âm học là bộ môn nghiên cứu mặt âm thanh của ngôn ngữ. Ngữ âm có mặt tự nhiên và mặt xã hội của nó. Mặt tự nhiên của ngữ âm là những thuộc tính về âm học (cao độ, trường độ, âm sắc…) và những thuộc tính về cấu âm (hoạt động của bộ máy hô hấp và chuyển động của các cơ quan phát âm như môi, lưỡi… tạo ra một âm nào đó) của chúng. Mặt xã hội hay chức năng của ngữ âm là những quy định, những giá trị mà cộng đồng người sử dụng chung một ngôn ngữ gán cho các đặc trưng âm thanh. Ngữ âm học nghiên cứu toàn bộ phương tiện ngữ âm trong tất cả những hình thái và chức năng của nó và mối liên hệ giữa hình thức âm thanh và chữ viết của ngôn ngữ.

Từ vựng học là bộ môn ngôn ngữ học nghiên cứu các từ và các đơn vị tương đương với từ (cụm từ cố định, thành ngữ, quán ngữ) trong các ngôn ngữ. Nội dung của từ vựng học rất phong phú và đa dạng, do đó đã hình thành một số phân môn như từ nguyên học, ngữ nghĩa học, danh học và từ điển học.

Ngữ pháp học là một bộ môn ngôn ngữ học nghiên cứu các hình thức biến đổi từ, các mô hình kết hợp từ và các kiểu câu trong sự trừu tượng hoá khỏi ý nghĩa vật chất cụ thể (ý nghĩa từ vựng) của các từ, cụm từ và câu. Nói cách khác, ngữ pháp học nghiên cứu cách thức và phương tiện cấu tạo từ và câu. Ngữ pháp học bao gồm Từ pháp học và Cú pháp học. Từ pháp học nghiên cứu các phương diện cấu tạo từ. Cú pháp học nghiên cứu các cụm từ và câu.

Nghiên cứu tất cả các phong cách khác nhau, bao gồm cả các phong cách cá nhân lẫn phong cách thể loại

Nghiên cứu các thuộc tính biểu cảm và bình giá của các phương tiện ngôn ngữ khác nhau cả trong hệ thống ngôn ngữ lẫn trong quá trình sử dụng chúng ở những phạm vi giao tiếp khác nhau.

Theo Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên). Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, H., 1998, trang 311-314

Trở lại: Đối tượng của ngôn ngữ học

Đối Tượng Và Nhiệm Vụ Của Tâm Lí Y Học

ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA TÂM LÍ Y HỌC Lịch sử phát triển của Tâm lí Y học.

Ngay từ khi Y học tách ra khỏi những quan niệm thần bí để trở thành một khoa học, các thày thuốc khi đó cũng đã rất quan tâm tới những vấn đề tâm lí. Y học Trung Hoa cổ đại đã đề cập đến mối quan hệ của tâm lí với bệnh tật…

Ở Phương Tây, Hippocrates, người được xem là ông tổ của nghề y đã nói rằng thầy thuốc cần có 3 thứ để chữa bệnh: con dao, ngọn cỏ và lời nói.

Mặc dù vậy, cũng phải đến thế kỉ thứ XVIII, những ứng dụng của Tâm lí học vào Y học mới rõ nét hơn.

Năm 1882, Galton đã thành lập phòng thí nghiệm nhân trắc để đo những vấn đề khác biệt cá nhân như: độ nhạy cảm giác quan, kỹ năng vận động và thời gian phản ứng. chúng tôi Cattell, nhà tâm lí học Mỹ cũng được nhắc đến như là một trong những người đặt nền móng ban đầu cho trắc nghiệm tâm lí. Cattell cũng đã từng làm việc tại phòng thí nghiệm tâm lí đầu tiên trên thế giới- Phòng thí nghiệm tâm lí của W.Wundt và cũng như Galton, Cattell đi vào nghiên cứu sự khác biệt thời gian phản xạ. Ông cũng cho rằng bằng cách này có thể nghiên cứu được trí tuệ. Thuật ngữ Mental test (test trí tuệ) cũng là của J. Cattell.

Đến cuối thế kỷ XVIII, một bác sĩ người Áo tên là F. Mesmer (1734 – 1815), người sáng lập ra lí thuyết thôi miên, đã sử dụng ám thị để chữa cho hàng nghìn bệnh nhân. Ông đã đưa ra khái niệm “thể lỏng từ tính động vật” để giải thích hiện tượng ám thị trong thôi miên. Cách giải thích của Ông đã không được Hội đồng khoa học Hoàng gia Pari thừa nhận. Mesmer không chỉ bị bài xích mà còn bị coi là phù thủy, bịp bợm. Tuy nhiên cũng chính Hội đồng này, đến năm 1882 đã khôi phục danh dự cho Ông bằng cách thừa nhận sự ám thị như là phương tiện chữa bệnh khoa học.

Cũng trong giai đoạn này, J. Charcot đã nổi tiếng với các biện pháp thôi miên điều trị người bệnh hysteria. Bắt đầu sự hợp tác giữa Bleuler và Freud. Năm 1895 hai ông đã cho xuất bản tập Những nghiên cứu về hysteria. Do nhiều lí do, sự hợp tác giữa họ đã bị đổ vỡ. Tuy nhiên sự hợp tác đó cũng đã góp phần thúc đẩy Freud tạo ra hướng đi mới: Phân tâm học.

Nếu Galton, Cattell là những người khởi đầu thì Binet và cộng sự của Ông – bác sĩ Simon với chính là những người thực sự mở ra thời kỳ mới của trắc nghiệm trí tuệ nói riêng và test tâm lí nói chung. Năm 1905, test trí tuệ đầu tiên ra đời theo đơn đặt hàng của Bộ giáo dục Pháp: Thang Binet – Simon (Binet – Simon Scale). Thang được thiết kế nhằm sàng lọc những học sinh có khuyết tật về trí tuệ để có thể có những biện pháp giáo dục đặc biệt hơn đối với những đối tượng này. Do tính hiệu quả của nó, thang Binet-Simon được phổ biến sang nhiều nước. Thang này cũng còn là sự khởi đầu cho hàng loạt các test trí tuệ khác như: test trí tuệ Raven, test trí tuệ Wechsler v.v..

Đầu thể kỉ XX, trong Tâm lí học diễn ra cuộc cách mạng với 3 trường phái lớn: Phân tâm học, Tâm lí học Gestal, Chủ nghĩa Hành vi và muộn hơn một chút, đó là Tâm lí học Mac Xit. Sự xuất hiện của các trường phái lớn đã làm thay đổi thực sự diện mạo của Tâm lí Y học. Nếu như trước đó, những vấn đề về Tâm lí Y học do các thày thuốc nghiên cứu thì từ thời kì này, sự vào cuộc của các nhà Tâm lí học diễn ra mạnh mẽ hơn. Hàng loạt những luận điểm Tâm lí học có dịp được ứng dụng, kiểm nghiệm trong thực tiễn lâm sàng.

Phân tâm học với những luận điểm dựa trên nền tảng vô thức đã mở ra một hướng điều trị mới: phân tích tâm lí (phân tâm). Xuất phát từ Phân tâm, một loạt các dạng điều trị tâm lí khác đã ra đời và phát triển. Phân tâm cũng còn là cơ sở cho một hướng mới trong các trắc nghiệm tâm lí lâm sàng: các phương pháp phóng chiếu.

Chủ nghĩa Hành vi lấy hành vi làm phạm trù cơ bản cho mình để từ đó đi vào những vấn đề về trị liệu. Liệu pháp hành vi được sử dụng ngày càng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cá nhân và cộng đồng. Cũng trên cơ sở lí luận của Tâm lí học Hành vi, có rất nhiều trắc nghiệm, thang đo tâm lí được xây dựng và đưa vào ứng dụng.

Đối với Tâm lí học Mac Xit, phạm trù cơ bản là hoạt động. Một loạt những vấn đề về sự hình thành và phát triển tâm lí cũng như các vấn đề của tâm lí bệnh lí được xem xét và giải quyết từ tiếp cận hoạt động.

Đến giữa thế kỉ thứ XX, một trường phái Tâm lí học khác nổi lên, có đóng góp rất đáng kể trong lĩnh vực liệu pháp tâm lí: trường phái Tâm lí học Nhân văn và Hiện sinh.

Ở nước ta, sự phát triển của Tâm lí Y học còn khá mới mẻ. Mãi đến năm 1979, Khoa Tâm lí học Y học đầu tiên trong cả nước được thành lập ở Trường Đại học Quân y (nay là Học viện Quân y). Trước đó, một số vấn đề về Tâm lí Y học cũng đã được đề cập đến trong chương trình giảng dạy, nghiên cứu, ứng dụng của một số cơ sở điều trị và giảng dạy môn Tâm thần học. Cho đến nay đã có nhiều cơ sở đào tạo và nghiên cứu đưa vào giảng dạy và nghiên cứu những vấn đề về Tâm lí Y học, Tâm lí lâm sàng, Tâm lí Thần kinh. Tại Khoa Tâm lí học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Đại học Quốc gia đã mở chuyên ngành Tâm lí Lâm sàng chuyên đào tạo cử nhân tâm lí trong lĩnh vực này.

Đối tượng của Tâm lí Y học.

Tâm lí Y học là một chuyên ngành ứng dụng của Tâm lí học trong Y học.

Đối tượng của Tâm lí Y học là các hiện tượng tâm lí của người bệnh.

Những vấn đề mà Tâm lí Y học quan tâm nghiên cứu tập trung vào các nội dung sau:

Những biểu hiện tâm lí của người bệnh:

Tâm lí và cơ thể có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhau. Khi cá nhân bị bệnh thì tâm lí con người đó cũng có những biến đổi nhất định. Sự thay đổi tâm lí của người bệnh có những điểm chung: những người mắc cùng một loại bệnh có những đặc điểm tâm lí giống nhau. Những biến đổi như vậy mang tính quy luật nhất định. Tuy nhiên tính quy luật như vậy chỉ mang tính tương đối. Mỗi con người cụ thể có những đặc điểm riêng về cơ thể cũng như về tâm lí và xã hội. Do vậy những thay đổi tâm lí do bệnh tật cũng có những điểm khác nhau ở những người khác nhau.

Vai trò của các yếu tố tâm lí trong phát sinh và phát triển bệnh:

Yếu tố tâm lí đóng vai trò rất khác nhau trong sự hình thành và diễn biến bệnh tật. Có những bệnh mà nguyên nhân chủ yếu là do tâm lí, ví dụ như rối loạn phân li (trước đây gọi là hysteria). Cũng có những bệnh mà theo các thày thuốc, tâm lí đóng vai trò chủ đạo, ví dụ như hen suyễn, viêm loét dạ dày – hành tá tràng (mặc dù gần đây người ta đã tìm ra vi khuẩn Helicobater Pilory)…

Ảnh hưởng qua lại giữa bệnh và tâm lí:

Mối quan hệ giữa tâm lí và bệnh tật là khá phức tạp. Như đã biết, các hiện tượng tâm lí được hình thành và phát triển trên cơ sở của hoạt động hệ thần kinh, đặc biệt là hệ thần kinh trung ương. Một khi bị bệnh, hoạt động của hệ thần kinh cũng bị ảnh hưởng và dẫn đến ảnh hưởng các hoạt động tâm lí. Ngược lại, các tác động lên tâm lí cũng có thể ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thần kinh dẫn đến ảnh hưởng tới sự hình thành và diễn biến của bệnh. Ví dụ: trong điều kiện thời tiết giá rét, những người có stress tâm lí là những người có nguy cơ mắc bệnh viêm đường hô hấp trên cao hơn so với những người khác.

Những tác động của yếu tố môi trường (tự nhiên và xã hội) lên tâm lí người bệnh:

ngay trong điều kiện bình thường, các yếu tố của môi trường tự nhiên như: nhiệt độ, độ ẩm, tiếng ồn…và các yếu tố môi trường xã hội như: tình hình chính trị, kinh tế, xã hội cũng đã ảnh hưởng đến tâm lí con người. Trong điều kiện bệnh lí, sự ảnh hưởng như vậy càng rõ nét song cũng phức tạp hơn.

Vai trò của yếu tố tâm lí trong điều trị và chăm sóc sức khoẻ con người:

Vận dụng cơ chế ảnh hưởng của tâm lí lên sức khoẻ nói chung, bệnh tật nói riêng, trong Y học Lâm sàng có hẳn một chuyên ngành Liệu pháp Tâm lí. Từ những thành công trong lĩnh vực lâm sàng tâm thần, liệu pháp tâm lí đã được ứng dụng sang các lĩnh vực khác lâm sàng nội, ngoại khoa khác nhau.

Y học hiện đại không chỉ bó hẹp trong phạm vi bệnh viện. Cùng với Y học, Tâm lí Y học góp phần xây dựng, triển khai những biện pháp nhằm tăng cường, củng cố những hành vi sức khoẻ cho người dân và cộng đồng nói chung.

Giao tiếp của nhân viên y tế:

Hiệu quả hoạt động khám, chữa bệnh của người thầy thuốc phụ thuộc vào không chỉ kiến thức, kinh nghiệm nghề nghiệp mà còn vào các kĩ năng giao tiếp của họ. Do vậy một trong những điều không thể thiếu đối với công tác đào tạo cán bộ y tế đó là trang bị, hình thành cho họ những kĩ năng giao tiếp cần thiết.

Hoạt động khám, chữa bệnh hoặc các biện pháp dự phòng, tăng cường sức khoẻ đều nhằm đến mục tiêu cải thiện sức khoẻ (cả về thể chất và tâm lí) cho con người. Tuy nhiên hiệu quả của các biện pháp đó không chỉ phụ thuộc vào trình độ hiểu biết của người thầy thuốc về tâm lí người bệnh mà nó còn phụ thuộc vào chính những đặc điểm tâm lí – nhân cách của họ- những người làm công tác chăm sóc sức khoẻ. Do vậy, với góc độ là một lĩnh vực ứng dụng vào Y học, Tâm lí học Y học không chỉ dừng lại ở mức độ trang bị cho thầy thuốc kiến thức về tâm lí người bệnh. Những hiểu biết về tâm lí – nhân cách của thầy thuốc cũng còn là cơ sở khoa học góp phần giáo dục, đào tạo bồi dưỡng và phát triển toàn diện, hài hoà nhân cách người thầy thuốc.

Nhiệm vụ của Tâm lí Y học. Chẩn đoán/đánh giá tâm lí lâm sàng:

Chẩn đoán tâm lí lâm sàng nhằm xác định trạng thái tâm lí hiện tại của khách thể. Trên cơ sở so sánh/đối chiếu với các chuẩn hoặc trong điều kiện bình thường nhằm xác định các biến đổi tâm lí.

Trong nhiều trường hợp, cần phải xác định nguyên nhân của những biến đổi đó. Ví dụ: sự giảm sút trí nhớ đã được ghi nhận là do nguyên nhân gì?

Chẩn đoán tâm lí lâm sàng còn cần phải đưa ra được dự báo diễn biến tiếp theo của các rối loạn tâm lí.

Can thiệp tâm lí:

Sự tham gia của tâm lí lâm sàng không chỉ bó hẹp trong khái niệm trị liệu (liệu pháp/điều trị) tâm lí mà đã mở rộng ra rất nhiều. Trong lâm sàng, can thiệp tâm lí không chỉ nhằm xoá bỏ nguyên nhân của các rối loạn. Dựa trên quan niệm sức khoẻ con người bao gồm 3 thành tố: sinh học – tâm lí – xã hội, can thiệp tâm lí nhằm tác động vào thành tố tâm lí, giúp cho người bệnh tự giải quyết những vấn đề của mình.

Can thiệp tâm lí đã mở rộng ra lâm sàng các bệnh nội, ngoại, sản, nhi…Ví dụ: đối với người bệnh ung thư, can thiệp tâm lí nhằm giúp họ thích ứng với tình trạng của mình để phấn đấu vươn lên, sống có ích cho người thân trong gia đình, không bi quan tuyệt vọng, không có ý định và hành vi cực đoan.

Can thiệp tâm lí cũng còn mở rộng sang cả lĩnh vực cộng đồng/công cộng.

Có hẳn một chuyên ngành nữa, đó là Tâm lí học Công cộng.

Các lĩnh vực ứng dụng của Tâm lí Y học. Trong y học lâm sàng:

Trong lâm sàng tâm thần:

Cho đến nay đã có rất nhiều những thành tựu của công nghệ hiện đại được ứng dụng vào Y học lâm sàng. So với chụp X. quang trước đây, hình ảnh của siêu âm, siêu âm 3 chiều, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ hạt nhân…đã có những bước tiến rất xa. Các thành tựu này đã trợ giúp rất nhiều cho thầy thuốc trong công tác chẩn đoán bệnh. Tuy nhiên các bác sĩ tâm thần không được hưởng lợi nhiều từ những thành quả đó. Hiện tại chưa có một thiết bị nào, ví dụ: có thể ghi được tiếng nói trong đầu của bệnh nhân. Do vậy để chẩn đoán bệnh, các nhà tâm thần học vẫn phải dựa vào cứ liệu lâm sàng là chủ yếu. Trong bối cảnh như vậy, kết quả chẩn đoán tâm lí sẽ là cứ liệu bổ ích cho các bác sĩ tâm thần trong quá trình chẩn đoán bệnh, đặc biệt là chẩn đoán phân biệt.

Ở bệnh nhân tâm thần, cái bị rối loạn nặng nề nhất không phải là cơ thể mà là phần tâm lí – nhân cách. Do vậy xu hướng tác động, lên tâm lí bệnh nhân nhằm mục đích điều chỉnh hành vi, nâng cao tính thích ứng đang ngày càng được sử dụng nhiều. Hiện nay các biện pháp can thiệp tâm lí đang mở sang lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ tâm thần tại cộng đồng.

Trong lâm sàng thần kinh:

Một khi bệnh nhân bị tổn thương não, đặc biệt là vỏ não, các biểu hiện rối loạn, biến đổi tâm lí cũng rất phức tạp. Chẩn đoán tâm lí thần kinh đưa ra nhận định về khu vực tổn thương trên cơ sở phân tích các biến đổi, rối loạn tâm lí của người bệnh. Mặc dù hiện nay các phương tiện kĩ thuật hiện đại đã có thể trợ giúp rất nhiều trong chẩn đoán định khu thần kinh song ở một số nước, chẩn đoán tâm lí thần kinh vẫn được ưa dùng bởi giá thành rẻ.

Một mảng ứng dụng của tâm lí nữa là phục hồi chức năng tâm lí cấp cao. Như đã biết, khi một vùng nào đó của vỏ não bị bất hoạt, ví dụ: bị phẫu thuật tách bỏ, những vùng khác còn lại sẽ “chia sẻ” chức năng của khu vực đó theo nguyên lí bù trừ. Phục hồi chức năng tâm lí cấp cao nhằm tác động vào những chức năng tâm lí còn được bảo toàn nhằm thông qua đó, điều khiển quá trình bù trừ hoặc phục hồi diễn ra một cách tối ưu.

Chẩn đoán định khu tâm lí thần kinh và phục hồi hức năng tâm lí cấp cao chính là những nội dung cơ bản của một chuyên ngành khác của Tâm lí Y học: Tâm lí Thần kinh.

Trong lâm sàng nội, ngoại khoa khác:

Hiện nay, ở nhiều nước, can thiệp tâm lí đã được thực hiện trong tất cả các khoa lâm sàng. Nhiều bệnh nhân, đặc biệt là những người bị bệnh hiểm nghèo, ví dụ như ung thư, AIDS…hoặc bị bệnh mạn tính dễ có những tổn thương nặng nề về tâm lí, ví dụ như trầm cảm lo âu hoặc dễ có ý nghĩ và hành vi cực đoan. Can thiệp tâm lí chính là nhằm hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ tâm lí cho những người như vậy và cho bệnh nhân nói chung, cải thiện chất lượng cũng như kéo dài thời gian sống cho họ nói riêng.

Trong công tác giám định:

Trong các hoạt động giám định như: giám định lao động, giám định hình luật – pháp y, giám định quân sự, chẩn đoán tâm lí có thể được trưng cầu. Kết quả này sẽ là những cứ liệu có ích cho việc xác định tỉ lệ mất sức khoẻ, độ tin cậy của lời khai, chứng cứ…

Trong các dịch vụ tư vấn, tuyển chọn nghề nghiệp:

Hiện nay những ứng dụng của tâm lí lâm sàng đang được triển khai mạnh trong các lĩnh vực tư vấn về sức khoẻ tâm lí cũng như tuyển chọn nghề.

Nghiên Cứu Ngành Ngôn Ngữ Học

Các nghiên cứu chuyên ngành của ngôn ngữ học được rất nhiều nhà chuyên ngành theo đuổi; và những nhà nghiên cứu này ít khi đồng ý với nhau, như Russ Rymer đã diễn tả một cách trào phúng như sau:

Linguistics is arguably the most hotly contested property in the academic realm. It is soaked with the blood of poets, theologians, philosophers, philologists, psychologists, biologists, anthropologists, and neurologists, along with whatever blood can be got out of grammarians.

(Ngôn ngữ học có thể nói là một đấu trường nóng bỏng nhất trong giới trí thức. Đấu trường đó đẫm đầy máu của các nhà thơ, nhà thần học, nhà triết học, nhà tâm lý học, nhà sinh vật học, nhà nhân chủng học và nhà thần kinh học, cùng với tất cả lượng máu có thể lấy ra được của những nhà văn phạm học.)

Quan tâm hàng đầu của ngôn ngữ học lý thuyết là mô tả bản chất của khả năng ngôn ngữ của loài người, hay “sự tinh thông”; giải thích cho được khi nói một người “biết” một ngôn ngữ thì người đó thật sự “biết” được gì; và giải thích cho được bằng cách nào con người đã “biết” được ngôn ngữ đó.

Tất cả con người (trừ những trường hợp bị bệnh đặc biệt) đều đạt tới sự tinh thông ở bất kỳ ngôn ngữ nào được nói (hoặc ra dấu, trong trường hợp ngôn ngữ dấu) xung quanh họ trong quá trình trưởng thành, với rất ít sự hướng dẫn có ý thức. Động vật khác không làm được như vậy. Do đó, có một tính chất bẩm sinh nào đó khiến cho con người có thể biết cách sử dụng ngôn ngữ. Không có một quá trình “di truyền học” rõ rệt nào gắn với sự khác biệt giữa các ngôn ngữ: một cá nhân có thể lĩnh hội được bất kỳ ngôn ngữ nào mà họ đã được tiếp xúc lâu dài trong môi trường sống khi còn bé, không phân biệt xuất xứ cha mẹ hay dân tộc của họ.

Các cấu trúc ngôn ngữ là các cặp song hành giữa ý nghĩa và âm thanh (hoặc hình thức ngoại hiện khác). Các nhà ngôn ngữ học có thể chỉ tập trung vào một số lĩnh vực nhất định của ngôn ngữ, có thể sắp xếp như sau:

Ngữ âm học (Phonetics), nghiên cứu quy luật của các thể (aspect) của âm

Âm vị học (Phonology), nghiên cứu những khuôn mẫu (pattern) của âm

Hình thái học (Morphology), nghiên cứu bản chất cấu trúc của từ vựng

Cú pháp học (Syntax), nghiên cứu thủ thuật xây dựng câu trong ngữ pháp

Ngữ nghĩa học (Semantics), nghiên cứu ý nghĩa từ vựng (từ vựng học) và thành ngữ (ngữ cú học)

Ngữ dụng học (Pragmatics), nghiên cứu phát biểu trong ngữ cảnh giao tiếp (nghĩa đen và nghĩa bóng)

Phân tích diễn ngôn (Discourse Analysis), phân tích ngôn ngữ trong văn bản (văn bản nói, viết hoặc ký hiệu)

Nhiều nhà ngôn ngữ học đồng ý rằng các phân ngành trùng lắp nhau đáng kể trong nghiên cứu. Tuy nhiên, bất kể quan điểm của họ ra sao, mỗi lĩnh vực đều có những quan niệm cốt lõi của nó, đòi hỏi sự tìm tòi, nghiên cứu khoa học kỹ lưỡng.

Những lĩnh vực được cho là trùng lắp được phân ra dựa theo các yếu tố ngoại tại được xem xét.

* Phong cách học, môn nghiên cứu những yếu tố ngôn ngữ giúp cho ngôn từ phù hợp ngữ cảnh.

* Ngôn ngữ học phát triển, môn nghiên cứu sự phát triển khả năng ngôn ngữ của một cá nhân, cụ thể là sự tiếp thu ngôn ngữ trong giai đoạn ấu thơ.

* Ngôn ngữ học lịch sử hay Ngôn ngữ học lịch đại, môn nghiên cứu sự thay đổi trong ngôn ngữ.

* Ngôn ngữ học tiến hoá, môn nghiên cứu nguồn gốc và sự phát triển nối tiếp của ngôn ngữ.

* Ngôn ngữ học tâm lý, môn nghiên cứu các quá trình nhận thức và trình bày gắn liền với việc sử dụng ngôn ngữ.

* Ngôn ngữ học xã hội, môn nghiên cứu các khuôn mẫu xã hội của sự đa dạng ngôn ngữ.

* Ngôn ngữ học điều trị, việc ứng dụng lý thuyết ngôn ngữ học vào lĩnh vực nói-sửa các tật nói

* Ngôn ngữ học thần kinh, môn nghiên cứu các mạng lưới dây thần kinh gắn liền với văn phạm và giao tiếp.

* Ngôn ngữ học vạn vật, môn nghiên cứu các hệ thống giao tiếp tự nhiên cũng như do con người truyền dạy cho ở động vật khác so với ngôn ngữ loài người.

* Ngôn ngữ học máy tính, môn nghiên cứu những bổ sung cấu trúc ngôn ngữ bằng khoa học máy tính.

Một phần lớn công sức của các nhà ngôn ngữ học được bỏ ra để đi sâu vào tìm hiểu bản chất của sự khác nhau giữa các ngôn ngữ trên thế giới. Bản chất của sự đa dạng ngôn ngữ này rất quan trọng để chúng ta hiểu được khả năng ngôn ngữ của loài người nói chung: nếu khả năng ngôn ngữ của con người bị bó buộc hạn hẹp bởi những đặc điểm sinh học của loài, thì các ngôn ngữ phải rất giống nhau. Nếu khả năng ngôn ngữ của con người không bị hạn chế, thì các ngôn ngữ có thể cực kỳ khác nhau .

Thường thì khả năng có cùng nguồn gốc có thể được loại bỏ. Ai cũng biết, việc học một ngôn ngữ là rất dễ dàng đối với con người, do đó, ta có thể suy đoán rằng các ngôn ngữ đã được nói ít nhất là từ khi có con người hiện đại về mặt sinh học, có thể là tổi thiểu năm chục nghìn năm nay. Những phương pháp khách quan quan sát sự thay đổi của ngôn ngữ (ví dụ như, so sánh ngôn ngữ trong các văn bản cổ với ngôn ngữ hậu sinh của chúng được nói ngày nay) cho thấy sự thay đổi là nhanh chóng đến độ chúng ta không thể nào tái dựng lại một ngôn ngữ đã được nói cách đây thật lâu. Từ đây suy ra được rằng, những điểm tương đồng trong các ngôn ngữ được nói ở những nơi khác nhau trên thế giới thông thường không thể được dùng làm bằng chứng chứng minh chúng có cùng tổ tiên.

Bất ngờ hơn nữa, người ta đã ghi nhận được những trường hợp ngôn ngữ dấu được phát triển trong các cộng đồng người khiếm thính bẩm sinh đã sớm không có cơ hội được tiếp xúc với ngôn ngữ nói. Người ta đã chỉ ra được rằng các tính chất của những ngôn ngữ dấu này nói chung là trùng khớp với nhiều tính chất của các ngôn ngữ nói. Điều này củng cố giả thuyết rằng những tính chất giống nhau đó không phải do một nguồn gốc chung mà là do những đặc điểm tổng quát của phương thức học ngôn ngữ.

Nói một cách tự do, tổng hợp các tính chất chung của tất cả các ngôn ngữ có thể được gọi là “ngữ pháp toàn cầu” (viết tắt NPTC), một đề tài có các đặc điểm được bàn cãi rất nhiều. Các chuyên gia ngôn ngữ học và phi-ngôn ngữ học cũng sử dụng thuật ngữ này theo nhiều cách khác nhau.

Các đặc tính chung toàn cầu của ngôn ngữ có thể một phần xuất phát từ các phương diện chung toàn cầu của những trải nghiệm của con người; thí dụ như, tất cả mọi người đều trải nghiệm qua nước, và tất cả ngôn ngữ của loài người đều có một từ để chỉ nước. Tuy nhiên, trải nghiệm chung không đủ để lý giải những câu hỏi khó hơn về NPTC. Hãy xét một thí dụ thú vị sau: giả sử tất cả ngôn ngữ loài người đều phân biệt được danh từ và động từ. Nếu đúng như vậy thì hiện tượng này cần được giải thích thấu đáo hơn, vì danh từ và động từ không phải là thứ trải nghiệm được trong thế giới vật chất bên ngoài các ngôn ngữ sử dụng chúng.

Nói chung, một đặc điểm của NPTC có thể là xuất phát từ những đặc tính chung của nhận thức con người hoặc từ đặc tính nhận thức chung cụ thể nào đó của con người gắn liền với ngôn ngữ. Nhân loại còn hiểu biết quá ít về nhận thức của con người nói chung, không đủ để đưa ra phân biệt có giá trị. Do đó, những điều tổng hợp thường được đưa ra trong ngôn ngữ học lý thuyết mà không khẳng định rõ chúng có có mối liên hệ nào đến các khía cạnh khác của nhận thức hay không.1234

Từ thời Hy Lạp cổ đại, người ta đã hiểu rằng ngôn ngữ có khuynh hướng được tổ chức theo các thể loại ngữ pháp như danh từ và động từ, danh cách và đối cách, hay hiện tại và quá khứ. Từ vựng và ngữ pháp của một ngôn ngữ được tổ chức theo những thể loại cơ bản này.

Ngoài cách dùng nhiều thể loại cụ thể, ngôn ngữ có một đặc điểm quan trọng là nó tổ chức các yếu tố thành những cấu trúc đệ quy; cho phép một ngữ danh từ hàm chứa ngữ danh từ khác (thí dụ như the chimpanzee’s lips) hoặc một mệnh đề hàm chứa một mệnh đề khác (thí dụ như I think that it’s raining). Mặc dù phép đệ quy trong ngữ pháp được ngầm công nhận từ rất sớm (bởi nhiều người như Jespersen), tầm quan trọng của phương diện ngôn ngữ này chỉ được nhận thức trọn vẹn sau khi quyển sách [1] của Noam Chomsky được xuất bản năm 1957, trình bày ngữ pháp chính quy của một phần Anh ngữ. Trước đó, những mô tả chỉ tiết nhất về hệ thống ngôn ngữ chỉ bàn về hệ thống ngữ âm vị học và hình thái học, có khuynh hướng khép kín và thiếu sáng tạo.

Chomsky đã sử dụng ngữ pháp vô ngữ cảnh được bổ sung thêm nhiều biến đổi. Từ đó về sau, ngữ pháp vô ngữ cảnh đã được viết ra cho rất nhiều bộ phận ngôn ngữ khác nhau (thí dụ như, generalised phrase structure grammar, cho tiếng Anh), nhưng người ta đã chứng minh rằng ngôn ngữ loài người bao gồm các yếu tố phụ thuộc lẫn nhau, không thể được giải quyết đầy đủ bằng ngữ pháp vô ngữ cảnh. Việc này đòi hỏi phải có giải pháp hiệu quả hơn, thí dụ như các biến đổi chẳng hạn.

Những nghiên cứu trong phạm vi ngôn ngữ học hiện nay đều nằm trong lãnh vực “miêu tả” (descriptive); các nhà nghiên cứu tìm cách làm sáng tỏ các bản tính của ngôn ngữ mà không đưa ra các phán xét hay tiên đoán hướng đi của nó trong tương lai. Tuy vậy, có nhiều nhà ngôn ngữ học và các người nghiên cứu nghiệp dư đã cố gắng đưa ra các luật lệ cho ngôn ngữ theo kiểu “quy định” (prescriptive), họ cố gắng đưa ra các “chuẩn” để mọi người theo.

Trong khi đó, những người theo lối “miêu tả” không chấp nhận khái niệm “cách dùng sai” của những người đi theo lối “quy định”. Họ có thể gọi cách dùng đó như một “cách dùng riêng” (idiosyncratic) hay họ có thể tìm cách khám phá ra một “luật” mới cho cách dùng đó để mang nó trở vào trong hệ thống (thay vì tự động cho các lối dùng “sai” là nằm ngoài hệ thống như các người theo lối “điển chế” làm). Trong phạm vi điều tra điền dã (fieldwork), các nhà ngôn ngữ học miêu tả nghiên cứu ngôn ngữ bằng cách dùng một đường lối diễn tả. Phương pháp của họ gần với phương pháp khoa học được dùng trong các ngành khác.

Hầu hết các nhà ngôn ngữ học đều có chung lập trường rằng ngôn ngữ nói mang tính chủ đạo hơn, do đó, quan trọng hơn, cần nghiên cứu hơn là ngôn ngữ viết. Quan điểm này có một số lý do như sau:

* Việc nói năng là đặc tính chung của loài người trên toàn cầu, trong khi nhiều nền văn hoá và cộng đồng có tiếng nói không có chữ viết;

* Người ta học nói và xử lý ngôn ngữ nói dễ dàng hơn và sớm hơn ngôn ngữ viết.

* Một số nhà khoa học nhận thức tranh luận rằng bộ não có một “đặc khu ngôn ngữ” bẩm sinh. Kiến thức của đặc khu này được cho là có được từ việc học tiếng nói chứ không phải chữ viết, cụ thể là vì ngôn ngữ nói được tin là sự thích nghi theo luật tiến hoá, trong khi chữ viết lại là một phát minh tương đối gần đây.

Dĩ nhiên. các nhà ngôn ngữ học đồng ý rằng việc nghiên cứu ngôn ngữ viết là có giá trị và rất nên làm. Đối với việc nghiên cứu ngôn ngữ học sử dụng các phương thức ngôn ngữ học tập hợp và ngôn ngữ học máy tính, ngôn ngữ viết thường dễ dàng hơn khi xử lý số lượng lớn dữ liệu ngôn ngữ. Một tập hợp lớn dữ liệu ngôn ngữ nói vừa khó tạo được, vừa khó tìm và thường là được ký âm và được viết ra. Hơn nữa, các nhà ngôn ngữ học đã tìm đến dữ liệu ngôn từ dựa trên chữ viết, dưới nhiều định dạng giao tiếp qua máy tính để làm nguồn nghiên cứu.

Việc nghiên cứu hệ thống chữ viết ở bất kỳ trường hợp nào cũng được xem là một nhánh của ngôn ngữ học.

Ngôn ngữ học, một môn nghiên cứu ngôn ngữ một cách hệ thống, khởi nguồn từ Ấn Độ thời đồ sắt bằng việc phân tích tiếng Phạn. Những cuốn sách Pratishakhya (thế kỷ thứ 8 trước công nguyên) có thể xem là một bộ sưu tập những quan sát về những biến đổi, phân thành những tổng hợp khác nhau cho từng trường phái Vệ Đà khác nhau. Việc nghiên cứu các văn bản này một cách có hệ thống đã làm nền tảng để từ đó hình thành môn văn phạm Vyakarana, với chứng tích sớm nhất còn lại ngày nay là tác phẩm của Pāṇini (520 – 460 BC). Pāṇini đã tổng hợp ra gần 4000 những quy luật cho ra đời một thứ ngữ pháp sản sinh hoàn chỉnh và cực kỳ cô đọng của tiếng Phạn. Phương pháp tiếp cận mang tính phân tích của ông đã nhắc đến những khái niệm như âm vị, hình vị và gốc từ. Do chú trọng đến tính ngắn gọn nên ngữ pháp của ông đã cho ra một cấu trúc có tính phi trực giác cao, tượng như “ngôn ngữ máy tính” ngày nay (khác với các ngôn ngữ lập trình mà con người có thể đọc được). Những quy tắc logic và kỹ thuật bậc thầy của ông đã có tầm ảnh hưởng rộng lớn trong ngôn ngữ học cổ đại lẫn hiện đại.

Ở Trung Á, nhà ngôn ngữ học Ba Tư Sibawayh đã mô tả tiếng Ả Rập một cách chuyên nghiệp và chi tiết vào năm 760, trong quyển sách bất hủ của ông, Al-kitab fi al-nahw (الكتاب في النحو, Quyển sách viết về ngữ pháp), làm sáng tỏ nhiều khía cạnh của ngôn ngữ. Trong sách của mình, ông đã phân biệt rõ ngữ âm học với âm vị học.

Ngôn ngữ học Tây phương bắt nguồn từ thời văn minh Hy Lạp và La Mã cổ đại với việc tự biện ngữ pháp như trong đoạn Cratylus của Plato, nhưng nhìn chung vẫn kém xa những thành quả đạt được của các nhà ngữ pháp Ấn Độ cổ đại cho đến tận thế kỷ 19, khi các tài liệu học thuật của Ấn Độ bắt đầu có mặt ở châu Âu.

Ferdinand de Saussure là người sáng lập ra ngôn ngữ học cấu trúc hiện đại. Edward Sapir, một người dẫn đầu trong ngành ngôn ngữ học cấu trúc ở Mỹ, là một trong những người đầu tiên khám phá quan hệ giữa nghiên cứu ngôn ngữ và nhân chủng học. Phương pháp luận của ông có sức ảnh hưởng lớn đối với những người hậu bối của ông. Mô hình ngôn ngữ chính thức của Noam Chomsky, ngữ pháp sản sinh-chuyển hoá, đã phát triển dưới sự ảnh hưởng của thầy mình, Zellig Harris, người lại chịu ảnh hưởng lớn từ Leonard Bloomfield. Mô hình này đã giữ vị trí chủ chốt từ những thập niên 1960.

Chomsky vẫn là nhà ngôn ngữ học có sức ảnh hưởng lớn nhất ngày nay. Những nhà ngôn ngữ học làm việc theo những khuôn khổ như Head-Driven Phrase Structure Grammar hoặc Ngữ Pháp Chức Năng Từ Vựng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chính thức hoá và tính chính xác chính thức trong việc mô tả ngôn ngữ học, và có thể phần nào xa rời công trình gần đây hơn của Chomsky (chương trình “đơn giản tối thiểu” cho Ngữ pháp chuyển hoá) có liên hệ gần gũi hơn với những công trình trước đây của Chomsky. Những nhà ngôn ngữ học theo đuổi Lý Thuyết Tối Ưu trình bày những điều tổng hợp được theo các quy luật có thể có ngoại lệ, một hướng đi khác xa với ngôn ngữ học chính quy, và những nhà ngôn ngữ học theo đuổi các loại ngữ pháp chức năng và ngôn ngữ học nhận thức có khuynh hướng nhấn mạnh tính phi độc lập của kiến thức ngôn ngữ học và tính phi toàn cầu của các cấu trúc ngôn ngữ học, do đó, xa lìa kiểu mẫu Chomsky một cách đáng kể.

Ngôn ngữ học ngữ cảnh

Ngôn ngữ học ngữ cảnh bao gồm những môn nghiên cứu sự tác động qua lại giữa ngôn ngữ học và các ngành học khác. Ở môn ngôn ngữ học lý thuyết, ngôn ngữ được xem xét độc lập trong khi những lĩnh vực đa ngành trong ngôn ngữ học nghiên cứu việc ngôn ngữ tương tác với thế giới bên ngoài ra sao.

Ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ nhân chủng học, và nhân chủng học ngôn ngữ là những môn khoa học xã hội chuyên xem xét sự tương tác giữa ngôn ngữ học và toàn xã hội.

Ngôn ngữ học tâm lý và ngôn ngữ học thần kinh liên kết y học với ngôn ngữ học.

Những lĩnh vực đa ngành của ngôn ngữ học gồm có lĩnh hội ngôn ngữ, ngôn ngữ học tiến hoá, ngôn ngữ học máy tính và khoa học nhận thức.

Ngôn ngữ học ứng dụng

Ngôn ngữ học lý thuyết quan tâm đến việc tìm ra và miêu tả những điều khái quát được về một ngôn ngữ nhất định cũng như về tất cả các ngôn ngữ. Ngôn ngữ học ứng dụng đem những thành quả đó đi “ứng dụng” vào những lĩnh vực khác. Thường thì ngôn ngữ học ứng dụng được chỉ đến việc sử dụng nghiên cứu ngôn ngữ học trong việc dạy ngôn ngữ, nhưng kết quả nghiên cứu ngôn ngữ học còn được dùng trong các lĩnh vực khác.

Ngôn ngữ học lịch đại

Trong khi cốt lõi của ngôn ngữ học lý thuyết là chú trọng nghiên cứu ngôn ngữ vào một thời điểm nhất định (thông thường là ở hiện tại), ngôn ngữ học lịch đại tìm hiểu xem ngôn ngữ thay đổi như thế nào theo thời gian, có khi xem xét đến cả hàng thế kỷ. Ngôn ngữ lịch đại vừa đem đến một lịch sử ngôn ngữ phong phú (môn ngôn ngữ học đã phát triển từ ngôn ngữ học lịch đại), vừa tạo ra một nền móng lý thuyết vững chắc cho việc nghiên cứu sự thay đổi của ngôn ngữ.

Ở các trường Đại học Mỹ (Hợp chủng quốc Hoa Kỳ), khuynh hướng phi lịch đại chiếm ưu thế trong môn ngôn ngữ học. Nhiều khoá ngôn ngữ học nhập môn chỉ đề cập ngôn ngữ học lịch đại một cách qua loa. Việc chuyển trọng tâm sang hướng phi lịch đại đã bắt đầu với Saussure và trở nên phổ biến với Noam Chomsky.

Các nhánh ngôn ngữ học có tính lịch đại gồm có ngôn ngữ học lịch đại so sánh và từ nguyên học.

Đối Tượng Và Phương Pháp Nghiên Cứu Của Khoa Học Luật Hiến Pháp

Khoa học Luật Hiến pháp là tổng thể các tri thức, các quan điểm khoa học về cơ sở chính trị, xã hội và các quy luật khách quan của việc tổ chức quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, về mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân phục vụ quyền lợi của nhân dân.

Hiện tượng này, ngay từ mới xuất hiện Nhà nước đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu để lại một khối lượng kiến thức phức tạp, khổng lồ và đa ngành. Những khối lượng tri thức này, trở thành nguồn của khoa học luật Hiến pháp. Đó là những tác phẩm, những quan điểm, học thuyết của các nhà triết học cổ Hy Lạp, Ai Cập, Phương Đông cổ đại, của Phương Tây thời cách mạng tư sản, và nhất là các quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác, của Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam. Muốn tiếp thu được tinh hoa tri thức của nhân loại trong lĩnh vực này, đòi hỏi trước hết phải hiểu. Sự hiểu này cũng đòi hỏi phải nghiên cứu nghiêm túc không khác nào một ngành khoa học.

Khoa học luật Hiến pháp cũng như các ngành khoa học xã hội khác có đối tượng nghiên cứu, có phương pháp nghiên cứu riêng. Theo truyền thống của nền khoa học pháp lý của các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, tương ứng với mỗi một ngành luật đều có một ngành khoa học pháp lý. Khoa học luật Hiến pháp là một loại khoa học pháp lý chuyên ngành. Sự ra đời của ngành khoa học pháp lý này gắn liền với cuộc đấu tranh dành quyền dân chủ của nhân loại, đoạt tuyệt với chế độ độc tài chuyên chế, và tuyên bố quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Là một ngành khoa học nằm trong hệ thống các khoa học pháp lý, khoa học luật Hiến pháp nghiên cứu các quy phạm pháp luật về việc tổ chức quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, sự hình thành và phát triển của các quy phạm, các tri thức khoa học , các quan điểm khoa học về việc tổ chức quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân.

Đây là đối tượng nghiên cứu của khoa học luật Hiến pháp. Đối tượng này được bắt đầu nghiên cứu từ khi có cách mạng tư sản. Hay nói một cách chính xác hơn kể từ khi có Hiến pháp thành văn đầu tiên trên thế giới 1787 (Hiến pháp Mỹ) luật Hiến pháp mới thực sự trở thành một bộ môn khoa học pháp lý.

Khoa học Luật Hiến pháp là tổng thể các tri thức, các quan điểm khoa học về cơ sởchính trị, xã hội và các quy luật khách quan của việc tổ chức quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, về mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, về việc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước phục vụ quyền lợi của nhân dân.

Khoa học này trước hết nó nghiên cứu các quy phạm, sự phát triển các quy phạm luật Hiến pháp, các quan điểm học thuyết của các học giả, qua đó tìm ra được quy luật phát triển khách quan của ngành luật, nhằm mục đích loại trừ những quy phạm đã lỗi thời, vạch ra khuynh hướng phát triển của tổ chức quyền lực Nhà nước ứng với mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể của việc tổ chức quyền lực nhà nước thuộc nhân dân.

Đòi hỏi hình thành một ngành khoa học không những cần phải có đối tượng nghiên cứu mà còn cần thiết phải có những phương pháp nghiên cứu nhất định. Những phương pháp đó là:

Phương pháp biện chứng Mác- Lênin

Đây là phương pháp nghiên cứu chung cho tất cả các khoa học xã hội. Khoa học luật Hiến pháp cũng sử dụng phương pháp biện chứng Mác – Lênin khi nghiên cứu các quy phạm, chế định, quan hệ của mình, cũng như những đặc điểm, quy luật phát triển của luật Hiến pháp Việt Nam. Cụ thể khi nghiên cứu các quy phạm, chế định, quan hệ, chúng ta phải xem xét các quy phạm, chế định, quan hệ đó như những bộ phận cấu thành của luật. Vì vậy, giữa chúng phải có những mối quan hệ nhất định. Phải xem xét những mối quan hệ đó trong sự thống nhất của luật Hiến pháp, giữa các quy phạm chế định, quan hệ đó phải hỗ trợ lẫn nhau, không được mâu thuẫn đối lập nhau.

Phương pháp biện chứng Mác – Lênin cũng được sử dụng để nghiên cứu luật Nhà nước trong quá trình phát triển. Cũng như bất cứ một hiện tượng xã hội nào khác, pháp luật nói chung và luật Hiến pháp nói riêng luôn luôn biến đổi. Sự biến đổi đó nhằm đạt tới sự hoàn thiện. Vì vậy, phải nghiên cứu luật Hiến pháp Việt Nam ở những giai đoạn lịch sử khác nhau để từ đó rút ra những kết luận, những quy luật phát triển nhất định thấy được sự kế thừa và phát triển của các quy phạm, chế định luật Hiến pháp.

Khi nghiên cứu, chúng ta phải so sánh các quy phạm chế định, quan hệ luật Nhà nước hiện hành với các quy phạm, chế định quan hệ tương ứng của luật Hiến pháp trước đây để thấy được mối quan hệ giữa chúng về sự giống nhau và khác nhau tính kế thừa và phát triển của các quy phạm, chế định, quan hệ đó. Qua so sánh, chúng ta có thể thấy xu hướng phát triển của các quy phạm, chế định, quan hệ luật Hiến pháp. Khi nghiên cứu, chúng ta không chỉ bó hẹp trong phạm vi các quy phạm chế định, quan hệ luật Nhà nước mà phải đối chiếu các ngành luật khác của nước ta để tìm ra mối quan hệ giữa luật Nhà nước với các ngành luật khác, vai trò của luật Hiến pháp trong hệ thống pháp luật. Chúng ta còn phải so sánh các quy phạm, chế định, quan hệ luật Hiến pháp Việt Nam với những vấn đề tương ứng của luật Hiến pháp các nước khác để thấy được đặc điểm của luật Hiến phápViệt Nam, học hỏi kinh nghiệm các nước khác đồng thời phê phán những quan điểm sai lầm về những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của luật Hiến pháp.

Phương pháp lịch sử đòi hỏi khi nghiên cứu chúng ta phải tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử mà các quy phạm, chế định luật hiến pháp ra đời và tồn tại. Vì pháp luật nói chung không thể vượt ra ngoài điều kiện, kinh tế chính trị – xã hội, nên mỗi quy phạm, chế định, quan hệ luật hiến pháp in dấu ấn của một thời kỳ nhất định. Do đó chỉ có thể hiểu được nội dung, những mặt tích cực của hạn chế vấn đề được nghiên cứu trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định. Ví dụ, khi tìm hiểu Điều 1, Hiến pháp 1946: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Nếu không hiểu được hoàn cảnh lịch sử của nước ta sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chúng ta không thể hiểu được tại sao Quốc hội lại quy định như vậy. Phải chăng nhà nước ta trong giai đoạn này không mang tính giai cấp nên quyền lực Nhà nước thuộc về người nghèo và người giàu, thuộc về tất cả các giai cấp.

Phương pháp lịch sử còn giúp chúng ta thấy được sự phát triển của luật Hiến pháp gắn liền với sự phát triển của cách mạng Việt Nam. Trong những điều kiện lịch sử nhất định, giai cấp thống trị đặt ra những mục tiêu nhất định. Là công cụ đấu tranh giai cấp, pháp luật nói chung và luật Nhà nước nói riêng thể hiện một cách tập trung thống nhất trong bản chất nhà nước Việt Nam, một nhà nước của dan, do dân và vì dân.

Thạc sỹ Phạm Ngọc Minh – Khoa Luật Trường Đại học Hòa Bình

Liên kết đào tạo và hợp tác việc làm giữa Trường Đại học Hòa Bình và Công ty Luật TNHH Everest là hoạt động cần thiết để giải quyết thực trạng chênh lệch giữa nhu cầu của doanh nghiệp và sự đáp ứng của nhà trường. Hướng đến mục tiêu đào tạo 100% sinh viên có việc làm sau khi trường, Trường Đại học Hòa Bình triển khai liên kết chặt chẽ với Công ty Luật TNHH Everest trong công tác đào tạo sinh viên và tạo điều kiện việc làm cho sinh viên mới ra trường. Để được tư vấn pháp luật, Quý khách vui lòng gọi tới tổng đài 19006198 .

Bài 3: Nhiệm Vụ, Phương Pháp Nghiên Cứu Xã Hội Học

Tóm tắt lý thuyết

1. Nhiệm vụ của xã hội học

Nghiên cứu các hình thái biểu hiện và các cơ chế hoạt động của các quy luật hoạt động của xã hội.

Phục vụ cho công tác tổ chức và quản lý xã hội một cách trực tiếp và gián tiếp.

Tri thức của xã hội học đại cương được xem như là một bộ phận, cơ sở phương pháp luận của xã hội học chuyên ngành và kể cả các khoa học khác trong hệ thống khoa học xã hội.

Việc vận dụng tổng hợp các kiến thức và kĩ năng nghiên cứu xã hội học phục vụ cho công tác quản lý xã hội và công tác

xã hội nói chung càng nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ của xã hội học đối với đời sống thực tiễn.

Phương pháp nghiên cứu xã hội học là phân ngành nổi bật của khoa học xã hội học. Nhờ có nó mà ngành xã hội học ngày càng đóng góp đáng kể vào việc hoạch định các chính sách từ vi mô đến vĩ mô cũng như nâng cao năng lực quản lý xã hội.

2.1 Phân loại nghiên cứu

Nghiên cứu xã hội học có thể được phân loại dựa trên tích chất của nghiên cứu. Ví dụ như:

Nghiên cứu khám phá (exploratory) được thực hiện ở hầu hết các lĩnh vực.

Nghiên cứu qui mô nhỏ (small-scale) là nghiên cứu thường được sử dụng trong kinh doanh.

Nghiên cứu qui mô lớn có tính chuyên nghiệp cao (large- scale professional) là loại nghiên cứu phức tạp và tốn kém.

Ngoài ra, người ta cũng phân loại nghiên cứu xã hội học dựa trên phạm vi nghiên cứu như nghiên cứu thống kê (statistical studies) và nghiên cứu trường hợp (case studies).

Nghiên cứu xã hội học có the xuất phát từ điều tra thực tế để khẳng định hay bác bỏ giả thuyết hoặc xuất phát từ điều tra thực trạng để đưa ra một lý thuyết mới. Điều tra thực tế là quá trình thu thập dữ kiện hoặc thông tin. Việc thu thập dữ kiện có thể được coi là thành phần khách quan của khoa học. Các kĩ thuật thu thập dữ kiện cho phép chúng ta tìm ra cái gì xảy ra chung quanh ta.

2.2 Quy trình nghiên cứu xã hội học

Thực hiện một nghiên cứu xã hội học cần tuân thủ một qui trình nhất định. Trước tiên nhà nghiên cứu cần phải đưa ra vấn đề nghiên cứu, sau đó đề ra phương pháp nghiên cứu vấn đề ấy bao gồm các phương pháp thu thập thông tin cụ thể. Những thông tin thu thập được sẽ được xử lý và phân tích về mặt định tính và định lượng để rút ra được kết luận cuối cùng của nghiên cứu.

Vấn đề nghiên cứu:

Vấn đề nghiên cứu là nhận định về cái mà nhà điều tra muốn tìm ra. Nếu đó là việc kiểm tra một lý thuyết, thì có thể đây là một nhận định tiên đoán với các kết quả. Một lời tiên đoán như thế được gọi là một giả thuyết. Mặt khác, những cuộc khảo cứu thăm dò lại có thể chứa đựng một nhận định về vấn đề.

Các phương pháp:

Phương pháp quan sát: là phương pháp mà nhà nghiên cứu sử dụng các tri giác của mình để thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu.

Phương pháp phỏng vấn: là cách thu thập thông tin thông qua việc hỏi và trả lời giữa nhà nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, bằng các hình thức như mặt đối mặt, gọi điện thoại…

Phương pháp thu thập thông tin bằng bảng câu hỏi: là phương pháp sử dụng bảng câu hỏi để thu thập thông tin từ đối tượng nghiên cứu.

Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: là cách mà nhà nghiên cứu tiếp cận các chuyên gia đầu ngành, để tham khảo ý kiến của họ.

Các kết quả:

Kết quả là sản phẩm của các phương pháp.

Chỉ có các dữ kiện (các sự kiện được quan sát) và các kết quả của mọi trắc nghiệm thống kê mới được đưa vào phân kết quả.

Thông tin có thể được trình dưới hình thức nhận định mô tả mà không lý giải, hoặc dưới hình thức biểu bảng và biểu đồ.

Phần kết quả chỉ bao gồm những tư liệu thuộc về sự kiện.

Các kết luận:

Phần kết luận giải thích các kết quả, chính điều này mà cuộc nghiên cứu đưa ra:

Những vấn đề có thể có, do phương pháp cụ thể gợi lên.

Việc lý giải và khái quát hóa, nếu có thể được đưa ra.

Về căn bản các kết luận trả lời cho câu hỏi “như vậy thì sao?”.

2.3 Cách thức tiến hành một nghiên cứu xã hội học

Trong khi tiến hành nghiên cứu xã hội học, chúng ta phải thực hiện rất nhiều các thao tác khác nhau.

Từ những thao tác đó, có thể tạm chia tiến trình điều tra thành 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Chuẩn bị.

Giai đoạn 2: Tiến hành điều tra.

Giai đoạn 3: Xử lý và giải thích thông tin.

Giai đoạn chuẩn bị:

Nhà nghiên cứu cần làm rõ nhưng vấn đề sau đây:

Vấn đề điều tra hay là đối tượng điều tra, ví dụ: vấn đề cần nghiên cứu như lối sống, định hướng giá trị, nhu cầu tiêu dùng, v.v…

Địa bàn nghiên cứu.

Giả thuyết nghiên cứu: Giả thuyết là giả định chủ quan của người điều tra. Giả thuyết là cơ sở để cho biết chúng ta cần phải thu được những thông tin gì trong cuộc điều tra. Vì vậy, khâu xây dựng giả thuyết cực kì quan trọng. Giả thuyết đúng hay sai sẽ do chính số liệu của nghiên cứu chứng minh. Sau cuộc điều tra giả thuyết sẽ được thừa nhận hay bác bỏ.

Mô hình lý luận: Mô hình này giúp chúng ta khái quát hóa vấn đề đưa ra các lý giải có tính khoa học. Mô hình lí luận chính là khuôn mẫu, là cái khung để chúng ta có thể sắp xếp các số liệu rời rạc thành hệ thống thống nhất.

Thao tác hóa các khái niệm: Trong khi xây dựng giả thuyết và xây dựng mô hình lí luận các nhà xã hội học phải trình bày một loạt các khái niệm và phải “thao tác hóa các khái niệm” tức là làm đơn giản hóa các khái niệm và làm cho chúng trở thành tiêu chí, những chỉ báo có thề đo lường dược.

Các phương pháp thu thập thông tin. Trong đó xây dựng bảng câu hỏi, danh sách các câu hỏi phỏng vấn, mục tiêu quan sát, v.v… cần tuân thủ chặt chẽ những tiêu chí hay chỉ báo nghiên cứu.

Trước khi tiến hành điều tra thật nhà nghiên cứu cần tiến hành điều tra thử với mục đích chuẩn hóa bảng câu hỏi và đồng thời tiến hành huấn luyện điều tra viên.

Giai đoạn tiến hành điều tra:

Bắt đầu cuộc điều tra thật. Các điều tra viên tiến hành tiếp xúc với người được hỏi. Điều tra viên trước phải đáp ứng được tiêu chuẩn cụ thể về trình độ học vấn và phải có khả năng giao tiếp trung thực.

Việc điều tra hay thu thập thông tin tại địa bàn nghiên cứu phải đúng danh sách mẫu hay là người được hỏi đã được chọn. Trong khi điều tra, nhà nghiên cứu đồng thời giám sát quá trình thực hiện và tiến hành rà soát phiếu hỏi để kịp thời bổ sung.

Giai đoạn xử lý thông tin

Những số liệu thu thập được sẽ được nhà nghiên cứu dựa trên mô hình lý luận xử lý theo các biến số độc lập hay phụ thuộc và những mối liên hệ giữa những biến số đó.

Kết quả xử lý sẽ được phân tích và lý giải. Từ đó nhà nghiên cứu có thể đưa ra những kết luận hay những khuyến nghị cụ thể trong báo cáo tổng kết nghiên cứu.

Báo cáo này nhằm giúp các nhà quản trị xã hội có thể nhìn ra những vấn đề cần giải quyết hoặc điều chỉnh chính sách ổn định và phát triển xã hội.

Quy trình này cần phải tách riêng và tiến hành một cách khoa học nhằm đem lại tính khách quan của nghiên cứu xã hội học.

2.4.1 Các loại mẫu xác xuất

Các yếu tố trong khung mẫu sẽ được đánh số, sau đó viết những con số lên mẩu giấy rồi cho vào một chiếc hộp sóc lên, rồi lần lượt bốc từ trong hộp ra những mẩu giấy bất kì. Những con số trong mẩu giấy nào được chọn cùng chính là những con số thứ tự của những người trong danh sách đã được chọn. Hiện nay phần mềm SPSS của máy tính có thể giúp chúng ta lấy ra một tập hợp những số ngẫu nhiên.

Mẫu hệ thống qui định rằng chúng ta chọn mẫu những người thứ n khi đã chọn một số đầu tiên ngẫu nhiên. Ví dụ: chúng ta có danh sách các chủ hộ do các tổ trưởng cung cấp, tổng số là 5.000 người, chúng ta muốn chọn mẫu có dung lượng là 100 người. Như vậy cứ 50 người trong tổng thể, chúng ta có thể chọn 1 và nếu muốn người thứ 1/50 xuất hiện trong mẫu thì chúng ta sẽ cần lấy người đầu tiên bất kỳ trong số 50 người đầu tiên của tổng thể và sau đó cứ 50 người, chúng ta sẽ lại chọn một người đưa vào danh sách mẫu, cứ làm như vậy cho đến cuối danh sách, nếu hết danh sách ta vẫn chưa chọn xong thì cũng có thể quay trở lại từ đầu bằng cách đó, mỗi người trong danh sách sẽ đều có cơ hội được chọn như nhau.

Chọn mẫu phân tầng, người chọn mẫu cần phải nắm được một số đặc điểm của khung mẫu, rồi chia khung mẫu đã có theo những đặc điểm mà họ quan tâm thành những “tầng”‘ khác nhau. Ví dụ: đặc điểm về giới tính, trình độ học vấn hay lứa tuổi, vv… Sau đó chọn mẫu trên cơ sở các tầng. Các nhà xã hội học cho rằng những yếu tố kể trên có khả năng ảnh hưởng đến câu trả lời vì vậy nếu chọn được các mẫu xác xuất dựa trên cơ sở các tầng, khi xử lý kết quả theo các phân tổ như giới tính, nghề nghiệp, học vấn… thì khả năng đại diện cho mỗi tầng sẽ lớn hơn.

2.4.2 Mẫu phi xác suất

Những nghiên cứu định tính, nghiên cứu trường hợp trong một khu vực hẹp không đòi hỏi phải chọn mẫu xác suất.

Mẫu thuận tiện bao gồm những người sẵn lòng trả lời cho người thu thập thông tin mà không cần phải thuộc về một danh sách nào và việc chọn họ làm đơn vị mẫu cũng không cần tuân theo nguyên tắc nào. Cần phải lưu ý rằng, không phải ai cũng sẵn sàng trả lời cho những câu hỏi về những vấn đề quá tế nhị, ví dụ như quan hệ tình dục tiền hôn nhân, quan điểm về tình hình mại dâm, v.v… Vì vậy phải cân nhắc xem ai là người có thể sẵn lòng bày tỏ quan điểm của họ trước những yêu cầu của người điều tra.

Mẫu phán đoán là hình thức chọn mẫu trong đó các đối tượng được chọn được kỳ vọng đáp ứng được những yêu cầu của cuộc nghiên cứu. Tức là người nghiên cứu dự đoán về những nhóm người có thể phù hợp với yêu cầu cung cấp tin của anh ta.

Mầu chỉ tiêu thoạt nhìn hơi giống mẫu phân tầng. Tuy nhiên, đây là cách chọn mẫu phi xác suất, tuy nó được chọn trên cơ sở những nhóm đã được xác định rõ ràng nhưng nếu như mẫu phân tầng phái có được một khung mẫu thì mẫu này lại không cần.

Mẫu tăng nhanh trước hết chúng ta cần chọn một số người có những tiêu chuẩn mà ta mong muốn, phỏng vấn họ rồi hỏi xem họ có thề giới thiệu cho chúng ta vài người tương tự. Theo cách này, số lượng đơn vị sẽ tăng lên nhanh chóng. Như vậy, người trả lời đồng thời là người cung cấp mẫu cho nhà nghiên cứu. Cách chọn mẫu này rất phù hợp với những cuộc nghiên cứu về những vấn đề tế nhị hay đặc biệt của xã hội như tìm hiểu về những khách làng chơi, về những người đồng tính luyến ái, những đối tượng sử dụng ma tuý…

Không có cách chọn mẫu nào được coi là tối ưu cho mọi cuộc nghiên cứu. Mẫu tốt là mẫu được chọn phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp, qui mô và tài chính của cuộc nghiên cứu. Trong các báo cáo phúc trình kết quả nghiên cứu, người nghiên cứu phải trình bày rõ ràng cách thức chọn mẫu của mình cũng như hạn chế của việc chọn mẫu đó để bản thân họ và những người khác có thể rút kinh nghiệm. Điều qui định này được coi như một trong những tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp.

Ngôn Ngữ Học Học Nhân Chủng – Nghiên Cứu Trường Hợp Thành Ngữ Tiếng Việt

Ngôn ngữ học học nhân chủng – nghiên cứu trường hợp thành ngữ tiếng Việt

Viết bởi Super User

Ngôn ngữ học học nhân chủng – nghiên cứu trường hợp thành ngữ tiếng Việt

Là một trong hơn mười phân môn của ngôn ngữ học liên ngành (như: ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học tâm lí, ngôn ngữ học sinh thái, V.V.), ngôn ngữ học nhân chủng có thể coi là sự kết hợp của khoa học liên ngành ngôn ngữ học và nhân chủng học. Nêu nhân chủng học lấy đôì tượng nghiên cứu là con người mà ngôn ngữ là một phần quan trọng trong đó, thì ngôn ngữ học nhân chủng nghiên cứu ngôn ngữ của con người gắn vói các đặc điểm văn hóa xã hội của loài người nói chung, của các cộng đồng giao tiếp cụ thể nói riêng. Đó là “cách ngôn ngữ ảnh hưởng đên đời sông xã hội”, “cách ngôn ngữ hình thành giao tiếp, hình thành bản sắc xã hội”; từ đó giúp cho việc khám phá “thêm hiểu biết về con người”.

Cuốn sách này có thể coi là một nghiên cứu, khảo sát trường hợp: vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học nhân chủng để nghiên cứu, khảo sát thành ngữ tiêng Việt. Cuốn sách được cấu trúc thành 5 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lí luận về ngôn ngữ học nhân chủng;

Chương 2: Thành ngữ và thành ngữ học tiếng Việt;

Chương 3: Đặc điểm văn hóa trong thành ngữ tiếng Việt từ bình diện ngôn ngữ học nhân chủng;

Chương 4: Đặc điểm xã hội trong thành ngữ tiểng Việt từ bình diện ngôn ngữ học nhân chủng;

Chương 5: Tính ẩn dụ trong thành ngữ tiếng Việt từ bình diện ngôn ngữ học nhân chủng.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đối Tượng Và Nhiệm Vụ Nghiên Cứu Của Ngôn Ngữ Học trên website Channuoithuy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!